Xu hướng mới trong sáng tác thơ Haiku Thế giới

alt

Đinh Nhật Hạnh

 

Thành lập năm 2009, đến 2012 ở Đại hội Liên hoan Thơ Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ I diễn ra tại Hà Nội, CLB Haiku Hà Nội đã lọt vào mắt xanh của Chủ tịch Hiệp hội Haiku Thế Giới Ban’ya Natsuishi và trở thành thành viên thứ 40 của tổ chức quốc tế này. Kể từ đó, 20 hội viên Haiku Hà Nội đã có thơ đăng đều đặn trên Tạp chí World Haiku Review hàng năm. Các tuyển tập này được chọn công phu từ 48 quốc gia, gồm 30 ngôn ngữ của hơn 285 hội viên trên 5 châu lục, được chuyển ngữ sang tiếng Anh, tiếng Pháp kèm tiếng bản địa.

 

Cho đến nay, chúng tôi đã sưu tập được hơn 3000 khúc haiku từ nguồn phong phú ấy và dịch sang tiếng Việt. Sau đây là những cảm nhận tóm lược xu hướng sáng tác mới của thể thơ này.

 

 

1. Thiên nhiên

 

Ngay từ cuối thế kỷ XX, đã có thay đổi về định lệ rất cơ bản: quý ngữ (kigo) không còn là quy tắc ràng buộc trực tiếp mà thể hiện “ẩn”, gián tiếp, bởi lẽ thời tiết bốn mùa trên các châu lục thường khác nhau. Không chỉ “trăng” mới là mùa thu, “hoa” đâu chỉ là anh đào. Lại nữa, bớt quý ngữ trực tiếp lợi thêm một dòng quý giá, dành chỗ thể hiện được tâm tư ký thác dồn nén vào một không gian cực hẹp. Đa phần, thiên nhiên quyện hữu cơ vào hồn cốt bài thơ, không còn khách quan mà gắn bó với nhân sinh thường nhật. Cấu trúc 5/7/5 không còn là khuôn phép, kể cả tại những quốc gia có ngôn ngữ đa âm như Mỹ, Anh, Pháp, Úc… Ngay ở chính quốc Nhật Bản cũng có nhiều thay đổi ngày càng phổ biến: Haiku tự do một dòng, Haiku không quý ngữ… Tứ thơ giờ đây không chỉ khu trú vào hiện tiền, khoảnh khắc như ghi âm một tiếng chim ca, chụp một pô ảnh thoáng hiện mà thẳm sâu từ ký ức bất chợt về quá khứ ngày xưa hay vụt hiện viễn tượng của ngàn năm sau, như Shiki (1867-1902) đã viết:

 

 

Đêm không ngủ

 

miên man ta nghĩ

 

về ngàn năm sau

 

 

Nhà thơ Haiku đương đại thả sức tự do viết về bất cứ lĩnh vực nào mà mình cảm nhận, không áp đặt, phê phán, tuy bảng lảng mà không hời hợt, có sức gợi mênh mông, thường đặt vấn đề mà không trả lời, như đòi hỏi người đọc tự chiêm nghiệm. Haiku đương đại ít bộc lộ thiên nhiên nguyên thủy bên ngoài thế tục mà thường là hòa quyện với thực tại sôi động, biến ảo – không phân biệt giữa khách và chủ thể.

 

Có lẽ cũng phải thôi, Haiku là thể thơ cô đọng, ngắn nhất, cũng như các thể loại văn chương khác phản ánh thực trạng mỗi thời đại. Ngay giọt sương, đẹp trong là thế, tuy vẫn lung linh quê nhà nhưng nay liệu còn trong, cũng như cơn mưa giờ cũng khác. Mẹ Thiên nhiên xưa kia hiền là vậy nay đang bị tàn phá kiệt quệ do chính lòng tham vô độ của con người – thủng tầng ozone, hiệu ứng nhà kính làm tan băng địa cực, hàng chục ngàn đầu đạn hạt nhân đe dọa nổ tan quả đất từng ngày, từng giờ… – nên cũng giữ dằn phản ứng và, tất nhiên Haiku không thể dửng dưng chỉ tụng ca thiên nhiên mà không bảo vệ dẫu chỉ bằng… Thơ.

 

 

A sunflower / lowing its head / like a remorse

 

Có bông hoa hướng dương

 

cúi đầu

 

như sám hối

 

Chiaki Nagamine, (1954-) Nhật Bản

 

 

Following fellows / the horse’s fetter-marks / tearful eyes

 

Thất thểu theo bầy

 

con ngựa bị ngàm

 

ràn rụa nước mắt

 

Yo Ecdenetogtokh, (1961-) Mông Cổ

 

 

The sounds of water / wandering / searching for water

 

Tiếng nước

 

lang thang

 

tìm nước

 

Hirokazu Aihara, (1970-) Nhật Bản

 

 

Without words / the moon and the fisherman / plow the sea together

 

Không lời

 

trăng và dân chài lưới

 

cùng cày xới biển khơi

 

Malvina Mileta, (1955-) Đan Mạch

 

 

With a thin rope / a kite connects a girl / and the sky

 

Nhờ sợi dây mảnh

 

con diều nối liền cô gái

 

với bầu trời xanh

 

Dimitrij Skrk, (1951-) Slovenia

 

 

Hazy moon / a nightingale in the canyon / competes with its echo

 

Trăng mờ

 

họa mi trong hẻm núi

 

hót thi với tiếng vọng chính mình

 

Tomislav Maretic, (1931-) Croatia

 

 

2. Tự sự

 

 

Trái với Haiku cổ điển tránh không viết về bản ngã, chủ thể Haiku đương đại đã có đột phá ngoạn mục khi viết về mình, về những bức xúc, băn khoăn thế tục trước những biến động ghê gớm của lịch sử. Có tác giả dùng Haiku diễn tả cuộc đời riêng không lối thoát của mình (Steven Ross, Mỹ). Có niềm vui lứa đôi, có xẻ chia nỗi lòng với bạn đời đã khuất, mơ về “hội mùa riêng cho hai vợ chồng thưởng thức vị quả hồng vườn nhà chín đỏ ngọt lịm”. Những vấn đề trước kia xa vời với Haiku như số phận một đất nước, một chính thể nay được thể hiện sắc nét. Thân phận cô đơn, khổ ải nghiệt ngã do đói nghèo, bệnh tật, hay do tuổi tác – cố nén lại để rồi tự nhủ lòng dành phần nước mắt với bạn tri âm, cho vơi đi những dòng lệ đời đau khổ…

 

Haiku đương đại có tính nhân bản ngày càng rõ nét và sâu đậm của muôn mặt đời thường tác động vào số phận con người vốn mỏng manh, lay lắt, càng vô định trong một thế giới hiện sinh chẳng biết có ngày mai.

 

 

I, a craving skeleton / reach to my son / with withered arms

 

Tôi, một bộ xương đói khát

 

chìa đôi tay gày guộc

 

về phía con trai mình

 

Steven Ross, (1950-) Mỹ

 

 

Cremate my body / flush my ashes / down the toilet

 

Hãy hỏa táng thân tôi

 

rồi xả tro

 

vào toilet

 

Steven Ross, (1950-) Mỹ

 

 

How bluish / the heavy rainfall / of my retirement day

 

Sao buồn thế nhỉ!

 

mưa rơi tầm tã

 

đúng ngày mình về hưu

 

Masami Sanuka, (1950-) Nhật Bản

 

 

April 20th / the birthday of Hitler / and me

 

Ngày 20 tháng Tư

 

sinh nhật Hitler

 

và cũng của tôi nữa

 

Shin’ichi Suzuki, (1957-) Nhật Bản

 

 

May rain hesitate / to fall onto him / a fool?

 

Có thể mưa ngại ngần

 

rơi xuống hắn

 

kẻ dại khờ ngớ ngẩn giữa trần ai

 

Yoshimoto Abe, (1963-) Nhật Bản

 

 

Persimmons bear fruit / a little harvest festival / for my wife and me

 

Hồng vườn nhà ra quả

 

một hội mùa nhỏ

 

cho vợ chồng tôi

 

Tatsunori Koizumi, (1931-) Nhật Bản

 

 

Nuit d’hiver / le silence – plus chaud / que tes bras

 

Đêm đông

 

sự yên lặng ấm hơn

 

vòng tay anh

 

Zlatka Timoneva, (1949-) Bồ Đào Nha

 

 

I can’t get over / the fangs of love / my hair white as frost

 

Tôi không thể vượt qua

 

những day dứt của tình yêu

 

đầu bạc như sương rồi

 

Keusetsu Jakahashi, (1939-) Nhật Bản

 

 

3. Thế sự

 

 

Đây là phần quan trọng, có tần suất tuyển chọn cao về nội dung thực tế: mắt thấy tai nghe những thực trạng của thế giới đương đại, sát với băn khoăn bức xúc của thế gian trước thiên tai; địch họa do chính con người tự gây ra. Từ thảm họa Hiroshima đến Fukushima, từ cuộc cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” đến nạn khủng bố tràn lan điên cuồng tàn bạo, xem mạng người như ngóe, không chốn nào yên. Có những tiếng chim kêu nghe đỏ như màu máu, ngay cả vầng trăng cũng đỏ bầm trong giấc mơ của giới cần lao. Có những ngôi làng sau chiến tranh chẳng còn là làng nữa mà chỉ là nỗi buồn và tiếc nuối khôn nguôi. Quả đất ngỡ trở lại yên bình sau Thế chiến II thì lại tiếp tục phải quằn quại trước những mưu ma chước quỷ thâm hiểm hòng vẽ lại bản đồ thế giới, áp đặt tôn giáo diễn biến từng giờ. Thời trước, cách nay hơn một thế kỷ, chưa có chiến tranh đại quy mô, đây đó thanh bình, thiên nhiên hòa đồng với nhân sinh, nhịp sống yên ổn êm thuận khác xa với hiện tiền sặc mùi xung đột của bạo lực, bá quyền, nơi con người bình thường không biết dẫu chỉ là ngày mai rất gần chứ chưa nói đến ngày mai xa xôi! Tứ thơ lóe lên như tia chớp, được khắc họa bởi dăm từ sắc gọn, chạm đến tâm tư dồn nén khiến người đọc phải suy ngẫm làm sao đấy để chung tay bảo vệ một thế giới văn minh, bảo vệ Trái đất – ngôi nhà chung của tất cả chúng ta đang lâm nguy.

 

 

I want a song of anger / fresh green leaves / shining

 

Tôi muốn nghe một khúc ca cuồng nộ

 

những chiếc lá xanh tươi

 

lấp lánh

 

Yo Tanaka, (1933-) Nhật Bản

 

 

Bloody moon / black and white dreams / of the working class

 

Vầng trăng đỏ như máu

 

đen trắng những giấc mơ

 

của giai cấp cần lao

 

Damir Damir, (1977-) Montenegro

 

 

This satanic age / even the mirroring shows / a false image

 

Thời buổi quỷ quái này

 

ngay cả chiếc gương

 

soi không thật mặt

 

Ramakhrisna Perugu, (1960-) Ấn Độ

 

 

“Arab Spring” – they say / but there is still deadly cold / in the heart of the people

 

“Mùa xuân Ả-rập” – họ hô vang

 

nhưng chỉ thấy giá băng chết chóc

 

trong tim dân thường

 

Dimitar Anakiev, (1960-) Slovenia

 

 

En Démocratie / tout autour du Président / beaucoup de cadavres

 

Chế độ dân chủ

 

xung quanh Tổng thống

 

vô khối xác người

 

Georges Friedenkraft, (1941-) Pháp

 

 

One street owes itself / to another street / one tree owes another

 

Một con phố mang nợ

 

một con phố khác

 

một cây nợ một cây

 

James Shea, (1976-) Mỹ

 

 

4. Tình yêu

 

Nếu như Haiku truyền thống không đề cập đến tình yêu mà còn cho đó là tối kỵ thì cũng đương nhiên bởi lẽ thể thơ này có cội nguồn từ các vị Thiền sư thoát tục, hơn nữa, thuở ấy thơ tình đã chiếm vị trí độc tôn trong thể Tanka chan chứa trữ tình rồi.

 

Thơ tình trong Haiku đương đại lại phát triển khá mạnh, là trào lưu mới, cởi mở hơn ngay trong các haijin Nhật Bản, đặc biệt, Haiku phương Tây có mảng thơ thiên về tính dục (erotic hay sexy haiku) khá thịnh hành. Tần suất tuyển chọn thơ tình khá cao, chỉ xếp sau mảng thiên nhiên và thế sự, Haiku tình yêu ở đây có phong vị nhuần nhị, thủ thỉ, trong sáng và hồn nhiên – có khi tả về đôi bướm mùa yêu; một chàng mèo thiến vểnh râu ngủ khì suốt mùa động đực; hoặc một nụ hôn vội trên bến xe ban ngày trước một vầng trăng sớm; tình yêu e ấp những lần đầu hò hẹn chỉ dám lén nhìn nhau; có lúc lại kiêu sa về vẻ quyến rũ của mình đã thừa sức ngăn làn gió xuân hầm hập của chàng, mời cập bến tình kề cận tầm tay…

 

Ta như trẻ lại trở về một thời yêu, thấp thoáng những nét xuân tình chấm phá, vì Thơ cũng như Tình không có tuổi…

 

 

The leaves sway calmly / listening to the brave wind / it says “I kissed you”

 

Êm đềm tán lá đung đưa

 

nghe gió mạnh dạn nói

 

“anh đã hôn em rồi”

 

Zaid Alquraishy, (1980-) Iraq

 

 

Swift kiss / at the bus stop / day moon

 

Nụ hôn vội

 

trên bến xe

 

trăng ban ngày

 

Ludmila Balabanova, (1994-) Bungary

 

 

Plage de nudistes / ne peux pas trouver ma copine / je la croyais bronzée

 

Bãi tắm truồng

 

không sao tìm được

 

bạn gái tôi màu da rám nắng

 

Valentin Nicolitov, (1945-) Rumani

 

 

The neutered Tom / sleeps soundly / during the love season

 

Chú mèo thiến

 

ngủ khì khì

 

suốt mùa động đực

 

Shuichi Watanabe, (1954-) Nhật Bản

 

 

After the love making / her mole / in a different place

 

Sau trận mây mưa

 

nốt ruồi nàng

 

chuyển chỗ

 

Petar Tchouhov, (1961-) Bungary

 

Soft lips colliding / beneath their closed eyelids / the time is melting away

 

Đôi cặp môi mềm chập lại

 

dưới hàng mi nhắm chặt

 

thời gian đang tan, tan

 

Anna Foldeaki Horvath, (1952-) Hungary

 

 

Clear moon night / espying the pure white / on her nape

 

Đêm trăng sáng

 

lén nhìn màu trắng muốt

 

nơi gáy nàng

 

Yoshitama Abe, (1963-) Nhật Bản

 

 

On the marble / of a bare breast / the petal of a kiss

 

Trên màu cẩm thạch

 

của bộ ngực trần

 

một cánh hoa hôn

 

Raul Henao, (1944-) Colombia

 

 

On the bench / only a couple of butterflies / and their shadows at play

 

Trên chiếc ghế dài

 

chỉ mình đôi bướm

 

và bóng chập chờn chơi

 

Vukelic Rozic, (1958-) Croatia

 

 

Spring morning / two sparrows on an antenne / broadcasting love

 

Buổi sáng mùa xuân

 

trên dàn ăng-ten

 

có đôi se sẻ phát thanh chuyện tình

 

Stepan Rozic, (1946-) Croatia

 

 

5. Những ý tưởng lạ

 

 

Sérénité nocturne / pierres et étoiles / le même silence

 

Trong đêm tĩnh êm

 

cả đá và sao

 

đều cùng im lặng

 

Zlatka Timenova, (1949-) Bồ Đào Nha

 

 

Sans permission / le dessin du temps / sur mon visage

 

Không được phép tôi

 

nét vẽ thời gian

 

vẫn hằn trên mặt

 

Zlatka Timenova, (1949-) Bồ Đào Nha

 

 

A small boat / a sunbeam is / its anchor

 

Một con thuyền nhỏ

 

tia nắng

 

là mỏ neo

 

Ivanka Yankova, (1936-) Bungary

 

 

A fish caught / in the net of dreams / a fisherman wakes up

 

Con cá mắc lưới

 

trong mơ

 

thức chàng ngư phủ dậy

 

Malvina Mileta, (1955-) Croatia

 

 

To revive him / rain splashing his face / on the obituary

 

Để hoàn sinh kẻ chết

 

mưa hắt lên khuôn mặt

 

trên tờ cáo phó

 

Malvina Mileta, (1955-) Croatia

 

 

After resisting / the nightpeach / swallow the knife

 

Sau khi chống cự

 

quả đào

 

nuốt chửng lưỡi dao

 

Taketora Nakamura, (1961-) Nhật Bản

 

 

In the shadow of the house / on a green lawn / the snow is sweating

 

Dưới bóng ngôi nhà

 

trên thảm cỏ xanh

 

tuyết vã mồ hôi

 

Stepan Rozic, (1946-) Croatia

 

 

A rain drop / overturns the sky in the cup / I’m drinking the Gods

 

Một giọt mưa

 

lật nhào bầu trời trong chén nước

 

ta uống các thần linh

 

Marius Chelaru, ( 1961-) Rumani

 

 

Summer evening / the dog drinks from the plash / all the stars

 

Đêm hè

 

con chó uống nước trong vũng

 

cạn sạch mọi vì sao

 

Marius Chelaru, ( 1961-) Rumani

 

 

In the ear of an old man / a cricket living / no food

 

Trong tai người già

 

có con dế sống

 

không cần thức ăn

 

Tousen, (1948-) Nhật Bản

 

 

 

 

 

6. Độc đáo

 

 

Life / sphinx / moment

 

Đời

 

nhân sư

 

khoảnh khắc

 

Alexandre Egorov, (1941-) Nga

 

 

Say something that makes me sweat

 

Hãy nói gì đó làm ta toát mồ hôi hột nào!

 

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

 

 

Sharpening the nails of a man

 

Chuốt nhọn móng tay của một người đàn ông

 

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

 

 

Snow grows on a stump

 

Tuyết mọc dày trên một gốc cây trơ

 

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

 

 

The sun falls down the river burns

 

Mặt trời rơi dòng sông cháy

 

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

 

 

The thin ice

 

Lớp băng mỏng

 

Ousen Uchida, ( 1937-) Nhật Bản

 

 

If u c me / u r me

 

Nếu em thấy anh

 

em là anh

 

Steven Ross, (1950-) Mỹ

 

 

7. Có vần

 

 

Foam flowers / the pull of sand under / my inner child

 

Hoa bọt biển

 

cát lôi từ phía dưới

 

đứa trẻ trong tôi

 

Carmen Starke, (1946-) Mỹ

 

 

Beer on her breath / summer night with wet lips / vomiting on beach

 

Bia nồng hơi thở nàng

 

đêm hè cùng môi ướt

 

nôn thốc nơi bãi bờ

 

Joseph Spencer, (1950-) Mỹ

 

 

Sunk in a abyss / a dragon keeps / heaven’s memory

 

Lặn xuống vực sâu

 

con rồng vẫn giữ

 

ký ức thiên đình

 

Masayuki Nakamura, (1948-) Nhật Bản

 

 

Pampas grass / day passes / as they sway

 

Cỏ đồng hoang

 

ngày lại qua ngày

 

như là đu đưa

 

Masayuki Nakamura, (1948-) Nhật Bản

 

 

Trafic lights / the moon shines /all night

 

Đèn giao thông

 

trăng sáng

 

suốt đêm

 

Lars Granstrom, (1953-) Thụy Điển

 

 

From an old tree / the ears of a deer / appear

 

Từ cây cổ thụ

 

đôi tai hươu

 

thoáng hiện

 

Ariyo Asoda, (1962-) Nhật Bản

 

 

Summer morning / a crow walking / on the broad street

 

Buổi sáng mùa hạ

 

một con quạ

 

đi trên đại lộ

 

Ariyo Asoda, (1962-) Nhật Bản

 

 

The hand / is the tool / of the soul

 

Bàn tay

 

công cụ

 

của tâm hồn

 

Leons Briedis, (1949-) Latvia

 

 

Old age is freedom / the house key gets lost / you are dwelling in chaos

 

Tuổi già là tự do

 

chìa khóa nhà đâu mất

 

ta sống trong hỗn mang

 

Mordechai Geldmann, (1946-) Israel

 

 

Time is running / hurry up with everything / the end is secret

 

Thời gian trôi nhanh

 

mau lên với mọi việc

 

tận cùng là bí mật

 

Judit Vihar, (1944-) Hungary

 

 

8. Sexy Haiku

 

 

Sky / and a sleepy man / swelling

 

Bầu trời

 

và một gã đàn ông ngủ

 

đang dựng cột buồm

 

Sinji Noya, (1961-) Nhật Bản

 

 

Eating together / vomiting together / the end of love

 

Cùng nhậu

 

cùng nôn

 

cuộc tình kết thúc

 

Ram Kumar Pandy, (1946-) Nepal

 

 

Life lasts / until the slip goes from your wrist / to your tiptoe

 

Cuộc sống tồn tại

 

đến khi xi-líp

 

từ cổ tay tuột xuống đầu ngón chân em

 

Gyorgy Vermes, (1949-) Hungary

 

 

Between the blouse and the skin / the moon and a hand / are full

 

Giữa làn áo mỏng và làn da em

 

cả vầng trăng và một bàn tay

 

cùng đầy

 

David Rodrigues, (1951-) Bồ Đào Nha

 

 

Fireflies / in love / fertilization of light

 

Đom đóm

 

làm tình

 

thụ thai ánh sáng

 

Javier Tafur Gonzalez, (1945-) Colombia

 

 

Soap bubbles / between a pair / of human

 

Bong bóng xà phòng

 

giữa

 

đôi trai gái

 

Stepan Rozic, (1946-) Croatia

 

 

Sleeping with a virgin / making the veneral disease / spread

 

Ngủ với gái trinh

 

lan truyền

 

bệnh kín

 

Kentaro Awano, (1990-) Nhật Bản

 

 

Her nude buttocks / and the moon over the water / float with me

 

Mỹ nhân với cặp mông trần

 

và ánh trăng mặt nước

 

bập bềnh cùng tôi

 

Rob Flipse, (1944-) Hà Lan

 

 

Tạm kết

 

Quỹ thơ tuyển hàng năm của WHA thật dồi dào, kể từ khi thành lập đến nay đã có 14 tập gồm khoảng 7000 bài haiku. CLB Haiku Hà Nội gia nhập sau, chỉ được thưởng thức 3000 khúc. Trên đây mới là những cảm nhận ban đầu của chúng tôi trước rừng hoa kỳ diệu, vừa quen vừa lạ từ 5 châu lục, xin hẹn có dịp trình bày ở một phạm vi rộng hơn về chủ đề này cùng quá trình tiếp biến Haiku ở nước ta (có tổ chức) qua các tuyển tập Haiku Việt đã xuất bản của tập thể và cá nhân. Rất mừng khi sơ bộ đối chiếu đã hé lộ sự tương đồng của Haiku Mở Việt Nam với trào lưu Haiku thế giới đương đại – không hẹn mà gặp – đã tạo đà tự tin và vững vàng hơn trong bước đường mới đầy hứa hẹn. Trân trọng!

 

 

Đ.N.H

Bài viết khác

Tác giả: Haiku Việt