Buson- Mùa Hạ (Haiku cổ điển Nhật Bản)

alt

Lời giới thiệu

Như chúng tôi đã có lần thưa,năm nay Haikư Việt sẽ tập trung giới thiệu thân thế và sự nghiệp của 2 Đại thụ Haikư cổ điển Nhật bản Matsuo Basho và Buson.Đầu năm 2018 Website haikuviet đã trân trọng giới thiệu thi phẩm Mùa Xuân gồm hàng trăm bài của hai vị .Tuần tự theo mùa ,lần này xin đăng 92 khúc tiếp tục mạch thơ Mùa Hạ trong số này của Đại sư Haikư kiêm Đại họa sư BUSON (1716-1784)-người đặc biệt có 2 họ và 25 bút danh , có đời tư ổn định hạnh phúc nhất trong 4 Đại thụ của nền Haikư cổ điển.Mạch thơ ông thư thái,uyển chuyển ,nhẹ nhàng thủ thỉ ,đầy lạc quan thi vị ,có thơ trong họa ,có họa trong thơ …

Hà Nội 23/5/2018

Đinh Nhật Hạnh

alt

BUSON TANAGUCHI- YOSA (1716-1783)

MÙA HẠ

01-Mát mẻ -

Chảy qua kinh đô từ phía Bắc

một dòng sông


02-Chỉ sau một đêm ngắn ngủi

Nước dâng 2 tấc

trên dòng sông Ôi


03-Trận mưa xuân sớm

tạo dòng sông không tên

dữ dằn


04-Đêm ngắn

tối tăm

Dòng sông Ôi trôi


05-Gió chiều hôm

dưới chân cò

bập bềnh sóng nước


06-Sau một đêm ngắn

tối mò

Hồ Niô biến mất


07-Lội sông mùa hạ

tuyệt vời thay

-Dép rơm xách tay


08-Chảy trên thế gian

liệu đà hóa đục -

Hỡi làn suối trong?


09-Cần chi hoa lá

–Chỉ cần câycối ẩn mình

chim tu hú ước


09-Con tu hú nhỏ

bám chặt quan tài

giữa bao lớp mây


10-Con tu hú non

bay chéo

qua Đền Heian


11-Có con tu hú non

mơ thăm kinh đô-

Mong ước hão huyền


12-Tiếng chim tu hú

chẳng dở ,chẳng hay

Thật vậy!


13-Cơn giông chiều tối

bám chắc ngọn cỏ

bầy sẻ trong làng


14-Dãy núi mùa hè

bao quanh Kyôtô

cánh cò liệng trắng


15-Hoa đỏ tưng bừng-

Hôm nay lặng tiếng

em bé ốm rồi


16-Sét đánh

ngôi nhà tranh bốc cháy

Hoa dưa nở vàng


17-Cơn mưa tháng 5

Hướng ra sông rộng

có hai mái nhà


18-Lấp sau rặng cây

một lá cờ hiệu

treo trước nhà quan


19-Hương muỗi đốt rồi-

Quán trọ thoải mái

ngọn cỏ trăng vờn


20-Cây anh đào trĩu quả

chẳng nhà sư nào dưới gốc

cho quả chín rụng vào


21-Mơ quả còn xanh

qua làn mưa bụi -

Khói bếp cơm chiều


22-Trong chậu nước

chen chúc nhau

nào dưa chuột,nào cà dái dê


23-Chiếc cáng bệnh nhân

đi dọc theo

những chùm mây


24-Trái tim khổ đau

ta leo lên đồi

Tầm xuân nở rộ


25-Có một bà góa

vẻ mặt u sầu

tay phe phẩy quạt


26-Tôi nhìn sướng mắt

chiếc quạt người yêu

màu trắng tinh khôi


27-Ngắt bông mẫu đơn

Lòng tôi xa xót

chiều nay


28-Ngày lễ Thay Áo mùa hè*

Lòng tôi

làn sương phù du bao phủ

*Ở Nhật đầu mùa hè có ngày lễ thay trang phục nhẹ

thay áo quần dầy cộp mùa đông -xuân giá rét.


29-Vụ mùa lúa mạch

bộ mặt cô đơn

một bà điên dại


30-Vồ con đom đóm trong tay

lòng tôi

bỗng tối sầm


31-Cuộc tình tạm bợ

vừa mới đêm nay-

Mùa hè thay áo


32-Sau vài nháy mắt

một giấc ngủ trưa

và chiếc quạt tay


33-“ Này bông sen trắng , ta sẽ hái đây!”

Sư ông băn khoăn

Nhìn kìa,điệu bộ !


34-Kìa ! Mẩu thuốc lá

cháy trên lá sen -

Bông sen chứng kiến


35-Đêm ngắn-

một bông trà rụng

vào giếng cạn khô


36-Cánh hoa mẫu đơn*

một số rơi rụng

xếp chồng lên nhau

*Mẫu đơn NB nhiều màu rất đẹp và thơm ,dòng phù dung rất được

quý chuộng.Rất khác với mẫu đơn (bông trang) quê mình.


37-Lặng thinh, cô quạnh

vắng khách tham quan

Hoa mẫu đơn một mình


38-Sau khi tàn rụng

vẫn giữ dáng hình

một bông mẫu đơn


39-Hoa dành dành

chỉ nở

nơi cớm nắng


40-Lánh mặt mọi người

có con đom đóm

nấp dưới lá sồi


41-Đêm ngắn

các vũng nước còn lưu lại

mảnh trăng


42-Vuột qua khỏi lưới chài

vuột cả luôn giây chão-

Đáy nước một vầng trăng


43-Phải vì giữ rịt bóng đêm

nên đêm chóng sáng

Hỡi hòn Nam sơn?


44-Hôm nay,bằng mọi cách

dẫu cô dâu vắng nhà

Ta vẫn đi cấy lúa!


45-Một sư ông khó tính

giẫm lên gạo vãi rơi

vừa đi khuyến cúng về


46-Mắt trợn ngược

một sư ông đi qua

Chim cồng cộc đang bắt cá dưới sông


47-Cạnh miếu bên đường

một người quá cố -

Lúa mạch đang mùa


48-Tiết trời mát mẻ

từ

tiếng chuông vang


49-Đánh cá bằng chim cồng cộc

xem xong tôi về nhà

Tượng Phật trong quán trọ


50-Không mua hàng lụa

cà nhà nghiêm trang –

Lễ thay áo mùa Hè


51-Để lại xâu cá bột

trước cổng nhà tôi ban đêm

không vào chỉ ghé qua


52-Dẫu cho ruồng rẫy, chia lìa

Vợ chồng dành dụm

cho Lễ hội Thay áo mùa hè hàng năm


53- Năm ngoái cụ cao niên nhất

kể lại Lễ Thay áo mùa Hè

ngày xưa


54-Trên bãi cỏ

sau lễ hội ,trời mưa

Ngựa xe nườm nượp


55-Cuốc bộ, rồi cuốc bộ

còn phải đi thật xa

qua bao cánh đồng khô mùa hạ


56-Một ngày dài

trong làng không có cáng*

Bụi mùa gặt lúa mạch bay

*Ngày xưa, phương tiện đi lại trên bộ ngoài đôi chân ra

chỉ có ngựa , xe ngựa hay cáng và kiệu.


57-Đi qua miền hoang vu

Mây bay

sà xuống lộ


58-Lễ Thay Áo mùa hè

Du khách qua đồng xanh

–Những chấm trắng li ti


59-Kinh chưa!

Cây lá lặng như tờ

Cánh rừng xanh mùa hạ


60-Ánh đèn qua cửa sổ

những cành lá non tơ

đang vươn lên tít ngọn


61-Một cây tre nổ *

phía ngoài dậu thưa

rào che vườn quýt

*Vào mùa hè nắng nhất ,tre nứa không chịu nổi độ nóng, thỉnh thoảng nổ dòn như pháo.


62-Lá sen chứa đựng

gương trời

nước mưa


63-Nơi đây

giờ vàng hoa cải

Xưa -tốt đồng lúa xanh


64-Lá xanh

Nước bạc

bông lúa mạch chuyển màu vàng


65-Đêm hè ngắn ngủi

những mầm sậy đáy nước

tua tủa trồi lên


66-Tiếng đục đá

được tắm mát

trong dòng suối trong


67-Dòng nước trong veo

hai người hì hục tát

Khuấy đục mất rồi


68-Khi xa khi gần -

Âm vang dòng thác

lá rừng xanh non


69-Giẫm lên bóng mình

ngay trong vũng nước

Mát lạnh ,tỉnh người


70-Một ngày mưa

bóng đêm ập xuống

Đồng bông nở hoa


71- Ban mai quang mây

giọt giọt mưa rơi

trên cây ớt đỏ


72-Ao sen-

Gió từ đồng lúa

lật ngửa lá sen tơ


73-Ngọn nồm nam

trên biển lúa mơn man

không tiếng động, tìm đến chỗ tôi nằm


74- Chuông khua

ồn ã-

Phũ phàng đời hoa


75-Vắng bóng quạ bay

nguồn nước cũng xa

Tiếng ve ra rả


76-Ngôi đền đỉnh núi

vững vàng, đáng tin

Lá non mơn mởn


77-Rón rén, ngập ngừng-

Bước giày không tiếng

thảm rêu đơm hoa


78-Giải phướn hình cá chép

trên lâu đài Hỉkônô

Một làn mây đậu


79-Bìm bìm

nở hoa

ngay trước mõm con bò còm cõi


80-Từ KYÔTÔ

hoa diên vĩ nở

một màu thanh thiên


81-Bình hoa cũ-

Ngát hương xưa

ta hầu đã quên rồi


82-Đêm vắn

Sương lấm tấm

đọng lưng sâu


83-Thả đàn đom đóm

vào mùng

Ôi! hoành tráng chưa !


84-Đụng bếp lò dưới dậu

Chú cóc

lảng ra xa


85-Kiến rừng

bò rõ nét

trên bông bạch mẫu đơn


86-Con dơi

tìm chỗ ẩn

trong chiếc dù rách bươm


87-Cành hoa khô thơm

buồng tắm che màn

nàng mặc gió mơn man


88- Cô gái vừa ly hôn

giẫm chân trên ruộng bùn

cấy lúa


89-Nhìn quả mơ xanh

người đẹp

chau mày


90-Sáng suốt thay

quán trà mở nơi này

cánh rừng mùa hạ


91- Tiết trời mát mẻ

từ

tiếng chuông ngân


92-Nhận lời tỷ thí

hai nhà sư giang hồ quần thảo

trên cánh đồng khô

***

THAM KHẢO

The heart of Buson-Takofumi Saito –W.R.Nelson

TỦ SÁCH DỊCH HAIKƯ NHẬT BẢN & THẾ GIỚI

Đinh Nhật Hạnh – Đinh Trần Phương

Buson Taganuchi & Yosa (1716- 1783)- Đại sư Haiku, Nhà Danh họa

Haikuviet.com: Ngày 25 tháng 12 hàng năm là kỷ niệm ngày mất của Đại sư Haiku- Nhà Danh họa BUSON. Chúng tôi xin cúi đầu tưởng niệm một tượng đài của nền thơ Haiku Nhật Bản và Thế giới và trân trọng giới thiệu tóm lược về Người.

alt

Vài dòng tiểu sử:

Buson sinh năm 1716 là con một gia đình nông dân ở Kema quận Higashinari Tỉnh Setsu (nay là quận Osaka) vào thời kỳ bình trị của thời đại TOKUGAWA.Cho đến năm 20 tuổi,ông ở với gia đình làm nghề vẽ tử hồi rất trẻ.Rồi ông đi Edo (nay là Tokyo) học vẽ và làm thơ.Lúc đầu học với thầy Uchida Senzan trước khi thụ giáo thầy Hayano (còn gọi là Soya) vốn là đồ đệ của Kikaku và Ransetsu-2 nhà thơ lớn, môn sinh của Cụ Basho.Khi thầy Hayano mất,ông ở lại phía Bắc Edo,làng Yuki từ đó” Lên miền Oku “ như Đại sư Basho khi trước, khoảng 10 năm vẫn vẽ và làm thơ..Năm 1751,cố định ở Kyoto ,học xong hội họa ở đó.Mùa xuân năm 1754 dời về Yosa bắc Kyoto trong 10 năm,lấy tên họ mới là YOSA khi 38 tuổi,mở xưởng vẽ bình phong,cùng với các môn sinh theo đuổi hội họa chuyên nghiệp.

Năm 45 tuổi ,lấy vợ là Tomo,có một con gái.Lập trường phái họa Nanga cùng Ikeno Taiga,lập Hội thơ Shankasa cùng Tan Taigi,Kuroyagani Shoha và các học trò của Hayano.Từ 1766 đến 1768 du ngoạn,đã đến Shikoku.Trở về,vẫn tiếp xúc với hội thơ Shankasha.Thời gian này sáng tác nhiều tác phẩm hay nhất.

Từ 1770- lấy tên mới là Yahantei để tôn vinh thầy là YAHANTEI.Phụ trách Nhóm nhà thơ trẻ ở Kyoto.Thời kỳ này vẽ nhiều.Nhiều tác phẩm lớn.Năm 1771,cùng Taiga đã minh họa các album của Lili Weng “ Les 10 avantages et 10 plaisirs de la vie à la campagne” 10 lợi ích và 10 điều thú vị ở nông thôn”Jubenzu Jugizu” .Thời kỳ này cũng là đỉnh cao sáng tạo của Nghệ thuật và Thi ca của ông.

-Năm 1773,bắt đầu xuất bản Haiku của mình,tiếp sau các tập in chung Sôno Yuki

Kage (Bóng của tuyết) và Kono hotori (Ở gần đây)

-Năm 1773,ra tập Ake garasu (Con quạ lúc bình minh)

-Năm 1776,ra tập Zoku ake garasu (Con quạ khác lúc bình minh) và Yahan raku (Mừng năm mới)

-Năm 1774 ông lấy tên mới là BUSON khi 58 tuổi,10 năm trước khi mất.

Tiếng tăm về hội họa của ông ngày càng lớn,tác phẩm bán rất chạy.Ông cũng tự nhận thức được chất lượng của chúng.Trong một bức thư gửi bạn,ông tự đánh giá “là vô địch so với các họa sĩ cùng thời

-Năm 1777,ông bỗng đưa ra một dự định độc đáo (cũng như HOKUSAI) khi về già là:

* Mỗi buổi sáng vẽ 1 con Shishi (Con vật thần thoại dưới lốt sư tử)

Kết quả : Đến cuối đời vẽ được 219 bức

*Ra tập SHIN HANATSUMI (Mùa hái hoa mới-Thơ Haiku)

Dự kiến : đạt 1.000 bài-mỗi ngày 10 bài / 100 ngày liền

Kết quả : Trong 17 ngày,đạt 17x10 = 170 bài.

Do sức khỏe không ổn định đành phải bỏ dở 2 dự định này.

-Năm 1782 : Vãn cảnh núi YOSHINO,tây-nam NARA nổi tiếng danh thắng về mùa hoa anh đào . Đó cũng là chuyến viễn du cuối cùng của ông.Sau này ông còn đi dạo chơi vùng YI gần Kyoto hái nấm rừng. Bị ngộ bệnh nặng,rất may qua khỏi.

-Tháng 10 năm 1783,tại JINIJU ông viết:

“Thế là phần dài nhất của Lộc trời cho ta đã qua.Và ta chờ đợi phút đi về phía bên kia của cuộc đời.Ta đã tự thấy mình kiệt sức rồi”.

Trước khi mất,ông viết 3 khúc từ thế :

1-Rossignol d’hiver

Comme autrefois sur la haie

Chez Wang Wei aussi

Ôi họa mi mùa đông*

hót trên bờ dậu-

Như xưa ở Hoàng Hoài

2-Ô rossignol!

Quel est ce bruit

Givre sur la haie

Ơi họa mi!*

Tiếng gì thế nhỉ?

Tiếng băng tan trên bờ dậu

3-Fleurs de prunier blanches

Et cette nuit qui devient

la lueur de l’aube

Hoa mận trắng xóa*

Và đêm nay bỗng hỏa

ánh bình minh

Buson mất ngày 25 tháng 12 năm 1783 ở tuổi 68.An táng tại Nghĩa trang phía trên đền KONPUKUZI,gần ngôi thảo am của Cụ Basho xưa kia mà chính ông và bà vợ (sau thành ni cô) đã từng sửa sang,tu bổ.

***

Cũng như xưa kia,Cụ Basho đã nâng thơ Haiku lên tuyệt đỉnh,vào hàng Văn chương thanh cao nhất-BUSON đến lượt mình,đã tiếp cho Haiku hơi thở mới,đúng vào thời kỳ thể thơ này đang bị bỏ rơi kể từ khi Cụ BASHO qua đời.Mãi 100 năm sau,MASAOKA SHIKI (1867-1902) nhà Phê bình và Đại thi sĩ đã trả lại công bằng cho BUSON khi đặt ông vào vị trí chuẩn xác trong lịch sử Văn học Nhật Bản : So sánh” BUSON ngang tầm với BASHO”lần đầu tiên ở nước này.

Phối hợp tài năng hội họa đỉnh cao và thi ca thượng thặng,BUSON đã rút biết bao kinh nghiệm khi tiếp xúc với thiên nhiên,đã đạt tự do biểu cảm và một độ cao trữ tình ít người sánh kịp trong thơ Haiku.

Chính ông đã đề xuất BUNJIN GA (Hội họa của văn nhân) và NANGA (lấy tứ trực tiếp từ hội họa Trung Hoa) Ông đã bảo vệ nguyên tắc Không chuyên nghiệp hóa trong Quy chế “ HỌA SỸ-THI SĨ”.Ông đã lập ra Trường phái học HAIGA : Phối hợp trong cùng một không gian HAIKU & HỘI HỌA,nhấn mạnh các hình ảnh chủ đạo,đẹp đẽ của bài thơ bằng tranh thủy mặc (lavis) để nhấn mạnh sức gợi cảm.

Về cuối đời,ông rời bỏ hoàn toàn hội họa ,chỉ dành thời gian làm thơ.Ông dạy học trò sự cần thiết VIỆC HỌC TẬP NGHIÊM CẨN mọi tác phẩm của Quá khứ để rút ra các lý tưởng của Tiền Nhân./.

Đinh Nhật Hạnh dịch thơ

***

PHỤ LỤC QUÝ HIẾM CẦN BIẾT VỂ ĐẠI SƯ BUSON

HỌ TÊN & BÚT DANH CỦA ĐẠI SƯ BUSON

Thật chưa có ai trên thi đàn Haiku Thế giới cổ kim lại có 2 họ và 25 tên và bút danh như Đại sư BUSON.Trong suốt cuộc đời mình,chưa hiểu lý do gì mà ông lại dùng nhiều bút danh đến thế.

Đặc biệt là ông có 2 họ:

Họ khai sinh : TANIGUCHI

Họ thứ hai: YOSA (năm 38 tuổi)

24 TÊN & BÚT DANH :

BUSON (từ năm 1774- khi đã 58 tuổi)

-Nobuaki –Shinsho –Busei- Choko- Chokyo- Choso-Gasendo - Hajin-

Hakundo -Heikyundo- Rakujitsuan- Saicho- Sanka- Sansodo - Sha Sunsei- Shain-Shikoan –Shimei-Shunsei-Tosei-Undo-Unsai-Yaha’no-Yahantai .

***

Tham khảo:

Buson-66 haiku

Dịch từ tiếng Nhật của Joan Titus-Carmen

Buson-1020 haiku

Dịch từ tiếng Nhật củaTakafumi Saito

KỲ SAU: BUSON “ Haiku mùa Xuân”

Mùa xuân- 115 bài Haiku cổ điển Nhật Bản

alt

01-Mùa xuân này trong lều tôi

-không có gì

-không thiếu gì

YamaguchiSodo (1642-1716)


02-Xuân vừa sang-

43 *tuổi tôi vẫn ngồi đó

trước bát cơm không

Kobayashi Issa (1763-1827)

*Ngày xưa,ở Nhật Bản tuổi 40 là năm hạn lớn,

Vì số 4 và chữ Tử là đồng âm.Người ta rất kiêng.


03- Tôi rửa chân

Chậu nước tràn

như mùa xuân

Buson (1716-1783)


04- Xuân đầu tiên

mưa đang giọt giọt

trên cành cây trụi

Takahama Kyoshi (1874-1959)


05-Mấy viên thuốc tễ

trên giường bệnh tôi

Xuân hồi sinh

Masaoka Shiki (1867-1902)


06-Cô đơn

Xuân lạnh

chẳng gì hơn

Uemura Sengyo (1921-1996)


07-Sớm xuân

chiếc bóng tôi

cũng đầy sinh lực

Shiki


08-Sáng nay

mặt trời vọt lên

từ đầu con cá trích

Buson

Minh họa bài thơ này,nhà thơ- họa sĩ vẽ con cá trích đầu hướng lên trên

Ông hướng về nguồn cội chữ Nhật bản mà mẫu tự đều tượng hình.


09-Ngày xuân

chỉ một vũng nước

lưu bóng chiều tà

ISSA


10- Nắng xuân

mùi hương tóc ấy

trong thang máy này

Imazumi Ugai (1883-1959)


11- Trên bãi cát

theo từng dấu chân đi

mùa xuân trải dài

Shiki


12-Một mình *

tôi chuốt vần thơ

trong ánh ngày nấn ná

Takayama KYOSHI (1874-1959)

Bài thơ gây xúc động,ám chỉ 2 nhà thơ:SHIKI (thầy cũ) và bạn K.HAKIGOTO

mà ông rất gắn bó vừa rất mâu thuẫn-đều đã mất.Chỉ còn lại một mình.


13- Không có cầu –

Ngày nằm dài

trên làn nước xuân

BUSON


14-Suốt dọc sông

chẳng có một cây cầu

hôm nay dài vô tận

SHIKI


15-Người ta già đi

dẫu ngày dài

nguồn nước mắt

ISSA*

Ông là nhà thơ có số phận bi thảm nhất mà chúng tôi sẽ giới thiệu chuyên đề.


16-Thuyền và bờ

đáp ứng nhau

trong ngày dài

SHIKI


17-Trên mặt sông

từng làn sóng lụa

-Mưa xuân

RYOKAN (1758-1831)


18-Mưa xuân

Ao và sông

tiếp nối nhau

SHIKI


19-Trên vai

tượng Đại Phật

tuyết tan

SHIKI


20-Chân núi

dưới mặt trời độ lượng

–Một giãy mồ

Taneda SANTOKA (1882-1940)


21-Giẫm lên cây xanh-

Tôi giẫm

một giải mây

Kawabata BOSHA(1900-1941)


22- Huýt sáo liên hồi

-Sáng nay

Trong rừng cây lên xanh

Ozaki HOSAI (1835-1925)


23-Sợi giây diều

giữa trời mất hút

rõ lằn trên tay

Yamaguchi SEISHI (1901-1994)


24-Thủy triều xuân

Thân tôi

vang vang tiếng còi tàu

Yamaguchi SEISHI


25-Tiếng kéo-

người bán hoa

thức tôi dậy muộn

Ozaki HOSAI (1885-1925)


26-Lại rơi xuống đất

cánh diều giấy

lạc linh hồn

Kobota RUHONTA (1881-1925)


27-Họ cày ruộng

ngay cả giải mây im lìm

cũng đã bay đi

BUSON


28-Với giọng hót màu vàng*

Họa mi

gọi mẹ cha

ISSA

*Màu vàng chỉ tâm trạng gắt gỏng,giận dõi


29-Ngày dài lê thê

lại sao quá ngắn

với tiếng hót sơn ca

BASHO


29-Một bóng sơn ca vút lên

-Tôi thở sương mù

vút lên tầng mây

SHIKI


30-Tôi hắt xì hơi

và không thấy nữa!

Sơn ca bay rồi

Yoko YAYU (1702-1783)


31-Trong đồng cải dầu

lũ sẻ giả vờ

như đang ngắm hoa

BASHO


32-Từng đàn ngỗng trời

Cánh đồng trước cửa

dường như xa xôi

BUSON


33-Cánh đồng mênh mông

chỉ một tiếng chim trĩ *

ngập tràn

SHIKI

*Chim trĩ ở Nhật Bản là biểu tượng của tình mẫu tử.

Chúng nổi tiếng là dũng cảm ,gan góc bảo vệ con mình.


34- Chiều xuân

Nến nối nến

ngọn lửa chuyền

BUSON


35-Xuân dịu êm

Nơi tận cùng

màu trời

Iida DAKOTSU (1885-1962)


36- Trên các ngọn núi tháng Tư

bao nhiêu hài cốt chôn vùi

Hư danh

Takahama KYOSHI


37-Mùa xuân đang qua,

chầm chậm, ngại ngần

giữa những cây Anh đào nở muộn

BUSON


38-Ngày xuân trôi nhanh

trên chiếc hòm

đựng hài cốt**

Seifu NI (1732-1814)

** Tác giả mất đứa con trai yêu quý Kanshi.Từ đó ,đau khổ quật ngã bà

suốt đời.Và nỗi đau xé ruột khi nhìn chiếc hòm đựng hài cốt con mình.


40- Mùa xuân đang qua

Chim chóc kêu than

mắt cá đẫm lệ

BASHO


41-Tiếng rái cá

dâng trăng chiều hôm

Yoshido TOYO (1892-1956)


42- Tuổi trăng ?

Theo tôi là 13*

-Xuýt xoát,thế thôi!

ISSA

*Ở Nhật Bản ngày xưa ,người ta thích ngắm trăng-không phải đợi

đúng đêm Rằm mà thường chọn đêm 12,13 trăng chưa tròn hẳn.


43-Ánh trăng mờ ảo

con ếch làm đục

cả nước và trời

BUSON


44- Phía hạ lưu -

Tiếng vó chài ai tung

dưới trăng mờ ảo

Tan TAIJI (1709-1771)


45- Dưới trăng mơ màng

Bóng hoa

Bóng đàn bà

Natsume SOSEKI (1865- 1915)


46- Những ngày mù sương

các Nữ thần Sông

thấy chăng trống trải ?

ISSA


47- Trên bãi cỏ xanh

buồn rơi trở lại

Nắng mùa lên hanh

Natsume SOSEKI (1865-1915)


48- Trong sương xuân

cánh bay trắng

một côn trùng không tên

BUSON


49- Trong hơi nóng hun hút

vài lỗ để lại

do gậy chống lên chùa

ISSA


50- Gió êm ru

trong màu xanh nghìn quả đồi

một ngôi chùa lẻ loi

SHIKI


51- Mưa xuân

Trước cổng

lạch bạch một con vịt

ISSA


52-Nắng chiều xuân

Lướt qua trên đuôi

một con chim trĩ

BUSON


53- Trên hình thánh thiện

con én

thả một hòn phân

BUSON


54- Từ cánh mũi tượng Đại Phật

Vụt bay ra

con én

ISSA


55- Chiều, chim én bay-

Lại ngày mai nữa

biết làm gì đây !

ISSA


56- Tim tôi thình thịch-

Như một đợt sóng

đàn chim én bay

Yotsuya RYO (1958- )


57- Say tình

chú mèo để quên hột cơm

dính trên ria mép

Tan TAIJI (1709-1771)


58-Hoảng loạn-

Cầu thang đổ sụp

tình yêu lũ mèo

SHIKI


59- Dưới bóng núi

đàn cá vẩy màu gió

bơi ngược về sông băng

Hara UTAKA (1931- )


60-Hàng đàn cá trắng con

loang loáng

như màu nước

Konishi RAISAN (1653-1716)


61- Bay rướn lên cao

một con bướm đại

vẫy cánh gật gù

Nagata KOI (?)


62-Vô tư

ngắm cảnh núi non

Chú ếch

BASHO


63 – Ao xưa

con ếch nhảy vào

tiếng nước

BASHO


64-Vì đỉnh Fuji

ếch nhái kêu vang

đít xếp thẳng hàng

ISSA


65-Ngắm nghía tôi-

phụng phịu

chú ếch

ISSA


66-Quanh lều tôi-

Lũ ếch lải nhải

Mày già!Mày già!”

ISSA


67-Mặt trời lặn

con ếch

cũng ràn rụa khóc

ISSA


68- Bướm lượn

trong một thế giới

vô vọng

ISSA


69-Cả ngày không nói -

Tôi đã chỉ vào

một con bướm bay

Ozaki HOSAI (1885-1926)


70- Hút nhụy hoa lan

con bươm bướm ấy

xức thơm cánh mình

BASHO


71-Trên vòng hoa

đặt trên quan tài

một con bướm đậu

Naito MEISETSU (1847-1926)


72-Này!Bướm đang đập cánh

Ta cũng như cậu

–Chỉ là bụi thôi

ISSA


73-Phủ đầy bươm bướm

cây khô

nở hoa

ISSA


74- Xa,rất xa

cố hương

cây cối đâm chồi

ISSA


75-Ngay cổng vườn nhà

trắng toát

một bông hoa trà

Taneda SANTOKA (1882-1940)


76-Chỉ một tiếng động

dưới trăng

hoa Bạch trà đã rụng

Takakuwa RANKO (1726-1798)


77-Một tiếng động

-Có người đào huyệt

sau khóm hoa trà

Kakimoto TAE (1928- )


78-Bí mật !

Hoa trà đoán

sự xuất hiện của cây mận

Hayashibara RAISEI(1887-1975)


79-Trên mũ cói tôi

–Bộp !

Rụng một bông hoa Trà

SANTOKA


80-Rụng -

Một bông hoa trà

thẳm sâu giếng cũ

BUSON


81- Lẫn trên bãi cỏ non

Cây liễu

quên mất rễ mình

BUSON


82-Trên đỉnh vách đá

Liễu đã lên xanh

đang vẽ lông mày

Arakida MORITAKE (1473-1549)


83-Lối mòn vách núi-

Mặt trời lên

trong mùi hương hoa mận

BASHO


84-Rắc cá trích

lẫn cánh hoa mận

lên mộ mèo tôi

ISSA


85-Nắng

ấm dần

trên từng bông hoa mận

Ransetsu (1654-1707)


86-Trên cây mận trắng hoa

Đêm từ nay

chuyển thành bình minh

BUSON


87-Khi mận nở hoa

Các nàng du nữ

đua sắm thắt lưng

BUSON


88-Ôi mưa xà cừ!

trên các bàn ăn

đầy hoa mận rụng

BUSON


89-Như than rực hồng

trên bãi phân kia

màu hoa mận đỏ

BUSON


90- Thần Chết đến kìa!

Người ta khanh khách

cười trong rặng mận

Nagato KOI (1900-1997)


91-Đến mùa sương giá của hoa

Con dao

quện mỡ

Kinoshita YUGI (1914-1965)


92-Nhìn về chân mây

hếch mũi lên trời

những nàng hoa xuân

ONITSURA (1661-1738)


93-Thế giới

đã biến thành

một cây anh đào nở hoa

RYOKAN


94- Dưới rặng anh đào

Nhân loại

chẳng còn ai xa lạ

BASHO


95-Dưới hoa-

Thế gian bồng bềnh

bát cơm gạo lứt với bình sakê

BASHO


96- Tiếng chuông vừa tắt

vọng lại ngàn hoa

dâng hương chiều sa

BASHO


97- Há hốc mồm

Em bé nhìn hoa rụng

–Đức Phật đấy!

Otanu KUBUTSU (1875-1993)


98- Hoa rụng như mưa*

Sao ta muốn uống

nước sương mù xa xôi

ISSA

*Ở Nhật chỉ nói Hoa là người ta đã nghĩ ngay đó là hoa Anh đào


99-Lấp vùi

trong giấc mộng hoa

Sao mình muốn chết ,chết ngay bây giờ !

Ochi ETSUJIN (1656-1736)


100- Rồi ai cũng thế -

Nên tập ra đi

chết dưới bóng ngàn hoa

ISSA


101-Tất tật chúng ta

trên vòm địa ngục -

Đang thưởng thức hoa

ISSA


105-Cả một thế gian

đau khổ

dưới tấm áo choàng hoa

ISSA


106-“Sửa soạn đi thôi!

Sửa soạn lìa đời

Rì rào hoa anh đào

ISSA


107- Những bộ xương

bọc lụa là-

Chúng ta đang ngắm hoa

Onitsura UESHIMA (1661-1738)


108- Dưới đất trên trời

Anh đào nở rộ

Còn tôi! Đang ho

Nomiyama ASUKA(1917-1970)


109-Trên núi

trăng chiếu sáng ngời

cho cả tên trộm hoa

ISSA


110-Anh đào tàn rụng

thấp thoáng giữa lá cành

một ngôi đền cổ

BUSON


111-Ngón tay đứt

của người thợ nề

đỏ màu hoa Lệ quyên

BUSON


112-Họ đang gom

hài cốt-

Hoa viôlét xót thương

BUSON


113- Lễ hội mùa xuân

Từ đáy nước

cỏ dại gọi tên tôi

Fuyuno NIJI (1943-2002)


114-Mùa xuân đi qua

nước sông níu lại

trên nhành liễu buông

BUSON


115-Mưa xuân

sát bên nhau trong xe

Ôi tiếng em thầm thì ,lịm ngọt

BUSON (1716-1784)

...

THAM KHẢO TỦ SÁCH DỊCH HAIKU THẾ GIỚI

Anthologie du Poème court japonais

Corinne Atlan&Zéno Bianu-Gallimard 2002

Dịch: Đinh Nhật Hạnh & Đinh Trần Phương

Ngõ bằng lăng

Hà Nội


Giới thiệu nhà thơ Haiku Bo Lillesoe- Boetical Đan Mạch

alt

Bo Lillesoe sinh năm 1949 tại Copenhagen-Đan Mạch.Tác giả 22 cuốn sách trong đó có cuốn Rock Opera,9 cuốn tiểu thuyết phi viễn tưởng ,tập giáo trình Haikư ,6 tập thơ gồm 4 tập Haikư.Ông là Chủ tịch “Diễn đàn Underskoven”, một trong 2 tổ chức văn chương lâu đời nhất Đan Mạch.Thành lập Trường viết văn Viễn tưởng cho thanh niên và giảng dạy Văn chương -Viết văn-Làm thơ trên giải đất Scandinave rộng lớn.Thành viên ban trị sự Hội các Tác giả Đan Mạch &Thụy Điển.Chủ tịch “Der Danske Klopstockselskab1984” .Thành viên Hiệp Hội Haikư Thé Giới WHA. Bo Lille là bạn dự Đại Hội Haikư Thế Giới WHA lần thứ 8 tại Tokyo năm 2015 cùng nhà thơ Lê Thị Bình và tác giả viết bài này. Mối quan hệ thơ ca bắt đầu mật thiết từ đó với Haikư Việt.Ông hiện là cộng tác viên thường trực của Nội san Haikư Việt và Website haikuviet.com cùng Nữ Haijin Bồ đào nha Zlatka Timenova,Zerashi Romano (Italia) , James Shea …Chúng tôi đã nhiều lần giới thiệu tác phẩm của ông với đông đảo bạn đọc mấy năm qua.Sau đây là 18 khúc Haikư mới nhất ông vừa gửi với lời đề tặng thân thiết:

“Dearest friend,Dinh!

A few of this year’s harvest.You can publish and translate the ones that you like!“

Your BOetical dear friend.

Copenhagen-30/4/2018

“ Đinh,bạn thân thiết nhất của tôi!

Một vài khúc trong mùa thu hoạch của mình năm nay.Cậu có thể công bố và trích dịch những gì cậu thích!”

Bạn thân của cậu,BOetical

Copenhagen-30/4/2018

***

NHỮNG BÀI HAIKƯ MỚI NHẤT NĂM 2018

BO LILLESOE ( Đan Mạch )

1- Graveren sporger : /- Hvor er din skarpe tunge / Kraniet tier

( Tiếng Đan Mạch)

The gravedigger asks / –“Where is your sharp tongue “/The skull remains silent

-Người đào huyệt hỏi to / “Cái lưỡi sắc lẻm của nhà ngươi đâu?”/ Chiếc đầu lâu im lặng .

2-The echo of my steps / longer than my shoe number / What does that mean?

-Tiếng vọng bước chân tôi / dài hơn cả số cỡ giày / Thế nghĩa gì?- không hiểu.

3- I am counting stars / light from 100.000 years / at a single glance

-Tôi đang đếm sao trời / ánh sáng từ chục vạn năm qua / đến trong một lần nháy mắt

4- From its wry head / the deep seafish stares up / seeing nothing

Từ cái đầu rúm ró / con cá biển sâu cố nhìn/ vẫn chẳng thấy gì đâu

5- Another war starts / fighter bombers howling up / turn the rainbow grey

-Lại thêm cuộc chiến tranh / máy bay ném bom gầm rú / nhuộm xám sắc cầu vồng

6 - Right in front of me / the blue flower of poetry / should I pick up?

-Ngay trước mặt tôi/ đóa hoa Thơ xanh biếc / liệu có hái được không ?

7- Last light of the day /the bird’s grey wing strokes / headed for the night

-Tia nắng cuối ngày / cánh chim màu xám vỗ / hướng vào màn đêm buông

8- Children sledding / the soft white hills are bulging / with joy

- Các cháu chơi trượt tuyết/mặt đồi phồng cao lên / bởi niềm vui con trẻ

9- The suitcase waiting / filled with unknow lands/ and expectations

-Chiếc vali đang đợi/ đầy ắp những miền đất lạ / và những ước mơ xa

10-The dictator himself / ís lying in this chest /so nail down the lid!

-Ngay cả tên độc tài / cũng nằm trong cỗ áo quan này /rồi đóng đinh nắp lại

11-Oh,those eyes of yours !/ they can teach the stars / to shine

-Ôi,đôi mắt em yêu / thừa sức luyện rèn / những vì sao lấp lánh

12-On a meadow / somewhere in childhood country / god turns somesaults

-Trên đồng cỏ xanh/ đâu đó nơi miền quê thời thơ ấu / thần tiên đang chơi trò trồng cây chuối

13-A boy is blowing its snow dandelion’s seeds / all over the world

-Có cậu bé / đang gieo hạt bồ công anh trắng như tuyết / trên toàn thế gian

14-The baby mother / swims in her own tears / searching for her child

- Mẹ em bé / đang bơi trong nước mắt / tìm con

15- In the telescope sight / a funeral going on / ashes to ashes…

-Trong ống kính viễn vọng / một đám tang đang đi / từ bình tro này sang bình tro khác

16- Why is it always / raining at funerals?/ are the trees crying?

-Chẳng hiểu vì sao /hễ lễ tang bao giờ mưa cũng đổ / hàng cây có khóc không?

17- Shouting a haiku / far out into space/ echo in ten years

- Đọc vang khúc Haikư / rất xa vào vũ trụ / vọng tận mười năm sau

18-Where does it come from / I try to catch the wind /grasping an empty hand

-Gió ơi! Từ đâu đến / ta thử giữ gió lại / chỉ nắm được bàn tay không

...

Ngõ bằng lăng

Hà Nội ngày 5/5/2018

Đinh Nhật Hạnh dịch thơ và giới thiệu

Matsuo Basho nhà khai sáng thơ Haiku

Thơ haiku có 17 âm tiết theo ngắt nhịp 5-7-5 âm, là thể thơ ngắn nhất của Nhật Bản. Thơ haiku giữ một vị trí rất quan trọng trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, là một viên ngọc quý giá và là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học Nhật Bản và đang tiếp tục phát triển rộng rãi tại nhiều quốc gia. Vào mỗi thời đại của lịch sử phát triển, thơ haiku có các tên gọi khác nhau như hokku発句, haikai俳諧, haiku俳句. Ngày nay, khi nói đến thơ haiku vào bất kỳ giai đoạn nào, hầu như ai cũng quen thuộc với một tên gọi là “thơ haiku”. Với bề dày lịch sử hơn 400 năm, có những lúc thơ haiku tưởng chừng như đang đứng bên bờ vực suy vong. Song, thơ haiku luôn vượt qua các thử thách của thời đại, trở thành hòn ngọc lấp lánh đủ màu, đủ sắc. Từ sự phát triển thần kỳ và với tính độc đáo vốn có, thơ haiku trở thành niềm kiêu hãnh của Nhật Bản, sản sinh ra các bậc đại thi hào lừng danh cùng những vần thơ bất hủ.

Từ lúc mới hình thành, thơ haiku có các phong cách khác nhau, chủ yếu thiên về trào lộng, mang tính giải trí. Đến khoảng nửa cuối thế kỷ XVII, với sự xuất hiện của Basho, thơ haiku trào lộng truyền thống được thổi thêm tính tao nhã, đánh dấu bước tiến phát triển mới của một thể thơ haiku độc lập.

Thơ haiku thời Basho

Basho tên thật là Matsuo Munefusa松尾宗房 (1644-1694), sinh ra trong gia đình võ sĩ cấp thấp tại vùng Ueno Iga nay thuộc tỉnh Mie. Cơ duyên đưa Basho đến với thi ca khi ông đến làm phụ bếp cho gia đình lãnh chúa Todo Ryosei藤堂良精 trong vùng, kết thân với Todo Yoshitada藤堂良忠 (1642-1666), vị con trai của lãnh chúa. Cùng với Yoshitada, Basho theo học nhà thơ lừng danh Kitamura Kigin北村季吟 (1624-1705), người ủng hộ phái Teimon. Năm 18 tuổi, với bút hiệu Sobo宗房 (Tông phòng, là tên Basho đọc theo âm Hán – Nhật), Basho bắt đầu viết những vần thơ đầu tay theo phong cách sáo mòn của phái Teimon.

春やこし

haru ya koshi

Đêm trừ tịch

年や行きけん

toshi ya iki ken

năm cũ bước qua

小晦日

kotsugo mori

mùa xuân chớm dậy.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Đoàn Lê Giang dịch)

Năm 1666, Yoshitada mất khi mới 24 tuổi, Basho rời nhà đi Kyoto học văn học Nhật Bản cổ đại, tìm hiểu văn học Trung Quốc, tiếp xúc với những trang sách của Lão Trang, thi nhân Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lý Bạch. Mùa xuân 1672, Basho rời quê đi Edo (nay là Tokyo), làm nhiều ngành nghề khác nhau và mang tham vọng trở thành thầy dạy thơ haiku. Nhắc đến thời kỳ này, Basho viết: “ lúc cảm thấy mệt mỏi với chuyện làm thơ và muốn từ bỏ nó, lúc thì lại muốn trở thành nhà thơ cho đến khi gầy dựng được danh tiếng hơn bất cứ thứ gì. Sự tranh đấu cứ giằng co trong tâm trí khiến cuộc đời tôi không lúc nào ngơi nghỉ”[1].

alt
Hình: Matsuo Basho (chụp tại Bảo tàng Basho tại Tokyo, năm 2015)

Trong cuộc đời làm thơ, Basho thực hiện nhiều chuyến du hành khắp đất nước, tìm ra những đề tài, phong cách mới cho thơ haiku. Những dấu ấn của hành trình phiêu lãng, được Basho ghi lại vào các tuyển tập kỷ hành. Ngay cả khi đối diện với lằn ranh giữa sự sống và cái chết, hồn thơ của Basho vẫn khao khát một chuyến phiêu lưu mới. Mùa xuân năm 1694, trên đường về phương Nam khi đã ngã bệnh, Basho ra đi để lại hơn 1000 bài thơ, với bài thơ cuối cùng đầy nỗi khao khát được đi tiếp con đường “Thi Đạo” của mình.

旅に病んで

tabi ni yande

Lữ thứ,

夢は枯野を

yume wa kareno wo

thân nằm bệnh

かけ巡る

kakemeguru

hồn lang thang đồng khô.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Nam Trân dịch)

Nhờ sự sáng tạo của Basho, thơ haiku từ thơ hài hước, tầm thường trở nên tao nhã, mang đầy tính triết lý về cảm xúc đối với thiên nhiên và nỗi bi ai cô đơn của con người. Thành quả đó là nhờ ngay từ lúc mới tiếp cận với thơ haiku, Basho luôn biết lưu giữ những giá trị tao nhã của thơ waka truyền thống, tinh tế kết hợp chúng một cách sáng tạo với các phong cách thơ đang lưu hành.

Thời gian đầu đến Edo học thơ haiku, Basho nhanh chóng ảnh hưởng phong cách khẩu ngữ, hài hước của phái Danrin. Sau đó, Basho nhận ra phong cách thơ của phái Danrin chỉ mang tính giải trí mua vui, trào phúng, hoa lệ kiểu thành thị, và đó không phải là lí tưởng thơ ca mà ông muốn đeo đuổi. Khác với phái Danrin chỉ xem kigo季語 (quý ngữ) như một công cụ để chơi chữ, Basho đã khéo léo kết hợp tính khôi hài của phái Danrin với tính tao nhã của thơ renga, làm nên một thể thơ haiku độc lập có tính nghệ thuật cao.

きてもみよ

kitemo mi yo

Cứ mặc thử

甚べが羽織

jinbega haori

tấm áo

花ごろも

hanagoro mo

mùa hoa anh đào.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Đây là bài thơ trong hợp tuyển thơ haiku Kai Oiおほひ (Trò chơi của sò) do Basho và các đồng môn hoàn thành năm 1672 gồm khoảng 30 bài để dâng tặng ngôi đền ở Ueno. Basho rất tinh tế khi chơi chữ “kitemo来ても” (đến đây) đồng âm dị nghĩa với “kitemo着ても” (mặc áo). Bài thơ thật dung dị, hài hước nhẹ nhàng, không tả cảnh nhiều lời, vẫn đủ để người đọc liên tưởng đến tâm trạng háo hức, chờ đợi ngày đi xem hoa anh đào mãn khai (nào đến đây, mặc áo hanagoromo - loại áo mặc vào mùa hoa anh đào). Makoto Ueda đã nhận xét về tác phẩm Kai Oi: “Giá trị của cuốn sách Kai Oi là những lời bình luận, phê phán của Basho về thơ haikai cho thấy sự sắc sảo, trí tưởng tượng phong phú, hiểu biết sâu rộng của Basho về thi ca bình dân, lối diễn đạt hợp thời, là những con đường mới của thế giới nói chung”[2].

Năm 1680, Basho đến sống tại một cái am ở vùng hẻo lánh bên bờ sông Sumida, nơi có trồng cây chuối tên Basho芭蕉 (ba tiêu), sau đó trở thành bút hiệu của chính ông. Tại đây, Basho thả hồn cảm nhận cái uyên nguyên vốn có của thế giới thiên nhiên, viết nhiều bài thơ theo phong cách do ông sáng tạo gọi là shofu 蕉風 (tiêu phong) - kêu gọi trở về với thiên nhiên. Khi ấy, con người và thiên nhiên là nhất thể. Basho cho rằng “Sự biến chuyển của thiên địa tự nhiên là động cơ, chất liệu của thơ haikai”[3] và đưa ra quy định:“Trong thơ hokku phải có kidai季題 (quý đề) tức đề tài về thiên nhiên hoặc phải có từ về mùa (sau này được gọi là kigo)”[4].

芭蕉野分して

Basho no waki shite

Lá chuối tả tơi

盥に雨を

tarai ni ame wo

đêm nghe mưa tí tách

聞夜かな

kiku yo kana

xuống chậu sàn không ngơi.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Đoàn Lê Giang dịch)

Thời gian này, Basho theo học Zen (Thiền) từ nhà sư Butcho 佛頂 (1642-1715) sống gần nhà. Từ đây, phong cách thơ Basho thấm đẫm tính u hoài tĩnh lặng về sự vô thường của cuộc đời: nhẹ nhàng, không kỹ xảo thái quá, đưa thơ haiku đến với thế giới u huyền, đầy tính chân không. Đây cũng là tính chất rất phong nhã trong thơ haiku của Basho, thể hiện cái đẹp vô ngôn, nhẹ nhàng thấm nhẹ vào cảm xúc của người đọc mà không cần nhiều lời miêu tả.

Hàng loạt các phạm trù mĩ học không thể kể hết về cảm xúc con người, nỗi buồn tàn phai, héo úa của vạn vật đã được Basho khai sáng và với ông, đó là linh hồn của thơ haiku. Basho cho rằng thi ca không phải là trò tiêu khiển, mà là sự sáng tạo theo đúng nghĩa của nó. Nhà nghiên cứu Hiekata đã quy tụ các tính chất trong thơ haiku của Basho thành “Mĩ học Basho” bao gồm “Mĩ học tĩnh lặng”, “Mĩ học phiêu lãng” và “Mĩ học hoài cổ”[5]. Tất cả những cảm thức mĩ học này chính là cảm xúc cô đơn của chính Basho trước vũ trụ, trước thiên nhiên và con người. Những xúc cảm ấy thể hiện cái đẹp hoài niệm về thời gian, và về nỗi buồn nhạy cảm trước vạn vật (mono no aware物哀れ). Đây cũng chính là đặc trưng cái tôi trữ tình của Basho, luôn hướng tới vẻ đẹp của thiên nhiên, của con người.

Để phát triển nguồn thi liệu cho thơ haiku, Basho luôn thôi thúc với tâm nguyện thực hiện các chuyến du hành. Đi là để khám phá, tìm đề tài mới cho thơ haiku. Năm 1684, Basho mở đầu bước đường phiêu lãng sáng tác thơ haiku.

風流の

fuuryu no

Phong lưu khởi đầu

はじめや奥の

hajime ya oku no

bài ca trồng lúa

田植うた

taue uta

nơi miền quê thâm sâu.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Nhật Chiêu dịch)

Basho cho rằng cuộc đời là một cuộc lữ hành, ông đã không mệt mỏi đi khắp nẻo đường đất nước để tìm nguồn thi liệu sống cho thơ haiku, bất chấp những khó khăn, bệnh tật, cô đơn. Liên tục với các chuyến đi từ Edo đến Kyoto, đến chân núi Fuji, bờ hồ yên bình Biwa, băng ngang bao nhiêu dòng sông lớn của Nhật Bản, đến thăm những ngôi đền nổi tiếng tại tỉnh Ise, Nara rồi quay trở về quê Ueno… đã đem lại cho Basho những trải nghiệm về thế sự, làm giàu chất liệu sống động cho thơ haiku.

旅人と

tabibito to

Mưa đầu đông

我が名呼ばれん

wa ga na yobaren

hãy gọi ta là

初時雨

hatsu shigure

lữ nhân.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Trong tiếng Nhật, tabi nghĩa là du hành. Theo nhà ngôn ngữ học Nhật Bản Kindaiichi Haruhiko “Đối với người Nhật Bản, tabi có nghĩa là ra đi với trạng thái thấm thía nỗi trơ trọi cô đơn, bán tín bán nghi về nơi sẽ đến và ý nghĩa này trở thành quan điểm chủ đạo trong “văn học tabi ” của Nhật Bản”[6]. Quan niệm về tabi đã từng xuất hiện trong thơ tanka.

旅人の

tabibito no

Thân thể

体もいつか

karada mo itsuka

Lữ nhân này

海となり

umi to nari

Bao giờ về với biển

五月の雨が

gogatsu no ame ga

Mưa tháng năm ơi

降るよ港に

furu yo minato ni

Hãy rơi xuống cảng.

(前田夕暮)

(Maeda Yugure, 1883-1951)(Quỳnh Như dịch)

Còn với Basho, tabi là phương tiện để ngược dòng lịch sử, trải nghiệm thi ca với những gì các bậc tiền bối đã để lại. Basho đưa ra quan niệm “tính chân thật của thơ haikai” (haikai no makoto俳諧 ) và cho rằng tabi là dịp gặp gỡ các nhà thơ mới, kết nối các vần thơ của họ lại với nhau, là những chuyến du hành lang thang khám phá những vùng xa xôi hẻo lánh, cảm nhận đầy đủ hơn về bản chất tự nhiên của cuộc sống, con người, xã hội, thiên nhiên vạn vật và “mô tả như chúng tự tại” (ari no mamaありのまま). Thời kỳ Edo, tuy chưa xuất hiện các thuật ngữ “tả sinh” (shasei写生), “tả thực” (shajitsu写実) như thời kỳ cận đại, nhưng với quan niệm của Basho, cho thấy thuyết tả sinh khách quan đã từng manh nha từ thời kỳ Edo.

稲妻や

inazuma ya

Trên mặt biển

海の面を

umi no men wo

ánh chớp

ひらめかす

hiramekasu

lóe sáng.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Basho đã nâng tầm các chuyến du hành lên thành “Đạo” của thơ haiku, cũng giống như những thể loại văn hóa truyền thống khác được gắn với Đạo: Hoa đạo, Trà đạo, Kiếm đạo, Thư đạo...và thơ haiku là Thi đạo. R. H. Blyth nhận ra rằng, với Basho “Mỗi bông hoa là một mùa xuân, mỗi nỗi đau là một cơn đau đẻ, mỗi con người là một nhà thơ haiku, và mỗi con đường là Đạo của thơ haiku”[7]. Trong văn hóa Nhật Bản, “Đạo” không chỉ là đường đi, mà đó là con đường tu tâm, tập luyện để thành thục, trưởng thành.

Qua các chuyến du hành, Basho đã để lại hàng loạt tác phẩm ghi lại phong cảnh gợi hứng cho thơ trên mỗi chặng đường, những trải nghiệm và sự trưởng thành trong phong cách thi ca của Basho: Fuyu no hi 冬の日 (Ngày đông, 1684), Nozarashi Kiko野ざらし紀行 (Kỷ hành lang thang đồng nội, 1684), Haru no hi (Ngày xuân, 1686), Kashima kiko 鹿島紀行 (Nhật ký kỷ hành Kashima, 1687), Oi no kobubumi笈の小文 (Đoản văn trong chiếc gùi, 1688), Sarashina kiko (Nhật ký kỷ hành thôn Sarashina, 1688), Arano阿羅野 (Cánh đồng không, 1689), Oku no hosomichi 奥の細道 (Nẻo đường Đông Bắc,1689), Hisago ひさご (Quả bầu, 1690), Sarumino 猿蓑 (Áo rơm cho khỉ, 1691), Saga nikki嵯峨日記 (Nhật ký Saga, 1691). Makoto Ueda đã nhận xét tuyển tập đầu tiên Fuyu no hi 冬の日 (Ngày đông): “Phong cách của Basho đã bớt mô phạm về từ ngữ, nhiều tính trữ tình hơn”[8].

Trong các tác phẩm để lại, Oku no hosomichi được xem là kiệt tác, đánh dấu đỉnh cao sự nghiệp thi ca của Basho. Tác phẩm được hoàn thiện “dựa trên ý tưởng cảm thức sabi”[9], thể hiện sâu sắc vẻ đẹp cao nhã của thiên nhiên, cảm xúc vô thường của con người trước vạn vật. Theo Ozawa Katsumi, tác phẩm là “Văn học điển cố (tenko bungaku典拠文学), Văn học kỷ hành (Kiko bungaku紀行文学), Kỷ hành thời gian (Jikan kiko時間紀行), Kỷ hành danh thắng (Utamakura kiko歌枕紀行), Truyện Kỷ hành (monogatari kiko物語紀行), Kỷ hành tư tưởng (Shiso kiko 思想紀行), Kỷ hành hội ngộ nhân tình (jinnjo to no fureai kiko 人情との触れ合い紀行)”[10].

Đầu năm 1686, trên đường về Edo, Basho đã để lại bài thơ sáng giá nhất, chỉ đơn giản với hình ảnh của con ếch bên một bờ ao cũ, được truyền tụng lại qua bao nhiêu thế hệ, đến với mọi tâm hồn thơ haiku khắp nơi trên thế giới.

古池や

furu ike ya

Ao xưa

蛙飛び込む

kawazu tobikomu

ếch nhảy vào

水の音

mizu no oto

tiếng nước.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Quỳnh Như dịch)

Chỉ đơn sơ với âm thanh của tiếng nước tại một không gian thật u hoài tĩnh mịch, bài thơ đã toát lên tinh thần “cái động trong tĩnh” thể hiện “tính chân thật của phong nhã” trước những gì đang xảy ra trước mắt. Tác giả chỉ ghi lại khoảnh khắc bắt gặp được trong thiên nhiên xảy ra ngay trước mắt “ếch nhảy” và âm thanh do chú ếch tạo ra. Không tính từ mô tả hình ảnh chú ếch đang nhảy vào hồ và âm thanh của tiếng nước, chỉ cô đọng lại bằng danh từ “tiếng nước” – âu cũng là đặc trưng biểu hiện của thơ haiku – tĩnh chứ không động. Bài thơ được Hiekata đánh giá là “thể hiện được cái đẹp trong cái tĩnh mịch nhất”, “là tác phẩm tiêu biểu nhất của mĩ học tĩnh lặng Basho”[11]. Động từ “ếch nhảy” được các nhà thơ haiku thời bấy giờ đánh giá là một cách sử dụng từ đầy sáng tạo, khác hẳn với các thuật ngữ thường được sử dụng trong thơ haiku. Chính nhờ đó, đã đưa bài thơ “con ếch” vang vọng nổi bật đánh thức cách sử dụng ngôn từ mang tính mới lạ trong thơ haiku.

Những năm tháng cuối đời, Basho sống trong cô tịch. Cũng từ lúc này, phong cách thơ của Basho phát triển theo cảm thức karumi軽み (nhẹ nhàng, thanh thoát). “Karumi” là vứt bỏ cái tôi, ứng xử nhẹ nhàng, làm giảm đi nỗi buồn rầu, cô đơn tuyệt vọng của con người. Ngày nay tính karumi trong thơ haiku của Basho được nhắc đến và ví von như văn hóa“motenashiもてなし” (thanh lịch) đang được thế giới ngưỡng mộ.

この秋は

kono aki wa

Thu này

何で年寄る

nande toshiyoru

sao già nhanh hơn thế

雲に鳥

kumo ni tori

cánh chim khuất trên mây.

(松尾芭蕉)

(Matsuo Basho)

(Đoàn Lê Giang dịch)

Một Basho đi nhiều, nghe nhiều, trải nghiệm nhiều từ cuộc sống đời thường của trần thế đã làm nên thành công trong sáng tạo nghệ thuật cho thơ haiku. Qua các chuyến du hành, Basho đưa ra thuyết tương phản “Bất dịch lưu hành” (fueki ryukou不易流行)[12]. Bất dịch là vĩnh hằng. Lưu hành là luồng gió mới. Trong thiên nhiên, trực giác cho ta thấy rằng vạn vật luôn biến đổi nhưng tính chất của vạn vật thì lại bất dịch, không bao giờ thay đổi. Với lý luận này, Basho bộc lộ khát khao đi tìm chân lý vĩnh hằng của nghệ thuật thơ haiku bằng cách gắn kết những biến thiên của hiện thực với giá trị bất biến trong truyền thống. Cả hai dù là tương phản, đối lập nhưng lại là những tố chất không thể thiếu trong sáng tác thơ haiku. Thơ haiku là thế. Thống nhất ngay trong những mặt đối lập.

Với những thành tựu tột bậc, Basho trở thành nhà thơ haiku kiệt xuất của Nhật Bản. Nhờ công lao của Basho, thơ haiku được định hình và hoàn thiện tính nghệ thuật độc đáo, thoát khỏi sự dung tục hưởng lạc tầm thường trong văn chương, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của xã hội.

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

(Bài viết có sử dụng một số nội dung từ sách của đồng tác giả “Nguyễn Vũ Quỳnh Như - Thơ Haiku Nhật Bản: Lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại”, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, TP.HCM, 395 trang, 2015)

[1] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.32.

[2] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.22.

[3] Yamashita Kazumi (1998), 俳句への招待 (Xin mời đến với thơ haiku), Shogakukan, Japan, tr. tr.55.

[4] William J. Higginson (2008), The Haiku handbook – How to write, share, and Teach Haiku, Kodansha Intl.com, Japan, tr.91.

[5] Hiekata Tomizo (2009), 日本人の美学  (Mĩ học của người Nhật), Waseda Shuppan, Japan, tr.37.

[6] Kindaiichi Haruhiko (2001), 日本語の特徴 (Đặc trưng tiếng Nhật), Nihon hoso Shuppan Kyoukai (NHK Book), Japan, tr.160.

[7] R.H. Blyth (1981-1982), Haiku Volume 1~4: Eastern Culture, Spring, Summer-Autumn, Autumn-Winter, The Hokuseido Press Tokyo, Heian International South San Francisco, tr.292.

[8] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.26.

[9] Makoto Ueda (2008), The Master Haiku Poet – Matsuo Basho (普及版) 英文版 松雄芭蕉, Kodansha International, Japan, tr.30.

[10] Ozawa Katsumi (2007), 「奥の細道」新解説と (Oku no hosomichi – Nẻo đường Đông Bắc “Chuyến du hành của hiện thực và chân lý”), Toyo Shuppan, Japan, tr.11-18.

[11] Hiekata Tomizo (2009), 日本人の美学  (Mĩ học của người Nhật), Waseda Shuppan, Japan, tr.37.

[12] Ozawa Katsumi (2007), 「奥の細道」新解説と (Oku no hosomichi – Nẻo đường Đông Bắc “Chuyến du hành của hiện thực và chân lý”), Toyo Shuppan, Japan, tr.16.

Haiku & đời sống nội tâm qua các nữ Haijin cổ điển Nhật Bản

alt

Lê Văn Truyền

dịch và giới thiệu

Mùa hè, vầng trăng trôi trên bầu trời đầy mây. Nữ sỹ mong vầng trăng biết len lỏi giữa những đám mây để soi sáng bầu trời và mặt đất:

Is there/a shortcut through the clouds/summer moon?

Có chăng lối tắt/giữa những đám mây/vầng trăng mùa hạ?

Sutejo Den

Tâm hồn phụ nữ là vậy. Nhạy cảm với những gì đẹp đẽ, thanh tao. Dù đang bận rộn với công việc bếp núc, nhiều khi là gánh nặng nhàm chán của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, nữ thi sĩ vẫn không thể dửng dưng với tiếng chim hót trong bụi rậm ngoài cửa sổ. Tiếng chim làm thi sĩ phải ngưng tay trong giây lát công việc bếp núc để lắng nghe, để có một phút thư thái trong tâm hồn:

A bush warbler/my hand in the kitchen sink/rest for a while

Chim hót trong bụi cây/đôi tay tôi ngưng nghỉ phút giây/trong chậu rửa bát

Chigetsu Kawai

Ai ai cũng sợ tuổi già. Nhưng với những người phụ nữ đó là nỗi lo sợ ám ảnh. Tuổi già kèm theo nỗi cô đơn và lạnh lẽo. Đừng nói đến bạn bè và vật nuôi yêu quý như con mèo, con chó, đến con chuột cũng tránh xa ta dù ta cùng chẳng còn hơi sức đâu mà hại nó. Dù nó không nói chuyện được với ta, ta chỉ mong có nó quẩn quanh bên cạnh, im lặng ngước đôi mắt nhỏ nhìn ta không sợ sệt. Sự hiện diện của nó cũng đem lại chút ấm lòng cho tuổi già lạnh lẽo:

When you grow old/even mice avoids you/how cold is it?

Khi ta già đi/chuột cũng tránh ta/tuổi già lạnh lẽo?

Sonome Shiba

Vĩnh biệt người bạn gái thân yêu vừa từ giã cõi đời, nhà thơ ví bạn như đóa Anh túc rực rỡ, nhưng rất mong manh trong thế giới hỗn mang và trong cuộc đời bất định:

Farewell/flower of floating world/poppy flower

Vĩnh biệt/đóa hoa Anh túc/cuộc đời phiếm định

Chiyo - Ni

Loài cá hồi có một tập tính vô cùng kỳ lạ. Sau khi về biển, hàng năm đàn cá ngược dòng sông về nguồn để đẻ trứng và ấp nở đàn cá hồi con, dù trên hành trình trở về cội nguồn hàng trăm, hàng ngàn cây số, nhiều con phải bỏ mình. Mỗi lần đàn cá xuôi dòng, một chu kỳ thời gian đã trôi qua, nhắc nhở nữ thi sĩ tuổi xuân đang trôi qua từng ngày, một nỗi lo sợ cố hữu của người phụ nữ ở tất cả mọi quốc gia và mọi thời đại:

Trout going downstream/day by day the water/frightens me more

Đàn cá hồi xuôi giòng/làn nước làm tôi sợ hãi/từng ngày trôi qua

Chiyo - Ni

Rumbles from the rock/cherry blossoms in the moonlight/far from the world of men

Xe chạy ầm ầm đường đá/hoa anh đào nở dưới ánh trăng/xa cách cánh đàn ông

Seifu Enomoto

At daybreak/speaking to the blossoms/a woman all alone

Buổi hừng đông/trò chuyện với đóa anh đào/người đàn bà cô đơn

Seifu Enomoto

Người phụ nữ những lúc cô đơn luôn mong có người bạn lòng bên cạnh. Tiếc thay chỉ có vầng trăng đang dõi theo nhà thơ trên chiếc cầu lạnh lẽo, cô quạnh:

The moonlight and I/left alone/cool on the bridge

Vầng trăng và tôi/cô đơn/trên chiếc cầu lạnh lẽo

Kikusha Tagami

Nhà thơ gặp tai nạn không thể thực hiện trách nhiệm của người con là chăm sóc mẹ già. Thôi đành nhờ những khúc haiku chăm sóc tinh thần cho mẹ trong những ngày hè nắng nôi:

Haiku poet/caring mother/this summer – I’m a wreck

Những khúc haiku/chăm sóc mẹ mùa hè năm nay/khi tôi gặp nạn

Hisajo Sugita

Hoàng hôn trên bãi biển là lúc mọi người đắm đuối thể hiện tình yêu. Và ánh tà dương dường như đang dừng lại để chiêm ngưỡng phút giây hạnh phúc của những đôi tình nhân hay đang ghen tỵ, nấn ná không muốn buông màn đêm xuống cho mọi người được tự do yêu nhau hơn?

On the seaside dunes/other people in love …/lingering daylight

Cồn cát trên bãi biển/mọi người đang yêu đương/ánh tà dương nấn ná

Masajo Suzuki

Người phụ nữ luôn luôn có trái tim nhậy cảm, sẵn sàng mở lòng mình với những người bạn gái yêu thương, như trên giàn hoa, những chùm hoa đậu biếc rung rinh trong gió đang khẽ chạm vào nhau:

Women’s hearts/touche one another – hanging/plumes of wisteria

Trái tim người phụ nữ/kề sát bên nhau/như chùm hoa đậu biếc

Nobuko Katsura

Người phụ nữ nào cũng vậy dù sống trong thế kỷ trước hay trong thế giới hiện đại hôm nay, đều âu yếm chăm sóc tấm thân ngọc ngà trời cho và luôn quan tâm đến cân nặng của mình:

On the scale/my bathed and steaming body/this night of snow

Trên chiếc cân/tấm thân tôi vừa tắm xông hơi/trong đêm tuyết rơi

Nobuko Katsura

Đôi tình nhân dạo chơi bên hồ cùng chơi trò chơi tuối ấu thơ, thi nhau lia hòn sỏi trên mặt hồ. Người nam chắc sẽ cố gắng lia thật xa, để thể hiện bản lĩnh đàn ông, nhưng người đàn bà yêu thương của anh ấy không thi thố tài năng với người mình yêu, chỉ quan tâm đến những vòng tròn đang từ từ lan tỏa trên mặt nước và hồi hộp chờ đợi giây phút sung sướng thấy chúng giao hòa với nhau như đôi trái tim của họ.

Rock throwing/our circles/about to meet

Lia hòn đá/những vòng tròn trên mặt nước/sắp giao hòa với nhau

Nobuko Katsura

Ngày xuân, dòng suối trong xanh, nhà thơ thấy những đám cỏ dưới đáy đang uốn lượn theo dòng nước như muốn vẫy gọi nhà thơ đắm mình trong thiên nhiên tươi mát:

Spring Day/from the bottom of the water/grasses call me

Ngày Xuân/từ dưới đáy nước/thảm cỏ gọi tôi

Niji Fuyuno

Trong Ngày của Mẹ, mọi người con, đặc biệt là những người con gái luôn dành những tình cảm biết ơn, trân trọng đối với Mẹ của mình, người đã sinh thành tấm thân ngọc ngà của người con gái. Nhưng người mẹ, trong Ngày của Mẹ không quan tâm đến bản thân mình. Bà mẹ bật khóc khi thấy con gái vừa trang điểm xong để che dấu những nét già nua bắt đầu xuất hiện trên gương mặt. Trong mắt mình, Mẹ luôn luôn muốn con gái minh giữ mãi vẻ thanh tân, trẻ mãi không già, mãi mãi là đứa con bé bỏng trong lúc mình không tránh được quy luật của tự nhiên, già nua theo ngày tháng.

Mother Day/I end up making/my mother cry

Ngày của Mẹ/tôi trang điểm xong/mẹ tôi bật khóc

Madoka Mayuzumi

Các haijin đã trích dẫn

[1] Sutejo DEN (1633 – 1698): nữ haijin thế kỷ XVII, cùng thời với Bashô

[2] Chigetsu KAWAI (1634 – 1718): nữ haijin thế kỷ XVII, người cùng thời và là một trong rất ít nữ haijin được Bashô công nhận trong nhóm những haijin bậc thầy (haiku master’s circle).

[3] Sonome SHIBA (1664 – 1726): nữ haijin xinh đẹp thế kỷ XVII, cùng thời với Bashô. Chồng chết năm 39 tuổi bà ở vậy suốt đời.

[4] CHIYO – NI (1703 – 1775): nữ haijin hiếm hoi được sánh ngang với Bashô. Góa chồng từ lúc 20 tuổi, bà đi tu và trở thành ni cô ở tuổi năm mươi. Bà kết bạn với một số nữ sĩ và dạy phụ nữ và các ni cô làm thơ.

[5] Kikusha TAGAMI (1753 – 1826): là một nghệ sỹ đa tài: nhà thơ, họa sỹ, nhà thư pháp và nhạc sỹ. Góa chồng lúc 24 tuổi, bà đã quyết định có một hành động dũng cảm vào thời đó: cạo trọc đầu và quyết định đi du lịch khắp nước Nhật.

[6] Hisajo SUGITA (1890 – 1946): suốt đời, bà luôn dằn vặt với ý nghĩ làm thế nào để kết hợp được thiên chức người vợ, người mẹ với sự nghiệp làm thơ. Có lúc, bà được coi như người vợ bị ly dị. Bà mất trong một nhà dưỡng lão.

[7] Masajo SUZUKI (1906 – 2003): bà đã làm một việc bị coi là cấm kỵ thời đó: rời bỏ chồng để sống với người yêu. Mối quan hệ kéo dài hơn 40 năm cho đến khi người yêu bà mất. Trong đời mình, bà đã viết nhiều khúc haiku ngợi ca tình yêu.

[8] Nobuko KATSURA (1913 – 2004): đã từng ở Osaka khi thành phố bị ném bom nguyên tử năm 1945.

[9] Niji FUYUNO (1943 – 2002): là một haijin đồng thời là họa sỹ vẽ tranh minh họa nổi tiếng với sự nhạy cảm cao. Bà mất năm 2002.

[10] Madoka MAYUZUMI (1965 - …): chủ trì một chương trình truyền hình về haiku ở Tokyo. Ảnh hưởng lớn của bà đến lớp trẻ được các nhà thơ thế hệ trước đánh giá cao.

Chùm Haiku Valentin Nocolitov

CHÙM HAIKU RÔMÂNIA

TRONG TẠP CHÍ WORLD HAIKU

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

alt

VALENTIN NOCOLITOV (1945 - …) (WH No 13, 2017)

1.A murit tata

pendula bate de acum

clipe mele

The old clock ticking

now, my father’s passed away

counts my own minutes

Cha tôi đã qua đời

từ nay chiếc đồng hồ cổ

điểm thời khắc đời tôi.


2.Singur in casă

prin perete, vecinii

i-aud cum trag apa

Alone in the house

through the share wall

a toilet flushing from the next door

Một mình ở nhà

nghe được tiếng giật nước bồn cầu

sau bức tường hàng xóm.


3.Plajă de nudisti

nu-mi găsesc prietena

o stiam blondă …

Beach of nudists

I don’t find my girlfriend

I thought that she was fair

Bãi tắm khỏa thân

tôi không tìm thấy người yêu

dù biết tóc nàng vàng.


Chùm Haiku Magdalene Dale

alt

CHÙM HAIKU RÔMÂNIA

TRONG TẠP CHÍ WORLD HAIKU

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

MAGDALENE DALE (1953 - …) (WH No 11, 2015)

1.O crăciunită

infloreste in balcon

flori de ghetă pe geam

A poinsettia

is blooming on the balcon

ice flowers on the window

Đóa trạng nguyên

nở ngoài lan can

hoa tuyết nở trên ô cửa sổ


2.Ploaie de vară

peste oameni si copaci

un curcubeu

Summer rain

over men and trees

a rainbow

Cơn mưa mùa hè

vắt lên mọi người và cây cối

một chiếc cầu vồng


(WH No 12 - 2016)

1.Flori de tei

plutesc in apa fiartă

zile de iarnă

Linden blossoms

floating on boiled water

winter days

Hoa cây đoan

trôi nổi trong chén nước sôi

những ngày đông giá


2.Oamenii grăbiti

pe alei cu băltoace

apare un melc

People in a hurry

in an alley with puddles

a snail appears

Thiên hạ chạy vội vàng

trên con đường lầy lội

xuất hiện một chú sên

Chùm Haiku Marius Chelaru

alt

CHÙM HAIKU RÔMÂNIA

TRONG TẠP CHÍ WORLD HAIKU

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

MARIUS CHELARU (1961 -…) (WH No 11, 2015)

1.Dansez with roză

pe curcubeul dintre

iminile noastre

I’m dancing with a rose

on the rainbow

between our heart

Cùng với đóa hoa hồng

tôi khiêu vũ trên chiếc cầu vồng

nối đôi trái tim ta


2.Un an nou

un nou război

intr-o lume străină

A new year

a new war

in a foreign world

Một năm mới

lại một cuộc chiến tranh mới

trong một thế giới kỳ quặc


3.Peste pagini

de la o frază la alta

curcubeul

Over pages

from a phrase to other

the rainbow

Trên những trang sách

chiếc cầu vồng

bắc qua từng câu chữ


WH No. 12 (2016)

4.Ocean translucid

gunoiele – acoperă

glasul balenei

Translucent ocean

the garbage covers

the voice of a whale

Đại dương trong xanh

biển rác thải khỏa lấp

tiếng kêu con cá voi


5.Un ciob de sticlă

taie lună in două

in ochiul stiucii

Eyeglasses shiver

cut the moon in two pieces

In the eye of a pike*

Mảnh vỡ tròng kính mắt

cắt vầng trăng thành hai mảnh

trong mắt của chú cá chó

*pike: cá chó (cá nước ngọt phân bố ở Bắc Mỹ và Châu Âu)


6.Din norul de smog

culorile curg spre cer

natură moartă

From the cloud of smog

the colors floating up to the sky

still life

Từ đám mây mù sương

mầu sắc thăng hoa trên bầu trời

một bức tranh tĩnh vật


WH No 13 (2017)

7.Tăbără de refugiati

un copil cu un ochi si un picior

dăruieste zămbete

Refugee camp

a child with one led and one eye

offers smiles

Trong trại tị nạn

em bé cụt chân mù một mắt

nhoẻn miệng cười


8.Muzică de pe

vasul turistic ucide

umbrele refugiatilor inecati

Music from

a cruise boat kills

the shadow of drowned refugees

Tiếng nhạc trên du thuyền

khỏa lấp số phận

những người tỵ nạn chết đuối


9.Copil refugiat

si amintirile lui

sint pline de singe

refugee child

even his memories

are filled with blood

Những kỷ niệm

của các em bé tỵ nạn

cũng nhuốm đầy máu

Tham dự hội nghị thơ Haiku Quốc tế lần thứ 15 và liên hoan thơ Haiku tại tỉnh Hyogo

Trong hai ngày 17 và 18 tháng 2 năm 2018, Quỳnh Như đã đến dự Hội nghị thơ haiku quốc tế và Liên hoan thơ haiku do Hiệp hội thơ haiku truyền thống, Hiệp hội Giao lưu thơ haiku quốc tế tổ chức tại Hội quán văn học Takahama Kyoshi, tỉnh Hyogo. (Takahama Kyoshi là nhà thơ haiku thời hiện đại. Nếu Masaoka Shiki có công đặt tên haiku cho thể thơ haiku và cải cách mạnh mẽ thơ haiku, thì chính Kyoshi là người có công phát triển dòng thơ haiku). Hội nghị thơ haiku quốc tế được tổ chức hai năm một lần, được Bộ Giáo dục Khoa học Thể thao Nhật Bản công nhận và khuyến khích phát triển. Năm 2016, cũng tại Hội quán này, Quỳnh Như đã tham dự Hội nghị thơ haiku quốc tế lần thứ 14.

alt

Tại Hội nghị thơ haiku quốc tế, ngoài khoảng gần 100 chuyên gia thơ haiku Nhật Bản còn có sự tham gia diễn đàn của Giáo sư người Anh – chuyên nghiên cứu so sánh văn học Anh – Nhật và thơ haiku tại Đại học Waseda, Giáo sư nghiên cứu văn học, thơ haiku đến từ trường Đại học Hàn Quốc...và Quỳnh Như. Đến tham dự Hội nghị, người tham dự phải đóng phí 5000 Yên (tương đương một triệu VND). Các trao đổi diễn ra sôi nổi, đề tài chính của Hội nghị là về tính văn học, cách thể hiện ngôn ngữ trong thơ haiku của nhà thơ Takahama Kyoshi. Bên cạnh đó là những diễn thuyết về đặc trưng văn hóa...Nói chung là nhiều vấn đề được đặt ra trong bối cảnh thơ haiku đang phát triển rộng rãi tại nhiều nước.

Sau đó, vào ngày 18/2, cũng tại Hội quán văn học Takahama Kyoshi, đã tham dự sự kiện Liên hoan thơ haiku gồm Trao giải thưởng thi thơ haiku, diễn thuyết của Chủ tịch Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku. Thú vị nhất là chương trình thi thơ haiku được tổ chức dành cho nhiều đối tượng khác nhau với nhiều hình thức trao giải khác nhau. Qua tham dự đã học được rất nhiều điều bổ ích trong việc cách thức tổ chức các sự kiện thơ haiku, về thi thơ, chấm giải, trao giải...vì tất cả được tổ chức rất theo tinh thần “haiku”. Tham dự sự kiện này ai cũng phải đóng 3000 Yên (khoảng 600,000 VND). Sinh hoạt thơ haiku tại Nhật không rẻ chút nào.

Sau trao giải cuộc thi thơ haiku, Chủ tịch Hiệp hội Giao lưu quốc tế thơ haiku đã có diễn thuyết về sự khác biệt giữa dòng thơ Đông và Tây trong thể hiện ngôn ngữ, tính văn học, tính văn hóa, sự thể hiện thiên nhiên trong thơ haiku...

Đặc biệt, khi trao đổi với một số chuyên gia thơ haiku, mới biết tại Nhật Bản, trong thơ haiku ít khi nói về wabi, sabi mang tính Thiền tông. Thay vào đó tính karumi (nhẹ nhàng, hay có thể nói là lịch thiệp) của Basho luôn được đánh giá cao và nhắc đến nhiều hơn. Quỳnh Như có thể sẽ cho đăng bài viết về tính karumi của thơ haiku của Basho nói riêng và của các nhà thơ khác nói chung trong một bài viết khác.

Tại Hội nghị, đã trao đổi kinh nghiệm với nhiều chuyên gia đã từng giao lưu, hỗ trợ phát triển và biên soạn tài liệu, giáo trình thơ haiku tại Châu Phi, Thụy Điển, Đức, Anh, Mỹ…

Cuối chương trình, đại diện người tham dự, Quỳnh Như đã có bài phát biểu về việc nghiên cứu thơ haiku tại Nhật Bản, về thơ haiku tại Việt Nam. Mọi người rất háo hức khi được biết thêm nhiều về thơ haiku Việt.

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như, ĐHKHXH&NV-ĐHQGHCM,

Tại Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Quốc tế Nichibunken,

Kyoto, ngày 20/2/2018.

Sinh hoạt thơ Haiku tại Nhật Bản giữa những ngày giá rét

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Sau hơn hai tháng tích cực tham gia nghiên cứu thơ haiku tại khu vực Kyoto, Osaka, vào đầu tháng 2 năm 2018, Quỳnh Như đã lên đường đến một số thành phố của Nhật Bản tiếp tục hành trình tìm hiểu thơ haiku.

Đã qua đầu tháng 2, nhưng tuyết vẫn rơi tại các tỉnh thành Nhật Bản. Đối với người phương Nam Việt Nam, quả thật là phải khó khăn lắm mới có thể vượt qua cái rét căm căm này. Không quản ngại khó khăn về cách biệt thời tiết, Quỳnh Như đã đặt chân đến tỉnh Yamaguchi (cách Kyoto nơi đang làm việc hơn 600km).

Tại khu Yuda-Onsen của tỉnh Yamaguchi – nơi có lịch sử Onsen (tắm nước nóng) hơn 600 năm, đã được đến thăm các di tích lịch sử và thơ ca của Nhật Bản. Nơi đây đang diễn ra các hoạt động kỷ niệm 150 năm Minh Trị Duy Tân, và cũng là 150 năm nhà thơ haiku Masaoka Shiki.

Trưa ngày 3 tháng 2 năm 2018, tại Phòng Thông tin triển lãm thành phố Yamaguchi, đã đến xem triển lãm và dự buổi nói chuyện về nhà thơ haiku Taneda Santoka (1882 - 1940).

alt
(Xem triển lãm về nhà thơ haiku Santoka)

Santoka là nhà thơ theo phong cách tự do, không quan trọng bắt buộc phải đủ 17 âm tiết và quý ngữ theo thơ haiku truyền thống. Cuộc đời lang bạt của ông sau thời kỳ haiku đổi mới đã tiếp sức cho haiku vươn mình vượt khỏi biên giới Nhật Bản. Thơ của ông cùng phong cách tự do đã được đón nhận tại Mỹ, Hawai...nơi có nhiều di dân Nhật Bản đang ở đó.

Ông được ví von là nhà thơ “Basho thời Showa” (thời Chiêu Hòa từ năm 1926 đến năm 1989). Thật ngạc nhiên vì phong cách thơ haiku của Matsuo Basho chú trọng thể thơ haiku 5-7-5 âm tiết có quý ngữ, còn Santoka lại không, trước sự ví con này. Qua tìm hiểu thông tin và trao đổi với người chuyên môn tại phòng triển lãm mới biết tuy phong cách thơ haiku của Santoka khác với phong cách truyền thống của nhà thơ Matsuo Basho, nhưng phong cách sống và cuộc đời làm thơ của Santoka lại khá giống với nhà thơ lừng danh Matsuo Basho với những chuyến du hành khắp đất nước Nhật Bản. Nếu các chuyến du hành của Basho lừng danh ở khu vực Đông Bắc thì Santoka có khởi nguồn du hành từ các tỉnh thành Tây Nam Nhật Bản. Từ những mảnh đất khác nhau, lối sống mỗi vùng miền khác nhau trong các thời đại lịch sử phát triển khác nhau đã làm nên các phong cách thơ haiku khác nhau.

Tại buổi nói chuyện, Quỳnh Như đã gặp một nhà thơ haiku chuyên phát triển dòng thơ haiku theo phong cách tự do mà sau này ông phải đặt tên cho dòng thơ này là “Thơ cú tự do” (Chứ không phải là “Thơ haiku tự do”. Theo ông, chữ “hai” (俳) trong “haiku” (俳句)có tính lịch sử rất lâu đời từ trước khi thơ haiku ra đời với những quy tắc khó di dời, do đó dòng thơ haiku mang phong cách tự do không chú trọng 5-7-5, nhất là không đặt nặng quý ngữ, đã được đổi tên gọi là “Thơ cú” chứ không phải thơ haiku. Tuy nhiên, ông đã đưa ra một số nhận định rằng dù thơ tự do theo trường phái tuy có thể cho rằng không có quý ngữ nhưng thật ra trong đó vẫn “ngầm” thể hiện được sự vận động của thiên nhiên, của mùa trong thơ. Để làm được điều này, đòi hỏi người làm thơ phải có kỹ năng cao.

alt

Trên đường tìm đến nhà tưởng niệm nhà thơ Santoka, có nhiều bảng chỉ đường, trên đó có hình và bài thơ của nhà thơ. Xin giới thiệu và tạm dịch một trong những bài thơ đó.

ふるさとのここにもそこにも家が建ち(種田 山頭火)
furusato no kokonimo sokonimo iega tachi (Taneda Santoka)
ở quê nhà
nơi này và nơi kia
nhà nhà mọc lên
(Quỳnh Như dịch)

Sau đó, vừa từ tỉnh Yamaguchi trở về Kyoto, nhận được lời mời của Hiệp hội Giao lưu thơ quốc tế (HIA), ngay ngày hôm sau (ngày 6/2/ 2018), lại lên đường đi Tokyo (cách Kyoto hơn 500km) để tham dự Buổi giao lưu với Đại sứ H.E. Mr Van Rompuy. Năm ngoái, Ngài đã được Bộ Ngoại giao Nhật Bản gia hạn tư cách Đại sứ – Đại sứ giao lưu thơ haiku EU – Nhật Bản (“Haiku Ambassador for Japan-EU Friendship”) thêm hai năm. Tại buổi giao lưu đã gặp gỡ với các nhà thơ, chuyên gia thơ haiku và trao đổi rất nhiều điều hữu ích về những vấn đề của sự lan truyền của thơ haiku tại Nhật Bản và trên thế giới.

alt

(Đại sứ H.E. Mr Van Rompuy – đứng giữa. Bên trái Đại sứ là người phụ trách thi thơ haiku trẻ em – 3 năm trước Quỳnh Như đã gặp tại văn phòng JAL Foundation trao đổi về thi thơ)

alt

Ngoài cùng bên trái: Chủ tịch Hiệp hội Giao lưu thơ quốc tế (HIA) – nơi đã mời Quỳnh Như sang Nhật Bản diễn thuyết về thơ haiku Việt vào tháng 12/2016 tại Tokyo.

Đặc biệt, tại buổi giao lưu, Hiệp hội Giao lưu thơ quốc tế (HIA) đã trao đổi riêng với Quỳnh Như về những vấn đề giáo dục thơ haiku trong thời đại ngày nay.

Những buổi gặp gỡ đã đem lại nhiều điểu hữu ích để hiểu thêm về vấn đề phát triển thơ haiku ngày nay. Dự kiến, sẽ có bài viết tổng hợp về những vấn đề này trong thời gian sắp tới.


TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như (ĐHKHXH&NV, ĐHQG TP.HCM)
15/2/2018, Thực hiện tại Viện Nghiên cứu Văn hóa Quốc tế Nichibunken, Kyoto

Tatjana Debeljacki (1967-) Serbia- Tủ sách dịch Haiku Thế giới

Bà Tatjana Debeljacki sinh ngày 23/4/1967.Làm thơ,viết truyện ngắn,truyện dài,tuyển Haiku.Thành viên Hiệp Hội nhà Văn Serbia từ 2004.Hội Haiku Serbia.Phó Biên tập Tạp chí Diogen.Chủ bút Tạp chí thơ Poeta.Đã xuất bản 4 tập thơ.Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế Giới WHA .Bà rất quan tâm đến sự phát triển của Haiku Việt.Cùng tham dự Đại Hội Haiku Thế Giới lần thứ 8 TOKYO và có mối quan hệ văn chương từ đó.\

alt

1-The mountaintops / in the embrace of sky / the moon is a companion

Những đỉnh núi-

Trong vòng ôm của bầu trời,

vầng trăng là bầu bạn.


2-picking blackberries / red -haired speckled girl /winter sun

Hái quả dâu tây

cô gái tóc đỏ

rực nắng mùa đông.


3-the stars will go silent / out of reincarnatin / love and wine

Những vì sao chuyển động im lìm

ngoài sự đầu thai-

Tình yêu và rượu vang.


4-the sun in afternoon / on the top branches / a gloss of the cherry tree

Nắng chiều tỏa sáng

trên những cành cao -

Vẻ huy hoàng của cây anh đào.


5-morning knits the rays of the sun / picking me lilac / for my birthday

Ban mai dệt tia nắng

hái hoa tử đinh hương

tặng tôi ngày sinh nhật.


6-dandelion fields / at the edge of the hot sand / the moon is the beacon

Đồng hoa bồ công anh

bên bờ cát nóng

vầng trăng là đèn hiệu.


7-summer blinking / a view from the mountaintop / the face of the moon

Mùa hạ lung linh

nhìn từ đỉnh núi

dung nhan chị Hằng.


8-dancing shadows / in the sky broken / wheatears swinging

Những bóng hình ngả nghiêng

trong bầu trời vỡ vụn

sương trên lá lúa mì rung rinh.


9-white lily / on the sky altar / flying eagle

Hoa huệ trắng

trên bàn thờ Trời -

Cánh đại bàng bay.


10-snow from my chilhood / my hands are warmed / taking a shovel

Tuyết từ tuổi ấu thơ

đôi bàn tay ấm áp

cầm chiếc xẻng ngày xưa.


11-the ruins of / shattered dreams / at the crossroads

Những mảnh vụn

của bao giấc mơ

giữa các ngã ba đường.


12- the Danube / occupied by sweating / blue horses

Sông Đa núyp

bị đàn ngựa vã mồ hôi

chiếm lĩnh.


13-small drops of rain / closing their umbrellas / the extraterresterials

Những giọt mưa nho nhỏ

người ngoài hành tinh

đang cụp ô.


14-little blaze of the yellow lantern / the dress flits / in the wind

Dưới ánh đèn vàng mờ ảo

tà áo theo gió

phất phỏ bay

***

Lập xuân 2018

Đinh Nhật Hạnh

dịch thơ và giới thiệu

Basho (1644- 1694) 50 khúc Haiku Mùa Xuân- Tủ sách dịch Haiku thế giới

Đinh Nhật Hạnh

alt

Cụ Basho tên họ thật là Matsuo Kinsaku.Mãi đến năm 38 tuổi, nhân học trò trồng tặng thầy cây chuối cảnh cạnh am cỏ nơi cụ ở, nên dân làng quen gọi cụ là “Ông già Chuối”,tiếng Nhật là Basho. Cụ rất thích, nên từ đó lấy bút danh Basho thay tên khai sinh cũ Matsuo.Trước đó, đã có 2 bút danh ToseiSobo

Basho là một trong những nhân vật tiêu biểu của nền thi ca cổ điển Nhật Bản.Bởi thi lực của toàn bộ tác phẩm của mình,Cụ đã ấn định trong thể loại này nghệ thuật thơ Haiku.Chính Cụ đã định nghĩa cách thức,tinh thần nhẹ nhàng,tìm tòi cáí đơn giản và sự cách biệt đi đôi với sự quan tâm cao độ đến thiên nhiên.Haiku vốn sinh ra từ bờ Vô lượng,từ Trực cảm bắt chợt làm chói sáng,biểu lộ sự thuần khiết của bài thơ.Cuộc đời của chàng trai xuất thân từ một gia đình Võ sĩ đạo bậc thấp ,13 năm là môn thuộc của một gia đình Võ Sĩ Đạo thần thế, 10 tuổiđã theo học làm thơ haikai,rồi suốt đời cống hiến cho thơ.Cũng từ đó,cả cuộc đời chỉ là một chuỗi dài nghèo khó,nặng tình bằng hữu thi ca cùng những chuyến lữ hành dài thiếu thốn, vất vả.Osaka là nơi đến cuối đời. Sau khi tự thành lập một trường phái riêng có tiếng tăm ở Edo (tức Tokyo ngày nay) cụ từ bỏ lối sống thế thường,khoác áo thiền sư và ở trong căn lều cỏ ẩn sĩ từ năm 1681.

Năm 1694,lâm bệnh nặng trên đường về ,sau khi ứng khẩu bài Haiku từ thế cuối cùng cho môn sinh chép,cụ nhịn ăn,đốt trầm hương,đọc di chúc,dặn học trò làm thơ về mình và để cụ ở lại một mình.Cụ mất trên đường,không kịp quay về căn lều cỏ dựng lại lần thứ ba ,đã từng bị cháy,bị trưng dụng xây nhà Búp bê năm 1680 khi Cụ đang trên đường viễn du lên phương Bắc.

Cụ mất ngày 28 tháng 11 năm 1694,hưởng thọ 50 tuổi.Trên mộ,vẫn có bụi chuối xum xuê như tại Basho- an,lúc sinh thời…

MÙA XUÂN

1.

Không gian thơm ngát

một chim hồng tước

trên cành hoa umê


2.

Trên đồng cải dầu

vờ vĩnh ngắm hoa-

một đàn chim sẻ


3.

Cả một ngày dài

cũng không sao đủ-

tiếng hót sơn ca


4.

Trên đồng mênh mông

rảnh rang mọi việc

sơn ca véo von


5.

Cốc rượu sakê

không hề vẩn bụi

mẩu lông én rơi


6.

Mùa xuân qua đi-

Chim, cá khóc than,

lệ tràn khóe mắt


7.

Một con chim chích

làm rơi chiếc mũ

của đóa hoa trà


8.

Đêm tối mịt mùng

tìm không thấy tổ -

Choi choi khóc than


9.

Một con chim chích thả mấy hòn phân

vào chồng bánh gạo

trên đỉnh kèo cao


10.

Bộ lông chim hạc

y phục sẫm màu-

Mây hoa Anh đào


11.

Dưới tán anh đào

món canh , gỏi cá

rắc đầy cánh hoa


12.

Nhớ nhung mòn mỏi Mẹ,Cha

tiếng kêu chim trĩ*

khiến ta chạnh buồn


13.

Với hoa, ta hạnh phúc

nhưng buồn nỗi thế gian.

-Vẫn cơm gạo lứt với bình sakê


14.

Ngày đầu năm-

Mình lại nghĩ về

những đêm thu cô quạnh


15.

Xuân đến kia kìa!

trên dãy núi vô danh

sương mù dăng sớm


16.

Hoa cây gì vậy!

không thể biết tên

thơm lạ ,thơm lùng.


17.

Bóng dáng Mẹ,Cha

ta luôn luôn nhớ

-Chim trĩ vừa kêu*


18.

Nào bướm,dậy thôi!

-Dậy,dậy

đồng hành với tôi


19.

Mỗi lần gió ru

bướm bay chuyển chỗ

trên cành liễu buông


20.

Xuân đến cận kề-

Báo xuân đang đến

hoa mận và trăng


21.

Hương hoa mận ngát,

nâng mặt trời lên

dốc núi đường mòn


22.

Hồi chuông vừa tắt

đồng vọng hương hoa

Ôi,đêm diệu kỳ!


23.

Biết bao là chuyện

Ký ức tràn về

khi anh đào nở


24.

Một đêm xuân qua,

lại thêm ngày xuân nữa

trên rặng hoa anh đào


25.

Từng cánh hồng vàng

rụng

tiếng thác ì ầm


26.

Dưới làn mưa xuân

chân hạc kia

ngắn lại


27.

Mặt trời gay gắt

sóng biển nhấn chìm-

sông Môgami


28.

Dòng thác trong vắt

bao kim thông xanh

rụng rơi trên sóng


29.

Ôi ! chim từ quy

hót ,hót rồi bay

luôn luôn bận rộn


30.

Nào rận,nào rệp

lại thêm ngựa đái

ngay trên đầu giường


31.

Mưa xuân

nấn ná mãi trên giường-

Sờ tay, nàng thức ta dậy.


32.

Hoa mai đẹp đến thế này!

Ngay cả chú bò

cũng kêu tiếng bé


33.

Mấy người Hà Lan

đã ngắm hoa anh đào

lại ngồi trên ngựa


34.

Trong hai cuộc đời thi sĩ

dành một chỗ

cho anh đào


35.

Giữa mây hoa anh đào

tiếng chuông vang vọng

từ Uênô hay Asakusa?


36.

Trọ cùng hoa anh đào

hai mươi ngày gì đó,

lúc nở đến khi tàn


37.

Đêm xuân

tràn ngập anh đào

Thế là đã qua!


38.

Hai thôn miền núi

hoãn buổi diễn trò-

Hoa mai nở trắng


39.

Hoa Umô nở thơm lừng

đuổi xua

rét mướt lạnh lùng đêm xuân


40.

Chỉ mình bướm bay-

Nắng

tràn xuống đất


41.

Dây khoai lang giống

họ đem chợ bán

xếp chung hoa anh đào


42.

Sương xuân

phong cảnh tuyệt vời

Hoa mai dưới trăng


43.

Túp lều của ta -

Ai đã giỡ bỏ

xây Nhà búp bê


44.

Vui thú quá chừng

lại mùa xuân nữa !

Thêm chuyến đi xa


45.

Chim chích

như một linh hồn

hỏi thăm lệ liễu có còn ngủ say?


46.

Mưa xuân

xòe 2 lá kép

hạt cà giống nẩy mầm


47.

Ao xưa

ếch nhảy vào

tiếng nước

1686


48.

Ồ!nói chuyện về hoa

cười đến vỡ bụng

trong gió mùa xuân


49.

Trang phục mùa hè

nhung nhúc đầy rận

ai người bắt cho!


50.

Theo gió muôn chiều

cánh anh đào rụng

-Sóng hồ Niô.

Ngõ bằng lăng

Hà Nội xuân 2018

Đinh Nhật Hạnh

- *Trong văn học Nhật Bản ,chim Trĩ là biểu tượng lòng Mẹ thương con,quên mình vì con.Hễ nghe tiếng chim Trĩ kêu là chạnh lòng nhớ công ơn Mẹ,Cha khắc khoải.

-Năm 2018, Haiku Việt-Hà Nội nghiên cứu chuyên đề tác phẩm của 2 Đại sư Matsuo Basho và Buson .Chúng tôi sẽ lần lượt đăng trên Website HKV Haiku của hai vị theo 4 mùa Xuân,Hạ,Thu,Đông để bạn đọc dễ theo dõi.

Tham khảo: -The heart of Basho (Takafumi Saito &WR Nelson 2006)

-Basho-Cent onze Haiku (traduits du Japonais par Joan Titus - Carmel) Verdier 1998

Về một số vấn đề trong dịch thuật thơ Haiku- Hotta Kika

Đây là lần đầu tiên tôi được thăm Việt Nam. Cá nhân tôi khi đến bất cứ nước nào cũng rất thích tìm hiểu về ngôn ngữ nước đó. Ngôn ngữ phản ánh lịch sử, văn hóa, tư tưởng của một đất nước và vùng ngôn ngữ mà nó tồn tại. Ngữ pháp và cách viết của ngôn ngữ ở đó gắn bó trực tiếp trong khuôn khổ và khả năng biểu hiện của nó. Đương nhiên thơ ca là nghệ thuật của ngôn ngữ, đặc biệt Haiku lại là thể thơ rất ngắn nên đặc tính của ngôn ngữ sử dụng càng được thể hiện rõ. Nói cách khác, trong thơ Haiku, những khái niệm như lịch sử, văn hóa, tư tưởng được phản ánh rất rõ trong ngôn ngữ mà nó thể hiện. Haiku bị chi phối rất mạnh trong khuôn khổ và khả năng biểu hiện của ngôn ngữ đó.

alt

Tôi nghĩ rằng thơ là bài ca của cảm nhận. Haiku cũng là thơ cho nên nó cũng là một hình thức văn nghệ về “cảm nhận” của tác giả. Tuy vậy Haiku rất ngắn cho nên nó không thể hiện nhiều “cảm nhận”, nó chỉ truyền đạt khoảnh khắc đó cho người đọc có tính tiêu điểm, nó chỉ thể hiện một, hai cảm nhận mà thôi. “Cảm nhận”, nói một cách đơn giản là nhận thức sự việc xảy ra trong khoảnh khắc. Câu Haiku hay thì cũng làm cho người đọc nhận ra sự việc trong khoảnh khắc đó.

Sự việc xảy ra trong khoảnh khắc là gì? Theo tôi những cái mà con người nhìn thấy, nghe thấy, những điều ai cũng nói, ai cũng viết thì không phải sự việc xảy ra trong khoảnh khắc. Những sự việc trong khoảnh khắc phải là điều gì đó tươi mới.

Theo tôi những sự việc được cảm thấy tươi mới trong Haiku chủ yếu có 4 loại.

Thứ nhất là đề tài (daizai) phải tươi mới. Trong Haiku người ta gọi là “kuzai”. Những cái có thể trở thành kuzai tươi mới là những thứ mà Haiku ca lên hoặc đưa ra những khái niệm mà người khác chưa nói tới. Nhìn lại lịch sử Haiku thì thấy các haijin thường ca lên những điều tươi mới. Ở Nhật. những từ ngoại lai như bia, noel (christmas), robot, computer… khi vừa xuất hiện đã được các haijin cho vào Haiku bằng tiếng Nhật ngay. Nếu là người đưa đầu tiên các khái niệm đó vào làm đề tài của Haiku thì đương nhiên câu đó là rất tươi mới.

Thứ hai, là cách cảm nhận tươi mới của tác giả. Tác giả nhìn phong cảnh đẹp ở một góc độ nào đó, tác giả cảm nhận về chiến tranh như thế nào, tác giả nghĩ về bệnh tật và sinh mệnh của mình như thế nào, tác giả quan sát những sự vật, sự việc thường ngày và phát hiện ra những gì hay trong đó, tác giả nghĩ như thế nào về lịch sử và thế giới sau khi mất… tất cả những thứ đó hàng ngàn năm trước các thi nhân thế giới đã nói tới rồi do đó khó có thể trở thành đề tài tươi mới. Nhưng nếu tác giả có cái cảm giác độc đáo, chưa có tiền lệ thì đó là cách cảm nhận lần đầu tiên và câu Haiku đó là câu Haiku tươi mới.

Thứ ba, là sự can thiệp của ngôn từ, đưa ra những từ ngữ, cách nói tươi mới, tiếng Nhật gọi là “kotoba no assen”. Tức là cách nói, dù rằng không phải đề tài mới, không phải cảm nhận mới, tức là dù là đề tài bình thường, cách cảm bình thường nhưng tác giả đưa ra kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ, lựa chọn cách dùng mới xưa nay chưa ai dùng và biết cách bố trí thì câu Haiku đó trở nên tươi mới.

Thứ tư, là sự can thiệp của âm thanh, đưa vào âm thanh mới. Cái này hơi giống loại thứ ba nhưng về âm thanh. Mặc dù đề tài, cảm nhận hay ngôn ngữ – tất cả đều bình thường nhưng nếu âm thanh, nhịp điệu và âm hưởng nghe mới lạ thì cũng trở thành câu Haiku tươi mới. Câu Haiku đó sẽ giàu nhạc tính, có sức cuốn hút.

Đối với tôi, câu Haiku hay là câu có ít nhất một hay hai thuộc tính nói trên. Câu Haiku không tươi mới thì dù được sáng tác với kỹ thuật điêu luyện đến đâu cũng là tác phẩm thất bại. Bởi vì nếu không mang tính tươi mới nào thì không lay động tâm hồn người đọc và nếu không có câu thơ đó cũng không gây tổn hại gì cho văn học cả.

Đối với những người sáng tác Haiku chúng ta, đặc biệt là đối với những haijin có tầm nhìn quốc tế thì điều đáng mừng là dù ngôn ngữ nào cũng có thể tạo ra những câu Haiku hay. Dù không sáng tác bằng tiếng Nhật, có thể sáng tác bằng tiếng Việt Nam, tiếng Pháp, tiếng Anh… đều có thể có những câu Haiku hay. Trên thế giới có những người khuyết tật về nghe nhìn, có những người phải dùng ngôn ngữ không có âm thanh nhưng họ vẫn có thể sáng tác được những câu Haiku hay. Bởi vì họ có khả năng sáng tác Haiku mang đề tài tươi mới, có cách cảm nhận tươi mới và cách nói tươi mới.

Xin lỗi, tôi đã mở đầu quá dài. Thực ra điều hôm nay tôi muốn thảo luận là những vấn đề trong dịch thuật Haiku. Những câu Haiku không đạt thì không có giá trị dịch thuật do đó tôi chỉ giới hạn trong việc dịch những câu Haiku hay. Hiệp hội Haiku thế giới hàng năm xuất bản những tuyển tập thơ Haiku nhiều ngôn ngữ gọi là tạp chí “Haiku thế giới”. Những câu Haiku tiếng Việt cũng bắt đầu được đăng trong tuyển tập thơ Haiku Thế giới số 9 (năm 2013) và tôi là người làm công tác biên dịch và hiệu đính các tác phẩm Haiku được đăng trong tạp chí “Haiku thế giới” này. Tất nhiên công việc này không chỉ có mình tôi mà còn các dịch giả khác cùng tiến hành. Tôi chỉ phụ trách một bộ phận trong đó, tuy vậy tôi cũng tham gia dịch nhiều ngôn ngữ. Trong dịch thuật tôi thấy cái vất vả nhất là phải giữ lại trong câu sự tươi mới nào đó của tác phẩm gốc. Đây là việc làm rất khó. Điều tôi muốn nói trước tiên là trong Haiku, đặc tính ngôn ngữ được thể hiện rất rõ vì vậy trong trường hợp dịch ra những ngôn ngữ có hệ ngôn ngữ lâu đời và bề dày lịch sử nhiều khi không giữ lại được sự tươi mới nào đó của câu gốc. Những câu Haiku hay mà không dịch được cái hay của câu đó ra thì mất hết ý nghĩa. Tóm lại, thử thách lớn nhất của việc dịch thuật Haiku là phải giữ được bốn loại tươi mới mà tôi nêu trên.

Bây giờ ta suy nghĩ một chút về việc dịch thuật bốn loại tươi mới nêu trên. Đầu tiên là đề tài. Nếu đề tài của câu Haiku mà không có cùng thể hiện trong hai ngôn ngữ thì sẽ rất khó dịch. Ví dụ ở Nhật Bản ngày 5 tháng 5 là ngày người ta hay trang trí “búp bê võ sỹ” nhưng trong tiếng Anh không có. Nếu cố ép dịch ra thì là “warrior doll” nhưng nếu không giải thích hoặc không có kiến thức thì độc giả tiếng Anh sẽ không hiểu. Hoặc trong Haiku Nhật Bản hay ca ngợi “hoa cẩm tú cầu” (ajisai), đây là loại hoa rất hiếm trong ngôn ngữ tiếng Anh vì vậy không có tên tiếng Anh có thể dùng tên la-tinh là “hydrangea” nhưng hầu hết người nói tiếng Anh không biết loài hoa này. Ngược lại, nếu trong hai ngôn ngữ đều có thì dễ dịch hơn. Những từ như “gương soi”, “điện thoại di động”… thì không có vấn đề gì trong dịch thuật. Tuy vậy dù có từ tương ứng nhưng vẫn nảy sinh vấn đề. Đó là trong ngôn ngữ của bản gốc phản ánh đậm nét lịch sử, văn hóa, tư tưởng của ngôn ngữ đó. Ví dụ từ “trăng” trong tiếng Nhật là “tsuki” đều có thể dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng trong Haiku, nếu dịch thẳng như vậy thì chưa chắc đã hay. Trong nguyên gốc tiếng Nhật nếu chỉ là “trăng” trong khái niệm vật lý của vũ trụ thì đơn giản nhưng khi từ “trăng” đó chỉ mùa thu, hay mang khái niệm chỉ tâm hồn yên tĩnh chẳng hạn thì sẽ khó dịch sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Bởi vì trong tiếng Anh, tiếng Pháp thì trăng và mùa thu không có quan hệ gì với nhau, trăng không để chỉ tâm hồn yên tĩnh mà lại chỉ sự bất an, điên loạn. Hay “điều 9” trong hiến pháp Nhật Bản thì chỉ có ai biết nội dung của điều này mới hiểu ý nghĩa của nó. Điều này ảnh hưởng đến vấn đề tươi mới của câu thơ.

Trong Haiku Nhật Bản nếu nói về các vị thần thánh của đạo Hồi thì đối với người Nhật là mới mẻ nhưng nếu dịch ra tiếng Ba Tư hay tiếng Ả Rập thì người đọc vùng Iran hay Ả Rập thấy không có gì mới. Nói tóm lại sự sai khác về lịch sử và văn hóa mỗi vùng ngôn ngữ có ảnh hưởng đến cảm giác tươi mới của độc giả. Yêu cầu duy nhất của chúng tôi là những đề tài mới trong thế kỷ XXI có nhiều vấn đề liên quan đến toàn cầu hóa như vấn đề thời gian và kỹ thuật mũi nhọn I.T. Nhưng những ngôn ngữ diễn tả lại các khái niệm này lại không phải những câu chữ phản ánh văn hóa, lịch sử và tư tưởng đặc thù của ngôn ngữ nào đó. Ví dụ “nhân bản vô tính” (clone) hay “tế bào gốc”, “tế bào iPS”… là những đề tài hiếm hoi nên dịch ra tiếng nước nào cũng cho cảm giác tươi mới cả.

Thứ hai là nội dung. Cái này thì dễ dịch, nếu không vướng những vấn đề liên quan đến đề tài như đã đề cập đến ở trên. Ví dụ câu của ông Ban’ya Natsuishi:

「未来より滝を吹き割る風来たる」

(mirai yori / taku wo hukiwaru / kazekitaru)

“Gió tương lai / thổi tới / chia dòng thác”

Hay câu của Kamakura Sayumi:

「水仙をとりまく青は歌ういろ」

(suisen wo / torimaku ao wa /utau iro)

“Màu xanh / vây quanh thủy tiên / màu ca hát”

Khi hai câu trên được công bố ở Nhật thì đã được coi là rất tươi mới về nội dung và dịch ra bất cứ tiếng nước nào cũng đều thấy tươi mới cả. Cả tác giả, cả người đọc, khi được dịch ra ai cũng đều có thể cảm nhận được điều đó.

Tuy vậy khi dịch thơ Haiku có hai vấn đề cần lưu ý. Thứ nhất là có những khái niệm mà dù dịch cẩn thận đến đâu người đọc cũng không hiểu, vấn đề phát sinh khi văn hóa và môi trường sống rất khác nhau. Cũng như nói với người mù về màu sắc. Ví dụ, đối với người Ainu sống ở cực Bắc nước Nhật thì hành vi sờ tay không vào nước biển là một khái niệm nguy hiểm, do vậy khi họ nói 「海に手を入れてしまう」(“cho tay vào nước biển mất rồi”) thì người sống ở dưới xích đạo lại không có cảm xúc gì đặc biệt. Điều này không phải là vấn đề ngôn ngữ cho nên người dịch dễ dàng quên, không để ý. Một vấn đề nữa là về văn phạm khi dịch những ngôn ngữ mà có cấu trúc câu, thứ tự sắp xếp từ trong câu khác nhau. Nếu người dịch chỉ lưu ý chuyển ngữ cho đúng nghĩa thì lại không ra câu thơ hay và ngược lại. Tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Việt có cấu trúc câu rất khác nhau. Ví dụ câu của Nozawa Bonchou:

「ながながと川一筋や雪の原」

(naganagato / kawa issetsu ya / yuki no hara)

“Dài dằng dặc / một khúc sông / cánh đồng tuyết”

Trong câu này tuần tự ngôn ngữ là rất quan trọng, tôi cho rằng nếu thay đổi thứ tự câu đi sẽ làm mất ngay cái thi vị của câu thơ. Dịch ra tiếng Anh mà muốn giữ tuần tự từ ngữ đó thì rất khó dịch, nó trở thành câu thơ rất dở. Thực ra câu này đã có mấy bản dịch tiếng Anh được xuất bản nhưng thứ tự ngôn từ bị thay đổi, tiếng Anh dễ đọc nhưng mất đi thi vị của câu thơ.

Thứ ba là “cách nói mới” và thứ tư là “âm thanh mới” –những ngôn ngữ không gần giống nhau thì dịch khó đến mức tuyệt vọng. Ví dụ hai câu sau của Tsubouchi Toshinori:

「三月の甘納豆のうふふふふ」

(sanga tsu no / amanattou no / u hu hu hu hu)

“Tháng Ba / mứt đậu / ha ha ha”

「たんぽぽのぽぽのあたりが火事ですよ」

(tanpopo no / popo no atariga / kaji desu yo)

“Bồ công anh / xung quanh bồ / lửa cháy”

Hoặc câu của Ozwa Minoru sau đây thì tôi không thể dịch được:

「ふはふはのふくろふの子のふかれをり」

(huawa huwa no / hukurou no ko no / hukare ori)

“Xốp xốp mềm / cú con / xù lông”

Câu “tháng Ba” (sangatsu) có từ tượng thanh là “ha ha ha” (u hu hu hu hu) không có trong tiếng Anh, dù dùng tạm từ tượng thanh biểu hiện tiếng cười thì cũng không biểu hiện được âm thanh của câu gốc. Từ “tampopo” (bồ công anh) nếu dịch ra tiếng Anh là “dandelion”còn “popo” thì có thể dịch là “lion” nhưng không dịch được biểu hiện âm “p” hiếm hoi của Nhật. Câu “xốp xốp mềm” (huwa huwa) là câu nhắc đi nhắc lại chữ “hu” tạo âm “hu hu” liên tiếp có sức hút còn nội dung và đề tài của câu thì bình thường. Do đó tôi coi như câu này không thể tái hiện được âm “hu hu” liên tiếp này và tôi cũng coi như là câu không thể dịch được.

Cuối cùng chúng ta sẽ xem xét câu Haiku Việt của tác giả Lý Viễn Giao đăng trong tạp chí Haiku thế giới số 9 năm 2013 đã được dịch ra tiếng Anh và tiếng Nhật như thế nào.

Trăng lạnh / nghĩa trang / đồng đội xếp hàng

Cold moon / in the cemetery / a lineup of war comrades

冷たい月/霊園に/戦友の整列

(tsumetai tsuki / reien ni / senyuu no seiretsu)

Cũng như ông Ban’ya Natsuishi đã bình luận, việc dịch khá thành công. Điều hấp dẫn của câu Haiku này là ở cảm nhận – các chiến hữu (đồng đội) khi còn sống cũng như khi đã chết vẫn đang xếp hàng (trong trường hợp này là nội dung tươi mới), bên cạnh đó, tình cảm tác giả được thể hiện rất hay ở cụm từ “trăng lạnh”. Trước hết, có thể nói phần dịch tốt về nội dung. Về trường của câu Haiku này, tác giả nắm vững cấu trúc 3 dòng, riêng dòng thứ 3 (tương đương với 5 từ cuối trong tiếng Nhật) “đồng đội xếp hàng” (senyuu no seiretsu) của tác giả, người dịch đều dứt khoát muốn để cuối câu vì vậy dịch sang tiếng Anh hay tiếng Nhật đều đã thành công. Tiếng Anh hơi miễn cưỡng một chút nhưng 3 ngôn ngữ mà dịch được thành 3 dòng giữ nguyên cấu trúc của tác giả như vậy là rất hiếm. Về đề tài của câu thì cụm từ “trăng lạnh” có thể gây hiểu lầm cho một số độc giả Nhật Bản thành “hàn nguyệt” tức là câu thơ nói về mùa đông nhưng cho dù như vậy cũng không sao, cả 3 ngôn ngữ Việt, Anh và Nhật đều cho ấn tượng tương tự là ổn rồi. Ở đây nếu không dùng “trăng lạnh” mà chỉ dùng “trăng” không thôi thì cách giải thích của người Nhật và người Anh sẽ lại khác nhau. Câu này nội dung mang tính quyết định mà không gây nhiễu đến âm thanh và cách dùng từ là điều may mắn. Trong câu gốc có âm “-ang” tuy nhiên không tái hiện được trong tiếng Nhật và tiếng Anh nhưng sự tươi mới được chuyển ngữ một cách trung thực nên rất ổn. Mặt khác, vì số từ của câu ít nên khi dịch sang tiếng Nhật và tiếng Anh thì về âm luật cũng không bị gò ép mà tạo được nhịp điệu mang tính Haiku.

Trên đây tôi nói sơ qua về một số vấn đề trong dịch thuật thơ Haiku. Ngẫm ra thì thấy việc dịch thơ Haiku ngay từ đầu đã biết là khó nhọc, biết rằng nó vĩnh viễn là công việc không thể hoàn thành một cách toàn bích. Tôi vẫn mong chia sẻ với nhiều người hơn về những câu Haiku đầy cảm xúc, cũng mong chia sẻ với những ai không thể đọc bản gốc của những câu Haiku hay. Từ trước đến nay, tôi luôn phải đối mặt với những câu không thể dịch được và có lẽ từ nay về sau cũng vậy. Thế nhưng tôi nghĩ rằng thông qua phần dịch thuật của tôi, dù là một câu, hai câu mà có ai đó ở trên thế giới này chia sẻ với tôi sự rung cảm của câu Haiku là quý lắm. Các bạn Việt Nam thông qua sáng tác Haiku có thể giao lưu, tôi cũng muốn giới thiệu với các bạn những câu Haiku hay bằng tiếng Nhật, tiếng Anh và ngược lại giới thiệu với người Nhật Bản những câu Haiku hay của các bạn, đó là niềm vui sướng nhất của tôi. Và vì có niềm vui sướng đó tôi sẽ mãi nguyện dấn thân vì sự nghiệp dịch thuật Haiku không ngừng nghỉ giống như nhân vật vua Sisyphus trong thần thọai Hy Lạp bị kết án khổ sai phải lăn hòn đá to lên đỉnh núi dốc đứng, gần đến đỉnh thì đá lại lăn xuống chân núi và lại phải lăn lại từ đầu, một công việc khó nhọc mà không có hồi kết.

Lê Thị Bình dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Thơ Haiku thiếu nhi quốc tế

alt

1.
In the early morning/ a pumpkin in the field pretends/ to be the sun
Trên đồng sáng sớm/ quả bí ngô ra vẻ/ như là ông mặt trời
Doris Krklec (bạn nữ, 12 tuổi – Croatia) *

2. Alarm clock is ringing/ I knock it down from my bedside table/ but it’s still ringing
Đồng hồ báo thức kêu/ em đập rơi khỏi bàn đầu giường/ thế mà nó vẫn kêu
Denis Jereb (bạn trai, 15 tuổi – Slovenia) *


3. Winter morning/ I breathe out a puff/ like Godzilla
Sáng mùa đông/ tớ thở ra khói/ như Godzilla
Ikuto Tagashira (bạn trai, 9 tuổi – Nhật Bản) *

4. I wonder.../ In the morning sky/ Still the moon
Mình tự hỏi.../ trên bầu trời ban sáng/ sao vẫn còn trăng?
Hiyori Tokiwa (bạn gái, 7 tuổi – Nhật Bản) *

5. My elder brother is sleeping/ I’m quietly sitting on the bed/ Wearing a wolf mask
Anh trai đang nằm ngủ/ tôi ngồi trên giường lặng lẽ/ đeo chiếc mặt nạ sói

Galina Tarakanova (bạn gái, 13 tuổi – Nga) *

HKTG

Chùm haiku của Dejan Bogojevic- Serbia

Dejan Bogojevic là Haijin nổi tiếng của Serbia. Ông còn là nhà biên tập, tác giả nhiều tuyển tập công phu, tổ chức nhiều cuộc thi Haiku danh giá, rất quan tâm đến Haiku Việt. Xin trân trọng giới thiệu vài tác phẩm mới nhất gửi Website haikuviet.

alt

Gypsy music / an old man with a stick / rummaging through a container

Nhạc bô hê miêng- *

Một ông già cầm cây que

đang lục lọi trong thùng hàng


2-A funeral / flast lightened faces / of wet people

Đám tang -

Ánh đèn

chiếu sáng khuôn mặt của đám người ướt át


3-A tatoued butterfly / is shivering / on her buttocks

Một con bướm xăm

đang uốn éo

trên cặp mông nàng


4-The end of winter /a lazy fly / in the window

Cuối đông -

Một con ruồi

đậu biếng lười trên cửa sổ


5-Foggy morning / buds of poppy / in its shadow

Buổi sáng mù sương

những nụ hoa anh túc

trong bóng của chính mình


6-Moonlight- / fish sparkling / in the aquarium

Ánh trăng soi-

Đàn cá trong thủy cung

lung linh


7-Reeds grew / from / an old deserted boat

Lau sậy

um tùm

trên con thuyền vô chủ


8-Thunderstorm - hooting of an owl / late in the nigft

Bão-

Tiếng cú rúc

đêm khuya


9-A shad/ people and sparrows / under the shower

Trong nhà kho ,

người và đàn sẻ

lướt thướt trong mưa


10-Summer night/ a boy is running / after fireflies in the fields

Đêm hè ,

một cậu bé

đuổi bắt đom đóm trên đồng

***

* Bô hê miêng :một dân tộc du thực,phóng lãng rải rác ở Châu Âu

Hà Nội, ngày 18/1/2018

Hồ Vịnh Đức

Chùm Haiku của Tatjana Debeljacki

alt

vetar donese
miris garišta mog sela
sećanje vine


風匂う

村の火事なり

胸痛む記憶


bunar u sred
izgubljene oaze
cvrčak peva drevnu pesmu


消えたオアシス

深部の泉

蟋蟀吟ず 古の歌


sa mesečevim

senkama i venera

na putovanju


月とともに

影と女神

旅のなか