Nguyễn Tiến Liêu- người anh cả của CLB Thơ Haiku Việt Nha Trang- Ts Trần Thị Ánh Thu

Nhạc sĩ – thi sĩ Nguyễn Tiến Liêu bút danh Nguyễn Kỳ Anh, Nguyễn Minh Thiết, Tiếu Liên Miên, Đèo Văn Ngang, Tò Văn Cươi… sinh ngày 01 tháng 01 năm 1938, quê ở xã Kỳ Phong, Kỳ Anh, Hà Tĩnh, hiện nghỉ hưu tại Nha Trang, Khánh Hòa. Ông là người đầu tiên của thành phố biển Nha Trang đến với thơ haiku-Việt, sau đó ông là người gầy dựng, sáng lập ra Câu lạc bộ Thơ haiku-Việt Nha Trang.

 

  1. Nguyễn Tiến Liêu – anh cả của Câu lạc bộ thơ haiku–Việt Nha Trang

 

Nhạc sỹ Nguyễn Tiến Liêu trong những năm 2015 – 2018 giao lưu với một nhà thơ họ Đinh, đã tham gia viết thơ trữ tình, thơ Đường luật trong Câu lạc bộ thơ Hoa Bằng Lăng ở Hà Nội. Tại đây, thi sĩ – bác sĩ Đinh Nhật Hạnh – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thơ haiku–Việt Hà Nội đã cảm tài thơ của Nguyễn Tiến Liêu mà mời gọi, giới thiệu, động viên ông tìm hiểu, viết về thể loại thơ haiku–Việt. Sau ba năm từ chối vì thấy khó, thấy lạ, cuối cùng ông đã thử sức với một số bài đầu tay và được Ban Biên tập chọn đăng. Nhận nhiều lời khen từ bạn thơ mọi miền đất nước, ông có cảm tình và đã tham gia Câu lạc bộ haiku–Việt Hà Nội. Khi tìm hiểu kỹ, nhận thấy đây là loại thơ hàm súc, tinh tế, trí tuệ nên ông đã mời một số bạn thơ tại Nha Trang cùng tham gia như Kiều Lam, Hà Bàng, Lương Thị Đậm, Lê Vũ, Như Lan. Các thành viên đầu tiên của haiku – Việt Nha Trang đã tạo được tiếng vang trong sân chơi toàn quốc. Sau đó, Câu lạc bộ đã phát triển thêm hội viên mới như Nguyễn Sương, Lục Đình Thìn, Thạch Lựu, Thanh Vân, Trần Chiến, Ngọc Vân, Võ Thị Phượng… và gần đây có Mộng Hòa, Ánh Thu, Hồng Đào, Mân Thuỳ Trang cùng một số cảm tình viên nhiệt tình khác. Nhìn lại gần 10 năm hình thành và phát triển, các thành viên Câu lạc bộ haiku–Việt Nha Trang luôn trân quý người khai sáng sân chơi mang tính hữu nghị văn hoá Việt – Nhật như Nguyễn Tiến Liêu nên gọi ông một cách trìu mến là “Anh cả của Câu lạc bộ thơ haiku-Việt Nha Trang”.

 

  1. Khái quát sự nghiệp sáng tác của nhạc sỹ – thi sỹ Nguyễn Tiến Liêu 

 

          Nguyễn Tiến Liêu vốn là một nhạc sỹ quân đội, hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam chuyên ngành sáng tác. Cuộc đời binh nghiệp và sự nghiệp âm nhạc, thi ca của ông luôn song hành. Ông vào bộ đội tình nguyện từ năm 1953. Do có năng khiếu âm nhạc, ông được cử đi học các lớp violoncelle do Tổng cục Chính trị mở (1956-1958), đến năm 1963-1965, tiếp tục học tại Trường Âm nhạc Việt Nam, rồi Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, chuyên ngành Âm nhạc (1977-1981). Ông từng công tác ở nhiều đơn vị: nhạc công Đoàn Văn công Quân khu IV, nhạc công Đoàn Ca Múa Tổng cục Chính trị, Tổ cán sự sáng tác Đoàn Văn công Hải quân, phụ trách văn nghệ Học viện Hải quân (Nha Trang).

Các tác phẩm tiêu biểu:

+ Về âm nhạc, đã xuất bản 3 tập ca khúc: “Tôi có một tình yêu” (2008, NXB Âm nhạc Việt Nam), “Giọt đàn nghiêng” (2013, NXB Âm nhạc Việt Nam), “Những ca khúc về Đảng và Bác Hồ” (2016, NXB Thanh Hoá) giải C của Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hoà. Những ca khúc tiêu biểu của ông gồm: “Hoa thắm dâng Đảng”, “Khi tôi hát về Người”, “Lá thư gửi từ đảo nhỏ”, “Lời ru của cha”, “Biển lặng”, “Ca khúc Xứ Trầm Hương”…

+ Về khí nhạc: “Khúc ngẫu hứng biển” cho đàn violoncelle và piano.

+ Về thơ: khoảng 300 bài thơ Đường luật, nhiều bài thơ trữ tình, thơ trào phúng và khoảng trên 200 bài thơ haikư.

Riêng tại Khánh Hoà nơi ông đang sinh sống, ông đã sáng tác và nhận một số giải thưởng cao quý như: giải Nhất với tác phẩm “Về với cội nguồn” nhân kỷ niệm 350 năm thành lập tỉnh Khánh Hoà, giải Ba với bài hát “Kìa em đảo Yến” viết về đảo Yến do Tổng Công ty Yến sào tổ chức năm 2013. Giải cao nhất với khúc ca nhân Kỷ niệm 15 năm ngày thành lập thị xã Ninh Hoà với bài “Mưa Ninh Hoà” (phổ thơ Phạm Dạ Thuỷ), Giải Nhất với tác phẩm “Đảo Gió” (đảo Bích Đầm) nhân Kỷ niệm 45 năm ngày Thành lập Bộ đội Biên Phòng.

Ông đã vinh dự nhận huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều giải thưởng cao quý của các đơn vị, các địa phương, của Hội Nhạc sỹ Việt Nam. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba.

 

  1. Thơ haiku–Việt của Nguyễn Tiến Liêu

 

Dù chưa kịp in riêng tập thơ haiku–Việt nào nhưng Nguyễn Tiến Liêu được bạn thơ biết đến bởi số lượng và chất lượng thơ ông. Ta có thể tìm đọc trên website Câu lạc bộ haiku–Việt Hà Nội hay trong trong tạp chí Người Hà Nội, hoặc ở ba tập thơ haiku-Việt của CLB haiku-Việt Nha Trang, trong tập thơ “Hoa bốn mùa”, tập thơ “12 năm ấy” và trong các Nội san của CLB haiku-Việt Hà Nội. (Để dễ theo dõi, tác giả bài viết xin phép được đánh số thứ tự từ 1 đến 36 cho 36 bài thơ haiku-Việt của ông được chọn dẫn trong bài viết này).

 

 

1.Ngắm em

 nét đẹp

 mỗi ngày.

 

2.Mấy ai không có

 mối tình pha lê

 dẫu đời dâu bể.

 

3.Xoài lủng lẳng

 nắng soi nghiêng

 ngực trần Tây Nguyên.

 

4.Quê hương!

khối nam châm khổng lồ

người xa quê 

    những mạt sắt tháng ngày lăn lóc.

 

5.Mỗi lần về

trái tim bật khóc

khi lại phải rời chân

 

6.Quê hương!

nơi ta nợ nần

chất chồng tình cảm

 

 

Trong trang Thơ hơn một lần thơ, số 35+36, ra ngày 2.9.2015 cùng góp mặt với bạn thơ cả nước, Nguyễn Tiến Liêu với bút danh Nguyễn Kỳ Anh đã mở đầu trang với bài:

         7.Mẹ già tay run rẩy

      gắp trượt mãi quả cà

      đời nghèo lăn lăn theo.

Đọc và cảm nhận bản thảo viết tay và đánh máy của Nguyễn Tiến Liêu, ta thấy thơ haiku-Việt của ông có nội dung khá phong phú. Cụ thể:

 

3.1. Thơ haiku-Việt của Nguyễn Tiến Liêu đẫm chất chiến sĩ trong từng ngôn từ khi tái hiện lịch sử dân tộc Việt Nam

 

Thể thơ xuất phát từ Nhật Bản trong tay Nguyễn Tiến Liêu được Việt hoá nội dung tư tưởng như khi ông nhắc tới Mẹ Suốt anh hùng, nhắc lại trận Bạch Đằng giang oanh liệt của dân tộc ta hay phản ánh tính thời sự của vận mệnh Tổ quốc:

 

 

  1. Nước mắt mặt trời

thành dòng Nhật Lệ

dập dềnh dáng Mẹ một thời liệt

oanh.

  1. Phà xưa qua bến

nay neo chốn nào

sóng mãi xôn xao

  1. Qua Bạch Đằng giang

 

cọc lim ngày ấy

vẫn găm tim người.

  1. Lưng đèo hoa ban nở

ngựa phì phò nhả sương

tuần tra biên cương.

  1. Biển ngạt

hải sản ngáp

thoi thóp niềm tin

.

 

 

3.2. Thơ haiku-Việt của Nguyễn Tiến Liêu đúc kết kinh nghiệm sống 

Chân thành, tình nghĩa nhưng tỉnh táo, tươi vui là những tố chất giúp Nguyễn Tiến Liêu thành công trong thể thơ chỉ có 3 hàng với tổng số chữ tối đa là 17 đúc kết những kinh nghiệm sống quý báu:

 

 

  1. Nhỏ to tranh chấp

     phe cánh nào

     rồi cũng dế giun.

  1. Chung chèo mát mái

      dễ đã hơn ai

      huống nữa trống xuôi, kèn ngược

  1. Dẫu cưa sừng

      trâu vẫn là trâu

      đâu nghé!

  1. Mỏng, dày dựng cạnh nhau

      mở ra trong, đục, nông, sâu

      chuyện đời.

  1. Ngáp được ruồi

      quen mùi

      lắm kẻ.

  1. Đời – cuộc rong chơi

      tình – cán cân được mất

      thơ –  nước mắt nụ cười.

  1. Sự hy sinh

      nỗi bất bình

      trộn hoài năm tháng.

  1. Họp người cao tuổi

      bạn cũ thưa dần

      bước chân càng khập khiễng.

  1. Đang sống nửa mắt nhòm

      hạ huyệt

      ong vỡ tổ.

  1. Chẳng cho ai tất cả

      xin dành riêng ta

      lòng vị tha.

  1. Dép ngửa mặt lên trời

     mặc chân

     tha hồ giẫm.

 

 

3.3. Thơ haiku-Việt của Nguyễn Tiến Liêu có cái cuời hóm hỉnh, có giọng điệu lac quan khi tự trào về tuổi già, về sức yếu, về bệnh tật 

 

Người lính già giàu tâm hồn nghệ sĩ Nguyễn Tiến Liêu đã từng được đài báo mời giao lưu với khán thính giả cũng bởi cái nét tinh nghịch rất lính, và khí chất này cũng thể hiện trong những bài haiku của ông:

 

 

  1. Em xinh 

      đứng một mình

      khổ anh.

  1. Nõn nà trước sóng

     chân duỗi hừng đông

     nhấp nhô bồng đảo.

  1. Không có tình cuối

      chỉ tình đầu

      tim không ổ khoá.

  1. Xưa nhanh như sóc

      nay lọc cọc gối què

      may hơn bao đồng đội không về.

  1. Ngồi xe lăn

      đỡ lăn tăn

      trườn – bò.

 

 

3.4. Thơ haiku-Việt của Nguyễn Tiến Liêu đẫm tình cảm với mẹ, với quê hương, với bạn thơ:

Chàng trai xứ Nghệ đã từng xung phong đi bộ đội khi chưa đủ tuổi nhập ngũ Nguyễn Tiến Liêu có những bài thơ về mẹ rất nhẹ nhàng mà xúc động. Hiểu và thương bạn bè nên ông cũng thành công trong những bài thơ về tình bạn, tình quê, chẳng hạn:

 

 

  1. Mẹ – vầng mây xanh

      vắt qua trời goá bụa

      đừng vội về cõi thọ người ơi

  1. Đường xưa ngõ cũ

      gió ủ hồn quê

      tha hương lần về.

  1. Phóng ba mươi cây số

      đọc ba câu thơ

      chỉ có haiku thành phố biển.

  1. Giải một

      chiêu đãi mười

      văn nghệ sĩ.

  1. Trôi như thời gian

      tàn như nhan sắc

      mở như haiku.

  1. Nhận diện nền văn hoá

      qua em

      đủ rồi.

 

 

3.5.  Thơ haiku-Việt của Nguyễn Tiến Liêu có tính đa nghĩa 

Vốn là nhà thơ trào phúng nên tính hài hước, dí dỏm thấm đẫm trong tâm hồn người lính hải quân lạc quan này vì thế khi sáng tác thể thơ haiku – thể thơ kiệm lời, tao nhã, Nguyễn Tiến Liêu cũng Việt hoá nó một cách rất riêng, tạo được dấu ấn đặc biệt, chẳng hạn:

  1. Hai thân áp đứng

      rễ cái đâm ngang

      đại ngàn rung chuyển. 

 

  1. Nguyễn Tiến Liêu luôn chú trọng việc phát triển đội ngũ và trăn trở tìm hướng phát triển riêng cho Câu lạc bộ haiku-Việt Nha Trang

 

Gần đây, tuổi cao sức yếu khiến ông gặp khó khăn nhiều trong việc tham gia sinh hoạt cùng câu lạc bộ, ông luôn nhớ lịch họp, gọi điện để thăm hỏi, nắm tình hình, đưa ra những ý kiến đóng góp cho Ban Chủ nhiệm nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt. Ông còn tâm sự, trao đổi riêng với những thành viên có điều kiện giảng dạy, công tác tại các trường đại học, cao đẳng hay phổ thông với mong ước đưa haiku-Việt đến với giới trẻ tại Nha Trang nói riêng, Khánh Hoà nói chung. Bạn thơ luôn trân quý hỏi han, động viên ông; có nhiều nhà thơ làm thơ ca ngợi ông như Hà Bàng, Hương Xuân, Thanh Vân… nhân dịp Tết đến, xuân về hay trong các buổi sinh hoạt thơ để khen ngợi người nghệ sĩ đa thanh sắc này. Ông thật xứng đáng là ngọn cờ đầu của Câu lạc bộ haiku-Việt Nha Trang dẫu cho ông luôn tâm niệm:

  1. Không dựng cột cờ

      Gộp thành bó đũa

      Haiku xứ Trầm.

 

NTAT

Bài viết khác

Tác giả: Haiku Việt