Cảm nhận về cuộc thi sáng tác Haiku Việt chủ đề “Việt Nam đất nước con người”

Tính đến 24h ngày 31/8/2021, chúng tôi đã nhận được 176 chùm thơ (mỗi chùm 5 bài- tổng cộng là 880 bài) của 176 tác giả gởi đến từ 50 tỉnh thành trên toàn quốc, và người Việt ở nước ngoài. Các chùm thơ Haiku dự thi được mã hóa tên tác giả và đăng trên trang web: haikuviet.com.

Theo đánh giá chung, 100 bài haiku như những hạt ngọc nhỏ bé, góp phần làm cho cuộc thi tỏa sáng. Dĩ nhiên, công việc của chúng tôi là cố gắng chọn ra những viên ngọc sáng giá nhất để trao giải. Chúng tôi mạn phép điểm sơ qua một vài cảm nhận, trước khi vào chung khảo, như một cách tôn trọng sự góp mặt của những tác giả dự thi kỳ này. Bất cứ cuộc thi nào cũng có người đạt giải, người không đạt giải. Chúng tôi luôn hiểu rằng, dù có giải hay không có giải, quý bạn cũng là người chiến thắng. Vinh dự thuộc về người sáng tác có tâm.

CLB Haiku Việt – Hà Nội – dù là lần đầu tổ chức, nhưng BGK là những cây bút uy tín, từng trải, có kinh nghiệm trên văn, thi đàn cả nước, nên chúng ta không lo có ai đó bị bỏ quên. Tôn vinh thơ hay là nhiệm vụ của chúng tôi, nhất là thơ Haiku, thể thơ được du nhập từ Nhật Bản. Thơ Haiku không mới, nhưng khó tiếp cận. Đó là điều ai cũng biết, vì thế nó rất cần được giới thiệu rộng rãi cho người yêu thơ Việt Nam. Thực tế thì thơ Haiku đã có mặt trên khắp thế giới, do sự cô đọng, sâu sắc của nó. Vì thế, cuộc thi thơ lần này diễn ra là để hướng đến tương lai, đất nước chúng ta sẽ có nhiều cây bút tài hoa xuất hiện. Chúng tôi rất vui mừng đón nhận, nhiều cây bút chuyên và không chuyên trên cả nước và người Việt nước ngoài cùng tham gia. Trong đó, có những bài thơ xuất sắc đáng gọi là hạt ngọc, nhưng cũng có nhiều hạt sạn là điều không tránh khỏi. Nhìn chung, các tác giả tham dự cuộc thi đều đi đúng chủ đề:”Việt Nam đất nước – con người” mà BTC đã đề ra.

Điều thú vị trong cuộc thi này, là chúng ta được chiêm ngưỡng cuộc trưng bày muôn sắc điệu haiku. Thơ gắn liền với cuộc sống hiện đại, thông qua đó nói lên tư duy của người Việt về nhiều vấn đề nhạy cảm, lớn lao như bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật, núi non, đồng ruộng, cây cỏ, làng quê vv… một cách nhẹ nhàng mà không kém phần sâu sắc. Nhất là tính hoài cổ, lòng nhân ái, bao dung, tình thương yêu vô bờ bến đối với nghĩa đồng bào cao cả, nhân văn, được thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ hết sức kiệm cần, và tiết chế của thể thơ được mệnh danh là “nhỏ bé nhất thế giới” này!

Tác giả mang mã số (TTT001) là người đầu tiên tham gia cuộc thi, với chùm thơ có hai bài nổi bật. Chúng ta thấy, nỗi nhớ làng quê được đưa lên hàng đầu trong những nỗi nhớ xa xỉ của thời công nghiệp.

Bất chợt tiếng bìm bịp
giữa phố đông rộn ràng
tiếng quê nhà lang thang.

Và trên trang vở ố màu thời gian kia, vẫn là những khắc khoải nghiêng về tuổi học trò.

Trên trang vở ố

cánh phượng mỏng manh

bướm nghiêng mùa cũ

Tác giả mang mã số (CHR 003) có hai bài thơ xuất sắc, khi cây mạ ngẩng đầu lên trong gió may, cũng là lúc lưng cha còng xuống như bóng chiều tà. Đó là cặp đối xứng, làm bật lên ý thơ khác lạ, nói về người cha trong cảnh “gà trống nuôi con”, thật xót xa và đáng trân trọng….

4.

Cây mạ ngẩng đầu
lưng cha còng thấp
bóng chiều.

Để vượt qua nhiều khổ ải trong đời, nhiều khi chỉ cần nhìn một chiếc lá rơi, và cách nó rơi nhẹ tênh trên quyển kinh Phật, khiến lòng ta cũng theo đó mà bỏ rơi phiền não.

5.

Lá rơi
trên kinh Phật
nhẹ tênh.

Tác giả mang mã số (VLH004), đến với bài thơ về tình bạn rất đáng chú ý, chim vàng anh và cây bàng già làm sao để giữ gìn một tình bạn? Phải chăng cây bàng che bóng cho chim đậu, và trả lại là tiếng hót vang lên như lời tự tình…

Vâng, lời thơ uyển chuyển nói lên cây và chim đang đón nhận lẫn nhau, làm nên tình bạn khắng khít trong đời.

2.

Ríu rít chim vàng anh

lặng im cây bàng già

giữ gìn một tình bạn.

Tác giả mang mã số (NLS006) thì đem lại một cái nhìn tượng trưng hơn, đất nước chúng ta vượt qua mọi sóng gió để hướng về hòa bình. Vầng trăng là kigo, tiếng hót là biểu tượng nhân văn, nói lên sự tinh tế trong tâm hồn người Việt.

1.

Đàn chim Việt

bay qua biển rộng

thả tiếng hót vào trăng

Núi sông Việt Nam chính là lịch sử. Chỉ qua làn gió núi, hòn Vọng phu được tái hiện, là cách tri ân những người mẹ anh hùng. Thơ gắn liền với thiên nhiên là vậy, là tạo nên những áng thơ hay.

Gió núi thổi triệu năm

tạc nên những hòn vọng phu

tri ân mẹ Việt Nam

Tác giả mang mã số (ĐTD 021), bất chợt nhìn thấy một hạt sương tuyệt đẹp, một ngọn cỏ mềm mại yếu ớt, lại có thể treo một mặt trời rạng rỡ thế kia. Đó là giây phút cái nhìn của con người trở nên hồn nhiên nhất, thơ vì thế mà đi vào lòng người…

4.

Hạt sương

đầu ngọn cỏ

treo mặt trời lửng lơ

Nhưng khi nhìn thấy một hành khất tả tơi, thì tâm trạng nhà thơ rối bời. Cái mà nhà thơ muốn nói chính là nỗi cô đơn. Cô đơn đến tận cùng…

5.

Áo rách

lom khom

cây gậy chìa tay cô đơn.

Tác giả mang mã số (TTH 022), biết vận dụng tính “không thấm nước” của lá môn, làm nên cuộc diễn xuất bất tận. Giọt nước và chiếc lá khoai là cả một thế giới, trong đó có bài học làm người. Câu kết đem đến sự bất ngờ cho người đọc.

1.

Chiếc lá khoai nghiêng

giọt nước long lanh xoay tròn

đâu biết mình trượt chân.

Tác giả mang mã số (NHA 023) đem đến ba bài thơ xúc động. Đó là cái chết trong mùa dịch Covid-19, không còn nhang khói, không còn chiêng trống. Sự trống vắng đến ngột ngạt. Và “họa vô đơn chí”, đôi vợ chồng neo đơn vừa mất một người con, cảnh đau lòng xảy ra dưới mái tranh nghèo. Có đau xót nào hơn đau xót nào, khi dưới ánh đèn đưởng, lại là một cảnh kiếm sống khó khăn….

1.

Trong tang lễ

không tiếng trống chiêng ngân vang

mọi người đeo khẩu trang

3.

Trong mái nhà tranh cũ

đôi vợ chồng già tựa vai nhau

cầm di ảnh người con

Ngoài trời phảng phất mưa

qua ánh đèn đường chiếu rọi

một em bé ve chai.

Trở về với làng quê, tác giả mang mã số (NDV 030) cho chúng ta hưởng không khí của hương cau mát dịu, một miền cổ tích được mở ra…

4

Trăng rụng trước thềm

hương cau

vỡ miền cổ tích.

Tác giả mang mã số (NTM 032), bất ngờ nhìn thấy trên cánh đồng, mộ của chiến sĩ vô danh luôn được thiên nhiên chăm chút. Ý thơ nói về người mẹ thiên nhiên vô cùng nhân hậu, thì con người không có lý do gì ra tay phá hoại thiên nhiên tươi đẹp, mà phải góp sức bảo vệ thiên nhiên, để thiên nhiên nuôi sống tâm hồn chúng ta.

5.

Những chiến sĩ

chết trên đồng hoang

nấm mồ nở hoa.

Cuộc thi của chúng ta trở nên đa dạng, khi tác giả mang mã số (BMV 033) nhắc đến cảnh một Già làng Tây Nguyên nhìn thấy rừng núi bị “lâm tặc” phá hoại. Ông bước đi mà lòng lo âu về một ngày rừng núi của ông không còn nữa. Bài thơ là một thông điệp nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc, những ai tàn phá rừng, cũng chính là tàn phá cuộc sống của cư dân trên trái đất này vậy…

2.

Trên ngọn đồi quạnh quẽ

già làng bước một mình

tiếng sỏi lăn

Tác giả mang mã số (MHH 034) miêu tả một hoàn cảnh thương tâm, cũng là người hành khất trong đêm mưa gió lạnh lùng, tiếng ho làm thắt ruột nhân gian. Tiếng ho là từ khóa cho bài này, tác giả không kìm nổi lòng thương xót, thơ bật ra tràn đầy cảm xúc…

Hạt mưa rơi tí tách

người hành khất đắp manh chiếu rách
tiếng ho thắt ruột đêm

Rồi nghe văng vẳng đâu đây, một tiếng chuông làm ta tỉnh thức. Đó là tiếng chuông trong thơ của tác giả mang mã số (ĐVN 041), tiếng chuông lướt trên mặt hồ vào một đêm trăng. Thật tuyệt diệu với thi ảnh trăng chao đáy nước. Một mặt hồ trong veo, lặng ngắt, một vầng trăng và một người thơ, phải chăng là món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng?

1.

Văng vẳng tiếng chuông

đánh thức mặt hồ

trăng chao tận đáy

Tác giả mang mã số (TQT 042) cho rằng tâm hồn Việt giống như hoa sen. Đúng vậy, người Việt từ “bùn đất” của nền nông nghiệp đứng lên, làm nên một đất nước có truyền thống văn hóa, giàu đẹp như hôm nay, chính là ý chí mạnh mẽ vượt “bùn đen” của nòi giống Lạc Hồng. Chúng ta luôn tự hào về điều đó.

5.

Từ bùn tanh

sen nở trắng thanh khiết

hồn Việt

Tác giả mang mã số (NĐT 051) dân dã hơn, nhà thơ tả về người bán rong bằng xe đạp thồ. Ngoài công việc mưu sinh, người ấy còn “chở quê vào phố”, làm cho phố đẹp hơn lên, gần gủi với thiên nhiên hơn.

1.

Lồng cồng

xe đạp thồ                   

chở quê vào phố

Còn tác giả mang mã số (LVC 056), lại giật mình chợt hỏi “ta đâu?”, giữa cái hiện hữu và không hiện hữu. Không có cái ta, hay vô ngã tính là bài học sâu sắc nhất trong Đạo Phật. Thơ chỉ thoáng qua một nét, rồi chìm trong sự mất mát vô thường.

4.

Thò gáo

vớt được trăng trong chum

chợt giật mình ta đâu?

Tác giả mang mã số (NTB 061) bị lạc mất cánh đồng tuổi thơ, là sự nuối tiếc không có kết thúc…


  • Lạc mất cánh đồng
    tuổi thơ chạy tìm bầy nghé ọ
    sợi khói mồ côi.

Tác giả mang mã số (QIP 064) gởi những tứ thơ hoài cổ về một mùa thu Hà Nội, khi cùng ai đó xe đạp tung tăng qua phố. Quả thật, một Hà Thành xưa hiện về trên  tà áo dài, nơi lưu giữ ký ức của thế kỷ trước. Bài thơ đẹp như bức tranh phố Phái một ngày thu dịu êm…

3.

Em chở phố mùa thu

hà nội thơ

thế kỷ xưa trong tà áo lụa

Tác giả mang mã số (NMT 071), một sợi khói mồ côi đủ làm nên ý thơ trong sáng. Nhưng tiếng khóc muộn màng thì mãi vẩn đục sau song cửa sắt.

2.

Mắt người tù

ôm lấy cửa sắt 

khóc muộn màng

Tác giả mang mã số (TTK 076) nhắc chúng ta mùi quê hương. Cái xó bếp ấy, cả con nhện còn thèm mùi cơm mẹ nấu, huống hồ chúng ta, những kẻ lưu vong trên chính quê hương mình.

4.

Con nhện

giăng tơ xó bếp

thèm mùi cơm quê

Thật vậy, có khi chúng ta như hai đứa trẻ, còn chia nhau chiếc bánh ngày ấu thơ, hưởng chung một niềm vui hồn nhiên trong sáng nhất.

5.

Chia đôi chiếc bánh

hai đứa trẻ

chung một niềm vui.

Tác giả mang mã số (NVL 077) dang tay ôm biển quê nhà, chợt thấy bàn tay mình rộng lớn thế. Một chân trời đỏ rực, đang chờ đón những đứa con của biển. Bài thơ vô cùng đơn sơ, nhưng sức tưởng tượng không nhỏ, ẩn chứa niềm tin khám phá chân trời.

5.

Dang tay ôm biển

chạm

chân trời đỏ rực.

Tác giả mang mã số (NTL 079) dành trọn ý thơ đặc tả giọt sương như con mèo nhỏ, cuộn tròn, soi gương qua ánh xạ của vầng trăng men kẽ lá xanh.

1.

Trăng men kẽ lá

giọt sương cuộn tròn

thản nhiên soi gương

Trống vắng, hoang lạnh là ý tưởng của tác giả mang mã số (HTV 080). Một tiếng hú dài, vang vọng cả thinh không, đồi núi. Cánh đồng thì nín lặng trước vẻ đẹp hoang dã của trăng đêm. Đem cái mênh mông để thấy cái nhỏ bé của con người, vầng trăng như vị thần chiếm lĩnh cả không gian tịch lặng.

2.

Tiếng hú dài

cánh đồng nín lặng

Trăng

Tác giả mang mã số (MHK 081) thì thấy bóng cây trơ trọi, vầng trăng Hàn Mặc Tử tái hiện “để lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”, bên mùa thu chín. Phải nói là khung cảnh trong thơ thật vi diệu, thần tiên. Cái hay là cảnh sắc toàn thu, như bức tranh Levitan tuyệt đẹp.

4.

Cây cởi áo
lộ khuôn trăng
thu chín vàng

Trở lại đời với sống hiện đại, tác giả mang mã số (ĐĐH 082) vẽ lại bữa cơm gia đình đã mất đi tình cảm truyền thống xưa, khi mỗi người đều “ôm điện thoại” riêng mình.

2.

Bữa cơm gia đình

cả nhà lặng thinh

ôm điện thoại…

Cái gì cũng có cái giá của nó, nỗi buồn không của riêng ai. Tác giả mang mã số (TCQ 084) thì ngược lại, nhà thơ đã thấy một tình yêu vô bờ bến nở trên môi, sau chiếc khẩu trang của những thiên thần áo trắng, ngày đêm làm việc cứu người. Đôi mắt thâm quầng, nhưng ánh mắt thì tuyệt đẹp, bởi tình yêu vô tư của người thầy thuốc.

1.

Đôi mắt thâm quầng

chiếc khẩu trang phập phồng

nụ cười em nở

Tác giả mang mã số (ĐTT 087) tự hào về lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc bằng đôi câu thơ rực rỡ, neo vào bầu trời Lũng Cú một ngọn đuốc. Ngọn đuốc reo lên “phần phật” trong gió, khẳng định chủ quyền đất nước ta.

2.

Trên cột cờ Lũng Cú

ngọn đuốc trời Nam

phần phật

Tác giả mang mã số (LDB 088), khẳng định rằng, không những trên bầu trời Lũng Cú địa đầu, mà ngay trước ngực người cựu binh, huân chương vẫn luôn đỏ tươi cùng với nhịp đập của trái tim yêu Tổ Quốc.

5.

Huân chương trên ngực

bao năm

vẫn tươi màu đỏ

Còn đây, một thoáng dịu dàng của người con gái khiến trăng cũng e thẹn. Thơ không cứng ngắt, thơ mở rộng biên độ thẩm mỹ giữa con người, thiên nhiên và vũ trụ, đem đến một cái nhìn toàn mỹ hơn.

Em cởi cúc áo

vầng trăng

lẻn vào đám mây

Tác giả mang mã số (LVR 090) thì lo âu hướng về các dòng sông hạ nguồn, khi Trung Quốc đắp đập ngăn dòng chảy trên sông Mekong, khiến mực nước giảm đột ngột, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của dân cư các nước Đông Nam Á.

3.

Những con đập vắt ngang

mùa bão lũ lại về

đau một miền trắng xóa

Phá vỡ hệ sinh thái hạ nguồn là nỗi đau chung, trong đó có Châu thổ sông Hồng và  ĐBSCL của miền Nam nước ta. Vì thế, nhà thơ khẳng định hành trình của những con sông là hành trình gian khổ, để có vị ngọt phù sa, sông phải trải qua cuộc chảy gập ghềnh trôi nổi.

4.

Những con sông

mang vị ngọt phù sa

qua gập ghềnh biển mặn

Tác giả mang mã số (LTG 091) hướng về sông Hằng linh thiêng, cuộc thiêu xác xảy ra trong mùa covid-19 quét qua xứ Ấn thật đau xót, cả thế giới lên tiếng nguyện cầu. Đây cũng là nỗi sợ hãi của xã hội loài người, tượng trưng bằng lưỡi hái treo lơ lửng trên đầu chúng sinh.

2.

Giàn thiêu rực lửa

xác trôi trên dòng sông linh thiêng 

lưỡi hái tử thần lơ lửng!

Tác giả mang mã số (NTS 092) nói về thứ tình yêu chỉ có trong một chữ “duyên”. Không có duyên không gặp. Có duyên ắt sẽ gặp, bởi giữa xã hội bao la làm sao biết đâu là tình yêu đích thực? Trong khi đó, một bên như ngọn hải đăng không thắp, một bên như con tàu không số. Nhưng lạ thay, trái tim là nơi định vị tình yêu ấy. Chợt nhớ xưa người Viking tìm ra Châu Mỹ trước Colombo, chỉ nhờ phương pháp định vị mặt trời. Đó là viên đá thần giúp họ vượt qua đại dương mênh mông không có bóng mặt trời. Trong tình yêu, trái tim là viên đá thần mà nhà thơ nói đến. Thật sâu xa và đầy ý nghĩa.

2.

Em hải đăng không đèn
anh con tàu không số
định vị bằng trái tim.


Tác giả mang mã số (LVH 093) thả hồn phiêu diêu khi nghe tiếng chim hót, tiếng hót như một giai điệu có năng lực bay bổng, khiến người thơ bỗng thấy hồn mình được treo vào không gian bao la…

Vâng, chim hót khi ngẩng cao đầu là hướng cung bậc lên cao, người thơ cũng thế, được treo vào khoảng không cũng là cách biến thành tiếng hót. Thơ cũng như tiếng hót, bay bổng, phiêu vời…

 2.

Ngẩng cao đầu

chim cất tiếng hót

treo hồn ta vào khoảng không.

Tác giả mang mã số (NPA 095) gởi niềm xúc động tinh tế vào một từ “vương”. Khi lũ quét qua, mọi thứ đều trôi theo dòng nước dữ, nhà thơ chỉ nhìn thấy “một chiếc tã” vương trên mái nhà thôi, là thơ đã nói hết rồi. Đau thương, xúc động gói vào trong ấy…

2.

Lũ đi

vương trên mái nhà

một chiếc tã nhỏ

Một trái đất đầy thiên tai biến động, tác giả đã ghi lại bằng hai bài thơ nhỏ nhắn mà lan tỏa, đơn mộc mà sâu sắc. Chỉ cần nói “rêu long ghế đá”, thì liền có một khoảng không mênh mông dành cho người thưởng ngoạn. Thơ haiku là thế, là phẩm chất kiệm lời, là gợi mở, và tôn trọng người đọc.

3.

Dịch bệnh

lá xanh lìa cành

rêu loang ghế đá

Tác giả mang mã số (PVT 099) thì xem hoàn cảnh là cơ hội sáng tác, trong đêm cô đơn những con chữ nảy mầm. Vì thế mà thơ mọc lên trùng trùng giai điệu bất tận…

4.

Tiếng côn trùng kêu rỉ rả

đêm cô đơn 

nảy mầm con chữ

Tác giả mang mã số (NBK 103) điểm xuyết những nét đẹp thời covid-19. Dù không thể nhìn thấy nụ cười qua khẩu trang, nhưng đôi mắt đã nói lên tất cả. Dù khuyết thì vẫn vầng trăng hạ huyền, mang nét đẹp riêng của nó.

5.

Vầng trăng khuyết

khẩu trang không thể che khuất

nụ cười trong đôi mắt

Tác giả mang mã số (TNH 107) nhớ về một ngày dịch giã tràn lan, người mẹ bác sĩ đành xa con thơ đi vào vùng dịch. Nếu không có cái ngây thơ, hồn nhiên của đứa bé thì không có gì đáng nói. Nhưng tác giả đã khéo léo dồn mạch cảm xúc vào câu kết “bé bắc ghế hôn ti vi”, thì sự xúc động đã vỡ òa…

1.

Hai tám tháng sáu

mẹ chống dịch trong khu cách ly

bé bắc ghế hôn ti vi

Tác giả mang mã số (PLH 113) gởi cảm xúc vào bài thơ cực ngắn, chỉ vỏn vẹn có  bảy từ, mà sự thương xót là cả một tang lễ. Điều này nói lên công năng của haiku, dồn nén trong cái vô cùng nhỏ bé, mà sự lan tỏa là bao la, mênh mông…

2.

Hao gầy

nến khóc

giữa ban ngày

Trong đau khổ vẫn không thể mất điều thơ mộng, đó là đôi mắt thong thanh chứa cả một vầng trăng mùa diễm tuyệt.

3.

Thong thanh mắt em

vầng trăng in nước

mộng ướt sương đêm

Tác giả mang mã số (NXH 116) cũng không ra khỏi cơn phủ sóng của mùa dịch. Dù cách ly thế nào, thì trẻ sơ sinh cũng không thể xa bầu sữa mẹ. Một sự gắn kết phi thường, mà chỉ có cái chết mới chia lìa họ được.

2.

Đại dịch Covid

không thể cách ly

bầu sữa mẹ

Có thể nói, đó là sức mạnh của tình mẫu tử. Rồi nhà thơ nhìn một con gián, một thế giới mở ra, ảnh chiếu đời sống thực tại. Triết lý về con gián từ đó ra đời.

1.

Con gián bất động

một thế giới buồn

soi gương

Tác giả mang mã số (TMT 128) đã cho chúng ta nghe, cuộc trò chuyện bí mật với “đám hoa nhài trước sân”. Đó là nỗi cô đơn cùng cực khi giặc covid vây bủa tứ bề, không có người tâm sự, thì bày tỏ nỗi niềm với cỏ cây, nhờ hương cỏ cây mang lời nói của mình đi xa.

2.

Giãn cách toàn dân

ngày đêm trò chuyện

đám nhài trước sân.

Trò chuyện với đám nhài trước sân là cách trở về với thiên nhiên, giải tỏa cơn strees mà con người hiện đại vướng phải, cũng là cách bày tỏ tình yêu với mọi vật quanh ta. Khi sợi dây giăng rồi, thì dù tôi đang ở Sài Gòn vẫn là tôi cách mặt với Sài Gòn. Cái hay của thơ haiku được tác giả triển khai triệt để.

5.

Sợi dây giăng rồi

chia hai ranh giới

Sài Gòn và tôi.

Tác giả mang mã số (NVĐ 130) gói gọn cuộc tang thương nhất của đời người trong 12 từ cực sốc! Đó là một đám tang không có đám tang. Sức nặng của cô độc đè lên thân xác người phụ nữ. Không còn từ nào hay hơn để diễn tả sự cô độc này. Cái hay của bài thơ là tác giả không hề nói đến nước mắt. Bởi cuộc tang thương nào cũng có nước mắt, nhưng cuộc tang thương đặc biệt này thì nước mắt đã khô, nước mắt đã chảy ngược vào tim. Chỉ còn một hình hài chết đứng, lặng lẽ, vô thanh…

Lưng gùi con thơ

tay ôm trước ngực

hủ tro cốt chồng!

Tác giả mang mã số (LTL 136) nhìn đời bằng con mắt lạc quan. Dù trải bao giông tố trong đời, vẫn có một lối về mở ra đầy hương vị. Có khi, đó là kẽ nứt trên nền một ngôi nhà cũ, cỏ cây vẫn lặng lẽ sống và hiến dâng hoa thơm. Vâng, ý chí và niềm tin đã cứu sống một thế giới ngỡ như đã mất tích, lại ngào ngạt sắc hương…

3.

Kẽ nứt nền nhà

ra hoa

ngõ ngách đời

Tác giả mang mã số (ĐVT 138) có tứ thơ giống tác giả mang mã số (NPA 095), cũng nói về cơn bão lũ miền Trung, nước dâng tới mái nhà. Cùng sử dụng từ “vương”, nhưng ở đây vương cánh lục bình thì ý thơ lại khác biệt. Lục bình là loài hoa trôi nổi giang hồ, không ai có thể làm cho cuộc trôi của nó dừng lại được. Thế mà thiên tai đã có sức mạnh ghê gớm, buộc nó phải “trụ” lại trên khoảng không. Thơ nói với chúng ta rằng, trong cuộc vô thường không điều gì là không thể!

1.

Mái nhà

vương cánh lục bình

tím biếc

Tất cả, rồi tất cả phải tuân theo quy luật vô thường, cũng giống như đám mây kia, con chuồn chuồn đạp nước nhỏ bé là thế, cũng có thể làm cho tan vầng mây ảo ảnh dưới đáy ao mùa thu.

2.

Ao thu

chuồn chuồn đạp nước

tan vầng mây

Tác giả mang mã số (TTY 139) đem đến một bài thơ tuyệt hay. Chỉ có 9 từ đã tạo nên một thi ảnh đẹp lộng lẫy. Chợt nhớ câu hát:”cô đơn sấu rụng ngoài ngõ vắng” của nhạc sĩ Trọng Đài, mà lòng bâng khuâng nhớ “Hà Nội đêm trở gió”. Người Hà Nội nào cũng có trong lòng một mùa sấu rụng, nhưng tiếng sấu rụng trong bài thơ này không có âm vang, mà sao vang dội lòng người đến thế? Phải chăng cách “làm rách mùi hương” của quả sấu vô tình kia, là âm thanh cộng hưởng của mùa thu mà chỉ có những tâm hồn tinh tế mới nhận được? Bài thơ nhỏ này là sự tinh tế đáng nể phục.

3.

Dưới bóng hoa

sấu rụng

làm rách mùi hương

Tác giả mang mã số (LTĐ 141) lại đem đến cho người đọc một hạt ngọc long lanh nữa. Có lẽ ngồi bên mộ Cụ Nguyễn, người thơ mới thâm nhập được cõi hư vô này mà viết nên câu thơ tuyệt tác chăng?

1.

Lạc vào hư vô

nghe như Kiều khóc

bên mồ Nguyễn Du

Người đời nay còn nghe tiếng khóc của Kiều, thì quả là người có tâm hồn vô cùng nhạy cảm. Thật ra, nếu được hỏi lại tôi sẽ hỏi, Kiều khóc hay Nguyễn Du khóc? Câu trả lời là cả hai chăng? Quả thật, Cụ Nguyễn viết Kiều là gởi gắm nhiều tâm sự nhân tình thế thái vào đó. Kiệt tác này có sức ám ảnh lớn lao đa số tâm hồn Việt, nên ma lực hấp dẫn của nó là mãi mãi…

Và bài thơ về tiếng mọt gỗ, cũng là bản trường ca hay và ngắn nhất mà tác giả có được.

3.

Nhà cổ

tiếng mọt gỗ

bản trường ca đêm

Tác giả mang mã số (LĐT 142) có lẽ là một Phật tử thuần thành, nên thơ ảnh hưởng giáo lý nhà Phật. Một người mẹ thuần phác, suốt đời làm lành đã gieo vào hồn thơ tác giả, công đức từ bi vô lượng…

2.

Thềm nhà xưa

đàn kiến giăng giăng tha mồi

mẹ đành gác chổi

Vì thế, cả hạt cát vô tri còn biết “níu chân người” ở lại. Và dòng sông quê ấy, chảy thành một hồn thơ hiền hậu, an nhiên.

3.

Hạt cát sông quê

níu chân người

im lặng

Tác giả mang mã số (LTT 146) thì viết về chiếc nón lá có một không hai trên thế giới, như là vầng trăng quê hương. Thật thế, trong cách nhìn hình tượng, chiếc nón như vầng trăng từ bầu trời rơi vào lòng người phụ nữ khéo tay. Chỉ thế thôi, mà cả một câu chuyện dài về nghề đan nón được kể ra.

1.

Người đàn bà

ngồi đan nón

ôm cả vầng trăng.

Tác giả mang mã số (NMH 149) tự hào về tháp bút. Nhìn ngọn bút vươn lên trời cao, nghe như ý chỉ của cha ông viết lời sông núi. Tháp bút Đài Nghiên ấy là biểu tượng văn hóa “ngậm nguyên khí mà mài hư không”, thật là kỳ diệu…

5.

Tháp bút vươn cao

viết lên trời

lời sông núi.

Tác giả mang mã số (LTV 150) lại nói về việc soi gương. Nhan sắc bị thời gian bào mòn là lẽ đương nhiên, nhưng cái hay là bỗng một hôm thấy “lạ bóng mình”…Điều này ứng với câu nói:”Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” của Heraclitus – một Triết gia cổ Hy lạp. Mỗi ngày chúng ta đều là một người khác, thị hiện ở thế giới này đấy thôi.

2.

Thời gian

bào mòn nhan sắc

soi gương thấy lạ bóng mình

Tác giả mang mã số (NTL 151) có lẽ là một Thương binh, khi nói về tuổi trẻ cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương. Và khi trở về đời thường, cũng đôi bàn tay ấy những giai điệu lạc quan, yêu đời lại reo vang…

4.

Xưa ôm bộc phá

nay nâng phím đàn

gió đời mênh mang

Con người Việt Nam là thế, kiên cường và nhân hậu. Và trong chiến đấu họ luôn nhận ra một chân lý “lá ngón và củ mài” vẫn là màu xanh, sự giống nhau có thể lừa kẻ thiếu kinh nghiệm dẫn đến cái chết.

3.

Lá ngón

củ mài

đều xanh biếc lá

Đặc biệt, tác giả mang mã số (LMH 152) đem cho người thưởng lãm loại “ngân âm” trước cửa thiền. Không phải tiếng mỏ, tiếng chuông, mà tiếng rơi vô âm của một bông sứ. Ngay thời khắc ấy, bầu trời vỡ ra trong chum nước, tiếng sóng gợn không đủ cho thính giác con người nghe được…Và nhà thơ đã nghe bằng linh cảm của mình. Trong veo. Tinh khiết. Đó là thi pháp làn hương được viết nên bởi trầm tư mặc tưởng. Thơ haiku là trầm tư mặc tưởng.

3.

Cửa thiền bông sứ rơi

vỡ bầu trời trong chum nước 

thinh không ngân đầy.

Tác giả mang mã số (NTD 153) cũng là người thơ khá đặc biệt, khi viết “tiếng sấm nổ trong tách trà”. Người có thính giác kỳ dị chăng? Không phải. Thần kinh xung động của nhà thơ, cộng hưởng với khoảng không vô biên trong thơ haiku, đã làm nên tính khác biệt của bài thơ.

1.

Một ánh chớp xa

nghe như tiếng sấm

nổ trong tách trà.

Qua bài khác, hình tượng người vung lưới bên sông cũng cho ta nhiều thi vị, khi khoảng khắc ban mai được giữ lại trong lưới, lãng mạn hơn một mẻ cá. Hiện thực và mộng ảo luôn quấn quít trần gian này là vậy.

2.

Sáng nay bên sông

người vung lưới bắt

ban mai tươi hồng.

Tác giả mang mã số (HKT 158) lại trở về với hương vị ngày Tết. Tết cổ truyền của dân tộc không thể thiếu bánh chưng, nhưng cái từ khóa vô cùng đắc địa ở đây là từ “ẵm”, nó làm chiếc đòn bẩy nâng bài thơ lên trong các thứ đã cũ như lá dong, hương ngày Tết vv… Lá dong “ẵm” những viên ngọc trời mà thành sự tích Lang Liêu. Một sự khắng khít vô tiền khoáng hậu, chỉ có mẹ con, anh em mới bồng ẵm nhau trong cõi đời. Nếp và lá cũng vậy, là những nguyên liệu trời sinh để bồng ẵm nhau, nâng niu nhau, mà yêu thương, mà dâng hiến.

5.

Lá dong xanh

ẵm ngọc trời

tỏa hương ngày Tết.

Tác giả mang mã số ( ĐTN 159) đem đến hai bài thơ với kỹ xảo tạo hình tuyệt đẹp. Chiếc ly như cái bẫy, bóng chiều không thể nào thoát ra khỏi cái khoảng không nhỏ bé trong ly…

1.

Bóng chiều

mắc kẹt

chiếc ly không

Và đây là kiểu vốc nước bên hồ trong đêm trăng, ánh trăng chảy qua kẽ tay óng ánh. Hình ảnh và ngôn ngữ không chê vào đâu được, nhưng hình như còn thiếu một điều gì đó để làm nên sự trọn vẹn…

2.

Vốc vạt nước

trăng

chảy qua kẻ tay

Tác giả mang mã số (PTT 160) đã mở ra dây chuỗi sáng tác xâu đầy cảm thức thời gian. Hình bóng của buổi tàn tạ hiện lên rất rõ trong từng con chữ. Con chữ mang nỗi đau bậc nhất là “hạt tro”. Bóng mẹ, trước và sau gì rồi cũng cách cuộc sống này một hạt tro cốt thôi! Còn chiếc bình bát của Phật mang triết lý tính không thì “chẳng thể nghĩ bàn”. Khắp trần gian hơn 2500 năm qua chưa ai bàn một câu rốt ráo. Hãy để chiếc bát ấy “đãi khắp nhân gian” mà thôi…

1.

Trong nắng chiều

dáng Mẹ

bóng thời gian

4.

Trước và sau

xa cách

một hạt tro

5.

Chiếc bình bát

trống không

đãi khắp nhân gian

Tác giả mang mã số (PPU161) mang đến cuộc thi với chùm 5 bài ấn tượng. Đầu tiên là bài thơ nói về Rào Trăng, nơi xảy ra vụ sạt lở gây tang tóc đau thương cho bao người. Lời thơ như những giọt nước mắt lăn dài, hiện lên hình ảnh người con ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại. Ấy là lúc câu thơ dài chấm xuống đất hai chữ Rào Trăng như dòng nước mắt, lăn mãi, lăn mãi…

1.

Từ biệt mẹ

không lời trăn trối

hồn thiêng lưu sông núi Rào Trăng

Hơn bao giờ hết, lúc này thơ mang chất liệu cuộc sống, thơ thấm đẫm tình nhân loại. Người thơ có thể bật khóc trước sông Hằng, khi những giàn hỏa thiêu “chạy hết công suất” người vẫn không thể đốt hết xác. Một cuộc chiến quá thảm khốc cho  bất cứ xứ sở nào trên trái đất.

2.

Sông Hằng rực lửa

những giàn hoả thiêu

ngày đêm không kịp đốt

Biển đảo là đề tài nóng bỏng, khi biển Đông nước ta bóng giặc luôn chập chờn. Người canh giữ biển trời Tổ quốc không một phút nào ngơi, thì ở nhà mẹ già chỉ biết “ngóng hoàng hôn”. Bóng hoàng hôn vừa tắt ánh sáng một ngày, vừa là tuổi mẹ dần trôi vào bóng đen của màn đêm dày đặc. Rồi con sẽ tìm nơi đâu bóng mẹ?

3.

Biển đảo chập chùng

không rời tay súng

mẹ già xóm nhỏ ngóng hoàng hôn

Đi vào tâm dịch, chỉ có thể là sự hy sinh của các y bác sĩ, những tình nguyện viên cứu người vì ý nghĩa cao cả. Dù được ngắm chồng qua Ipad, nhưng không gian quả là một thách thức. Ý thơ chôn vùi trong màn hình, những nỗi niềm thầm lặng nhất, chỉ có sự trống vắng thấu hiểu. Trống vắng đó luôn ở trong lòng mỗi chúng ta…

4.

Trong tâm dịch

áo giáp bịt bùng

vợ ngắm chồng qua iPad

Bốn bài thơ, đau xót chồng lên đau xót. Không có đau xót nào lớn hơn đau xót nào. Thế mới thấy cuộc luân chuyển của trần gian xoay quanh những nỗi khổ. Điều quan trọng là thông điệp mà bài thơ mang tới là gì? Tình yêu thương cao cả vượt trên trên hết!

Ai cũng có hoài bảo và ước mơ, nhưng có lẽ ước mơ lãng mạn nhất của tác giả, dù chỉ một lần, được đứng trước Hồ Tây huyền thoại. Cái mặt gương Tây Hồ sẽ phản chiếu cội nguồn dân tộc, thủ pháp chuyển đổi cảm giác sẽ phảng phất làm nên màu xanh bất tận cho ngôn ngữ thơ. Kể cũng đáng trân trọng một ước mơ nhỏ bé ấy…

5.

Mơ một lần

xanh Haikư

trăng Hồ Tây huyền thoại

Tác giả mang mã số (PNC 162) đau đáu về đề tài môi sinh, khi những resort mọc lên như nấm, có nghĩa biển sẽ chết dần bởi sự lấn chiếm vô ý thức của một bộ phận người kinh doanh vô tâm, ích kỷ…

Biển cạn ư? Đúng vậy, biển sẽ cạn, hay nổi sóng vì tình người quá chật hẹp. Những resort sang trọng kia, có biết đâu sự tự do của biển. Một vẻ đẹp mất đi bằng cách lấn chiếm bạo tàn ấy, sẽ có kết cục như thế nào, chắc ai cũng hiểu….

2.

Resort như nấm

mọc lấn cát mềm

biển cạn.

Tác giả mang mã số (TAT 164) thi vị hóa cuộc phòng chống covid-19, như “cột” cả mùa thu vàng lại.Tiếng cài cửa khẽ khàng như cài một cơn gió, vừa thực vừa ảo. Giãn cách, im ắng, lặng lẽ đến nín thở. Và mùa thu đẹp đẽ đành đứng chờ ngoài cửa, dù có tiếng gõ cửa của những chiếc lá rơi nhẹ ngoài hiên…

Giăng dây cột cả thu vàng

covid nghênh ngang

nhà nhà khẽ khàng cài cửa.

Tác giả mang mã số (PĐT 166) ca ngợi sự vô tư, trong sáng của tuổi thơ. Dù bắc lên bếp một chiếc nồi không có gạo, nhưng không vì thế mà tiếng cười tắt đi..

3.

Tuổi thơ bếp nồi ngồi chờ gạo

có tiếng cười

giòn tan trong gió bão

Tác giả mang mã số (PVK 165) gởi đến cuộc thi chùm thơ có nhiều bài độc đáo. Cả 5 bài đều viết về Hà Nội. Tôn vinh một nét văn hóa là việc nên làm. Vì thế, tác giả đã không ngần ngại điểm danh từng lát cắt một Hà Nội uy nghiêm, thâm trầm của thành phố được mệnh danh là thành phố “Vì Hòa Bình”.

Những tên đất như phố Thụy Khuê, Hồ Tây, đường Cổ Ngư, làng hoa Nhật Tân vv… là những địa danh nổi tiếng, và nên thơ…

1.

Nhênh nhang phố Thụy

chợt giật mình

đi trên lòng sông Tô

2.

Chiều Hồ Tây

bóng mẹ gầy

mây Phật dụ

3.

Đường Cổ Ngư

liễu rủ hồ mây

chiều vắng em nắng nghiêng ghế đá

4.

Mã mây ngựa về trời

đành thôi vẽ vời

tranh khách ba lô

5.

Nhật Tân lên phố

én xuân ngơ ngác

đâu còn đào bích đào phai

Tác giả mang mã số (LQV 167) có một cuộc “trả thù” độc đáo, mà bất cứ ai đọc được sẽ nhớ mãi. Bởi cuộc “trả thù” này đã làm thay đổi cuộc đời của người sáng tác. Thay vì chửi rủa, hay hành động hung dữ, nhà thơ đã thay ác nghiệp của mình bằng thiện nghiệp. Bài thơ hay như một câu danh ngôn:

1.

Khổ đau hãy về đây

ta sẽ trả thù

bằng nụ cười độ lượng

Cùng tấm lòng độ lượng như vậy, người mẹ vất vả quanh năm, chính là để nuôi “tiếng cười trẻ thơ”. Một từ “giòn” đã reo lên, khiến người đọc rủ hết ưu phiền…

2.

Mẹ phơi bốn mùa

nuôi giòn

tiếng cười trẻ thơ

Đến đây, tác giả nhận thức một nghịch lý, “âm dương” đã không xa rời nhau, lại còn “mãi quyện nhau”. Có phải, chính những nghịch lý ấy đã làm nên cuộc đời này chăng? Câu trả lời đã có sẵn trong một bài thơ mang tính khám phá…

5.

Âm – Dương

đối nghịch

mãi quyện nhau

Tác giả mang mã số (MTT 169) viết về biển Nha Trang về đêm, nhà thơ chỉ mượn rặng thùy dương, tiếng sóng xa xa để nói về thứ âm thanh mà chỉ có trái tim vắng lặng mới nghe được. Sự ồn ào không thể nghe được biển, sâu xa là thế, người không tỉnh tâm khó đọc ra ý tưởng dường như giản đơn lại thăm thẳm chừng ấy…

2.

Đêm biển Nha Trang

thùy dương hát

sóng xa rì rầm

Tưởng nhớ 64 chiến sĩ Gạc Ma bằng vòng hoa bất tử, tác giả không giấu được tiếng khóc của những mẹ già vào tháng 3 năm 1988. Bài thơ là tiếng khóc từ ký ức, chỉ cần gọi tên hai tiếng Gạc Ma, thì hồn tử sĩ trong trận hải chiến năm ấy lại hiện về, nhức nhối một vùng biển đảo Trường Sa…

5.

Vòng hoa trên sóng

tháng Ba

hồn tử sĩ Gạc Ma

Còn đây, ai bảo thơ không quay về với thiên nhiên. Một chiếc lá, một cuộc đời. Nổi trôi bao đời vẫn thế….

3.

Lá vàng rơi

bao cuộc đời

nổi trôi

Tác giả mang mã số (THH 170) đi tới kết luận chuyện đời chóng qua, chỉ có thơ là ở lại. Một câu hỏi được đặt ra là vì sao? Thơ có vô vàn định nghĩa, nhưng khi đã định nghĩa thì có giới hạn, mà thơ thì vô hạn. Nhưng có một câu nói đáng ghi nhận:”Thơ làm cho ta bàng hoàng và bừng thức”. Nhờ đó, thơ sẽ sống mãi với con người khi những bàng hoàng làm cho ta thức tỉnh…

4.

Chuyện chóng qua

đời mau hết

chỉ vần thơ ở lại

Tác giả mang mã số (VTP 171) chợt nhớ về mẹ khi nhìn thấy cơi trầu. Có lẽ cái cơi trầu tâm linh đó, là hình bóng của người mẹ Việt Nam. Sự tích trầu cau vẫn hiện lên trong lòng người Việt khi nhắc về “làn môi đỏ thắm”, là thắm tình thắm nghĩa thủy chung son sắt.

3.

Cơi trầu còn đó

hồn trong gió

mẹ tôi

Nhưng cũng có lúc, trầu không thềm vắng. Bởi các thế hệ sau này không còn giữ tục ăn trầu, không còn vôi quệt trong cối giã, nên lá trầu rơi đắng lòng cháu con…

1.

Hoa cau rơi

bên thềm vắng

đắng lá trầu không

Tác giả mang mã số (NQH 172) gợi lại tiếng gà trưa xao xác đến nao lòng. Vâng, tiếng gà ở thôn quê có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của làng mạc, xóm thôn. Một tiếng gà thôi, mà nằm trong ký ức cả đời người không quên được, chính là tiếng gà gắn với những bữa cơm trưa, cả nhà tụ họp bên mâm cơm do bàn tay mẹ nấu…        

1.

Tiếng gà trưa

bữa cơm mẹ nấu

mùa hè năm xưa.

Mẹ nấu là gói cả tình mẫu tử, tình vợ chồng vào đó. Tính chân chất quê mùa, mà cái ngon thấm tận đầu lưỡi, thử hỏi có ai quên được khi đi xa?…

Và trong vùng dịch bệnh, thực hiện giãn cách xã hội, cả nhà đều mất việc, chỉ có cách lãng mạn nhất là ngắm mưa rơi… Và trong hoàn cảnh ấy, bật lên ý thơ hay. Đang ở Sài Gòn thật, nhưng vẫn cách xa Sài Gòn quá đỗi, chỉ vì một cái dây giăng…

3.

Cả nhà ngắm mưa

Sài Gòn nhớ

Sài Gòn.

Tác giả mang mã số (NTT 176), cũng là tác giả cuối cùng gởi bài tham dự cuộc thi. Chúng tôi hoan nghênh ý nghĩa nhân văn của bài thơ đem lại, là vô cùng sâu sắc. Lâu nay ai cũng biết chó là con vật nuôi trung thành nhất, gắn bó với con người nhất. Nhiều câu chuyện cảm động về những chú cún cứu người, hoặc nằm trên mộ đợi chủ cho tới chết. Và ở đây, một chú cún có lòng nhân hậu được tác giả vinh danh, con cún ấy ngậm chiếc bánh mì mà không nỡ ăn, khi nhìn thấy một bà cụ hành khất mù đang đói khát…

Chú cún con hiền từ

ngậm chiếc bánh mì

ngước nhìn cụ già mù ăn xin

Bài thơ cuối cùng này như không muốn kết thúc, bởi sẽ còn rất nhiều những bài thơ hay về quê hương đất nước và con người Việt Nam.

BCN CLB Haiku Việt- Hà Nội xin trân trọng cảm ơn các tác giả đã nhiệt tình tham gia cuộc thi. Chúc các bạn thành công.

Hà Nội ngày 24/10/2021

BCN CLB Haiku Việt- Hà Nội

Bài viết khác

Tác giả: Haiku Việt

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *