Một hồn thơ lãng mạn yêu đời- Hoàng Ngọc Khôi

alt

Tôi rất may mắn được biết bác Đinh Nhật Hạnh từ hơn chục năm nay và được đọc nhiều thơ văn của bác, như tập: "Quầng trăng", hay "Bụi thời gian"…; từ ngày đầu tập văn thơ "Bạch Ngọc bên dòng Lam" ra đời đến nay đã có 6 tập, tập nào bác cũng có bài mà là những bài tiêu biểu, góp phần nâng cao chất lượng của tập sách. Gần đây nhất năm 2018 bác đã có bài "Miên man hoài niệm" là một trong những bài hay nhất của tập 6, "Bạch Ngọc bên dòng Lam" mà tôi đã có dịp giới thiệu trong ngày hội thơ Bạch Ngọc.

Nói đến bác Đinh Nhật Hạnh là nói đến một hồn thơ lãng mạn, yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên và cuộc sống tươi đẹp:

Xin làm một nét bút

Xin làm một cung đàn

Quê hương bao màu sắc

Chuyện đời bao âm vang.

(Lời bạt tập "Bụi thời gian")

Những tưởng nguồn riêng chảy một dòng

Đời vui trăm suối hợp về sông

Mùa qua, hoa nắng vườn hương ngát

Mùa lại, quầng trăng vọng tiếng lòng

(Lời bạt tập "Quầng trăng")

Thơ của bác Đinh Nhật Hạnh gắn liền với cuộc sống sinh hoạt thường ngày, cảnh và người hòa quện vào nhau, điều đó phần nào thể hiện qua tiêu đề của từng bài: Vành trăng đáy giếng, truyền thuyết Nhị Hồ, cổ tích mới, trăng nơi Tây Hồ, Thơ…trăng, hoa…trăng, nhị độ lan, hương láng giềng, trăng xa, chiều tím, nắng thu, bến Hai Quai, dâng mẹ, giọt đời, hồ Ba Bể, gửi chàng Trương, biển Hạ Long, con đò vẫn đợi, bát nước chè Gay…

Tôi xin lấy vài bài làm thí dụ:

Trăng nước Hồ Tây

Sóng gợn… sầu dăng

Trăng mới lên

Bờ xa khắc khoải tiếng chim đêm

Dạt dào gió lộng - se se lạnh

Mấy chiếc thuyền câu lướt êm đềm

Một mình trên bãi mờ sương

Mà da diết nhớ

Mùa thương cháy lòng

Anh là bóng, em là hồn

Xa nhau chỉ biết mỏi mòn nhớ nhau

Giá mà có chiếc thuyền câu

Dập dềnh trăng nước đêm sâu… giá mà

Trời thì cao, sao thì xa

Khổ đau đành chịu… cho ta với mình

Cầm canh tiếng vạc não lòng

Trăng buồn sương lạnh, không cùng nhớ nhau

Ước gì trên chiếc thuyền câu

Bập bềnh sóng nước đêm thâu một lần.

(Quầng trăng 15)


Hè về táp cánh ve kêu

Ngát hương nhài rộ, nắng thêu lụa vàng

Xanh non cốm rải ngọn bàng

Vành khuyên quấn quýt, rộn ràng lứa đôi

Ve sôi đã nẫu phượng rồi

Bằng lăng lại tím.. hai trời, nhớ nhau!

(Bụi thời gian - 27)

Như vậy là nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã rất thành công với thơ trữ tình truyền thống.

Thế nhưng, như một mối duyên nợ, một định mệnh khi bắt gặp Hai Kư là bác mê luôn, say luôn. Cùng với đồng nghiệp, bác lao vào nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác. Với trái tim ấy, hồn thơ ấy, bác đã thổi hồn vào thơ Hai Kư. Cùng với các tác giả khác bác đã góp phần Việt Hóa Hai Kư, biến Hai Kư mang hồn Việt - xin mở ngoặc nói thêm, phải chăng đó là cốt cách của người Việt, bản lĩnh của người Việt, điều này góp phần lý giải rằng trải qua trên 1000 năm Bắc thuộc người Việt không bị đồng hóa mà còn ngược lại, ngót 80 năm đô hộ của người Pháp, vốn ngôn ngữ của tiếng Việt được bổ sung phong phú thêm, người Việt biết cách đưa tinh hoa của thế giới để làm giàu cho nền văn hóa, kho tàng ngôn ngữ nước nhà.

Tập thơ Hai Kư "Trăng bùa" của tác giả Đinh Nhật Hạnh là một minh chứng.

Với sự nhạy cảm của một trí tuệ uyên bác, tâm hồn lãng mạn, thích khám phá, ưa đổi mới, nhà thơ Đinh Nhật Hạnh một trong những con chim đầu đàn của Hai Kư Việt Hà Nội, một biểu tượng của ngọn lửa nhiệt tình, lao động nghệ thuật nghiêm túc, vì thế "Trăng bùa" đã là niềm tự hào của Hai Kư Việt.

Gần 300 trang sách, in bằng 4 thứ tiếng: Nhật, Việt, Anh, Pháp, "Trăng bùa" làm người đọc phải kính nể, 146 bài được tuyển chọn trong tổng số gần 500 bài thực sự là những viên ngọc quý. Bài nào cũng có tứ thơ hay bất ngờ, thú vị.

Có lẽ sự thành công của tập thơ trước hết là nhà thơ đã Việt hóa tài tình thể thơ Hai Kư Nhật cho người Việt. Ở đây đúng là tâm hồn Việt, tình cảm Việt, phong tục tập quán, thẩm mỹ, phong cách, nhân sinh quan của người Việt đích thực. Đối tượng được nhắc đến trong thơ xuất hiện hàng ngày trong đời sống Việt: cây đa, bến nước, con đò, hoa đào, nụ tầm xuân, gốc nhãn, tán bàng, Ngõ Trúc, Tây Hồ, sóng Bara, con chuồn, con dế, tu hú, én, vành khuyên… và ánh trăng xuất hiện nhiều cũng là điều thường thấy trong thơ truyền thống của người Việt.

Tôi đặc biệt thích thú những bài nói về tình yêu đôi lứa. Tác giả rất tài tình khi sử dụng phương pháp ẩn dụ, nhân cách hóa của ca dao Việt:

"Nỉ non chú dế

Bờ đê

Gợi tình"

Hoặc:

"Đôi sẻ mùa yêu

Nhấp nha

Nhấp nhổm"

"Nhấp nha nhấp nhổm" đúng là lời ăn tiếng nói của người Việt.

Không có bóng người nhưng câu chuyện của con người:

"Nụ đào tủm tỉm

Bướm ơi!

Gượm nào"

"Nụ đào" - tượng trưng cho người con gái đẹp đang ở tuổi dậy thì.

"Tủm tỉm" - là sự yêu đời, tuổi của "hoa nở đầu môi, sông cười trong mắt".

"Bướm ơi" - vẫy gọi tình yêu, tình yêu đang đến.

"Gượm nào" - đưa tay giữ mình khi bạn tình lân la muốn khám phá "nhị đào".

"Nhị đào" - chỉ dành "cho người tình chung".

Từ "Gượm nào" sao mà hay đến thế, đáng yêu đến thế: tình tứ, tinh tế, kín đáo, nhẹ nhàng, e ấp, nhưng cũng rất mạnh mẽ. Đó cũng là một đức tính nổi bật của người phụ nữ Việt Nam. Tôi liên tưởng đến câu Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. "Tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Với 8 âm tiết, bài thơ lột tả được bề trong vẻ ngoài của nhân vật. Khả năng biểu đạt cái hồn Việt của tiếng Việt thật tuyệt vời.

Cũng như các thể loại thơ khác, Hai Kư có độ nén đến tối đa, có khi một bài chỉ vẻn vẹn 5 từ: "Trăng tàn/ khản/ tiếng ve". Sao trăng tàn lại khản tiếng ve, ở đây ý không nằm trong từ ngữ, mà ý nằm ngoài lời, ta thường gọi là "Ý tại ngôn ngoại". Đó cũng là một đặc điểm của thơ ca Việt Nam:

Ăn đi con, nào mau cho mẹ xới

Mẹ vẫn giấu con chuyện này xóm dưới

À thôi chẳng vội để mai sau

Giặc tan rồi nắng nở chín buồng cau.

(Phạm Ngọc Cảnh)

Chuyện xóm dưới với buồng cau có gì liên quan với nhau. Đó là tâm trạng, cách xử sự, đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa tình nhà và nợ nước, khi nước nhà còn giặc của người mẹ Việt Nam anh hùng.

Hoặc là: "Nắng đã chiều, vẫn muốn hắt tia xa".

(Phạm Ngọc Cảnh)

Nói chuyện nắng với tia nhưng là nói chuyện con người, mà là người đã già, nhưng vẫn còn hoài bão lớn, ước mơ lớn.

Với "Trăng bùa" nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã rất thành công trong việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật này.

"Bờ sương

Trăng xế

Nhạc dế vào thu"

Sương, trăng, dế và thu có gì liên quan với nhau đâu nhưng lại là một bài thơ hoàn chỉnh, chỉ với 8 âm tiết, một bức tranh thu, chiều thu sinh động: có cảnh, có tình, có họa, có nhạc.

Hoặc là:

"Én đan

Khung trời

Lạnh"

Một bức tranh đẹp, báo hiệu mùa đông sắp kết thúc, một mùa xuân mới đang về. Đó là sự rung động của một hồn thơ, với con tim Việt đích thực.

"Dìu dặt cúc cù cu

Thả hồn quê

Vời vợi"

Cái hồn quê trong tiếng cúc cù cu sao mà vời vợi đến thế, chỉ có người Việt, mang hồn Việt mới cảm nhật hết cái hồn quê thân thương khi nghe tiếng chim gù trong buổi trưa hè nơi xóm vắng…

Không nghi ngờ gì nữa, với "Trăng bùa" thi sĩ Đinh Nhật Hạnh đã "làm xiếc" trên tiếng Việt, hay nói cách khác, tiếng Việt đã thăng hoa lung linh "nhảy múa" dưới bàn tay điêu luyện của "Nghệ nhân xiếc thơ" Đinh Nhật Hạnh - một hồn thơ Việt - thuần Việt không pha trộn!

Vì thế "Trăng bùa" là của người Việt, cho người Việt, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt.

Tiếng Việt đã chắp cánh cho hồn Việt, cùng hồn Việt bay cao bay xa, giao lưu cùng bạn bè năm châu.

Tôi yêu tiếng Việt - tôi yêu Ha Kư.

HNK

Như làn gió thoảng- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Tôi chưa biết Thanh Tùng là ai? Vô tình đọc chùm thơ xuân [muộn] của ông, cảm thấy hay, muốn viết cái gì đó cho những bài thơ bé nhỏ này. Quả thật, thơ hay liền bắt người ta dừng lại. Đọc chậm. Và ngộ ra từng cảm xúc lăn tăn mà mãnh liệt như sóng, cuốn hút trái tim cô đơn!

1.

Chén trà cuối năm

một con muỗi đậu

chuyện đời nhẹ tênh.

Một chén trà cuối năm, và một con muỗi. Thế thôi, mà rất thơ. Thơ haiku là thế, đừng nghĩ là nó phải nhiều. Không cần diễn tả gì thêm, tác giả viết rất tự nhiên không hề để tâm vào chuyện tả cảnh. Nói chuyện với con muỗi, bây giờ không còn là con vật hút máu người nữa rồi. Nó - một cá thể đang đậu, hay ngồi nói chuyện với con người. Bình đẵng. Vô phân biệt. Hóa ra câu chuyện nhẹ tênh, chả có gì là người và muỗi. Một trái tim an hòa mới viết được, không phải dễ...

2.

Ngày 30 Tết

vẫn cứ rong chơi

đàn vịt bơi bơi...

Ngày 30 tết ư? Trong khi người người tất bật, thì nhà thơ cứ rong chơi, có phải kẻ vô tâm rỗi nghề không? Thật ra, trong cuộc sống, ai cứ bận việc thì việc nó bận, ai không bận thì không bận, chứ sao lại nói là vô tâm! Bởi viết được nội hàm này, là kẻ có bản lĩnh và căn hạnh, mới đạt được thứ ngôn từ tưởng như chơi mà vô cùng sâu sắc. Hình ảnh "đàn vịt bơi bơi" hết sức huyền nhiệm. Nó thâu tóm tâm ý tác giả về cuộc sống nội tại, nhẹ nhàng lướt trên cuộc đời mưu toan, bề bộn...

Thái độ sống ấy, là thơ dạy cho ta biết rèn luyện và tu dưỡng tâm tánh, một đời khí phách mà như không. Và loại thơ haiku này, đã chọn Thanh Tùng làm kẻ hành hương, đi về ngôi đền thơ bí mật và kỳ thú nhất hành tinh...

3.

Ngày đầu năm tý

hai chú mèo

nằm bếp ngắm mưa rào.

Theo tôi, năm con chuột hay con mèo, cũng do con người đặt ra từ thực tế cuộc sống. Mèo và chuột là hai kẻ thù truyền kiếp, thế mà đầu năm mới, hai chú mèo thật lãng mạn, nằm bếp ngắm mưa rào! Có một cái gì thiêng liêng, không phải do đầu năm hay cuối năm, có lẽ trong bất cứ loài vật ăn thịt nào cũng có phần chân thiện. Hễ chân thiện lấn át thì cái ác chìm xuống, phần thiện nổi lên. Hai chú mèo lãng mạn không cảm thấy đói, vì cơn mưa rào ngoài kia đang vang lên thứ âm thanh hấp dẫn, trong giờ phút này chúng muốn yên lành như một sinh vật bình thường, không lấy móng vuốt làm quan trọng nữa...

Thế đấy, thơ là thứ vô cùng nhân văn, dẫn sinh loài có ý thức thấm dần chân thiện, cảm hóa chúng ta...

4.

Liếp bếp thủng

hoa bưởi trong mưa

người ngưng thổi lửa.

Nhà thơ phải có con mắt quan sát sự việc, thì Thanh Tùng quan sát rất giỏi. Hình ảnh người thổi lửa trong bài thơ là hình ảnh do quan sát mà có. Góc nhìn rất đẹp như một họa sĩ tài ba. Một lỗ thủng của liếp bếp, ta có thể nhìn ra bên ngoài vườn, bất chợt chùm hoa bưởi trắng ngần trong mưa đập vào con mắt thơ, liền hiện ra một kẻ lãng mạn không kém hai chú mèo trên kia. Thế là kẻ lãng mạn "ngưng thổi"...

Một khoảnh khắc tuyệt đẹp của hồn người, quyện với linh hồn thiên nhiên, tôn vinh sự trinh bạch của nghi lễ tẩy trần dưới mưa. Thật không có cảm xúc nào hơn, ngôn ngữ Việt chơi hết mình với haiku, vừa cô đọng, vừa gợi mở bao la khiến bài thơ hay cách dung dị, đúng với bản chất sự việc, nhỏ bé mà lớn lao, đơn sơ mà sâu thẳm mênh mông...

5.

Sáng mồng 3

mươi quả trứng gà

trong xó vườn ngủ kĩ.

Sáng mồng ba - một buổi sáng của ngày Tết, vẫn còn đó những niềm vui cổ truyền trên cái nền hiện đại. Mọi người vẫn hân hoan ăn Tết, chúc tụng, vui chơi và mệt mỏi; "mười quả trứng gà trong xó vườn" thì có gì đáng nói?

Nhưng không, đây là một phát hiện thú vị. Mười quả trứng gà, mười sinh linh vô tư, trong khi mẹ gà cũng lo kiếm ăn chưa kịp về ấp trứng. Đúng ra, nếu mười quả trứng đẻ trong nhà, có khi đã bị làm bánh hết rồi. Còn đâu!

Từ khóa của bài thơ này là "ngũ kĩ". Đúng vậy, quả trứng vô tư có biết gì về cái ngày gọi là tết của con người đâu, nên chúng "ngủ kĩ" để lấy sức đạp vỏ bung ra ngoài. Bài thơ chứa hàm ý về sức sống mãnh liệt, mà chúng ta thường bỏ quên. Và cái xó vườn, và mảnh trời tự do kia, đẹp đẽ biết bao, ra ngoài sự kiềm tỏa của mọi luật tục, là hiện thân của tự do và bản năng sinh tồn. Bao giờ con người mới có thứ tự do đó, và biết tôn trọng nó?

6.

Tối mồng 3

rang bát cơm nguội

bếp khóm trúc đùi gà.

Bài thơ là xâu chuỗi logic, suốt ngày rong chơi thì đây là buổi tối mồng ba, chỉ còn bát cơm nguội. Câu thơ mới ung dung tự tại làm sao! Đâu cần cao lương mỹ vị của ngày tết. Một bát cơm nguội là đủ. Nguội mà lòng không nguội, vẫn nóng bỏng cuộc rong chơi đầy ý nghĩa tự tại, là buông bỏ mọi ham muốn ăn ngon mặc đẹp của trần gian. Không có nhu cầu cao về vật chất, thì sẽ thong thả, tự do.

Có gì quý hơn không?

Như tôi đã nói trên đây, nhà thơ là kẻ lãng du, phóng khoáng, có độ hàm dưỡng nội tâm cao, nên tiết chế tham dục, người ta ăn tết hết rồi, mình chỉ nhìn bên bếp, lóng trúc u lên như cái đùi gà tưởng tượng. Thế thôi. Không có gì trầm trọng, cũng chỉ là hai hình ảnh và một con người tác động, mà làm nên tác phẩm có độ thẩm mỹ cao, chính là đây chứ có đâu xa...

7.

Góc phố ngày đầu năm

những mầm xuân còn ngủ

gió vờn đám lá khô

Và cuối cùng, góc phố đầu năm cũng thật độc đáo. Những mầm xuân dường như cũng ăn tết, cũng thấm mệt rồi, nên lăn ra ngủ. Gió là kẻ lang thang bậc nhất hành tinh thì có nhiệm vụ gì?

Có đấy, chúng đến để thực thi cuộc vô thường của Tạo Hóa, nhưng những mầm xanh còn ngủ chưa chịu thức dậy, nên gió cũng bất lực, đành thổi vờn vèo trên đám lá khô...

Vu vơ thật, nhưng đó là hình ảnh cuộc sống muôn đời không thay đổi được. Quy luật vũ trụ phủ lên cuộc sống, cứ thế tiếp diễn không ngừng. Nhưng cái hay của bài thơ, là nhiều khi Thượng đế cũng bó tay trước cái không hay biết (ngủ) của mọi sinh loài. Vì thế, mà làm chậm lại quá trình lão hóa. Đấy có phải chăng là những sai số thống kê trong vòng luân hồi của quy trình "thành - trụ - dị - diệt"?

Dù sao, thơ cũng có năng lực làm chuyển hóa tâm con người, và đưa nó về với tự nhiên hơn. Tôi thành thật chia vui, và đón mừng thơ haiku Thanh Tùng như làn gió thoảng, nhẹ nhàng đi vào lòng người, và là niềm cảm thụ thanh thoát, cho những ai bận lòng với muôn việc giữa quán trọ trần gian này, có được chút thư thái an nhiên...

NTN

Tống cựu nghênh tân- Lê Văn Truyền

alt

Chén trà cuối năm

một con muỗi đậu

chuyện đời nhẹ tênh

Thanh Tùng

Những ngày cuối năm là thời khắc năm cũ sắp hết để bước sang năm mới, bắt đầu một chu kỳ tự nhiên của Trời Đất. Đời người là một cấp số cộng của những chu kỳ này. Cuộc đời dài hay ngắn, vui hay buồn gắn liền với những năm tháng ta trải qua. Mỗi dịp tất niên, ta thường có thói quen bình tâm điểm lại những thành công hay thất bại, những niềm vui và nỗi buồn, những ước vọng đã đạt được và bao nguyện ước chưa thành trong suốt một năm đã qua, để “tống cựu nghênh tân” và tự đặt ra những mục tiêu mới cho năm sắp đến.

Buổi sáng cuối năm, một mình bên chén trà chắc tác giả của phiến khúc haikư trên đây cũng đang trăn trở, suy tư về những được và mất, niềm vui và nỗi buồn trong suốt một năm qua. Và chắc chắn haijin không khỏi day dứt, tiếc nuối về những gì chưa thực hiện được, về những dự định chưa thành, thậm chí những sai lầm của mình … Âu đây cũng là lẽ thường tình.

Nhưng kìa, một sinh vật bé nhỏ, tầm thường, mong manh bỗng từ đâu bay đến, tự tiện hạ cánh đậu trên miệng chén trà. Chú muỗi đường đột, an nhiên thưởng thức hơi trà tỏa hương trong buổi sáng cuối đông mát mẻ, trong lành mà không cần biết thái độ của người thưởng trà, không cần biết trà nhân sẽ làm gì với nó. Nếu trà nhân đang bực mình, chắc chắn nó sẽ kết thúc cuộc sống ngay tại đây và lúc này. Nhưng trà nhân đang chìm đắm trong suy tư, khắc khoải và có thể đang rối bời trong tâm trí. May thay, trà nhân đang độc thoại và độc ẩm, bỗng như tỉnh thức trước sự an nhiên vô sự của con muỗi, vị khách thưởng trà không mời mà đến - một sinh linh bé nhỏ với cuộc đời thật ngắn ngủi - cùng đối ẩm, thù tạc trong im lặng với trà nhân, để haijin cùng nó sống trọn vẹn giây phút này, tại đây trong hương trà thơm ngát.

Tỉnh thức làm trà nhân dừng lại dòng suy nghĩ tiêu cực, chấp nhận những điều không may, những day dứt đau khổ vì những điều bất như ý thậm chí một thất bại nào đó trong cuộc sống. Trà nhân bỗng thấy mình có thể an yên trong hiện tại như chú muỗi kia, để sở đắc cái cảm giác mọi lo âu và những bất trắc sẽ tan biến một cách tự nhiên, giúp trà nhân trân trọng khoảnh khắc ngay bây giờ và tại đây, được sống trọn vẹn trong giây phút yên bình cuối năm, tĩnh tâm bên chén trà với “chú muỗi” hồn nhiên để cảm ơn cuộc đời đã cho ta thêm một tuổi, thêm được một ít bài học trải nghiệm và trưởng thành … Sự tỉnh giác làm trà nhân thấy mọi rắc rối của “chuyện đời” đang đè nặng tâm hồn bỗng “nhẹ tênh” như đôi cánh của chú muỗi bé nhỏ vô tình.

Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa đã khuyên: “Khi an trú trong hiện tại, chúng ta trải nghiệm cảm giác tự do hoàn toàn mới mẻ, mọi lo âu về những bất trắc, vô thường sẽ tan biến một cách tự nhiên. Chúng ta cần trưởng dưỡng tâm tỉnh giác để biết trân quý hiện tại, sống trọn vẹn hôm nay thay vì tiếc nuối quá khứ hay vọng tưởng tương lai. Thời điểm tốt nhất để nếm trải hạnh phúc chính là ngày hôm nay”.

Tôi bỗng nhớ đến một từ gần đây mới xuất hiện trong “ngôn ngữ đường phố” của các bạn tuổi “teen”. Khi trao đổi với nhau về một vấn đề gì các “teen” cho là không quan trọng, các bạn ấy chỉ đơn giản phẩy tay và thốt lên một từ duy nhất: “Muỗi!”. Phải chăng đấy cũng là một cách tư duy tích cực của giới trẻ?

LVT

Xanh trời khoáng đạt- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"dăm vầng mây bạc

xanh

trời haiku"

(Đinh Nhật Hạnh)

Đọc câu thơ trên, trong tôi chợt hiện lên cảm giác khoáng đạt, sự vỡ lẽ của một tâm hồn cởi mở, biết đón nhận một điều gì đó, mới mẽ và kỳ thú.

Đó là thơ haiku Nhật Bản.

Như chúng ta đã biết, thơ haiku đã trở thành thể thơ Quốc tế, nhiều nước đón nhận, trong đó có Việt Nam. Nhưng để bén duyên với mảnh đất giàu truyền thống thi ca như nước ta, rất cần sự nhiệt tình của người đón nhận. Cách đây hơn nửa thế kỷ, các vị tiền bối đã đem Haiku vào Việt Nam, dịch và giới thiệu. Tuy nhiên, thời kỳ đó chưa được nhiều người Việt biết đến, mãi đến sau năm 1975 mới được biết đến nhiều hơn, mở rộng hơn, và nồng nhiệt hơn. Theo nhà thơ Đinh Nhật Hạnh, khi về hưu một số người yêu thơ ca lập ra các nhóm thơ, các CLB thơ vv..., thì bác Đinh Nhật Hạnh và một số bác nữa ở Hà Nội cùng nhau mày mò, tìm hiểu và sáng tác thơ Haiku...

Vì thế, khởi đầu nhà thơ viết:

"dăm vầng mây bạc",

Ý thơ chỉ sự gắn bó, tha thiết đi tìm cái mới, túm tụm cùng nhau trong không khí thân thương vô vụ lợi. Cái sự tụ lại ấy, nhiệt tình và trong sáng quá, nhà thơ còn cho biết "chỉ có người già mới mê nổi haiku" thôi. Do đó, sau này các cụ đã hợp cùng nhau, trong Nam có CLB Haiku của giáo sư Lưu Đức Trung, ngoài Bắc có CLB Haiku Hà Nội. Thế là bản hòa ca đã được tấu lên, bằng cây đàn muôn điệu trên đất nước chúng ta, hòa cùng thời kỳ mở cửa hội nhập và phát triển, đã làm nên:

"xanh/ trời haiku"

Vâng, xanh một sức sống mới, trên vùng đất mới, để vun bón cho thể thơ mới, nguồn năng lượng vô biên từ xứ sở Mặt trời mọc. Ở đây, tác giả đã khéo vận dụng thủ pháp tương phản "mây bạc - trời xanh", để làm nổi bật vùng thi ca mênh mông, chưa được khai thác; và những "vầng mây bạc" là những con người từng trải đã qua tuổi "tri thiên mệnh", nhưng tài năng còn tiềm ẩn.

Có thể nói, đây là bài haiku viết từ cảm hứng tiên khởi nhất, về mối tình đối với thi ca. Có lẽ lúc ấy, nhà thơ Đinh Nhật Hạnh cũng đã tiếp cận với các khuynh hướng phát triển, và tiếp biến của các phong trào thơ haiku trên thế giới; và ông nhận ra rằng văn học nước nhà đang đón nhận một "Nàng thơ tí hon" vô cùng mới lạ, một "ngôi sao" lung linh du nhập vào nền trời thi ca Việt bao la, trong đó thể Lục bát đã làm nên những "dải Ngân Hà" bất tận. Vòng tay Lục Bát bao dung đã bắc cầu cho Haiku tỏa sáng. Chính vì thế, nên tôi cho đấy là sự kết nối thú vị, đã tạo ra bài thơ không những hay về nghệ thuật, thâu tóm vũ trụ và nhân sinh hòa quyện trong một tổng thể hài hòa, mà còn là dấu ấn ghi lại trang sử hình thành và phát triển Haiku Việt sau này...

Theo tôi,"dăm vầng mây bạc/ xanh/ trời haiku", vô hình trung đã trở thành một trong những bài haiku hay nhất thời kỳ đầu. Với một từ khóa (xanh) đắc địa, nó đã phả vào hồn cốt của "dăm vầng mây bạc" sức sống mãnh liệt.

Và thơ Haiku từ đó, như một hạt mầm, bén rễ trên đất Việt, xông hương vào hồn người Việt, ngày càng xanh tốt trong khu vườn Việt - Nhật độc đáo, giàu tính trí tuệ và tinh thần nhân văn...

N.T.N

Chiếc chìa khóa tâm hồn- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Pour déménager / plier le paysage en trois / dans la mémoire

Muốn chuyển nhà

xếp gấp phong cảnh làm ba

cho vào bộ nhớ

(Jean Antonini - Pháp - chuyển ngữ Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ Jean Antonini là trụ cột của nền Haiku Pháp đương đại, qua lời giới thiệu của nhà thơ Đinh Nhật Hạnh, tôi được tiếp cận thơ ông và cảm thấy gần gủi hơn. Đọc chùm thơ 25 bài, tôi chọn bài thơ trên vì nó gợi ra cảnh dọn nhà, chính là hình ảnh của tôi khi chuyển nhà về nơi ở khác...

Dù không cùng chủng tộc và đất nước, nhưng có chung một tâm trạng, một suy nghĩ về mái ấm, và những kỷ niệm thân quen. Nếu là tôi, câu mở đầu thật khó viết, bởi nó còn chan đầy cảm xúc. Jean Antonini có lẽ đã chuyển nhà nhiều lần, nên ông viết dễ hơn: "Muốn chuyển nhà"...

Dễ nhưng không dễ dãi, khi ông dùng động từ:"muốn" trong mong muốn, ước muốn. Cái từ "muốn" hình như có một nửa muốn, nửa không, trong bán động từ này chăng? Thật vậy, "muốn chuyển nhà" đâu có dễ, chuyển nhà là chuyển nguyên một dòng ký ức, một khoảng trời kỷ niệm đã gắn bó như máu thịt. Vì vậy, tôi từng chứng kiến một cô bé, gục đầu vào bức tường nhà mình mà khóc, khi gia đình cô bé phải bán ngôi nhà, nơi cô bé được sinh ra...

Và chính tôi, cũng đã khóc khi chia tay cây sầu riêng nhà mình, mà hơn 20 năm nó đã cho trái rất ngon... Có thể nói, những kỷ niệm không bao giờ có thể kể hết, nên nhà thơ, Haijin Jean Antonini đành bày ra cách:"xếp gấp phong cảnh làm ba"... Thật ra, con số ba chỉ là ước lượng, chỉ cho số nhiều không thể đếm được những "phong cảnh", tức những hình ảnh có thể thoáng qua, có thể là dấu ấn mãi mãi, từ lúc có ý thức ghi vào vỏ não ấu thơ cho đến già nua vv..., để "cho vào bộ nhớ"...

Vâng, bộ nhớ là nơi lưu giữ ký ức, là nơi cất giấu kho tài sản vô giá mà không có ai có thể đánh cướp được. Nó linh thiêng, nó đẹp đẽ, nó thổn thức, nó hồn nhiên, nó đáng ghét vv... Nó là toàn bộ cuộc sống của những con người trong gia đình, hỏi ai không chạnh lòng khi đọc bài thơ này. Thơ gói ghém, thơ bày ra, và thơ gợi mở tất cả cái gói ẩn ức nhất trong lòng...

Riêng tôi, thật xúc động khi đọc bài haiku này, nó như chiếc chìa khóa mở đúng tâm hồn, chiếc tủ kỷ niệm đầy ắp hình ảnh về một thời khốn khó và thành tựu của gia đình tôi.

NTN

Máy học làm người, người hóa máy- Lâm Long Hồ (An Giang)

alt

La caissière blonde/ cric cric cric cric cric cric cric/ Je la regardais

Cô thu ngân tóc vàng

cric cric cric cric cric cric cric

tôi nhìn cô.

Jean Antonini (Pháp) – Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ

Dãy âm thanh “cric cric cric cric cric cric cric” ám ảnh trong khúc haiku đã thu hút tôi. Đó là dãy âm thanh của loại máy in chuyên dụng trong ngân hàng. Ngân hàng là nơi mà những cô thu nhân xinh đẹp phải làm việc với những con số, lặp đi lặp lại những thao tác như những chiếc máy hay những con robot. Tôi đọc được ở đâu đó rằng “đa số nhân loại đang làm việc thay cho những chiếc máy” và ở trường hợp của cô thu ngân cũng vậy. Những nụ cười, cử chỉ, lời nói, dáng ngồi, dáng đi, dáng đứng của cô đều được đào tạo và nó như vòng lặp vô cùng trong ngôn ngữ lập trình của máy tính.

Có thể tác giả đã nhìn quanh, có thể tác giả đã thấy những bộ quần áo đồng phục rất thống nhất, những việc làm giống y như nhau của nhiều người. Có điều gì khác biệt giữa người và máy lúc này? Khách hàng đến đây đều nhận được những nụ cười và đương nhiên những nụ cười rất máy. Sự cô đơn tận cùng là sự cô đơn giữa đồng loại. Sự cô đơn ấy đã ám ảnh tác giả qua dãy âm thanh quen thuộc từ chiếc máy in ở ngân hàng. Những âm thanh đó là những lời mà máy dùng để giao tiếp với người hay là cô thu ngân tóc vàng xinh đẹp đang nói với tác giả?

Mở rộng thêm một chút, trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo đang được phát triển, các gã khổng lồ công nghệ đang tìm mọi cách để AI (trí tuệ nhân tạo) của họ càng giống người càng tốt. AI ngày nay có thể học được, nói được, giao tiếp được với người, ngày càng giống người và ở một số lĩnh vực đã vượt xa con người. Trong lúc đó, không ít chúng ta lại đang làm những công việc đáng lý ra là của máy móc. Không khó để kể ra những công việc lặp đi lặp lại mà chỉ cần quen tay, thuộc lời mà ít cần đến chất xám. Không khó để bắt gặp những khóc cười vô cảm từ phía con người. Có phải chăng: Máy học làm người/ người/ hóa máy?

LLH

Giận dữ- Lê Văn Truyền

alt

ware-wo ikarashime kono tsuki-wo marokarashime

Takeshita Shizunojo*

me, it fills with anger

this moon, it fill

and makes it whole

Dhugal J. Lindsay** dịch

lòng tôi giận dữ ngập tràn

an nhiên vô sự

trăng tròn trời đêm

Lê văn Truyền dịch

Hỉ nộ ái ố là những cảm xúc mà bất kỳ ai trong mỗi chúng ta cũng đều phải trải qua không chỉ một lần trong đời. Takeshita trong một hoàn cảnh nào đó cảm thấy cơn giận dữ đang bóp nghẹt trái tim mình. Nữ haijin không cho ta biết nguyên nhân. Ta chỉ biết nỗi giận dữ, dù do bất cứ nguồn cơn nào, đang tràn ngập tâm hồn nhà thơ, máu nóng bốc lên đầu và thậm chí làm bà ngạt thở, nghẹn lời. Thường thì giận đi liền với dữ, có thể biến một con người hào hoa, phong nhã, điềm đạm trong nháy mắt trở thành một kẻ dữ dằn, hung bạo, độc ác. Với chúng ta, trong hoàn cảnh ấy, không ít người phải đập phá một cái gì đó để trút cơn giận. “Giận cá chém thớt”, “đá thúng đụng nia” ông cha ta đã tổng kết như vậy về cách hành xử thông thường của con người. Chẳng thế mà, trong xã hội hiện đại phương Tây, có người đã tìm cách hốt bạc bằng khởi nghiệp kinh doanh những “Phòng Đập Phá” để mọi người, khi gặp bức xúc – người yêu từ bỏ, bạn bè phản bội, thất bại trong kinh doanh v.v… – trước khi quyết định chấm dứt cuộc đời thì hãy đến đấy trả tiền để được tha hồ đập phá, hòng vơi đi cơn giận dữ đang tàn phá tâm hồn để sau đó bình tâm trở lại, tiếp tục cuộc sống, làm lại cuộc đời.

Là một người vợ - nội trợ truyền thống của xã hội Nhật Bản, một mình Takeshita Shizunojo phải chăm lo cho chồng và 5 đứa con. Cuộc sống của nữ haijin đầy áp lực. Khúc haikư nổi tiếng sau đây của bà được viết ra trong một khoảnh khắc bức bách trong hoàn cảnh của một bà mẹ nghèo không đủ sữa nuôi con:

this short night

shall I throw away my baby

crying for milk? ***

trong đêm ngắn này

liệu tôi có ném được đứa con

đang khóc đói sữa

Lê văn Truyền dịch

Nhưng, chúng ta tin rằng tình mẫu tử thiêng liêng và tâm hồn của người phụ nữ Nhật Bản sẽ làm bà nguôi đi, hình hài của đứa con thân yêu sẽ xoa dịu tâm hồn bà.

Thật ra, không phải mức độ cung bậc cảm xúc như thế nào mà là cái cách chúng ta thể hiện những cảm xúc này mới phản ánh nhân cách của ta. Ông cha ta cũng đã từng dạy: “Nuốt giận làm lành”. Và nếu ta không tự chủ nuốt được cơn giận dữ thì hãy học cách cư xử của Takeshita: ngắm vầng trăng tròn đang dịu dàng, an nhiên vô sự lặng lẽ tỏa sáng bầu trời đêm như đang xoa dịu những nỗi đau, đem lại sự bình an trong tâm hồn ta nơi trần thế. Và, sau đó hãy tôn trọng, biết ơn Vũ Trụ và Thiên Nhiên như là Người có khả năng chữa lành những vết thương trong tâm hồn khi ta đang vô vọng và cô đơn nhất.

Đời người không ai là không trải qua những chuyện vui buồn của cuộc sống. Khúc haikư của Takeshita dạy ta rằng: Biết cách đón nhận và hành xử trước những cung bậc “hỉ nộ ái ố” của cuộc đời mới chính là yếu tố quyết định bản chất con người của chúng ta.

...

*Takeshita Shizunojo (1887–1951): Sinh ra ở Fukuoka. Vừa nuôi dưỡng 5 người con (2 trai, 3 gái) bà vừa sáng tác haikư. Các sư phụ của bà là Yoshioka Zenjido và Takahama Kyoshi. Là thành viên của Nhóm Hototogisu vào năm 1928, Takeshita Shizunojo là một trong những nữ haijin đầu tiên xuất hiện trong những năm đầu của nền haikư hiện đại Nhật Bản. Bà có một cuộc sống hết sức khó khăn, đầy áp lực của một người vợ nội trợ truyền thống trong xã hội Nhật Bản thời đó.

** Dhugal J. Lindsay (Australia): Tiến sĩ sinh học biển, nhà nghiên cứu (Cơ quan Nhật Bản về Khoa học – Nhật Bản Kỹ thuật Biển và Trái đất: JAMSTEC)

***Chưa tìm được người dịch khúc haikư này ra tiếng Anh

Đọc bộ sách của TS Yuval Noah Harari- Lê Văn Truyền

alt

1.Năm 2014 Harari đã viết

về Loài người tinh khôn¹ và Loài người thần thánh²

mà chẳng viết gì về chủng Corona


2.Năm 2016 Harari đã nêu

21 bài học cho thế kỷ XXI

mà không cảnh báo đại dịch Covid-19


3.Đọc bộ sách của Harari

bỗng thấy loài người chúng ta

vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm


Giới thiệu về Yuval Noah Harari:

Yuval Noah Harari sinh năm 1976, là nhà nghiên cứu lịch sử người Israel. Ông nhận bằng Tiến sĩ của Đại học Oxford (2002), hiện nay là giảng viên Khoa Lịch sử tại Đại học Do Thái, Jesusalem (Hebrew University, Jesusalem). Bộ ba quyển sách của ông: Loài người tinh khôn - lược sử nhân loại (Sapiens: A Brief History of Humankind, 2014), Loài người thần thánh – Lược sử tương lai (Homo Deus – A Brief History of Tomorrow, 2016) và 21 bài học cho thế kỷ XXI (21 Lessons for the XXI Century, 2018) được đón nhận nồng nhiệt trên khắp thế giới, tạo nên nhiều hứng thú cũng như tranh cãi trong độc giả.

Năm 2002, ông kết hôn người người chồng đồng tính hiện tại là Itzik Yahav, người mà ông gọi là "internet vạn vật của tôi" đồng thời là người quản lý của ông. Harari là một nhà khoa học thực hành thiền định và ăn chay trường.

Trong những ngày giãn cách xã hội, tôi đã tìm đọc bộ ba kiệt tác của Yuval Noah Harari mấy năm gần đây đang được đón nhận nồng nhiệt trên thế giới. Tiến sĩ sử học Israel, với trí thông minh vốn rất nổi tiếng của dân tộc Do Thái, sự uyên bác và khiếu hài hước của một nhà khoa học trẻ hiện đại đã dẫn dắt ta đi từ tổ tiên chúng ta “loài người tinh khôn” (Homo sapiens) đến loài người trong tương lai “loài người thần thánh” (Homo Deus) nhờ những phát minh vĩ đại và những tiến bộ khoa học vĩ đại chưa từng có trong thế kỷ XX và cuộc “hôn phối” giữa công nghệ sinh học và công nghệ thông tin vào đầu thế kỷ XXI. Theo Harari cuộc “hôn phối” giữa hai ngành khoa học này có thể làm cho con người “có quyền năng kiểm soát thế giới bên trong và tái định hình bản thân nhưng vì không hiểu được sự phức tạp của chính tâm trí mình nên những thay đổi chúng ta sẽ tạo ra có thể đảo lộn hệ thần kinh đến mức chính hệ thần kinh của chúng ta có thể sụp đổ”. Thụ tinh nhân tạo, thiết kế thai nhi, sửa đổi bộ gen người, sinh vật và vi sinh vật, người máy thông minh, kiểm soát từng thành viên trong xã hội bằng trí thông minh nhân tạo (AI: Artificial Intelligence), Internet vạn vật (IoT: Internet of Things) và dữ liệu lớn (Big Data) … là những bước đi chập chững thời tiền sử của loài Homo Deus (Loài người thần thánh) nhằm từng bước tiến tới thay thế các vị thần để “thế thiên hành đạo”. Câu hỏi mà Harari đặt ra là khi loài người đã trở thành những vị thần thì “liệu có gì nguy hiểm hơn những vị thần bất mãn và vô trách nhiệm, họ không biết mình thực sự muốn gì?” (Sapiens - Lược sử loài người, tr. 526, bản tiếng Việt).

Harari đã có một Chương rất hay về nguồn gốc các đại dịch trong lịch sử loài người do vi khuẩn, virus mà ông gọi là “những binh đoàn vô hình” đã càn quét nhân loại như đại dịch “Cái chết đen” năm 1330. Hai thế kỷ sau, năm 1530 những trận dịch - món quà “tiếp thị miễn phí” -  do các nhà thám hiểm Châu Âu mang đến cho những bộ lạc bản xứ kèm theo những thành quả của nền văn minh công nghiệp - đã tiêu diệt đến 90% người dân bản địa ở Mexico, người Maya, người Aztec… Ở thủ đô của người Aztec thời đó, 75% dân số đã tử vong trong vòng hai tháng.

Mặc dù Harari không nhắc gì đến một đại dịch cụ thể kiểu như SARS-Covid-19 mà chúng ta đang đương đầu, tôi chú ý đến một dòng tiên tri đến lạnh người của Harari cách đây 5 năm: “Rất có khả năng các dịch bệnh lớn đe dọa loài người trong tương lai là do chính con người tạo ra, để phục vụ một ý thức hệ tàn bạo nào đó” (Homo Deus - Lược sử tương lai, tr.21, bản tiếng Việt).

Đến đây, tôi bỗng nhớ đến câu nói nổi tiếng của nhà báo Julius Fucik³, tác giả quyển sách “Viết dưới giá treo cổ”: “Hỡi nhân loại, hãy cảnh giác!” để nhắc nhở thế giới phải có trách nhiệm ngăn chặn mọi mầm mống phát xít. Trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa kinh tế và toàn cầu hóa dịch bệnh ngày nay, lời kêu gọi của Julius Fucik vẫn còn nguyên giá trị.

LVT

Chú thích:

[1] Loài người tinh khôn: Homo sapiens đã xuất hiện khoảng 70.000 năm trước đây

[2] Loài người thần thánh: Homo Deus, danh từ mà Harari dùng để ám chỉ loài người trong tương lai

[3] Julius Fucik (23/2/1903-8/9/1943): Nhà báo, nhà văn, nhà phê bình văn học, đảng viên Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, người tiên phong trong phong trào kháng chiến chống Phát xít Đức. Ông bị Phát xít Đức cầm tù, tra tấn và hành quyết.

Biết đủ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

In my hut this spring

There is nothing

There is every thing

(Yamaguchi Sodo)

"Mùa xuân này

Trong lều tôi không có gì

Mà có tất cả"

(Quang Đức dịch)

Thuở xưa, Uy Viễn Tướng công đã từng viết: "Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc", nghĩa là biết đủ là đủ, chờ đủ đến bao giờ mới đủ!

Quả thật, "đủ" ở đây không có nghĩa là phải có tất cả. Vậy nên, dù khác đất nước, cách xa về địa lý, thì thơ vẫn gặp nhau trong ý nghĩa văn hóa địch thực của nó. Nhà thơ Yamaguchi Sodo đã viết bài haiku này giữa một mùa xuân bất tận, với tâm không!

Tâm không ở đây là đầy cảm xúc, thăng hoa bản thể, nên nhìn nhận chân thật rằng:"trong lều tôi không có gì"! Cái "không có gì" là chân thật, dù biết không phải là không có gì; vẫn có "cái không" trong cái lều chứ, nơi chứa đựng cuộc sống chứ sao không?

Vậy nên, nhà thơ không hề buồn phiền với cái "không có gì" của mình, mà nhìn nhận nó là một sự thật để "mà có tất cả"! Đó là minh triết Á Đông, minh triết của thiền tông Nhật Bản.

Một niềm vui chân thật được khởi lên giữa mùa xuân, trí tuệ siêu việt của nhà thơ nhận thấy mình là người "giàu có", ngược lại với "cái không có gì" về vật chất là đầy đặn tinh thần.

Không thể thiếu vật chất, nhưng sức mạnh tinh thần mới là thứ quý hiếm nhất, có thể tạo ra tất cả. Thật ra, trong chiếc lều vắng thời Sodo là tập buông bỏ, kể cả lợi danh để đạt đến cảnh giới giải thoát không thuộc về thế gian, nên câu thơ mạnh mẽ, chân thiện, làm sáng tỏ mọi ngóc ngách lầm than của cuộc đời. Chúng ta cứ tranh giành, cướp đoạt để tạo ra nghiệp khổ, trong khi đó tập buông bỏ là niềm tin mãnh liệt của tu thiền định.

Bài thơ là một bài học cao siêu về cách sống không tham dục, làm cho cuộc sống trong sạch và nhẹ nhàng, hòa bình cũng xuất phát từ đó mà thôi!...

N.T.N

Đọc lại Tuyển tập Haiku thế giới số 16- Đào Thị Hồ Phương

alt

Tôi đồng cảm sâu sắc với bài viết đăng trên web của Yoshihiko Furuta và Toyomi Iwawaki-Riebel. Vâng, sự ảnh hưởng của Haiku không thể bàn cãi.Toyomi Iwawaki-Riebel đã tóm tắt khái quát đầy đủ nội dung của Haiku vừa mới xuất bản. Nếu như đại dịch Corona đã và đang gây ra biết bao đau thương cho mọi người khắp nơi trên thế giới thì ngoài ra, những nỗi đau khác cũng đã được khéo léo thể qua tập thơ này như một sự cộng cảm chung của những người yêu thơ.

alt

詩客国を憂い凍てたる鶴のごと

Thi nhân của các nước

Lo lắng về đất nước của họ

Như hạc đang kêu gào vì đói

Hideki Ishikura(1946) Nhật trang 29


夕立が私へ血が草原へ

Cơn mưa rào mùa hè

Trút về phía tôi

Máu lan dần trên thảo nguyên

Takuya Nara (1997)Nhật  trang 40


白神の方言詩人死す雪解川

Cái chết của nhà thơ

của phương ngữ vùng núi Shirakami

Sông đầy tuyết

Hisao Suzuki(1954) Nhật trang 53

Trong thơ văn, hội họa của Nhật, bức tranh “Sóng lừng ở Kanagawa”của Katsushika Hokusai chắc chắn đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho những ai yêu thích văn hóa Nhật”. Không hẹn mà gặp, hình ảnh những con sóng, biển cũng được được rất nhiều tác giả đề cập đến trong các bài thơ của tuyển tập này. Trong phạm vi bài viết của mình, tôi xin đề cập đến một vài bài thơ tiêu biểu qua hình ảnh sóng, biển “Dữ dội và dịu êm” đúng như tính chất hai mặt của nó.

浜の貝殻に/数年の記憶/時間は戻らぬ

Kí ức ngàn năm

Đọng lại trong những vỏ sò trên bờ biển

Thời gian không trở lại

Leonilda Alfarrobinha (1943 ) Bồ Đào Nha trang 9


海は空へ開き/空は海へ開く/ただ呼吸

Biển hướng đến bầu trời

Bầu trời hướng đến biển

Chỉ là hơi thở

Goda Virginija Bendoraitiene (1958 ) Lithuania trang 12


西の海を暮れなずむ夕陽

雲が流れるのも風が吹くのも許さず

日出ずれば暁も海を染める

Hoàng hôn trên biển ở phía tây

mây trôi, gió thổi cũng không được cho phép

nếu mặt trời không mọc, bình minh cũng sẽ nhuộm biển

Duan Lesan (1944) Trung Quốc trang 21


三叉路で迷う/濃霧、高い海/われらどちらへ?

Lạc giữa ngã ba

Rừng sâu, biển dữ

Lối nào cho ta ?

Đinh Nhật Hạnh(1928) trang 21


大西洋の大波/来るに遠く/行くに遠くに

Sóng lớn Đại Tây Dương

Đến từ xa

Rồi đi thật xa

Tim Gardiner (1978)Anh trang 23


神山の/湧 水の波/鈴の音

Sóng của mùa xuân

là của thần núi

tiếng chuông

Harimakimi (1964)Nhật trang 26


波とあそぶ/一人ぼっち/ 岩ぼっち

Chơi với sóng

chỉ một mình tôi

Và một tảng đá

Sayumi Kamakura (1931), Nhật trang 31


海はしずか/太陽に魚師らたち/海のように赤い

Biển lặng

ngư dân đứng dưới nắng

đỏ như biển

Bo Lille (1947)Đan Mạch trang 36


嵐/海の尾を打つ/岸に魚

Cơn bão

Quất vào đuôi biển

Cá trên bờ

Zoe Savina Hy Lạp trang 50


私は思う/海も私のからだ/塩辛い涙の一

Tôi nghĩ

biển cũng là cơ thể của tôi

một giọt nước mắt mặn

Judit Vihar (1955)Hungary trang 59


鈴木比佐雄蝉深い/深い森/仏陀の海

Ve sầu

rừng sâu

Biển của Phật

Scott Watson (1954)Mỹ& Nhật trang 60

“Dữ dội và dịu êm” cũng là tính tồn tại song song của cuộc sống của chúng ta. Có những lúc dịu êm, có những lúc giông bão kéo đến như đại dịch corona đang diễn ra vậy. Trong những lúc như thế này, cái khát khao hòa bình, bình yên luôn cháy bỏng, dù là đơn sơ nhất.

未知の望まない命のなか/美と愛はある/遊び好きな子供たち

Trong cuộc sống không như mong muốn

Tình yêu và cái đẹp tồn tại vẫn tồn tại

Những đứa trẻ thích vui đùa

Karunesh Kumar Agrawal (1976) Ấn Độ trang 8


難民キャンプ/フライパン一つで料理/豚肉と牛肉

Trại tị nạn

Nấu ăn bằng một chiếc chảo

Thịt lợn và thịt bò

Bakhtiyar Amini (1975 ) Tajikistan & Đức trang 9


本を読む/まるで自分の一生を見つめて/時間を過ごすように

Đọc một cuốn sách

như thể tôi đã dành thời gian

Soi chiếu vào cuộc sống của chính mình

Jean Antonini(1946)Pháp trang 9


春の喜び/私のピンクの一角獣に架かる/虹を渡る

niềm vui mùa xuân

Là băng qua cầu vồng

Trên con kỳ lân màu hồng của tôi

Ece Çehreli(2006) Thổ Nhĩ Kỳ trang 16


春の夢宇宙遊泳駱駝の背

Viễn du vào vũ trụ

Trên lưng lạc đà

Là giấc mơ xuân

Chikubon(1960)Nhật trang 17


君の顔の/平和/夜とともに去らない

Hoà bình

Trên gương mặt của bạn

Sẽ không bỏ đi cùng bóng đêm

Aleksandar Dabnishki (1944) Bungary trang 18


白帽かぶる/富士山/私は太陽に挨拶

Núi Phú Sĩ

Đội mũ trắng

Tôi chào mặt trời

Fatma Gultepe (1947) Thổ Nhĩ Kỳ trang 25


雨の歌/われらの内なる/祝福

Bài hát của mưa

Chúc phúc

Cho chính chúng ta

Sevim Gultepe(1935)Thổ Nhĩ Kỳ trang 25


ハチドリよ!/新しい剃刀で/僕の悲しみそり落とす

chim ruồi đấy!

Bằng chiếc dao cạo mới

Tôi xóa sạch nỗi buồn

Lee Gurga (1949)Mỹ   trang25


薔薇闇の溢れ出でたる日暮かな

Hoa hồng

Tràn ngập sắc đen

Có lẽ là trời tối

Kei Hayashi (1953)Nhật trang 28


魂はずぶ濡れにならない血まみれにならない

Tâm hồn

Không để bị vẩn đục

hoặc dính máu

Ban’ya Natsuishi (1955)Nhật trang40


水のようには生きられない人間の声

Như nước cần cho sự sống

Người không thể sống

Mà không có tiếng nói

Ban’ya Natsuishi (1955)Nhật trang 40

Ngày 30 tháng 4 là ngày kỷ niệm “thống nhất đất nước” ở Việt Nam Trong không khí chung của tinh thần “giải phóng”, Việt Nam đã và đang “bình an” trong chiến dịch phòng chống corona, từ tận đáy lòng , tôi mong và cầu chúc tất cả mọi người, bạn bè trên thế giới bình an, tất cả mọi nơi đều sớm có ngày “giải phóng” khỏi cơn đại dịch corona.

Sau bóng đêm

Mặt trời sẽ mọc

Sự hồi sinh

ĐTHP

Một bài thơ Haiku Việt đồng điệu- Lê Đăng Hoan

Vừa qua Chủ nhiệm CLB thơ Hai-ku Hà Nội- Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh gửi cho tôi câu mà ông trích, nói là của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln.

alt

Câu đó như sau:

“Khi viên đạn xuyên vào một người lính dù thuộc bên nào đi nữa, thực ra nó đã xuyên vào trái tim một người mẹ”.. .

Sau khi tôi trả lời rằng “ Một câu nói đầy nhân văn” và tôi viết cảm hứng của mình gửi lại cho ông bằng bài thơ kiểu Hai-ku rằng

“Sau cuộc chiến,

Thắng bại

Đều ẩn sâu trong tim người Mẹ”

Đọc xong, ông bảo tôi “Chú bình luôn đi!. Hai-ku đấy!”

Hôm qua đến nay tôi suy nghĩ không biết nên bình thế nào cho phải lẽ đời, vừa hợp tính nhân văn lại vừa hợp thời hợp thế!

Tôi đi tìm lại tài liệu, thì tôi gặp ngay một tâm hồn đồng điệu. Ôi. Nhà thơ Hai-ku Lương Thị Đậm (CLB thơ Nha Trang) đã là cái cột cho tôi dựa vào để viết bài này!

Trước hết, xin cảm ơn nhà thơ Lương Thị Đậm và các nhà thơ Hai-ku Nha Trang, những người rất nhiệt tình, rất chân thành, rất tình cảm, đã để lại trong tôi những tình cảm vô cùng sâu đậm trong cuộc gặp mặt giao lưu thơ Hai-ku ở Huế cách đây hơn một năm!

Các anh các chị để lại trong tôi không những một Nha Trang được“ ngắm trời biển đẹp” mà còn những con người thật chân thành và đa tình đa cảm, sống hết mình!

Xin chép lại bài thơ Hai- ku của chị Lương Thị Đậm ất ngắn, nhưng rất rộng, không kém gì lời nói của Tổng thống Abraham Lincoln:

Hai người mẹ/ đi qua chiến tranh/ cùng cúi đầu lặng lẽ!

Hai bà MẸ ở đây là hai bà MẸ cùng có con tham gia chiến tranh, cùng đi chiến đấu ở hai đầu khác nhau, và bây giờ chiến tranh qua rồi kẻ chiến thắng và kẻ chiến bại, nhưng trong tim hai người MẸ, họ là những người CON, người con đáng ra luôn ở bên cạnh họ bên cạnh tình thương yêu đùm bọc cho nhau, nhưng họ phải đi chiến đấu vì hai lý tưởng khác nhau và cả hai họ đã không về. (Tác giả không nói những gì tôi vừa giải ra, nhưng xin lỗi tác giả nếu tôi hiểu sai ý nghĩa của bài thơ).

Tôi còn nhớ một bài thơ của một tác giả thời “Thơ mới” (Tôi quên cả tên tác giả và tên bài thơ, nhưng những đoạn hay trong bài thơ này tôi vẫn nhớ, dù từ ngữ có chỗ không chính xác) nói về việc nhà thơ đến thăm một bà MẸ có con hy sinh trong chiến tranh chống Pháp. Người con chưa đủ tuổi đi lính “Mười bảy tuổi đầu ông tính đánh ai/ Thì vừa đây, đi học chỉ ham chơi/ đến công việc cũng không rời chúng bạn..” thế mà anh “ Khai gian tuổi và ủy ban cấp giấy..” ‘nhập ngũ’, rồi anh ta lập chiến công “diệt năm thằng một lúc”. Khi nghe tin con có công diệt giặc bà mẹ đã “Tôi vừa mừng, vì nhà tôi có phúc/ Nó nên người thì tôi cũng vui lây’…Nhưng ‘phúc họa theo nhau’, bà lo lắng ngay sau đó “ Nhưng vừa lo nó dại, thực dân Tây/ Độc ác lắm có thương ai mấy thuở..”

“Thì trời ơi, đúng như lời tôi lo sợ/ Ngày hôm qua tôi được giấy gọi lên/ Sở quốc phòng, ông Chủ tịch ngợi khen/Bà là mẹ một anh hùng cứu quốc”. Tiếp theo nhà thơ viết “ Bà MẸ nói xong liền òa lên KHÓC! Tôi bàng hoàng thấy ngực nặng lần lên/ Bóng MẸ già in trên vách lặng yên, Nỗi đau đớn của Mẹ hiền chất nặng.” và nhà thơ kêt luận bằng một câu của MẸ “ Nước Việt Nam là nó thỏa vong linh”

Bài hát dân ca “Đôi bờ” của Nga có nội dung tóm tắt thế này: “Người ta nói rằng em hạnh phúc, vì có chồng hy sinh vì Tổ quốc, nhưng trái tim em không nghĩ thế, anh và em bây giờ như hai bờ một con sông, chẳng bao giò gặp lại”…

Dựa vào đó tôi làm bài thơ rằng.

“Người đời bảo, em là người hạnh phúc,

Vinh dự có chồng vì Tổ Quốc hy sinh,

Nhưng trái tim em, tự mình khắc khoải,

Anh và em như đôi bờ sông, mãi mãi cách xa.”

Khái niệm về chiến tranh được nhiều nhà lí luận, nhiều triết gia nói đến đó là điều không ai không biết. Nhìn nhận chiến tranh thế nào là phụ thuộc vào quan điểm của các bên tham chiến, nhưng dù thắng hay bãi, thì những người ngã xuống cho mục đích của một chế độ, một tập đoàn hay một hệ tư tưởng đều để lại trong tim người MẸ hay người đang chở đợi họ ở quê hương nỗi đau không thể nguôi ngoai.

Một lần nữa xin cảm ơn sự đồng điệu của bài thơ thể hiện tính nhân văn mà không phải ai cũng có thể nói ra được của nhà thơ tôi yêu mến Lương Thị Đậm.

Hy vọng chúng ta còn nhiều dịp gặp nhau và tôi còn viết nhiều về thơ của các anh chị ở CLB thơ Hai-ku Nha Trang../.

(Viết trong niềm vui những ngày thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống giặc Co-vit)

L.Đ.H

Cảm nhận Haikư về chiếc khẩu trang

alt
Có lẽ cho đến trước khi xẩy ra đại dịch Covid-19, chưa bao giờ mọi người coi chiếc khẩu trang lại là một nhu cầu thiết yếu sống còn. Chúng ta vẫn nghĩ đó là vật dụng thiết yếu chỉ cho các thầy thuốc, cho những người làm việc trong môi trường độc hại… Các cô gái thậm chí còn thù ghét chiếc khẩu trang vì nó che mất một phần khuôn mặt kiều diễm của mình: chiếc mũi dọc dừa, đôi má hồng và đôi môi căng mọng quyến rũ chết người.

alt

Thế nhưng con virus Corona chủng mới đã bắt chúng ta phải thay đổi tư duy. Chẳng thế mà trong những ngày đầu giãn cách xã hội, có nơi có lúc người ta đã đạp lên đầu nhau chỉ để cố mua được một hộp khẩu trang y tế với giá cắt cổ. Và chàng trai nào sáng hôm đó sau khi tả xung hữu đột may mắn sở đắc được một hộp khẩu trang, để dành tặng người yêu dấu vào dịp Lễ tình nhân năm nay, thì rõ ràng chàng ta đã ghi được một điểm son trong trái tim nàng. Chiếc khẩu trang bỗng trở thành “biểu tượng của tình yêu” trong mùa đại dịch, còn hơn cả chocolate Thụy sĩ và hoa hồng Hastfarm Đà Lạt. Rồi không riêng gì ở Việt Nam ta, cả thế giới lâm vào một cuộc “khủng hoảng khẩu trang”, một vật dụng bé nhỏ, nhẹ tênh chỉ đáng giá 1.000 VNĐ, đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, tờ giấy bạc mà những người hành khất nhiều khi “chê” không nhận và trả lại người cho một cái nhìn không mấy thiện cảm.

Cho đến sáng ngày 30 tháng 4 năm 2020, khẩu trang vẫn chưa hết độ “hot” khi tôi gõ từ “khẩu trang” trên Google, chỉ trong 0,45 giây đã xuất hiện hơn 30 triệu (chính xác là 30.300.000) kết quả, gấp 20 lần kết quả của ca sĩ nổi tiếng K.L. (1.540.000). Chiếc vật dụng chỉ đáng giá khoảng nửa xu Mỹ bỗng trở thành công cụ độc nhất vô nhị cho nền “ngoại giao nhân đạo” giữa các quốc gia bè bạn, các cường quốc và ngay cả các quốc gia thù địch trên thế giới, được gọi là “ngoại giao khẩu trang” với các cuộc khẩu chiến bất tận giữa các nguyên thủ quốc gia về “động cơ chính trị”, về “hàng dỏm, hàng thật”, về “minh bạch và mờ ám” … Mang hay không mang khẩu trang được đặt trong nghị trình của các Chính phủ, các Nghị viện và cũng là các ngón đòn chính trị để hạ bệ lẫn nhau trong mùa bầu cử sắp đến. Các nhà xã hội học trong mùa giãn cách xã hội thì bận rộn tranh cãi, tổn hao giấy mực và café để tìm hiểu và định nghĩa cái gọi là “văn hóa khẩu trang”! Nếu không là vật vô tri thì chắc tất cả các chủng loại khẩu trang từ “khẩu trang vải”, “khẩu trang y tế”, “khẩu trang N95”, “khẩu trang giấy” và cả vô số các loại “khẩu trang dỏm” đã tôn vinh con virus nCovi2 thành “vật tổ” (Totem).

Kể từ khi Ông Tổng Giám đốc Tổ chức y tế thế giới (WHO) bẽ bàng công bố muộn màng SARS-Covi2 đã gây nên đại dịch trên toàn thế giới, chính sách sử dụng khẩu trang mùa dịch cũng thay đổi chóng mặt bởi các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia y tế khả kính thậm chí bởi các nguyên thủ quốc gia. Tổng thống, Thủ tướng đeo khẩu trang nhưng Phó Tổng thống và Phó Thủ tướng thì không, làm con dân chẳng biết đường nào mà lần.

Cathie Gebhart, một haijin Hoa Kỳ đã phải ngửa mặt lên trời mà than rằng:

First they say no masks
now they say should wear a mask
no one knows the rules

Cathie Gebhart

Lúc đầu họ bảo không mang

giờ lại bắt phải đeo khẩu trang

chẳng hiểu thế nào là luật lệ

Lê văn Truyền dịch

Hỡi nhà thơ, hãy đừng than vãn vì không giống như văn thơ, “luật là luật” và xin đừng hỏi lý do. Nếu là một công dân gương mẫu, hãy suy nghĩ và hành động một cách đúng đắn như haijin Stacy Turasky (USA):

I really feel weird
wearing a mask everywhere
I do it for you

Stacy Turasky

Tôi thấy thật kỳ dị

mang khẩu trang đi khắp mọi nơi

nhưng tôi làm vì bạn

Lê văn Truyền dịch

May thay ở Việt Nam ta, đất nước cho đến hôm nay chưa có case tử vong nào vì Covid-19, Nhà Nước đã sớm yêu cầu người dân mang khẩu trang. Và haijin Nguyễn Thánh Ngã đã vô cùng xúc động khi được nhận chiếc khẩu trang miễn phí từ đôi tay một “chiến sĩ vô danh” trong cuộc chiến chống dịch.

Tôi nhận chiếc khẩu trang

miễn phí

tay người vô danh

Nguyễn Thánh Ngã

Đúng là chiếc khẩu trang có thể hạn chế sự biểu cảm của khuôn mặt chúng ta trong giao tiếp xã hội, trong nhận diện người quen … vì vậy Oliva McDonald từ Hoa Kỳ đã phải nhói lòng thốt lên hơi trách móc:

I just smiled at you

you cannot see under mask

I just smiled at you

Oliva McDonald

Em mỉm cười với anh

anh không thấy dưới lớp khẩu trang

em vừa cười với anh

Lê văn Truyền dịch

Nhưng Nguyễn Thánh Ngã từ “thành phố mù sương” Đà Lạt, với tâm hồn phương Đông, thì lại nhậy cảm đến mức cái khẩu trang không phải là vật cản vì haijin đã có cái nhìn “thấu cảm”, không chỉ nhìn bắng đôi mắt mà “nhìn” bằng cả con tim:

Tôi nhìn rõ

chiếc khẩu trang mỉm cười

từ xa

Nguyễn Thánh Ngã

Riêng kẻ viết bài này không thấy “tội lỗi” của chiếc khẩu trang. Tôi nghĩ một khi chiếc khẩu trang che khuất nửa khuôn mặt, mọi biểu cảm của chúng ta sẽ dồn vào đôi mắt – cửa sổ tâm hồn – vì đôi mắt là những gì sinh động nhất trên khuôn mặt của mọi người. Một lần, trong thang máy mọi người im lặng nhìn nhau, tôi bỗng nhận ra khi đeo khẩu trang đôi mắt mọi người bỗng đẹp hẳn lên:

Khẩu trang che mặt

chỉ chừa đôi mắt

mọi người đều đẹp

Lê văn Truyền

Và nếu có ai nhỡ không may có nét gì không hài hòa trên khuôn mặt, thì ơn trời, khẩu trang đã che dấu khiếm khuyết cho ta mà không cần đến “mascara”. Vì vậy:

Sung sướng xiết bao

được mang chiếc khẩu trang

khuôn mặt tôi không đẹp

Lê văn Truyền

Là một cán bộ y tế, tôi thì tôi tin rằng, sau đại dịch này chiếc khẩu trang bé nhỏ khiêm tốn sẽ lên ngôi, chiếm một vị trí quan trong trong trang phục của nhân loại trong những năm còn lại của thế kỷ XXI, và biết đâu suốt trong cả lịch sử tồn tại của loại người từ nay về sau. Khẩu trang có thể sẽ trở thành các “phụ kiện” sang trọng, chứng tỏ đẳng cấp của giới thượng lưu, của các đại gia, của giới tinh hoa… trong mọi xã hội, không kém cạnh những kính mắt, bút máy Gucci, túi xách Louis Vuitton, trang phục và nữ trang Channel … Và ở một quốc gia đầy sáng tạo như Việt Nam, mới đây đã thấy xuất hiện một nhà thiết kế sản xuất những chiếc “khẩu trang thêu tay” có giá 500.000 VNĐ (khoảng 25US$), gấp 500 lần giá một chiếc khẩu trang y tế và gấp hai lần số tiền 250.000 VNĐ trợ cấp hàng tháng cho một cụ bà bán vé số thất nghiệp trong mùa dịch.

Nếu nhà thiết kế nói trên kịp đăng ký thương hiệu toàn cầu, trong một ngày không xa sẽ có thương hiệu thời trang “Face Mask Made in Viet Nam” nổi tiếng, chiếm lĩnh thị trường thời trang thế giới trong thời đại “toàn cầu hóa kinh tế” và “toàn cầu hóa dịch bệnh”. Chắc chắn các ông bà chủ những thương hiệu thời trang nổi tiếng thế giới sẽ tiếc đứt ruột, chỉ biết tự trách mình đã để vuột mất một cơ hội kinh doanh béo bở.

Hà Nội ngày 1/5/2020

Lê Văn Truyền

Khúc Haikư của Les Raff- Lê Văn Truyền

alt

KHÚC HAIKƯ CỦA LES RAFF

Tiến sỹ bệnh lý học Chicago (USA)

Facebooker “About”

alt

It's not a China
virus that will consume us
but lack of the heart

Không phải con virus Trung Hoa

sẽ ăn thịt chúng ta

mà là sự nhẫn tâm

Lê văn Truyền dịch

Đại dịch Covid 19 đang làm cho nhân loại phải suy nghĩ lại về những giá trị của con người, về cách ứng xử với đồng loại và với thiên nhiên. Các nhà khoa học và các nhà chính trị đang điên đầu về nguồn gốc của con virus tàn ác này. Nó là của giới tự nhiên hay nhân tạo, nó thoát ra từ một phòng thí nghiệm sinh học hay từ loài dơi? Và điều quan trọng nhất là làm thế nào để tiêu diệt khi nó có vẻ “thông minh” hơn loài người, vốn vẫn vỗ ngực tự hào là chúa tể của muôn loài. Trong lúc các nhà khoa học hàng đầu chưa tìm ra được thuốc và vaccine để tiêu diệt nó thì nó đã biết chống lại bằng cách tự chuyển hóa thành nhiều biến thể mới để vô hiệu hóa các vaccine (nếu được tìm ra). Những bộ óc sáng giá nhất nhân loại đang tập hợp lại trong cái gọi là “Trí quyển” (Phenomenon of Man) có vẻ như đang “hụt hơi” ngay sau vạch xuất phát trong cuộc đua với “Sinh quyển” (Biosphere). Những ngày này, nhiều ý kiến cho rằng, hãy đừng đổ lỗi cho ai mà phải nhìn lại cách hành xử của chúng ta đối với tự nhiên. Con virus thuộc giới tự nhiên và đây phải chăng là đòn cảnh báo như một “cái tát” của tự nhiên vào mặt nhân loại.

Là một bác sỹ chuyên ngành bệnh lý học, Les Raff hơn ai hết phải là người hiểu biết rõ nhất về nguyên nhân bệnh sinh của đại dịch. Cố nhiên, dịch Covid-19 phải do SARS-Covi 2 gây nên. Nhưng điều Les Raff muốn nói qua khúc haikư trên đây chính là phải nhìn cho thấy nguyên nhân sâu xa, “nguyên nhân cốt lõi”, “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” của khổ nạn này. Môn điều trị học y khoa dạy các sinh viên trường thuốc rằng nếu không tìm được bệnh căn mà chỉ chữa bệnh theo kiểu “tạm trị” (palliative care), thì các thầy thuốc cũng phải đành bó tay nhìn Thần Chết đến mang bệnh nhân của mình đi. Và hãy đợi đấy, rồi cũng đến lượt các thầy thuốc. Trong khúc haikư của mình, Les Raff cho rằng virus có thể là nguyên nhân trực tiếp, nhưng nguyên nhân cốt lõi chính là sự nhẫn tâm của loài người. Nhẫn tâm với thiên nhiên, nhẫn tâm với đồng loại... Hãy là “Loài người tinh khôn” (Homo sapiens) và đừng là “Loài người hung bạo” (Homo atrox)!

Hãy xem lại cái cách ta đã hành xử với thiên nhiên như thế nào trong thời đại công nghiệp? Hình như chúng ta không biết điều với thiên nhiên, coi thiên nhiên là nguồn lợi vô tận để khai thác, bóc lột. Kẻ viết bài này vẫn còn nhớ, cách đây 65 năm khi đang còn là một học sinh lớp 7, thầy sinh vật sau khi giảng cho bọn học trò về thuyết Mitchourin – Lysenko đã phân công tôi viết một câu khẩu hiệu trang trí lớp học. Câu khẩu hiệu được tôi viết bằng thuốc đỏ (mercurochrôme: thuốc sát khuẩn) trên băng giấy trắng có nội dung trích dẫn lời của Ivan Mitchourin, bác học Liên Xô nổi danh hồi đó, như sau: “Không được chờ đợi ân huệ của Thiên nhiên mà ta phải giành giật nó từ Thiên nhiên!” (We must not wait for favour from Nature; our task is to wrest from Her!).

Cũng là người Nga, nhưng nhà văn Leonid Leonov thì lại viết: “Thật chưa đủ khi chỉ gọi rừng và thiên nhiên là những người bạn tốt của con người. Còn hơn thế nữa, đó là những người bạn nhẫn nại. Họ không biết phàn nàn với ai. Họ chỉ thầm lặng ra đi, thầm lặng biến mất nếu bị chúng ta coi thường những nhu cầu của họ. Chính vì vậy chúng ta, những người làm chủ thiên nhiên, chúng ta phải có một thái độ biết điều sơ đẳng đối với bạn bè”.

Nếu chúng ta tham lam, mù quáng lạm dụng sự hào phóng của thiên nhiên, thiên nhiên sẽ quay lưng với con người. Nên đối xử tồi tệ hay tử tế với thiên nhiên, có lẽ loài người sẽ tìm ra câu trả lời chính xác sau khổ nạn này. Hình như đến thế kỷ XXI này, sự nhẫn nại của thiên nhiên đã quá mức chịu đựng. Khi viết những dòng này, tôi lại nghĩ đến nạn hạn hán, nhiễm mặn mấy năm nay ở miền Tây Nam Bộ, nơi vốn được coi là vựa lúa lớn nhất của đất nước, đang làm hàng chục triệu đồng bào của chúng ta khốn khổ như thế nào. Những con đập “vĩ đại” ở thượng nguồn sông Cửu Long đã tàn nhẫn chặn dòng nước ngay trong mùa khô. Nhưng nhiều nhà khoa học đã cảnh báo rằng nếu một trận động đất như ở Đường Sơn năm 1976, đã cướp đi sinh mạng của gần 700.000 người chỉ trong vỏn vẹn có 23 giây, xẩy ra dưới những con đập ấy thì … hãy đợi đấy một đại thảm họa không chỉ cho một quốc gia sở hữu chúng.

Và đúng vậy, sau hàng ngàn năm nhẫn nhục phục vụ loài người tham lam, hôm nay “kẻ đầy tớ” thiên nhiên đang bắt đầu và sẽ còn tiếp tục lên tiếng!

LVT

Minh Triết của dân gian- Lê Văn Truyền

alt

Đời người gai góc quá

cái làm ta trượt ngã

là viên sỏi làng nhàng

Nguyễn Thánh Ngã

Trong những ngày giãn cách xã hội, sáng sớm hôm nay tôi ngồi trên chiếc ghế đá vắng vẻ của Nhà Tang lễ chờ đến lượt thắp nén tâm nhang tiễn đưa một người bạn già về cõi vĩnh hằng. Bỗng đọc được phiến khúc haikư trên đây của haijin Nguyễn Thánh Ngã trên trang web thân thuộc haikuviet.com. Trong khung cảnh của lễ tang, thấy càng đồng cảm với những dòng tâm tình của tác giả.

Thật vậy, sống trên đời, dù là bậc vĩ nhân hay kẻ tiện dân, trước khi nhắm mắt xuôi tay nếu có thời gian “kiểm điểm” lại cuộc đời, có ai dám cho rằng mình chưa từng bị vấp váp cả trên đường đời và trên bước đường trần. Biết bao danh tướng với bao chiến công hiển hách một ngày nào đó bỗng kết thúc sự nghiệp và trở thành bại tướng chỉ vì một sơ suất nhỏ nhoi, thiếu sáng suốt trong những thời khắc quyết định sinh tử. Câu chuyện “Con ngựa thành Troa” và thất bại của đội quân 700.000 lính của danh tướng Napoléon Bonaparte chết dịch, chết đói và chết rét trên đất Nga mùa đông 1812 là những minh chứng lịch sử. Cũng như ở nước ta gần đây, một số ai đó có hồng phúc nhờ lực đẩy của cơ chế “bốn …ệ” bỗng chốc thăng thiên “ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, dưới vài người nhưng trên cả muôn người. Rồi cũng vì một lý do “lãng nhách”, ví dụ vì một em chân dài thước mốt nào đấy, chứ không phải vì một đối thủ tài sức thượng thừa mà đột nhiên lại trở về với mặt đất (mà các cụ lương y của chúng ta gọi là “hạ thổ”).

Đường đời và đường trần lắm chông gai thử thách bất ngờ. Trên những con đường nhỏ ta đi, không bao giờ chỉ có hoa thơm cỏ đẹp ven đường, chỉ có chim reo bướm lượn, trăng thanh gió mát, mặt đường phẳng phiu nâng bước chân ta. Con đường còn có những tảng đá gập gềnh làm ta phải cẩn trọng. Thế nhưng khách bộ hành lắm khi trượt ngã không phải vì vấp những tảng đá chắn đường, mà đau đớn thay chỉ vì một viên sỏi cỏn con, “viên sỏi làng nhàng” lăn dưới đế giày đúng lúc ta đang thăng hoa nhất, bất ngờ nhất. Dân gian có câu nói đầy minh triết: “Cái sẩy nẩy cái ung”. Chớ coi thường những tiểu tiết. Nhân vật thám tử lừng danh Sherlock Holmes của Conan Doyle cũng đã từng nói một câu nổi tiếng: “Với một bộ óc lớn, không có gì là nhỏ nhặt” (To a great mind, is nothing small).

Khúc haikư của Nguyễn Thánh Ngã tổng kết kinh nghiệm cuộc đời không phải chỉ riêng của tác giả, thông qua những vấp ngã, đôi khi vì những lý do “lãng xẹt” trên bước đường đời như một viên sỏi bé ti có thể làm ta ngã sóng soài trên bước đường trần. Vâng, dù không phải là một bộ óc lớn, những người bình thường như chúng ta cũng nên học bài học minh triết trong khúc haikư trên đây để tránh những vấp ngã trên bước đường trần (để phải … nhập viện) và quan trọng hơn trên bước đường đời, đôi khi làm ta “thân bại, danh liệt”.

LVT

Nhịp tim An Hải

Lần đầu chúng tôi gặp nhau tại bãi Biển ngọc Nha Trang-Thành phố biển đẹp nhất Việt Nam ,vào dịp thành lập CLB Haikư Việt của thành phố này giữa tháng 5-2015.

alt

Cựu binh Lục Đình Thìn CCB /SĐ 23,bút danh An Hải, là một trong những Hội viên đầu tiên mà chúng tôi làm quen tại buổi Lễ ra mắt đáng ghi nhớ này.Mê thơ đến mức không quản thời gian ,hễ có bài mới là ông nhắn tin trao đổi sốt dẻo ngay ,thường về khuya yên tĩnh.Thơ ông đằm thắm,mượt mà,chân chất gắn bó với cố hương An -Hải xa xôi miền Bắc và trăng nước Nha Trang,luôn đau đáu nặng nghĩa tình quê cũ,chóng bắt nhịp với trang lứa cùng một miền đất mới mặn mòi biển trăng từ đó.Bẵng đi mấy năm,ít có dịp giao lưu qua mạng.Nay mới hay đó là khoảng thời gian bệnh tim mạch đã dày vò,đày đọa nhà thơ.Xin trân trọng giới thiệu một số tác phẩm của ông đã đăng trên các Tuyển tập Haikư Việt mấy năm qua:

alt

1- Hạt cát sông quê

níu chân người

im lặng


2-Giếng nước đầu làng

lời tỏ tình

trong veo


3- Ánh trăng khép mở

tà áo

em bay


4- Tiễn em

đêm xe mây

hương quỳnh


5- Cây đa làng

vui buồn

mắt lá


6- Cội mai già

hé nụ

chú chim nhỏ hót chào


7- Phong thư hậu phương

gửi đảo xa

thắm nụ bích đào


8- Thu đi

giữa nắng hanh vàng

lá sương mỏng


9- Lá xào xạc

bên thềm

mảnh trăng rơi khẽ


10- Ngõ trăng về

tóc thề

mềm sương


11- Mây gió sóng đôi

trái tim sấp ngửa

về thôi! Dại khờ


12- Bồ đề lồng trăng

trăng lồng tháp

bóng Thầy lồng trăng


13- Trăng tỏa hương cốm

vườn nhà em mở lối

cỏ gầy đợi sương


14- Trăng buông giải lụa

gió cuốn mây

hổn hển


15- Em dạo vườn mơ

áo lụa

mờ hoa nắng


16- Người nhạc sỹ mù

đạp xe dạo phố

trăng gió hát tình ca …

Ngày 28 tháng 11-2019 ,một sự kiện trọng đại bất thần xảy ra trong đời người lính già dạn dày chinh chiến trên biển suốt thời hoa niên.Bệnh tim rình rập ông từ lâu, như mèo vờn chuột hàng chục năm dài ,đã được hóa giải nhờ bàn tay cứu độ tài hoa ,từng trải của Bác sỹ chuyên gia Nhật Bản Sekiguchi tại Bệnh viện Khánh Hòa. Bài HKV sau đây đã sáng tác ngay tại Bệnh viện , trân trọng tặng ân nhân mình trước khi nhà thơ của chúng ta bình phục ra viện:

Trái tim đau về biển

Mặt trời lên

hồi sinh”

Cảm động và đẹp đẽ thay tình hữu nghị thể hiện ngay trên địa bàn y học màu trắng tinh khôi.Vị bác sĩ cứu mệnh từ đất Mặt trời mọc ấy đã rất bất ngờ về ý nghĩa sâu nặng chan chứa tình hữu nghị vẻn vẹn trong 5 từ Haikư hàm súc ấy :

Mặt trời lên…hồi sinh

Và ông đã khóc. Cả hai người cùng khóc…

Nha Trang, mùa Côvit 2020

***

Xin cảm ơn nhà thơ An Hải và Chủ nhiệm Lương Thị Đậm đã bổ sung chi tiết và thông qua nội dung trước khi đăng Website Haikư Việt và Nội san HKV số 9-2020.

Hà Nội 11-4-2020

Đinh Nhật Hạnh

Khúc Haikư của Haijin “nhí” Fitz B. Ireland- Lê Văn Truyền dịch và giới thiệu

alt

Corona virus

we eat we sleep we stay at home

thrilling it is not


Virus Corona

chúng ta ăn, ngủ, ngồi nhà

chẳng có gì mà sợ

Lời giới thiệu: Fitz B. Ireland là bút danh của cậu bé 8 tuổi Samuel, con của Jennifer Anne Garner (sinh năm 1972), nghệ sĩ Mỹ nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội và là nhà kinh doanh. Sau khi đóng một vai phụ trong bộ phim Cảng Trân Châu (Pearl Habor, 2001), Garner trở nên nổi tiếng và được giao vai nữ điệp viên CIA trong bộ phim nhiều tập Alias (2001-2006). Garner đã được tặng nhiều giải thưởng danh giá: Giải Golden Globe (Quả Cầu Vàng) và Primetime Emmy Award. Garner là một trong những nghệ sĩ đi đầu trong cuộc vận động mang khẩu trang phòng chống Covid-19 ở Mỹ. Khúc haikư của cậu bé Samuel sau khi được mẹ đưa lên Instagram đã có 75.183 lượt thích (like) và 695 bình luận (comment).

alt

Khúc haikư của Samuel trên Instagram của mẹ

alt

Samuel và mẹ

Một phát hiện tưởng chừng ai cũng biết- Lê Đăng Hoan

Bài thơ gây sự ngạc nhiên của Lâm Long Hồ (An Giang)

alt

“Nhân loại

có chung một kẻ thù

không phải là nhân loại”

Hôm nay qua trang thơ của “haiku Viet.com”, tình cờ đọc được một bài Hai-ku Việt của tác giả Lâm Long Hồ, ở An Giang, tôi bổng thấy sững sờ! Một điều cứ tưởng như ai cũng biết mà hóa ra đó lại là một phát hiện, vì ai cũng biết, nhưng ai cũng không nói ra nên nó mới, như một điều bên cạnh ta mà ta không bao giờ biết.

Từ xa xưa, từ khi loài người bắt đầu phân chia ra từng bộ lạc, thì cũng bắt đầu có mâu thuẩn về quyền lợi, quyền lợi vật chất và quyền lợi quyền lực…, hình thành lợi ích cá nhân, lợi ích giữa bộ lạc này và bộ lạc khác mà sinh ra chiếm đoạt, giết chóc, tàn phá để gây dựng những vùng đất mới, những bộ lạc to lớn hơn, phát triển hơn..rồi hình thành khu vực riêng và đất nước riêng..

Có lần nói chuyện với một chuyên gia nước ngoài về chủ đề sự phát triển của xã hội loài người, ông ta nói tỉnh bơ rằng “ Chúng ta là con cháu của những kẻ giết người giỏi nhất”. Tôi ngạc nhiên với ý nghĩ như “ xúc phạm” đó của anh ta. Nhưng rồi sau được anh ta giải thích, tôi cũng hiểu được rằng đó là một “phát hiện”, một phát hiện ra điều ai cũng biết.

“Đấu tranh sinh tồn” là quy luật tất yếu của sự phát triển. Cái mới được hình thành, lâu dần cũ đi, các mới khác lấn át, phá đổ cái mới đã cũ để thiết lập một trật tự mới có tính chất tiến bộ hơn, phát triển hơn (nói chung).

Trong cuộc đấu tranh sinh tồn đó, thường hình thành 2 hoặc nhiều thái cực, thái cực này là kẻ thù của thái cực kia. Không có, hoặc có cũng rất hiếm khi hai thái cực đó lại là một phe. Khái niệm kẻ thù có thể hình thành từ “đấu tranh sinh tồn” mà ra.

Nhân loại là “tổng thể nói chung những người sống trên trái đất”. Trên trái đất có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu cá tính, cách suy nghĩ và hành vi riêng.

Kẻ thù là người có quan hệ thù địch. Trong xã hội biết bao nhiêu loại kẻ thù!

Trong đó khái niệm “kẻ thù chung” lại càng đa dạng. Nhưng khái niệm kẻ thù chung có thể hiểu vắn tắt là kẻ thù của bản thân ta và của những người cùng chung lợi ích với ta. Trong đó kẻ thù có thể là một nhưng ta là của số nhiều (từ hai trở lên).

Trong xã hội loài người (nhân loại) có biết bao nhiêu tầng lớp, có vô số nhóm, vô số tập đoàn tập thể, thì cũng có bấy nhiêu kẻ thù, cho nên khái niệm “kẻ thù chung của cả nhân loại” có vẻ khó chấp nhận.

Tác giả bài thơ tuyên bố rất rõ :

“có chung một kẻ thù/không phải là nhân loại”.

Bài thơ hay và là một chủ đề cho nhiều học giả tranh luận.

Riêng tôi đồng ý với quan điểm trong “phát hiện” của Haijin Lâm Long Hồ./.

L.Đ.H

Suy tư mùa dịch “gián cách xã hội”- Lê Văn Truyền

Hình hài gián cách

để tâm hồn chúng ta

xích lại gần hơn.

alt

Đã hơn 1/3 thời gian trôi qua kể từ khi có lệnh “gián cách xã hội” trong 15 ngày (1/4/2020 – 14/4/2020) như là một biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn dịch Covid-19 không trở thành thảm họa cho đất nước. Hà Nội từ “vắng như Tết” đã tiến lên một cấp độ cao hơn thành “vắng hơn Tết”, để trở về với vẻ đẹp nguyên sơ của nó từ giữa thế kỷ trước mà đến nay chúng ta mới gặp lại.

Trong những ngày này, tốc độ cuộc sống hầu như bị hãm lại một cách bất ngờ nhờ một “chân phanh” vô hình và vô tiền khoáng hậu – con virus SARS-Corona. Đã đóng cửa những quán bar, vũ trường sặc mùi rượu mạnh, mùi da thịt trộn lẫn với son phấn, nước hoa và bóng cười, cần sa, ma túy. Đã đóng cửa những quán nhậu nồng nặc mùi xào nấu, mùi rượu thật, rượu giả cùng âm thanh hỗn độn xô bồ, đinh tai nhức óc “chỉ có người nói, không có người nghe” thâu đêm suốt sáng. Không còn tiếng gầm rú, nẹt pô của những “gã điên đường phố”. Không còn cảnh bao người vợ trẻ, bao đứa con thơ đêm khuya chờ chồng, chờ bố sặc sụa mùi rượu trở về, phun ra “hậu quả” của bữa nhậu rồi lăn ra ngủ như chết … Chỉ mới đây thôi, người ta nói với nhau ngoài xã hội nhiều hơn trong nhà, hỏi thăm: “Hello, how are you?” những người xa lạ mang tên “đối tác” nhiều hơn hỏi thăm sức khỏe đấng sinh thành. Người ta đánh giá tình thân hữu bằng giá tiền của những “quà tặng” (từ vài trăm ngàn đến vài triệu US$ hoặc những tòa biệt thự), nhưng thật ra đó chỉ là những món “hàng hóa trao đổi ngang giá” (Karl Marx). Người ta sẵn sàng rủa xả, hành hung, thậm chí giết hại những người thầy thuốc “lực bất tòng tâm” vì một “sự cố y khoa” khó lòng tránh khỏi, và đôi khi những con người thầm lặng cứu người lại trở thành những kẻ “tội đồ” trong con mắt của xã hội.

Những ngày “gián cách xã hội” này là “cơ hội vàng” (nói theo ngôn ngữ của các nhà dịch tễ học đáng kính) để cho ta có thời gian bình tâm suy ngẫm lại cuộc sống của mình - hình như luôn bị những thế lực vô hình nào đó xô đẩy về phía trước mà không chống cự lại nổi - để nhận ra những chân giá trị trong xã hội quá khứ hầu như đã tàn phai trước cuộc tấn công cuồng bạo của cái gọi là “xã hội hiện đại” đã và đang tấn công “não trạng” của ta. Ta hãy nhớ lại những ngày đầu mùa dịch năm nay khi chiếc “khẩu trang y tế” bé nhỏ, nhẹ tênh giá chỉ một ngàn đồng - đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - đã trở thành món quà vô giá. Biết bao chàng trai rồng rắn xếp hàng nửa ngày - như trong thời bao cấp - để cố mua được hộp khẩu trang tặng người yêu trong ngày Tình nhân hay ngày Phụ nữ thay cho hộp kẹo sô cô la hoặc đóa hoa hồng, biểu tượng của tình yêu. Và cũng không thiếu cảnh tượng người ta chen chúc, xô đẩy, chửi mắng nhau, thậm chí “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với người già và phụ nữ để sở đắc nó với bất cứ giá nào. Vì sao vậy? Vì chính lúc này đây, cái vật dụng bé nhỏ mang tên khẩu trang giá chỉ một ngàn VNĐ - mà không phải những cái túi xách hàng ngàn US$ - mới là cái “cái khiên” bảo vệ sự sống quý báu trong cơn khổ nạn của nhân loại mang tên đại dịch Covid-19 này.

Và tự nhiên, không phải vì sự rao giảng của một nhà đạo đức học cao siêu nào đó, trong những ngày “gián cách xã hội” tại nhà, ta bỗng có nhiều thời gian để suy ngẫm lại về những giá trị thật sự của đời ta mà “lối sống gấp”, “lối sống ảo” suốt mấy chục năm qua đã làm ta quên lãng. Đấy phải chăng là “giá trị tích cực phái sinh ngoại ý” (?!) mà con virus bạo tàn phát xuất từ Vũ Hán đã đem đến cho chúng ta?

LVT

Nói về việc “Học” trong một bài thơ Haiku Việt- Lê Đăng Hoan

Học để làm thầy

Làm thầy để học

"Biển học không bờ"

Đây là bài thơ Hai-ku Việt, tôi viết kết hơp hai sự kiện, đó là một kỉ niệm trong chuyến đi Huế tháng 5 -3029 và nhân ngày 20 tháng 11 năn 2019, khi có học sinh đến mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam.

Hai sự kiện đều liên quan đến một chữ “ HỌC”

Từ xưa việc học hầu như tất cả mọi thế hệ, mọi tầng lớp xã hội đều đã nói đến.

Nào là “ Nhân bất học bất tri lí”, nào là “Học, học nữa hoc mãi”, rồi “Đi một quãng đàng, học một sàng khôn”v.v đều khuyên người ta phải học, luôn học và học mọi nơi mọi chốn…

Vừa rồi cùng Câu lạc bộ thơ Hai Ku Việt vào Huế giao lưu với các nhà thơ ở Huế, chúng tôi có vào thăm chùa Quang Viên (Quang Viên tự). Trước khi về, mọi người đều Thầy Sư chủ trì mỗi người một chữ “Nho” để đưa về nhà treo. Người thì xin “Phúc”, xin “lộc”, xin “tài”..Tôi nghĩ mãi, cuối cùng xin chữ “HỌC”. Vị sư Trụ trì, Thích Phước Cẩn, cẩn thận lấy giấy, rồi chấm mực tàu viết như “Phượng múa rồng bay” một chữ “Học” thật to, bên phải ông điền thêm một câu cũng bằng chữ Nho, mà khi tôi hỏi ông mới giải thích: “ Đây là câu thành ngữ “Học hải vô nhai”, tức là “Biển học không bờ”. Tôi lại được thêm một khái niệm về chữ “Học” mà trước đó tôi chưa từng được nghe. Xong Ông đưa cho tôi. Tôi đứng dậy giang hai tay trên dưới nhận một cách kính cẩn.

alt

“Học”! Thời xưa ở Cho-Seon (Hàn Quốc bây giờ), có một bà mẹ gửi con vào chùa học chữ, người con thông minh học được 3 năm, nhớ mẹ quá, về nhà nói với mẹ rằng” Con không cần học nữa mẹ ạ, con học hết chữ rồi, bây giờ có thể kiếm tiền nuôi mẹ, mẹ không còn vất vả nữa!”. Bà mẹ nhìn con lo lắng. Tối hôm ấy, bà lấy bút mực đưa cho con bảo “ Mẹ sẽ tắt đèn, con viết chữ, còn mẹ sẽ làm loại bánh mà mẹ vẫn thường làm cho con ăn”. Sau khi xong việc, bà mẹ bật đèn lên, thấy hàng chữ của con xiên xẹo, chữ lên chữ xuống, còn bánh mẹ làm tròn trĩnh mười cái như một, xếp hàng thẳng tắp. Để cho con xem xong mẹ nói “ Thế này mà con bảo là con đã học hết rồi sao!”.

Rồi mẹ bảo con lên chùa học tiếp.

Sau này con trai của bà trở thành người viết chữ đẹp nhất nước, gọi là “Minh bút”.

“ Học hải vô nhai”, ngẫm chuyện xưa, nghĩ đến hôm nay. Trong sử sách sử nước ta cũng biết bao câu chuyện về người tài nhờ học, những câu chuyện học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Quỳnh, Lê Quý Đôn, Mạc Đỉnh Chi, Lương Thế Vinh..rồi bây giờ những nhà phát minh, những nhạc sĩ nổi tiếng, những tuyển thủ tài ba, những thiên tài đất Việt đều do học mà nên.

Ở Nghệ An quê tôi, nổi tiếng về “Ông Đồ Nghệ” và “con cá gỗ”. Tất cả cũng nhờ và vì việc học. Học trò đi học, không có thức ăn, phải dùng “con cá gỗ” làm mồi mà xin nước mắm, thì giá trị về “hiếu học” đáng để lại cho đời, nó không có ý nghĩa “keo kiệt” mà người ta thường đặt không đúng chỗ cho người dân xứ Nghệ quê tôi.

Ai đó có thể cười khi nói dân Nghệ An chúng tôi là “ dân Cá gỗ”, nhưng tôi cảm thấy tự hào được mang trong mình biệt danh đó.

Tôi còn mong rằng có nhà họa sĩ hoặc nhà điêu khắc nào đó vẽ hay khắc một bức chân dung con cá gỗ và anh học trò xứ Nghệ thật đặc trưng, có hồn của lòng “hiếu học” để biếu cho khách du lịch hoặc tất cả người trong ngoài nước đến đất Nghệ An.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, chỉ cần không học một ngày, kiến thức đã lỗi thời.

Các thầy giáo nhiều tuổi, nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng không sử dụng máy tính, phần

mềm tin học bằng học sinh của minh, cũng không nắm bắt thông tin nhạy bén bằng các học

sinh có kiến thức tin học và ngoại ngữ hơn mình. Cho nên càng làm thầy càng phải học.

Ngẫm ra thơ Hai-ku ngắn mà chứa hàm ý rộng!

" Học để làm thầy/Làm thầy để học/" Biển học không bờ" ./.

L.Đ.H

( Những ngày tại gia, đề phòng Co-vit 19)

Lúa mạch này sinh ra từ xác thịt nàng- Lê Văn Truyền

SATOH ONIFUSA*

hoto-ni naru mugi tohtokere aosanga

Satoh Onifusa

alt

Born from her flesh

this barley, a blessing

the verdant hills

Dhugal J. Lindsay** dịch


Đồi yến mạch xanh tươi

phúc lành sinh ra từ cơ thể

Nữ thần phồn thực

Lê văn Truyền dịch

LỜI BÌNH (Dhugal J. Lindsay)

Câu “born from her flesh – this barkley” (Lúa mạch này sinh ra từ xác thịt Nàng) ngụ ý về một câu chuyện thần thoại Nhật Bản. Trong tập sách Koijichi (năm 712, Sách ghi những chuyện cổ), Nữ thần Ohketsuhime, giữ quyền về cung cấp lương thực và thực phẩm, khi bị nam thần Susanoo-no-mikoto giết hại thì từ cửa mình của nàng tuôn trào những hạt lúa mỳ và lúa mạch, để các loại cây lương thực này không chết theo nàng mà luôn tồn tại, sinh sôi trên Trái đất nuôi sống nhân loại. Mùa hè đang đến sớm, những cánh đồng lúa mạch xanh tươi tràn đầy thung lũng, gió rì rào thổi tạo nên những làn sóng xanh trải tận đến chân trời. Đã gần cuối tháng Năm, gần đến mùa gặt, những ngọn đồi vẫn tràn ngập màu xanh. Liên tưởng đến câu chuyện thần thoại, nhà thơ bỗng nhận ra mỗi hạt lúa thực sự là một món quà của Thượng Đế và Thần Linh ban cho chúng ta.

Có thể nhà thơ đã cảm nhận được quá trình sinh trưởng của hạt lúa với cảm thức sâu sắc rằng cửa mình của Nữ Thần đã chết đem đến cho chúng ta cảm xúc như thế nào. Nói cách khác, nhà thơ đã được sinh ra và nuôi dưỡng bởi những cánh đồng và đồi nương lúa mạch ở một tỉnh phía Bắc Nhật Bản, đôi chân luôn cảm nhận sự ấm áp và sức mạnh sinh sôi ẩn mình trong lòng đất. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là cảm nhận của mỗi chúng ta đối với Vũ trụ.

...

* Onifusa Sato (1919 -2002): Một trong những haijin lớn nhất của Haikư Nhật Bản hiện đại.

** Dhugal J. Lindsay (Australia): Tiến sĩ sinh học biển, Nhà nghiên cứu (Cơ quan Nhật Bản về Khoa học – Kỹ thuật Biển và Trái đất: JAMSTEC)

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay5185
mod_vvisit_counterHôm qua4477
mod_vvisit_counterTất cả5620423
Hiện có 68 khách Trực tuyến