Một số thơ haiku của 10 môn đệ xuất sắc của cụ Matsuo Basho

alt

Thuở bình sinh, Cụ Tổ Haiku Nhật Bản- Matsuo Basho có rất nhiều môn đệ, môn sinh. Trong số nổi tiếng nhất thời ấy có 10 vị được tôn vinh là xuất sắc nhất. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 373 năm ngày sinh của Người, xin giới thiệu một số tác phẩm của họ sưu tầm qua các ấn phẩm Haiku đã dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh. Mời bạn đọc tham gia bổ sung vào danh mục còn nhiều thiếu sót này để cùng thưởng thức thi vị Haiku từ mấy trăm năm trước.

1- Sugiyama SAMPU (1647-1732)

Điềm gở rồi đây

răng mình lung lay

trước gió thu này

*

Mưa chi tàn tệ

trên hoa cẩm chướng

cơn giông mùa hè

*

Tôi đặt bàn tay

lên bông râm bụt

không hái, rồi đi

*

Bầy con đang đợi

hỡi chú sơn ca

mất hút trời xa


2-Mukai KYORAI (1651-1704)

Tiếng hót sơn ca

cùng gù chim gáy

giao thoa trên trời

*

Này chú hải sâm

sao chẳng có đầu

lại thiếu cả đuôi ?

*

Trận cuồng phong không muốn

mưa buốt mùa đông

chạm vào mặt đất

*

“Vâng,vâng –tôi đây!

họ vẫn đập cửa

băng tuyết phủ dầy

*

Trông kìa bận rộn

những chiếc buồm căng

trời mưa trên biển

*

Người đang rẫy cỏ

trên đồng mênh mông

như hình đứng yên

*

Lũ dưa nóng quá

buộc phải lăn ra

khỏi um tùm lá.


3- BONCHO (1651-1714)

Đêm trên thành phố

đầy mùi phố phường

trăng mùa hạ lên

*

Bụi rậm

chặt chất làm củi

bỗng đâm chồi non

*

Trên đền thờ Zen

lá thông rụng đầy

tháng chư thần đi vắng

*

Đồng hành với gió

vầng trăng cô đơn

lăn trên vòm trời.


4- Hattori RANSETSU (1654-1707)

Gương suối

phản chiếu hoa hồng vàng

nguồn nước rực lên theo.

*

Với từng bông hoa mận

nắng sớm

ấm dần lên

*

Nghi ngút bàn thờ

chảy dòng nước mắt

và những giọt sương

*

Đêm khuya thăm thẳm

sông Ngân

chuyển dòng

*

Thu nhận ánh hoa hồng vàng

mùa Xuân

rực vàng

*

Nào cúc trắng, nào cúc vàng

sao không

còn tên khác

*

Không cười

không khóc

đóa râm bụt này!


5-Naito JOSO (1661-1704)

Lá vàng

ngậm đầy nước

đọng trên đá lô nhô

*

Giữa bao la hoa

con chim gõ kiến

chỉ tìm cây khô

*

Mua đá ,băng giá

không ngừng, không đáy

nỗi cô đơn này

*

Lạnh hơn băng tuyết

vầng trăng mùa đông

soi mái đầu bạc

*

Không sao ngấm nước-

chú ếch

bập bềnh

*

Nửa đêm thức giấc

tiếng tôi ho

lẫn tiếng côn trùng

*

Mưa đá tơi bời

không cùng, không tận

nỗi lòng quạnh hiu

*

Trên biển khơi xa

Này đi đâu đấy

hỡi gió mù xanh?


6- Takarai KIKAKU (1661-1707)

Đêm tháng năm

thỉnh thoảng lại nghe

lũy tre đánh rắm

*

Kẻ hành khất

mặc cả đất trời

áo quần mùa hạ

*

-Bọ chét đốt à !

Có hẳn thế không

giấc mơ đao kiếm?

*

Đêm đông vô cớ

tôi đang nghe lỏm

chuyện bên láng giềng

*

Cứ nghĩ trên mũ

chính tuyết của mình

hình như nhẹ nhõm

*

Nghe tiếng trĩ kêu

mất ngủ kêu hoài

vầng trăng ớn lạnh

*

Dưới ánh trăng mờ

hoa diên vĩ

ngủ

*

Có con dế cái

chồng bị mèo xơi

tụng bài ai điếu

*

Mùa đông

bầy quạ

đậu ngay trên bù nhìn

*

Có tiếng chim gù

ngay trong rổ nhỏ

lẫn dăm quả cà

*

Gió lặng

nước mưa rỏ giọt rừng cây

tiếng chim gù

*

Cây liễu

ngắm hình ảnh ngược

của một chú cò

*

Enjo sao rồi ?

Nàng đã qua đời

giờ nàng như biển hạ

*

Con dơi bay bay

chuyền cành rặng liễu

trong ráng đỏ chiều

*

Chớp lóe

hôm qua đằng đông

hôm nay đằng tây

*

Cây mận nở hoa

Tỏa sáng vườn

chờ ông chủ

*

Chú khỉ giọng khàn

nhe răng

trăng lên thượng đỉnh

*

Ngày Hội Hoa

theo mẹ dắt

em bé lòa

*

Ném đá tôi đi !

tôi vừa mới hái

một nhánh anh đào

*

Mưa giông mùa hạ

thiếu phụ cô đơn

mơ màng song cửa


7- Morikawa KYORUKU (1665-1715)

Hè về

họ phơi trên sào

áo quần người quá cố

*

Bên ngọn nến

bông mẫu đơn

lặng lẽ

*

Giữa nồi

khoai luộc

trăng soi

*

Tôi tụng kinh Phật

hoa phấn

nở bùng

*

Bếp lửa đang tàn

đêm thẳm sâu

có người gõ cửa

*

Vật đầu tiên

gió thổi bạt

là con bù nhìn

*

Trên lan can

thấp thoáng

bóng hoa cúc

*

Tiếng gì

trên bồng bềnh mây trắng

Sơn ca.


8-Tachibana HOKUSHI(1665-1725)

Treo trăng lên cây thông

rồi ta hái xuống

ngắm nghía thỏa lòng

*

Hoa mẫu đơn úa tàn

chúng tôi ra đi

lòng không luyến tiếc

*

Đứng thẳng

trút linh hồn

một bù nhìn rơm

*

Ì oàm ì oạp -

như xô đẩy nhau

kêu vang lũ ếch

*

Chuông chùa rè rè -

nghe chừng cũng nóng

trăng hè đêm nay,


9- Sakai YUME (1662-1713)

Mênh mông,mênh mông

chỉ một tiếng trĩ

tràn vang cánh đồng.


10-Ochi ETSUJIN (1656-1713)

Năm cũ qua

giấu cha

mái đầu bạc.

*

Đắm mình trong giấc mơ hoa

ước gì kết liễu

đời ta bây giờ

*

Hoa anh túc

rụng

êm đềm.

...

Ngõ bằng lăng- Tiết Sương giáng 2017

Bài và ảnh: ĐINH NHẬT HẠNH

*****

Tài liệu tham khảo:

Haiku-Anthologie/Roger Mounier -1999-Paris

Haiku –Anthologie du Poème court japonais / Corinne Atlan&Zéno Bianu 2002

Haiku mind /Patricia Donegan-Boston & London 2008

Zen Poèmes / Manu Bazano 2003.

Biên niên sử cuộc đời và sự nghiệp Basho

Viện bảo tàng Basho ở Tokyo Nhật Bản

1/ Basho-An

Trong tâm tưởng của những người đam mê Haiku bất cứ ở đâu trên thế giới,hình như ai cũng mong ước có dịp viếng thăm quê hương Basho- người đã phát kiến và tạo lập thể thơ cực ngắn từ Thế kỷ 17 ở đất nước Mặt trời mọc-có một không hai,hiện đã lưu hành trên hàng trăm quốc gia. Quả thật, khung cảnh tuyệt đẹp,mơ màngcủa “Basho-An” với những bậc thềm đá xanh rêu phủ,có tượng Ếch đá trên bờ, phía dưới là con suối quanh co róc rách,có mặt ao xưa văn vắt in bóng mây trời, phất phơ vòi dương xỉ, văng vẳng tiếng nước vọt ngày xưa…vẫn là giấc mơ của bao đời Haijin trên thế giới, chỉ ước đến chiêm ngưỡng một lần! Nhân dịp Kỷ niệm 373 năm ngày sinh của Người ( 1644-2017) rất vinh dự được trình bày nội dung văn bản do Viện Bảo tàng Basho cung cấp ấn hành năm 2017 . Xin chúc các bạn thơ Haiku muôn nẻo một lần trong đời,có dịp ghé thăm miền mơ ước ấy.

alt

VÀI DÒNG LỊCH SỬ

“Koto Ward” -Thành phố của” Tĩnh lặng-cây xanh-nước biếc” hiện diện thường trực trong suốt cuộc đời Matsuo Basho-người đã cống hiến lớn lao cho nền Văn học Nhật Bản . Năm 1680, Basho rời Nihonbashi ở Edo (nay là Tokyo) ngụ trong túp lều tranh ở Fukugawa cách địa điểm trên không xa, ngay giữa trung tâm thành phố.Buổi ấy,Fukagawa còn là một vùng lầy lội , tĩnh mịch và cây chuối do đệ tử trồng làm cảnh bên túp lều thầy mọc xum xuê đến nỗi người ta gọi nơi này là “Basho-an” /”Am-cây -chuối” và Basho trở thành bút hiệu mà Cụ rất thích từ đó.Fukagawa vừa là nơi cư ngụ thường nhật cũng là chốn đi về sau những chuyến viễn hành dài ngày của Cụ, nơi thảo nên những tuyệt tác để đời .Chính nơi này đã hình thành thể thơ mà ngày nay có tên là Haiku.Tại đây ,Cụ ngồi viết hầu hết những tập du ký,trong số đó có cuốn”Con đường hẹp lên miền Bắc sâu thẳm”.Chúng ta đã biết sau khi Cụ mất ,“ Basho -An” được gìn giữ như là địa danh lịch sử cùng với dinh cơ của Gia tộc Võ Sĩ Đạo đã nuôi dưỡng Cụ buổi thiếu thời.Tiếc thay, nơi này đã biến mất cuối Thế kỷ 19.Sau trận Đại Sóng Thần năm1917 cuốn sạch vùng này,tượng ẾCH đá to đẹp nghe nói người mến mộ đã tạc tặng Cụ thời còn ở đây- mới được phát hiện , nay đặt ngay trước cửa vào Thư viện, rất may vẫn còn nguyên vẹn.Năm 1921 ,Chính quyền Thủ đô Tokyo đã phê duyệt vùng” Tokiwa 1-3” này là địa danh lịch sử của“Basho-An” Tuy nhiên chốn này quá nhỏ hẹp ,không đủ để tái tạo quang cảnh như xưa.Sau nhiều nỗ lực, khuôn viên đã được mở rộng hoàn thiện như hiện nay.Ngày 19 tháng 4 năm 1981-sau 287 năm kể từ ngày Cụ qua đời, tại đây đã khai trương Viện Bảo Tàng Basho –một trung tâm Nghiên cứu văn học quốc gia,nơi diễn ra những cuộc hội thảo quốc tế về thơ Haiku.

Chúng tôi –dịch giả Lê Thị Bình và tôi, người viết bài này -may mắn được đến thăm địa danh lịch sử này mùa thu năm 2015 đúng ngày 2/9, nhân dịp dự Đại hội Haiku Quốc tế WHA lần thứ 8-Tokyo.Chúng tôi đã được vinh dự tặng Viện Bảo tàng này Tuyển tập Haiku Việt song ngữ Việt-Anh”Hoa Bốn Mùa”của Haiku Việt và tập ” Trăng Bùa”4 ngữ (của ĐNH). Nhà thơ Minh Trí (Hải Phòng) cũng vinh dự được đến đây vào tháng 4 năm 2017.

“Koto Ward”- Tuyệt vời! Một lần hạnh ngộ ,không thể nào quên.Ngay ngõ vào, xạc xào khóm chuối cảnh xanh tốt đang độ trổ hoa. Nơi đây có suối bốn mùa róc rách,có” Ao xưa “trong vắt ,bóng dương xỉ rập rờn với mây trời soi bóng nước:

“Khóm chuối xạc xào

chào mừng

khách lạ”

Và đây,hằng mơ ước-nơi xuất phát khúc thơ thần:

“ Ao xưa

gương nước

mây lộng bóng Người”

Rồi xúc động nhất là sau khi trèo lên mấy chục bậc đá rêu phong lên Basho-An:

“Bậc đá quanh co

lối mòn

Am cỏ”

Rồi soi mình lộng bóng mặt ao xưa -nơi chú ếch huyền thoại từng nhảy vào làm tia nước tóe-ta sẽ rất ngạc nhiên được chiêm ngưỡng” Basho-An” có tượng Cụ-vị Đại sư Basho ngồi ngay dưới đất,trước mặt là chiếc bát khất thực trống không–nét mặt dịu hiền thoát tục:

“Cụ ngồi ngay dưới đất

bát khất thực

nắng vàng”

Tịnh khôngcó bệ thờ,không đèn,hoa,hương khói,chuông trống, phượng, rồng.

“Không

tượng đài

hương khói”

Vâng,chỉ thanh bạch một ngôi thảo am 9m2 đơn sơ,mái rạ.Và mấy tảng đá hoa cương rêu phủ trong vườn khắc mấy khúc Haiku nổi tiếng của Cụ bên rặng lệ- trúc la đà. Không tòa ngang,dẫy dọc đồ sộ,xa hoa. Chỉ khuôn mặt hiền từ,thánh thiện nhìn ta. Mình bỗng lâng lâng niềm vui khó tả của cậu học trò nhỏ đến thăm Thầy ,những thời xưa xa-xa lắm!

Và bỗng thấy vô cùng hạnh phúc ,lâng lâng tự hào như kẻ hành hương suốt đời mơ ước- chỉ một lần , thăm thánh địa Haiku…

2/Biên Niên Sử Cuộc Đời và Sự nghiệp Basho

alt

(Tư liệu: Bảo tàng Basho-Tokyo tặng tháng 4 năm 2017)

Năm1644: Matsuo Basho sinh năm 1644 tại Thị trấn Ueno,tỉnh Iga nay là một phần của Quận Mie.Bố là MatsuoYozaemon.

Năm1653: 10 tuổi làm hầu cận cho tiểu chủ TodoYoshitada ( trẻ hơn mình 2 tuổi),con trai lãnh chúa Todo Shinshichiro Yoshikiyo cai trị Tỉnh Iga, đang học làm thơ Haiku với Kitamura Kigin,bút danh là Sengin.Chịu ảnh hưởng chủ,ông cũng học làm thơ.

18-2-1656: 12t Bố mất.

25-4-1666: 23t-Cậu chủ đột ngột qua đời ở tuổi25,ông thôi làm việc ở đó. Thường lên Kyoto,tiếp tục học làm thơ với Kigin.

1672/29t:Tháng giêng đề tựa tập “Trò chơi của lũ sò” của Chùa Tenmangu ở Ueno - 30 tác giả.Về sau tập này đã xuất bản ở Edo sau khi ông chuyển đến đó.Thời gian này,văn phong có phần thay đổi,dí dỏm và khôi hài hơn theo phái Denrin.

1675/32t: Phái Denrin do Nishiyama Soin phụ trách.Đến Edo,Basho đổi bút danh là Tosei thay vì Sobo.

1676/33t Mùa xuân đó cùng Yamaguchi Sodo xuất bản tập Edo Ryoginshu.Tháng 6 về thăm quê mang cháu nội là Toin 16tuổi lên theo.Từ đó định cư ở Edo.

1677/34t : Mùa xuân trở thành nhà thơ Haiku.Từ 1677-1681,đôi lúc làm việc cho Nhà máy nước địa phương Koishikawa.

1677/34t:“Những vần thơ hay” của 12 môn đệ của TOSEI in tháng 4.Lãnh đạo một hội thơ ở Edo.

1680/37t : Mùa thu ông viết bài:Trên cành trụi lá / quạ đậu / hoàng hôn thu (On a withered branch/a crow was settled / autumn night fall) Nói chung được xem là Cột mốc trên bước đường thơ của ông.Mùa đông, dọn về ở Basho-ando các môn đệ dựng lên, nhà buôn cá Sanpu ở Fukagawa chủ trì.Viết bài”Against the brushwood gate / Dead tea leaves swirl/in the stormy wind”Đối diện với lối đi cây xơ xác / lá chè khôtrong cơn bão/quay cuồng “ Ông tham thiền với nhà sư Butcho trụ trì ở Fukagawa.

1681/38t : Mùa xuân một môn đệ trồng biếu Thầy một cây chuối cạnh thảo am.Cây tươi tốt đến nỗi người ta gọi nơi đây là Am-cây-chuối”Basho-an”.Thời kỳ này lấy bút danh “Basho”Mùa thu ông viết” A banana plant exposed to the autumn gale-I listen to the dripping of rain-into a basin at night” Khóm chuối oằn mình trong cơn bão / lắng nghe mưa gõ nhịp /trong chậu buồn đêm nay.

1682/39t: “Musashiburi” do Ohara Chibaru biên tập, in tháng 3.Bút danh “Basho” bắt đầu có từ đây.Sự cố cháy Basho-an đầu tiên ngày 28/12/1682do ngọn lửa đám cháy lan từ ngôichùa ở Komagome,khu Bunkyo thiêu rụi cả vùng lân cận.Ông về ở Tỉnh Kai ,quận Yamanashi.

1683/40t : Trở lại Edo tháng 5.Ông và môn đệ ra tập “Hạt dẻ khô” (Shriveled Chesnuts),tuyển tập HK do Kiraku chủ biên.20-6,Mẹ ông mất.Dựng lại Basho-an.Mùa đông năm ấy,ông lại dọn về Basho-an lần thứ II và viết “ The sound of hail / I’m the same as before /like that aging oak”Ào ào tiếng mưa đá/ ta vẫn như xưa / giống gốc sồi già

1684/41t:Tháng 10 viết nhật ký đầu tiên “The records of a weather,Exposed skeleton “ Những kỷ lục của thời tiết.một bộ xương người”A weather / exposed skeleton / haunts my mind”Thời tiết khắc nghiệt sao /một bộ xương người / ám ảnh hồn ta”

1686/43t : Mùa xuân viết “Ao xưa/ con ếch nhảy vào/tiếng nước”

1687/44t:Viết “The winter sun / frozen on the horse / my shadow”Mặt trời mùa đông / đóng băng trên lưng ngựa / chiếc bóng tôi

1688/45t: Cùng bạn Etsujin đi một chuyến lấy tư liệu viết” Chuyến thăm làng Sarashina” tháng 10.Viết “Blowing the gravel Off the rooks of Mount Asama an autumn gale”Gió bão mùa thu /thổi tung sỏi đá / từ ngọn núi Asama.”

1689/46t: Rời Basho –an II về ở chung ngôi nhà tranh của Sanpu “Saito-an”.Viết ”Ngay cả cỏ dại / cũng chịu bó tay / trước những chủ mới dựng nhà cho búp bê “ Ngày 27/3 cùng môn đệ Sora bắt đầu cuộc viễn du tận 2 quận Ou và Hokuriku miền Bắc NB lấy tư liệu viết” The narrow Road to the Deep North - Con đường hẹp lên miền Bắc sâu thẳm”.Đây là cuốn Hành trình ký sự (Travel diary) có điểm một số haiku nổi tiếng của ông và là cuốn đạt chất lượng văn học cao nhất.Trong hành trình dài 5 tháng, ông suy nghĩ về tính triết học trong tác phẩm cần cao hơn.Ông nhấn mạnh về SABI- nơi con người đạt được an nhiên trí tuệ bằng cách nhập cuộc cá nhân mình vào đời sống vô-vi-bản-thể của thiên nhiên.

1690/47t Tháng 4 chuyển về ở Genjiu-an gần hồ Biwa.Viết “An essay on the unreal Dwelling”.Xuất bản “Hisago” do Senseki biên tập.

1691/48t Ở Rakushisha-Ngôi nhà “của những quả hồng rụng ngoại ô Kyoto”.Viết Nhật ký Saga.2 đệ tủ Boncho và Kyorai biên tập “Chiếc áo tơi của khỉ”,tuyển tập đượm vị SABI thời kỳ này của ông.

1692/49tTháng 5-Lại chuyển về Basho-an thứ III .Viết “Cho tôi treo một tàu chuối trên cột /để ngắm trăng /ngay tại lều mình” .Hoàn thành“Basho o usitsu kotoba” và “Basho-an mikazuki nikki” bằng văn xuôi.

1693/50t : Xuất bản tập Fukugawa (haiku)Thời kỳ này ông phát triển quan điểm Khinh thanh“Lightness”Ông rất thương tiếc cháu Toin mà ông xem như con,mất tại Basho-an III tháng 9-1693.Tháng 6,ông thông báo sẽ không tiếp ai nữa.Ông mở cửa thêm một tháng nữa,vẫn suy tưởng về tính khinh thanh (lightness)trong thơ.

1694/51t : Tháng 4, Soryu hoàn thành in ấn kèm thư pháp cuốn “Con đường hẹp lên miền Bắc thăm thẳm”Chuyển về Kansai tháng 5.In “Bị than củi”một tuyển tập HK.

alt

Sau khi đi Kyoto và về thăm quê Ueno,tháng 9 năm1694 ông lại đi Osaka rồi bị ốm nặng trên đường.Ngày 8 tháng 10-1694 ông viết khúc từ thế “ON A JOURNEY,AILING-MY DREAMS ROAM ABOUT OVER A WITHERED MOOR.Trên đường viễn du /những giấc mơ ta lang thang / trên cánh đồng hoang.

Ông mất ngày 12 tháng 10 năm 1694 trên đường về.Thể theo sinh nguyện,ông yên nghỉ tại Chùa Gichuji,Tỉnh Omi

.***

Ngay năm sau,2 tập”Oi Nikki’” và”Basho gyojoki” đã xuất bản.Năm 1698,lại một tập nữa tiếp theo cuốn “Áo tơi của khỉ” do môn đệ SENPO biên tập./.

Ngõ Bằng lăng 15 tháng 10 năm 2017

Bài và ảnh: Đinh Nhật Hạnh

Thơ Haiku của Doc Drumheller- Niu Dilơn

alt

Doc DRUMHELLER (1977- ) NIU DILƠN

Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế Giới


1- Seeing / old friends / shadows

-Buổi gặp mặt / bạn thân xưa / chỉ còn những chiếc bóng


2- Two angels clipped their wings / inventing love

- Hai thiên thần / chập cánh / đang phát minh tình yêu


3- Through binoculars / I see the end / of the world

- Qua ống nhòm / tôi thấy thế giới này / đến ngày tận số


4- Dolphins / somersault / into the abyss

- Bầy cá heo / nhào lộn / nhảy vào vực sâu


5- " Atomic energy "/ spray painted / on the Dragon Restaurant

- "Năng lượng nguyên tử "/ ai đó sơn phun / lên Khách sạn Con Rồng


6- The land of Long white cloud / is sucked by a land / of Milk and Honey

- Miền đất Mây Trắng Dài / bị vùng đất của Sữa và Mật ong nuốt chửng


7- A starling gorge / one cabbage tree flowers / at the gaze station

- Một hẻm núi hiện ra bất ngờ / một cây cải xúp lơ / bên trạm bán gas


8- Die like a shark / or be forced to live / inside a goldfish bowl

- Hãy chết như một con cá kình giữa biển khơi / hoặc buộc phải sống / trong chiếc chậu cá vàng chật hẹp


9- My father is stranded / inside a sky submarine / Milky Way shipwreck

- Cha tôi bị kẹt / trong một chiếc tàu ngầm / đắm trên giải Ngân Hà


10- Blocking the entrance / to the spirit world / constellation crowds

- Những giải thiên hà / đang bịt kín lối vào / thế giới tâm linh


11- The statues of saints / with their faces removed / pray for the future

- Những tượng thánh / khuôn mặt đã trùng tu /đang cầu nguyện cho tương lai


12- Behind the window / of the Genocide Museum / I see my re flection in it

- Đứng sau cửa sổ / của Viện Bảo tàng Diệt chủng / tôi thấy bóng mình phản chiếu trong gương


13- In the land of fairy tales / independence / is a happy ending

- Trong các truyện về Xứ sở thần tiên / độc lập / là hồi kết vui vẻ


14- a little girl stops / beside a Roman temple / to taste the marble

-một cô gái nhỏ / dừng cạnh ngôi đền La mã / ngắm vẻ đẹp đá cẩm thạch


15- standing at the top / of Pisa's leaning tower / field of miracles

-đứng trên đỉnh / tháp nghiêng Pisa / miền đất những diệu kỳ


16- ínsides of Sixtine's Chapel / the finger of God / touches Adam's soul

-trong *Nhà thờ Sixtine / ngón tay Chúa / chạm linh hồn Adam


17-forty nine days / meditating on suffering / desire on the wind

-49 ngày / suy tưởng về chịu đựng khổ đau / ước muốn trên làn gió thoảng


18- The river Ganges / flows from heaven through / locks on Shiva's hair

-Sông Hằng / xuôi từ thiên giới / dừng lại trên mái tóc thần Shiva


19- Kahikatea tree / blown down in a storm / sawmill sky

-Cây kahikatea / đổ sau trận bão/ bởi lưỡi cưa của trời


20- Blue eyed penguins / pose for a photograph / bush paparazzi

-Đàn chim cánh cụt mắt xanh / đang làm mẫu cho phó nháy / một tay săn ảnh lậu


21- on the other side / of the prisoner's fence / rabbits running wild

- phía bên kia / hàng rào trại giam / bầy thỏ nhảy tự do như thỏ rừng


22- in Istanbul / even the street hawkers / are friendly

**Ở Istanbul / ngay nghề chào hàng rong trên phố / cũng bạn bè thân nhau


23- Topkapi Palace / a room for every purpose / under heaven

-Cung điện Topkapi / mỗi phòng một công dụng / dưới cõi thiên đường này


24- A scent of a woman / outside the sweet shop / Turkish delight

Một hơi hướng đàn bà / bên ngoài hiệu bánh kẹo / thú vị Thổ nhĩ kỳ


25- Alligators laze / underneath the fishing dock / catching forty winks

- Bầy cá sấu biếng lười / nằm ngay dưới cảng cá / đánh giấc ngủ trưa


26-grey squirrels play / on the artificial lawn / of Walt Disney

- bầy sóc xám đùa chơi / trên bãi cỏ nhân tạo / trong cung Walt-Disney


27- In the swamp at night / I can hear the battle cry / of a frog army

- Đêm trong đầm lầy / tôi nghe tiếng giao tranh / của đội quân ếch nhái


28- In Nicaragua / always the sound of music / and always dancing

- Đất nước Nicaragua / thường xuyên tiếng nhạc / thường xuyên vũ trường


29- the smell of popcorn / wafts around the Plaza / of Independance

-mùi ngô rang / phảng phất thơm / quanh Quảng trường Độc lập


30- outside the city / children live in poverty / dancing in the dust

-ngoại ô thành phố / trẻ em đói nghèo / đang nhảy múa trong làn bụi

-----------------------------

*Nhà thờ Sixtine ở Vatican (Roma) do Giáo hoàng Sixte IV ra lệnh xây dựng Thế kỷ XV có nhiều bức tranh tường nổi tiếng của danh họa Michel- Ange trong đó có bức "La création de l'Homme"(sự cấu tạo đàn ông) mà Adam là kết quả,

** Istanbul : Thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ


Hà Nội,Trung thu 2017

Ngõ Bằng lăng


ĐINH NHẬT HẠNH

sưu tầm,dịch thơ và giới thiệu

Nguồn : WHA Review- Nos 3 >13

--

Đinh Hạnh
DT: 04.38647676
DD: 0913325069
Địa chỉ nhà riêng:
72 ngõ 24 phố Kim Đồng - Hoàng Mai - Hànội

Thơ Haiku Thiếu nhi Nhật Bản và Tân Tây Lan

Haikuviet.com hân hạnh giới thiệu Thơ Haiku Thiếu nhi Nhật Bản và Tân Tây Lan (New Zealand) độ tuổi từ 7 đến 18. Để phổ biến rộng rãi, ban Biên tập WHA Reviews đã biên dịch Haiku của các em Nhật Bản sang tiếng Anh.

alt

HAIKU THIẾU NHI NHẬT BẢN


1- Please step on

frost columns

it's free

Yusei OKAWARA 8T

- Xin mời / đi trên các cột băng này / miễn phí !


2- Dried leaf

blowns

into my heart

Karin MASUDA 9t

-Chiếc lá vàng / rơi / vào tim em


3- Sports day

my mother ran longer

than any other children

Yui IWANO 11t

- Ngày Hội thể thao / mẹ em chạy / xa hơn tất cả các bạn của em


4- Rape blossoms

yellow color

given by the sun

Aika FUJIMOTO 9t

-Hoa cải dầu / màu vàng chói / mặt trời cho ta


5- Swimming pool

in the reflexion of the sky

our teacher stands

Rina NAGUMO 9t

-Sàn bể bơi / thầy giáo em đứng / phản chiếu ánh trời


6- Bell cricket

calls me up

in the evening

Rioyuka SIMIZU 9t

-Dế rung chuông / thức em dậy / buổi chiều hôm


7- The sun laughing

ihihi,ahaha

haha

Jiuri HAMAMURA 7t

-Ông mặt trời cười

ihihi,ahaha

haha


8-Finally it arrives

a New- Year card

for me

Takumi AKASHI 7t

-Mong mãi cũng đến / thiệp mừng Năm mới / của em đây rồi


9- It's my dress

the same as

my cousin's in Fukushima

Megumi TAKAYAMA 10t

-Áo tôi đây này / giống hệt / áo em họ tôi ở Fukushima


10- I want to erase

the vortex of a typhoon

with an eraser

Tomoka FUKUDA 15t

- Em muốn xóa / sự tàn phá của cơn bão / bằng chiếc tẩy


11-Winter vacation / the sky / full of stars

Yuko MIYAKAWA 9t

- Nghỉ đông / trời / đầy sao


12-When I am alone / the refrigerator / sounds louder

Saori KABASAWA 9t

- Khi em ở nhà một mình / tiếng tủ lạnh / kêu to hơn


13-With a baby's smile / spring has come

Souichiro KOBAYASHI 10t

- Mùa xuân vừa sang / với nụ cười em bé


14-My sleepy face / hidden by / a muffler

Yuna TAKAHASHI 17t

- Mặt em khi ngủ / đậy / chiếc khăn quàng


15-The sounds of waves / making a journey / with a flying fish

Moeri YOSHIZAWA 18t

- Sóng vỗ dạt dào / dạo chơi một chuyến / cùng con cá chuồn

Dịch tiếng Anh : Ban'ya Natsuishi & Naruhito Luke Takeuchi

alt

HAIKU THIẾU NHI NEW ZEALAND


1- The sparrows sing

in different languages

South American choir

Madison FORTUNE 8t

-Bầy sẻ hót vang

bằng nhiều thứ tiếng

dàn đồng ca Nam M


2- My grand father's face

dried by the sun

oak tree winkles

Fergus Kil PATRIK 9t

- Mặt ông tôi

khô bởi nắng nôi

như vỏ cây sồi


3- Sand from the sea

emerges through the road

liquefaction castles

Zoe NATHAN 9t

- Cát từ dưới biển

đùn lên trên đường

làm tan rã những lâu đài


4- The seashell world

open up its heart

earthquake pearls

Negan KOPPEN 10t

-Thế giới nghêu sò

tự phanh tim ra

thành những viên ngọc trai động đất


5- *Poseidon's trident

slams into the sea

Tsunami horses

Hugo CLEMENT 10t

- Cây đinh ba của Hải Vương

tung hoành trên biển cả

bầy ngựa của Sóng Thần


6- A rumbling sound

wakes a Japanese village

dragon breath

Myfanway BOSLEY 7t

-Tiếng thét gầm vang

đánh thức làng Nhật Bản dậy

hơi thở của rồng


7- The old man's beards

curved in a wave

* Neptune seaweed

James HARPER 10t

-Bộ râu ông già

uốn cong như sóng rong biển

của Hải Vương


8- In the city

the sound of sirens

replace roosters

Orla MAHEK 12t

-Trong thành phố

còi rú

thay cho tiếng gà gáy


9- A rainstorm arrives

at the President's speech

spitting promises

Hugh Mercer BEUNELBURG 12t

Một trận mưa rào

đúng lúc Thủ tướng đọc diễn văn

đang tung ra các lời hứa hẹn


10- Season for cat's love

I'm in love

with a cat

* * Satomi KARAKUBO 18t

-Mùa yêu của mèo

Tôi cũng đang yêu

một cậu mèo đây


11-Sitting in the warmth / while somewhere in the world / wars are happening

Angela CHEN 13t

-Ta ngồi nơi yên ấm / trong khi trên thế giới / nhiều nơi đang chiến tranh


12- Stray cats / fighting for their freedom / protest in the street

Ella CROOK 12t

- Lũ mèo đực thiến / đấu tranh vì tự do / đang phản đối trên phố


13-Rain pitter-patters / each drop beats like a drum / mother- nature song

Josie FRASER 13t

- Mưa lộp độp rơi / từng giọt vang như tiếng trống / bài ca của Mẹ thiên nhiên


14- A pigeon wanders / away from the crowd to find / a path of hís own

Harrier KEITH 13t

- Một con bồ câu bay lang thang / tách khỏi bầy đàn / tìm một lối riêng


15- Despite the weather / sparrows still scavenge / surviving the storm

Eleanor THORPE 13t

- Không quản thời tiết / bầy sẻ vẫn bới rác kiếm ăn / để sống sót qua cơn bão


*POSEIDON (Thần thoại La Mã) hay NEPTUNE (Thần thoại Hy Lạp): HẢI VƯƠNG

** Ở 2 nước này 18 tuổi vẫn tính là thiếu niên.


Trích từ WHA Reviews

Northcote College Auckland

Tutor : Doc Drumheller


Hà Nội tháng 9-2017

ĐINH NHẬT HẠNH

Dịch thơ và giới thiệu.

Thơ Haiku của Bo Lille (1949-) Đan Mạch

alt

Bo Lille (1949-) Đan Mạch

Sinh năm 1949 ở Copenhague. Tác giả 22 cuốn sách trong đó có 1 tiểu thuyết, 1 rock-opera, 6 tuyển tập Haiku. Lãnh đạo Hội Underskoven- một trong 2 Diễn đàn văn học lâu năm nhất ở Đan Mạch. Mở Trường viết văn viễn tưởng, giảng dạy văn học khắp các nước vùng Bắc Âu. Sản xuất nhiều chương trình văn học trên Truyền hình .Thành viên ban Chấp hành Hội nhà thơ Đan Mạch-Thụy Điển, Hiệp hội các nhà thơ trữ tình Đan Mạch...Tham gia WHA 8- Tokyo 2015. Hội viên WHA. Cộng tác viên Haiku Việt.

****

HAIKU

1- Gravenes sorthed / Lyden af hvide kirker / og sá tavsheden 5/7/5 (Tiếng Đan Mạch)

The blackness of graves / the sound of those white churches / and then the silence

- Màu đen những ngôi mộ / chuông từ các thánh đường trắng này / và thế rồi,lặng im


2- burning fields / cannons which are much too hot / the smell of burnt child

một vùng đất cháy bỏng / những khẩu đại bác đỏ rực nòng / mùi thịt thiêu em bé


3- peace has broken out / cannons are been melted / into lovers' rings

hòa bình vừa lập lại / những khẩu đại bác bị nung chảy / đúc thành nhẫn tình nhân


4- As you pass me by / a smile hanging in the air / embraces mine

- Em đi ngang qua anh / nụ cười buông lơ lửng / ôm ấp nụ cười anh


5- another full moon / and I hear a wolf howling / is that your darling?

-thêm một đêm trăng rằm / anh lại nghe sói hú / người yêu em đó ư?


6- a flying leaf falls / so softly on my sidewalk / that the stone ís bruised

- một chiếc lá vàng bay / nhẹ rơi trên lối dạo / mòn cả đá lát đường


7- sending my DNA / out in the Seven Seas / conquering the world

- tôi gửi mẫu ADN / ra tận ngoài Vùng Bảy Biển / chinh phục thế giới này


8- heaven's dancing floor / the pas-de-deux of sparrows / ends up in small eggs

- trên sàn nhảy tuyệt vời / điệu vũ - bước -đôi bầy se sẻ / tận cùng bằng trứng xinh


9-The butterfly's wings/ are too tired to turn on/ a typhoon to-day

Cánh bướm/ quá mỏi mệt rồi. không sao quay lại được/ cơn bão đến hôm nay


10- song of the fossils / a message from dístant times / of how small we are

- tiếng hát của hóa thạch / tín hiệu từ xa xưa vọng về / sao chúng mình bé thế!


11- this heavenly sky / a million stars wink at me / and i wink back

- bầu trời tuyệt diệu này / triệu vì sao nháy mắt với tôi / và tôi liền đáp lại


12- take a breath so deep / that you get a shooting star / down in your lungs

- hày thở vào thật sâu / như hút được một ngôi sao sa / vào buồng phổi mình vậy


13- go star fishing / if you sail far enough out / you may meet yourself

-Mời đi câu sao trời / có thể gặp chính mình nơi đó / nếu dong buồm đủ xa


14- in warriors' minds / the grand black darkness / cut out of the night

trong tâm hồn chiến sĩ / một khoảng tăm tối mênh mông / cắt rời tù đêm đen


15- the lamps are sailing / across the black water / of Hỉroshima

-đèn thả trôi căng buồm / lướt trên dòng nước đen ngòm / thành phố Hỉroshima


16- the blackbird sings / love nearer / than nuclear bomb

-con sáo đen hót rằng / tình yêu gần chúng ta hơn là / bom nguyên tử


17- the frozen fingers / grasp the pen and write about / the tropical sun

-bàn tay giá cóng / vớ lấy bút / viết về mặt trời miền nhiệt đới


18- a poet in snow / eternity in thought / and cold feet

-có nhà thơ đứng ngoài trời tuyết , miên man suy tưởng / bàn chân lạnh cóng


19- a nosefull of green / the slimy steps of a snail / the sound of silence

mũi đầy cỏ / những bước chân nhầy nhớt của con sên / âm thanh của lặng im

...

Hà Nội tháng 8/2017

ĐINH NHẬT HẠNH

dịch thơ theo dạng 5/7/5 và giới thiệu

Trích " Limitless haiku dialogue"-Tokyo.9/2015.

- WHA Haiku Reviews-No 7>8>9>10>13

Thơ Haiku tự do của Yu Soneda (1941-) Nhật Bản

alt

Yu Soneda (1941-) Nhật Bản

Sinh năm 1941 tại quận Hiroshima- Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Keio. Hội viên Pallete Club. Tốt nghiệp Viện Vantan Design và Trường Yoyogi Lythograph. Về hưu, công tác tại các Nhà máy dược phẩm ở Pháp, Italia, Đức, Nhật bản. Chủ nhiệm tạp chí Haiku Sogen. Ông chủ trương Haiku tự do- hoặc 1 dòng, 2 dòng, 3 dòng không cố định- không theo 5/7/5, không quý ngữ- không từ ngắt như Haiku cổ điển.


1- Say something that makes me sweat

-Hãy nói điều gì đó làm tôi toát mồ hôi nào!


2- I as the morning riser searching for myself

-Tôi như người dậy sớm, đi tìm lại chính tôi


3- Alone even in a dream

-Cô đơn ngay cả trong mơ


4- Sleeping alone with joyful dreams

-Ngủ một mình cùng những giấc mơ vui


5- The blue sky is a green signal for autumn

-Bầu trời xanh là tín hiệu đèn xanh cho mùa thu


6- Shadow at high noon is coal- black

-Chiếc bóng giữa trưa màu đen than đá


7- Sorry to keep you waiting for a smile like a spring breeze

-Xin lỗi để bạn phải chờ một nụ cười như đợi gió xuân


8- Following it ,only my own shadow

- Đi theo chuyện ấy,chỉ có chiếc bóng của mình thôi


9-A cat's love song after the rain

- Bản tình ca của mèo sau cơn mưa


10- Keeping a petal of wind in hand

- Đang cầm một cánh gió trong tay


11- The sea that swalloved a man

becomes totally transparent

-Biển vừa nuốt chửng một người

đã hoàn toàn trong xanh trở lại


12- Hitting a mosquito

palms joined together in prayer

- Đập muỗi

hai bàn tay chắp như lúc nguyện cầu

13- Father's Day

I'm drinking with my father

who died in War

-Ngày của Cha

tôi hầu rượu Bố

cụ mất lâu rồi, trong chiến tranh

14- alone again

in full bloom

- lại cô đơn

giữa mùa hoa nở rộ

15- throw a stone

to the full moon

-ném hòn đá

lên mặt trăng rằm


16- the cherry gets old

newly in spring

-cây anh đào lại già thêm

mỗi mùa xuân mới

17- Sharpening the nails of a man

-Chuốt nhọn móng tay một người đàn ông


18- Snow grows on a stump

- Tuyết mọc trên gốc cây khô


19- The sun falls down the river burns

- Mặt trời rơi dòng sông cháy


20- rain inquires the mighty tree

- mưa hỏi thăm một gốc cây to


21- to my ears a stone 's soliloquy

-một hòn đá ghé tai tôi độc thoại
...

Ngõ Bằng lăng

Tiết Xử thử 2017

Đinh Nhật Hạnh

sưu tầm, dịch thơ và giới thiệu

Steven Ross (1950-)- USA "Những câu thơ Haiku tự sự đau đáu nỗi đời"

Trong những nhà thơ Haiku đương đại trên thế giới, có lẽ chưa có ai số phận lại nghiệt ngã triền miên như Steven Ross! Thân phận ông gắn liền với căn bệnh ung thư quái ác và những khúc Haiku đau đáu nỗi bất hạnh sau đây khắc họa trong suốt quãng đời dài tình trạng túng quẫn,dằn vật ,đau đớn liên miên bệnh tật ấy có lẽ đã xoa dịu bớt phần nào sự cô đơn cùng cực chẳng thể nào san sẻ cùng ai- ngay cả với gia đình có mẹ già, vợ và con trai nhỏ mà nhà thơ yêu gúy đơn phương.Và hình như ông đã dựa đươc vào nàng Thơ để tìm chút nghị lực sống nốt quãng đời còn lại ,ngắn ngủi đầy khổ ải của mình!

Xin được thông cảm sâu sắc và xót thương nỗi niềm bất hạnh đeo đẳng suốt đời ấy.Và mùa Xuân lại về,vài khúc Haiku khai bút năm nay của ông lại đến với bạn thơ 4 phương trời gần gũi mà từng phút từng giây vô giá cứ lặng lờ trôi...

Steven ơi! giờ bạn đang ở đâu hay đã về với Chúa?Dù bạn còn hay mất, những câu thơ tự sự xé lòng này vẫn mãi mãi vang lên trong tâm khảm chúng tôi,những bạn thơ Haiku cách nửa vòng trái đất, tuy chưa hề gặp mà như đã tri ngộ tự bao giờ,thương cảm một kiếp người ...

alt

1-In bed after / cancer operation / pain flashes my face

Nằm liệt giường / sau mổ ung thư / đau đớn ngời hằn trên mặt

2- I am back / I must have passed out / there was nothing

Mổ xong tỉnh dậy / chắc mình đã ngất đi / trước đó có gì đâu!

3- Father in hospital / mother cleans condo / then visits him

Bố nằm viện / mẹ quét dọn chung cư xong / rồi mới vào thăm bố

4- Lost my cap / lost my glasses / lost my keys

Đánh mất mũ / mất kính / mất luôn cả chùm chìa khóa nhà

5- Snow blizzard / in my cracked boots / my feet are wet

Bão tuyết / tuyết lọt vào đôi ủng rách / hai bàn chân tôi ướt sũng

6- Somewhere back in time / if I could go there and find him / my little son !

Giá như trở về đúng lúc / nếu như tôi có thể đến đó và gặp cháu / thằng con nhỏ của tôi!

7- Old office worker / gets pay cut ,no promotion / and young boss

Nhân viên già / lương bị cắt,không được đề bạt / và thủ trưởng mới trẻ măng

8- Hair falling out / yellow teeth with cavities / get new toothpaste

Tóc rụng thưa dần / răng vàng khè sâu thủng / xài xà phòng đánh răng mới

9- Ex-white hates me / Son won't talk to me / They play tricks on me

Vợ cũ ghét bỏ tôi / Con trai tôi không muốn chuyện trò với bố / Họ chơi khăm, tôi biết thừa-.

10- I'm fifty nine old / I have mutilated my face / I want to die now!

59 tuổi rồi / tôi đã biến mặt tôi thành dị dạng / giờ chỉ muốn chết quách thôi !

11- The number "14" / always comes up / in my life

Con số "14" / thường xuyên xuất hiện / trong cuộc đời tôi

12- Again,by chance / I find myself among Jews / I am a Jew

Lại lần nữa, gặp may/ tôi bỗng phát hịên ra mình trong cộng đồng DoThái / Tôi là dân DoThái

13- After surgery / I lie in bed / and worry about my job

Sau khi mổ / tôi nằm liệt giường / lo lắng về công việc ngày mai

14- Every spring / after my surgery / I send a haiku to Ban'ya

Cứ mỗi mùa xuân / sau lần phẫu thuật / tôi lại gửi Ban'ya* một khúc Haiku (2015)

15- My wrinkled mother / síts by the window / and play Scrabble

Mẹ già nhăn nheo / ngồi bên cửa sổ / chơi trò xếp chữ trẻ con

16- Pelicans / skim the ocean / at sunset

Bầy chim bồ nông / là là bay trên biển cả / hoàng hôn

17- if u c me u r me =

if u c me u r me = Nếu anh gặp tôi,anh là tôi

18- Under a dome of stars / by the pounding waves of the sea / a dying sea-lion

Dưới vòm trời sao / trên sóng biển dữ dằn / một con hải sư đang hấp hối

19- I spent all my money / What can I do ? / Beg!

Tiêu sạch túi rồi / Làm gì được nữa? / Đi ăn mày thôi!

20- I,a craving skeleton / reach to my son / with withered arms

Tôi,bộ xương đói khát / chìa đôi tay gầy guộc / về phía con trai mình

21- I have stopped my ears / I have blinded my eyes / I think little

Tôi vừa ngừng nghe / tự làm mù mắt / tôi nghĩ ít thôi

22- A little flash / in my left eye / from heaven

Một tia sáng nhỏ / trong mắt trái tôi / chiếu xuống tự Thiên đường

23- Cremate my body / Flush my ashes / down the toilet

Hãy hỏa táng thân tôi / đổ tro vào hố xí / rồi xả nước cho rồi!

24- HERE LIE ME / BETTER LUCK / NEXT TIME!

Tôi an nghỉ nơi đây / tự cầu chúc mình hạnh phúc / kiếp sau hơn kiếp này!

*Ban'ya Natsuishi Chủ tịch Hiệp Hội Haiku Thế Giới WHA

Trích dịch WHA REVIEWS từ số 6 đến số 13 (2010-2017)

Đinh Nhật Hạnh dịch thơ và giới thiệu

Sinh hoạt thơ haiku tại Osaka Nhật Bản

Tiếp tục tham gia sinh hoạt các nhóm thơ haiku tại Nhật, sáng sớm ngày 29.7.2017, từ Kyoto Quỳnh Như khởi hành đi Osaka gặp và tham gia hoạt động của Hội Sử thơ haiku Osaka. Kết thúc chương trình về đến nhà cũng gần 10 giờ tối.

alt

Gần 30 thành viên tham gia, đa số là các bậc tiền bối rất nổi tiếng và có vị trí trong thơ haiku Nhật. Từ sáng đến chiều, Hội đã đi điền dã các di tích thơ haiku trong đó chủ yếu của Matsuo Basho. Ông đã mất tại Osaka vào ngày 12/10, trước khi mất để lại bài thơ "Lữ thứ, thân nằm bệnh, hồn lang thang đồng khô" vào ngày 9/10. Hội đã được một vị trong Hội Chấn hưng văn học Osaka hướng dẫn và giải thích tường tận kèm đầy đủ thông tin các di tích thơ haiku tại Osaka. Xin gửi kèm một vài hình ảnh trong chuyến đi. (Do thành viên đoàn có nhiều nhà thơ haiku nổi tiếng nên chỉ có thể gửi hình tránh thấy mặt).

Hình bia đá có bài thơ của Basho là bài "akaakato hi wa tsurenakutemo aki no kaze"

Trao đổi với các nhà thơ về thơ haiku Việt Nam, tiếp tục nhận được nhiều ý kiến giá trị cho sự phát triển thơ haiku Việt. Họ đều cho rằng, tất nhiên Haiku Việt có thể phát triển theo hướng riêng của mình, không cần 5-7-5, không kire-ji (từ ngắt), thậm chí không quý ngữ (tạm gọi là 3 không), nhưng nên cần định hướng để thơ haiku Việt có một phong cách riêng và chứng tỏ đây là thơ haiku, chứ không phải là hình thức thơ ngắn.

Trong đó, 5-7-5 và từ ngắt thuộc phạm trù ngôn ngữ có thể không đưa vào thơ haiku Việt (nhưng nếu muốn vẫn có thể làm theo phong cách riêng), nhưng ít ra nên có hệ thống quý ngữ theo phong cách thơ haiku Việt. Cứ cho rằng Nhật Bản 4 mùa trong khi Việt Nam cơ bản là 2 mùa "mưa - nắng", hoặc cứ cho rằng quý ngữ sẽ làm bó buộc sự sáng tác, nhưng nếu hiểu đúng thế nào là quý ngữ, thì với bề dày lịch sử văn hóa, chắc hẳn rằng thơ haiku Việt sẽ có một phong cách riêng độc đáo với hệ thống quý ngữ để thể hiện tính đặc trưng chỉ có duy nhất này của Nhật. Vì khi đã có hệ thống quý ngữ, từ đó sẽ đưa ra được những quy định về cách sử dụng trong thơ haiku...như Nhật Bản đã từng làm. Đây cũng là một trong những vấn đề cần suy nghĩ tiếp theo.

Vấn đề thứ hai là sự phát triển thơ haiku. Các bậc tiền bối thơ haiku Nhật đã cho ý kiến rằng, hãy hiểu đâu là sự hấp dẫn trong khi "chơi thơ haiku" tại Nhật Bản. Vì sao tại Nhật nhiều nhà thơ luôn gắn bó và sinh hoạt đều đặn với các Hội, Nhóm thơ haiku để giúp truyền bá và lưu truyền thơ haiku? Quan trọng là cách làm, cách sinh hoạt của các Hội, Nhóm. Không chỉ có bài thơ hay đem trình làng là đủ, mà quan trọng là phát huy được vai trò của từng người khi tham gia. Đây cũng là cách NB đã làm từ khi thơ haiku được ra đời và luôn được thực hiện đến ngày nay.

Nói chung, ý kiến thì rất nhiều không thể viết hết trên giấy. Khi có điều kiện sẽ trao đổi tiếp và nếu có điều kiện, sẵn sàng góp tay để đem vào thơ haiku Việt theo tinh thần "phát triển bền vững và lan tỏa".

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như
(Nghiên cứu thơ haiku tại Nhật)

Giới thiệu Chùm thơ Haiku của Haijin GEORGES FRIEDENKRAFT

alt

LỜI BIÊN TẬP: Kho tàng Haiku của Hiệp hội Haiku Thế giới (WHA) thật dồi dào.Chúng tôi sẽ cố gắng đáp ứng các bạn yêu thơ bốn phương chuyền ngữ dần hơn 6.000 khúc tuyển lựa tù 185 Hạiijn trong 12 năm qua của 48 quốc gia thành viên. Hy vọng được bạn đọc hưởng ứng đông đảo và góp ý kiến ,bổ sung những khiếm khuyết về biên dịch. Bình luận và đánh giá cũng xin trông chờ vào thịnh tình quan tâm của bạn đọc. Chỉ xin được là người chuyển tải trung thực những tác phẩm đại diện phần nào cho thể thơ Haiku đương đại phóng khoáng, tự do có chừng mực- ca tụng thiên nhiên kỳ vĩ và tình yêu cuộc sống muôn mặt đời thường.

alt

GEORGES FRIEDENKRAFT

Pháp

(1945-)

Hội viên WHA


1- L'éclat de tes cils

nous irons sous les galets

respirer le sel

Mi mắt em sáng ngời

mình sẽ theo lối cuội

hưởng mặn mòi gió khơi


2- Grenouilles,tortues

corolles des nénuphars

toutes dans l'eau

Nào ếch,nào rùa

nào đài hoa súng

tất tật dưới hồ


3- Rẹjouer au chien

retrouver ses 4 pattes

l'art d'être grand-père

Lại chơi trò kiểu "khuyển"

trở về thời 4 chân

- Nghệ thuật làm ông nội


4- Ses lèvres de lavande

ses yeux de miel

tous inaccessibles

Cặp môi nàng mùi oải hương

đôi mắt nàng màu mật ong

-Tất cả, ngoài tầm với!


5- Un thé d'aubépine,

valériane,passiflore

des rêves de plomb

Uống nước trà Đào gai

trà cây Nữ lang, Lạc tiên

những giấc mơ dữ dội


6- C'est un escargot

qui court après un chasseur

un galop mouillé

Có con ốc sên

chạy theo người thợ săn

đường phi ướt nhèm


7- Entre chien et loup

le vent brise les serrures

l'appel des furets

Tranh tôi tranh sáng

cửa khóa, gió phá tung

bầy chồn kêu chí chóe


8- Dans un baiser d'Aout

les abeilles de ta langue

outre-ciel et miel

Trong nụ hôn tháng 8

đàn ong chót lưỡi em

- Thiên đường và mật ngọt


9- Tapi dans les douves

de l'enceinte féodale

guettant l'ouverture

Ẩn nấp trong hào

dọc bờ thành thời Trung cổ

chờ họ mở cổng thành


10- La nuit serpentine

l'horizon des arbousiers

nous deux dans les douves

Màn đêm buông quanh co

rặng Dương mai phía trứơc

hai đứa ngồi trong hào


11- Vers d'autres regards

tu tournes tes yeux gourmands

vers d'autres couleurs

Liếc mắt tham lam

em tìm kiếm những ánh nhìn chốn khác

những sắc màu lạ hơn


12- Le chant monotone

de l'averse me replonge

dans ma vie foetale

Tiếng mưa dông đơn điệu

lại đưa tôi về

cuộc sống thai nhi


13- Tu m'avais dit:Songe

entre les draps esseulés

l'odeur des violettes

Em bảo anh "Hãy mơ về

hương hoa viôlét

khi anh nằm đơn chiếc giữa chăn êm"


14- Chrysalide opaque

rêve qui s'autodétruit

papillon qui tue

Con nhộng bướm đục mờ

đang mơ màng tự hủy

sợ bướm lớn giết mình


15- A midi ,minuit,

perdues entre chien et loup,

la Mort ou la Vie

Chính ngọ và nửa đêm

lạc vào thời chập choạng

giữa đôi đường Tử- Sinh


16- Nous dégraferons

le soutien-gorge de l'aube

indéfiniment

Ta sẽ cởi phăng

- vĩnh viễn

mảnh áo lót của bình minh


17- Nous êtres vivants

restons très attachés

notre terre en sang

Lũ chúng ta-những người đang sống

bị cột rất chặt

vào Trái Đất đẫm máu này.


18- Le chêne en dentelles

les bouts de bourgeons sont roses

comme bouts de seins

Cây sồi thêu hoa

nụ chồi màu hồng

hồng như núm vú


19 - Rien n'a plus d'odeur

les repas n'ont plus de gout

lorsqu'on a cent ans

Không ngửi được mùi gì

bữa ăn cũng chằng còn thú vị

khi lên lão 100


19- L'oreille absolue

que je tiens de ma mêre

je n'en ai rien fait

Tai cực thính của tôi

di truyền từ bà cụ

tôi chẳng dùng gì đâu


20- En démocratie

tout autour du président

beaucoup de cadavres

Trong nền dân chủ

Xung quanh tổng thống

la liệt xác người


21- Tu prends ta retraite

le médecin en riant

t'annonce un diabète

Cậu xin về hưu

thầy thuốc tươi cười bảo

-Bác bị tiểu đường rồi!


22- Tu frôles ma jambe

et la sensation haptique

devient extatique

Em quờ chạm chân anh

và cảm giác tiếp xúc

biến thành "Ôl mê ly!'


23- Avec toi,le rỉre

comme un fil à plomb vỉrtuel

entre deux possibles

Với em,nụ cười

như dây dọi ảo

giữa hai khả năng


24- Tes doigts sont si minces

que les fleurs de catalpa

deviennent des gants

Tay em quá mảnh mai

nên cánh hoa Đinh tán

hóa thành đôi găng tay


25- Un pied dans la neige

l'autre dans un rai de lune

sports d;hiver de rêve

Một bàn chân trong tuyết

chân kia vệt trăng vàng

Thể thao mùa Đông ,tuyệt!


26- Vierge,tu t'étires

l'os victorieux de ta hanche

jaillit comme un arc

Nữ đồng trinh ,vươn vai

xương hông nàng chiến thắng

bật mềm như cánh cung


27- Ma femme est trop propre

l'araignée n'a plus sa toile

et se meurt de faim

Bà nhà tôi quá sạch

con nhện hết chăng tơ

bèn lăn ra chết đói


28- Premier cheveu blanc

avec horreur tu l'arraches

tu n'as que quinze ans

Sợi tóc bạc đầu tiên

con nhổ ngay- gớm ghiếc

con mới lên 15


29-Je suis à Versailles

on appellait "roi-soleil"

ce roi sanguinaire

Tôi đang ở Véc-xay

Họ tôn "Vua mặt trời"

tên vua xưa khát máu


30- Même sous l'averse

la campagne souriait

quand j'étais bambin

Ngay cả dưới mưa dông

miền quê vẫn mỉm cười

khi ta còn bé bỏng


31- Deux yeux sous l'écume

ma soeur la pieuvre apeurée

dans sa robe d'algues

Đôi mắt lẩn dưới bọt

em bạch tuộc sợ sệt

trong chiếc áo dài rêu


32- Face aux noirs desseins

Hitler et Napoléon

la Mer salvatrice

Đối mặt những mưu đồ đen tối

của Hitler và Napoléon

Đại dương cứu rỗi đời


33- Mon ventre affamé

mais tu n'as pas d'ỏreilles

Cher ordinateur !

Bụng ta đói quá rồi!

ngươi không có tai ạ?

Mụ máy tính thân yêu!


34- Haut comme 3 pommes

et déjà tu fais la bíse

aux chiens et aux chats

Cao bằng 3 quả táo

mà đã hít với hôn

với bạn chó và mèo


TRÍCH DỊCH WHA REVIEWS

( số I đến số Xiii-từ 2005 đến 2017)

Ngõ ấy, Bằng lăng

HÀ NỘI tháng 6/2017

Một ngay hè nóng nhất

45 độ ngoài trời

ĐINH NHẬT HẠNH

Chùm thơ Haiku của JEAN ANTONINI- Pháp

alt

JEAN ANTONINI (1946-) Pháp

Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế giới WHA


1- Jour de grand vent-

oiseaux,feuilles se confondent

flif,flop mon coeur bat


Ngày cả gió-

lá và chim lẫn lộn

tim tôi đập phập phồng


2- Tout en pédalant

regarde les oiseaux voler

la neige tombe légère


Tôi vưà đạp xe

vừa ngắm chim bay

tuyết rơi nhẹ nhàng


3- Arbres immobiles

la sève court dans les branches

Mon fils malade


Hàng cây lặng im

nhựa trào trên cành lá

Con trai tôi ốm đau


4- Aller au tombeau

Se promener,jeter un coup d'oeil

Remonter à l'air


Tôi đến mộ phần

daọ quanh, liếc nhìn

rồi lại trở lên, về cùng dương thế


5- Pierres sủr pierres posées

Os enfoncés sous la terre

Tourbillon de vent


Đá xếp chồng lên đá

Xương chôn sâu xuống đất

ngọn gió xoáy vòng


6- Sous les ronnes de la basilique

Une dizaine d'adolescents

tracent dé traits au crayon


Dưới vòm nhà thờ

cả chục trẻ nhỏ

vẽ bút chì lên


7- Pendant qu'on mange

le rosier déploie ses feuilles

dans la lumière


Khi mọi người ăn

cây hoa hồng xòe lá

trong ánh sáng chói lòa


8- Petite fleur blanche

elle a dissout la galaxie

dans ses pétales


Bông hoa trắng nhỏ

hòa tan Ngân hà

trong mấy cánh mình


9- 600 poèmes de Kẻrouac

plus de place sur les étagères

faire un petit feu


600 bài thơ KẺROUAC

các giá sách hết chỗ rồi

cho một mồi lửa thôi


9- Grippe mondiale

les oiseaux tombent du ciel

les humains ont peur


Dịch cúm lan thế giới

chim rơi từ lưng trời

loài người run sợ


11- Fait trop chaud l'été

fait trop froid l'hiver,dit-elle

Elle éclate de rỉre


- "Mùa hè quá nóng

mùa đông quá rét"-

Em phá lên cười


12- Traverser le champ

en pensant à chaque brin d'herbe

et revenir


Băng qua cánh đồng

nghĩ đến từng cọng cỏ

tôi lại đi ngược về


13- Dans ma famille,dit-elle

j'ai la réputation d'être

une grosse mangeuse


Cô nói với tôi trong cả gia đình

-Em nổi danh nhất

là đứa phàm ăn


14- Dans le métro

écouter avec un casque

le chant des oiseaux


Trong tàu điên ngầm

thưởng nhạc "earphone"

líu lo chim hót


15- www.maferme.com

le fermier a ouvert un site

3 vísites par an


www.nongtrạngtoi.com

bác nông dân mở mạng

một năm 3 người thăm


16- Comme un désir de

sautiller sur les trottoirs

léger jour de Mars


Như một niềm vui

nhảy tung tăng trên hè phố

thoải mái ngày tháng Ba


17- Métro Clignancourt

une femme noire aux yeux étincelles

une poupée à la main


Ga tàu điện ngầm Clignancourt

một bà da đen mát sáng quắc

tay cầm con búp bê


18- Il se peut que

le paysage dèfile

la vie raccourcit


Có thể này chăng

phong cảnh càng dăng dăng

cuộc đời càng ngắn


19- Un corbeau et moi

allons dans la même direction

à travers les airs


Con quạ và tôi

cùng đi một hướng

trên trời


20- Le coeur du corbeau

ne crois pas qu'il soit réel

tu écris "en Automne"


Trái tim con quạ

Xin đừng tin có thật

em viết "Về mùa thu"


21- Chapeau du fermier

percé comme son cẻrveau

de chiffres et de vents


Chiếc mũ bác nông dân

thủng lỗ chỗ như đầu óc của chủ

bởi gió và những con số


22- Seul sủr son tracteur

le fermier pense au suicide

la largeur du champ


Một mình trên máy cày

bác nhà nông toan tự tử-

Mênh mông quá! cánh đồng


23- Le cri d'un corbeau

(quelle vie a-t-il celui-là)

traverse ma tête


Một tiếng quạ kêu

"Đời con chim này thế nào ấy nhỉ!

ý nghĩ thoáng trong tôi


24- Second jour de l'an

un second haiku se pose

sur la page


Ngày mồng 2 Tết

khúc haiku 2

đậu trên trang giấy


25- Jour 4 de l'an

Écouter le silence qui

suit le haiku


Ngày mồng 4 Tết-

Lắng nghe im lặng

theo khúc haiku

TRÍCH

World Haiku Reviews

Số 1-2-3-4-5-6-6-7-8-9-10-11-12-1 3- (từ 2005-2017)

Đinh Nhật Hạnh dịch và giới thịêu

Đinh Hạnh
DT: 04.38647676
DD: 0913325069
Địa chỉ nhà riêng:
72 ngõ 24 phố Kim Đồng - Hoàng Mai - Hà Nội


Chùm Haiku Roumanie- Lê Văn Truyền dịch

alt

Aurica Văceanu

Chủ tịch Hội Haiku Constantza – Roumanie (1992)

Biên tập viên Tạp Chí Haiku Albatross (2003)

1.Fluturi se-aleargă
pe uliţa prăfuită
cad flori de cireş

Butterflies run
in the dusty street
flowers of cherry tree get down

Đàn bướm bay
trên con đường bụi bặm
đầy cánh anh đào rụng


2. Vară secetoasă
încoace şi-n colo
un şir de furnici


Dry summer
over here to and fro
a chain of ants

Mùa hè hanh hao
một đàn kiến
chạy đi chạy lại


3. Fără putere
vântul pe deal şi-un plop
incomplet galben


Powerless
the wind on the hill and a poplar
incompleted yellow


Ngọn gió trên đồi
bất lực
cây bạch dương úa vàng

4. Siluete strânii
plopii de lângă drum
îmbrăcaţi în promoroacă


Strange silhouettes
poplars by the way
dressed up in white frost

Dáng hình lạ lẫm
những cây bạch dương bên đường
khoác tấm áo tuyết trắng


Steliana Cristina Voicu

1. Plouă –n Parcul Nara
un cerb soarbe cosmosul
printre petale de cires

Raining in Nara Parc
A deer sips the cosmos
Through sakura petals

Il pleut dans le Parc Nara
Parmi les pétales de sakura
Un cerf sirote l’Univers

Mưa trong công viên Nara
giữa những cánh anh đào
chú hươu hớp từng giọt Vũ trụ

Vasile Smărăndescu

1. Cîine părăsit
căutînd un stăpîn
să aibă după cine plînge


An abandoned dog
is looking for a master
just to bark for him


Con chó hoang
chạy tìm một ông chủ
để được nghe quát mắng.

LVT

Chùm thơ Haiku của Haijin Tatjana Debeljacki (Serbia)

Tatjana Debeljacki là nhà sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết và haiku. Bà là hội viên của Hội Nhà Văn Serbia (UKS) từ năm 2014. Bà là Phó Tổng Biên Tập tạp chí DIOGEN của Hội Haiku Serbia, đồng thời là Biên tập viên Tạp chí Poeta (Nữ thi sỹ).

alt

Đêm giao thừa 2017 bà gửi đến 6 khúc haiku sau đây, xin dịch và trân trọng giới thiệu với các thi hữu haijin Việt

1

Summer wind

carries away your

footprints in the sand


Cơn gió mùa hè

mang theo

dấu chân in trên cát


2

Your sandy footprints

blow away in the wind

summer dusk


Dấu chân trên cát

bay theo cơn gió

chiều hè hoàng hôn

3

A field withers

beneath the hoarfrost--

morning cold


Cánh đồng úa tàn

trong sương giá

buổi ban mai lạnh lẽo


4

Hoarfrost melts

in the harvested fields

autumn sun


Sương giá

tan chảy dưới nắng thu

trên cánh đồng đã gặt

5

Your sandy footprints

blow away in the wind

spring dusk


Dấu chân anh trên cát

bay theo gió

buổi chặng vạng mùa Xuân


6

A field withers

beneath the hoarfrost--

morning chill


Cánh đồng tàn úa

dưới sương muối

trong giá lạnh ban mai


Lê Văn Truyền dịch


Chùm thơ Haiku của Oliver Mikos- CHLB Đức

LBT: Xin trân trọng giới thiệu chùm thơ Haiku xuất sắc của tác giả Oliver Mikos- Cộng hòa Liên Bang Đức, do nhà thơ Nguyễn Văn Hoa từ Berlin dịch và giới thiệu qua nhà văn Vũ Nho nhã ý chuyển đến HKV. Thông thường thơ HAIKU không có đầu đề, đây là ngoại lệ của tác giả cốt để cho bạn đọc dễ dàng thưởng thức hơn. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ Nguyễn Văn Hoa và nhà văn Vũ Nho.

alt

Chùm thơ Haiku của Oliver Mikos

TS Nguyễn Văn Hoa (dịch )


Bài 1

Plusen Wind

Ein Blick zum Himmel.
Schwirrende Flusen im Wind.
Rauschende Blätter.


Cơn gió

Ngó ra trời
Gió vù vù
Lá say bay liệng


Bài 2

Haiku – Gewittersturm


Ein Gewittersturm
biegt frühlingsgrüne Linde.
Die gelben Säcke!

Giông bão

Chợt cơn giông
Vặn cong bồ đề xuân
Trút xuống một lá vàng

Bài 3 Haiku - Herbststurm im Winter

Herbststurm im Winter
Das unrythmische Prasseln
Crescendo, Stille

Bão thu trong đông

Bão thu giữa đông
Nhạc lỗi nhịp
Tắt ngấm


Bài 4 Haiku - Kalter Käfer

Klirrende Kälte.
Ein toter Marienkäfer.
Die zappelnden Beine.

Cánh cam chết cóng

Xoang xoảng băng lạnh
Con cánh cam ngắc ngoải
Chỏng vó lên trời


Bài 5 Haiku – Morgentau Sương sớm

Herbstmorgentau.
Ein Netz aus Gesponnenem.
Die funkelnden Tropfen


Sương sớm Mùa Thu

Sương sớm mùa thu
Đu đưa mạng nhện
Những hạt li ti.

Bài 6 Haiku - Mückentanz Vũ điệu mùa hè

Grillen im Garten.
Ein Sommermückentanz
zum Lied der Amsel.


Con châu chấu vườn
Say vũ điệu mùa hè
Hòa bài ca chim sáo


Bài 7 Haiku – Schneebedeckter Stein

Schneebedeckter Stein.
Weißer Atem in der Luft.
Am Rande das Moos.

Tuyết che đá

Tuyết che hòn đá
Không khí trắng xóa
Đống bùn hàng xóm


Bài 8 Haiku - Sommergewitter

Sommergewitter.
Gedankenblitze bei Nacht.
Kreise aus Regen.


Giông Hạ

Giông Hạ
Nhờ tia chớp đêm
Mưa đan ngoài trời.


Bài 9 Haiku - Spaziergang am See

Spaziergang am See.
Stille in der Winternacht.
Quakende Ente.


Tản bộ trên biển

Tản bộ trên biển
Lạnh tanh đêm đông
Vọng tiếng ngỗng trời

Bài 10 Haiku - Tosendes Meer

Das tosende Meer.
Funkelnde Tropfen.
Der Bogen aus Licht.


Sóng biển

Biển tung sóng
Giọt li ti
Rực rỡ cầu vồng.


Bài 11 Haiku - Winternacht tiefschwarz
Winternacht tiefschwarz.
Ein Blick zum klaren Himmel.
Dieser eine Stern.


Hun hút đêm đông
Hun hút đêm đông
Ngó trời lạnh ngắt
Lấp lánh có vì sao.

Bài 12 Haiku - Heißer Herbst
Mitten im August
Seit Wochen Dauerregen
Die braunen Blätter

Dấu ấn thu

Giữa mùa thu
Mưa dầm cả tuần
Lá úa tả tơi


N.V.H

Chùm thơ Haiku của Haijin Yo.Erdenetoghtokh- Nội Mông Cổ

alt

Yo.Erdenetoghtokh (1961)
Nhà thơ và soạn ca khúc.

Nhiều giải thưởng quốc gia: Giải cao nhất Văn học Nội Mông, Giải Hội Văn học Nội Mông.

Xuất bản các tuyển tập thơ NHỮNG CON CHIM ƯNG CỦA CÁC ANH HÙNG XƯA; Tuyển tập Haiku CON TUẤN MÃ MÀU VÀNG

Tham dự WHA8-TOKYO 2015.

Chùm thơ Haiku của Haijin Yo.Erdenetoghtokh

1

PURE NIGHT OF DEEP AUTUMN / SO PEACEFUL / EVERY IS ABLE TO COMMUNIATE TO EACH OTHER
Đêm thanh tịnh cuối thu / yên bình đến nỗi /ai ai cũng có thể tâm tình với nhau

2

MỈRAGE BECOMES / A MEMBER / OF ESCAPED HORSES

Ảo ảnh trở thành / một thành viên / của đàn ngựa xổng

3

THE SUN PLAYS / SLIDING DOWN FROM / THE BACK OF AN EXCELLENT HORSE
Mặt trời đùa chơi / tụt xuống / từ lưng con tuấn mã

4

A SPAROW / PICKS AT A RAIN DROP / AS IT WERE A BEAN
Có con chim sẻ / mổ một giọt mưa / như là hạt đậu

5

A GROWWLING WOLF'S EYES / BITE ME / PROTECTING A SHEEP
Con sói gầm gừ / đôi mắt cắn tôi / khi đang cố cứu một con cừu nhà

6

FOLLOWING FELLOWS / THE HORSE'S FETTER MARKS / TEARFUL EYES
Thất thểu theo bầy / con ngựa bị ngàm / ràn rụa nước mắt

7

THROUGH THE DESOLATE COUNTRY / WINDS BLOW / AN EMPTY HEART
Thổi qua đất nước tiêu điều / những làn gió quật / con tim cạn dòng

8

MT. FUJI / BEHIND WHITE HAIR / OF AN OLD MAN
Núi Phú Sĩ / phía sau mái đầu tóc bạc / một cụ già

9

ANCIENT MIRAGE / OF GREAT NATURE / WHERE IS IT NOW?
Ảo ảnh ngày xưa / một thiên nhiên kỳ vĩ / bây giờ nơi nao?

10

A MỈRAGE LIKE TEA ABOUT TO COOL DOWN / IN A BRONZE MILK- POT/ DÍSTANT AS PARADÍSE
Một ảo ảnh như tuần trà đang nguội/ trong ấm đồng/ xa vời vợi tựa thiên đường.

(Đinh Nhật Hạnh chọn và giới thiệu)

Chùm thơ haiku của Romano Zeraschi

Romano Zeraschi tốt nghiệp khoa Xã hội học, Đại học Trento (thành phố Trento, nước Ý). Ông là thành viên Hiệp hội Haiku Thế giới WHA và đã có được nhiều giải thưởng về Haiku, Haiga và Haibun ở Nhật Bản trong các cuộc thi Mainichi Haiku contest 2011, Takusen 2011... Zeraschi sẽ là Chủ tịch Đại hội WHA9 tới đây, họp tại Parma, Ý, 2017.

alt

Chùm thơ haiku của Romano Zeraschi

1-From a window to another / the moon is a passenger / night train

Từ cửa sổ này qua cửa sổ khác / trăng là hành khách / trên chuyến tàu đêm


2-By the fire / talking about this and that / timeless night

Bên bếp lửa hồng / chuyện này chuyện nọ / đêm dài mênh mông


3-Slowly / felucca / moonlight

Chầm chậm / cánh buồm / ánh trăng


4-Falling stars / just above the lawn / children 's shout

Mưa sao sa / ngay trên bãi cỏ / tiếng trẻ reo hò


5-The sun in his face / the last of his luxuries / dying homeless man

Mặt trời chiếu mặt / món xa xỉ cuối cùng / người chết vô gia cư


6-Room after room / without locks / Alzheimer's patients

Phòng nối tiếp phòng / cửa đều không khóa / người bệnh Alzheimer


7-Morning fog / no birds fly over / veiled thoughts

Sương sớm / không một bóng chim / phủ dầy bao suy nghĩ


8-Even the snails / wander in the Galaxy / evening rain

Ngay cả lũ sên / cũng lang thang Ngân hà / mưa đêm


9-The doll's face / sleeps in a basket / flash of a torch

Khuôn mặt búp bê / ngủ yên trong giỏ / ánh đèn loáng qua


10- Kites / still in the sky / darkening Kabul

Những con diều giấy / cố định im lìm / Kabul dần tối


11- Old couple / on an empty floor / last tango

Có đôi bạn già / trên sàn nhảy vãn / điệu tango cuối cùng


12- Dark alley / dealers come and go / Indian summer

Ngõ tối / khách đến rồi đi / mùa hè Ấn Độ


13-voice in the night / perhaps the sea / may be your voice, Mother

Tiếng gì trong đêm / hình như tiếng sóng / hay là tiếng Mẹ, Mẹ ơi!

Romano Zeraschi

Đinh Nhật Hạnh giới thiệu và chuyển ngữ.


Chùm thơ haiku của Zlatka Timoneva Valcheva

Zlatka Timenova, thành viên Hiệp hội Haiku Thế giới WHA, sống và làm việc tại Lisbonne, Bồ Đào Nha. Bà nghiên cứu về triết học Pháp và làm luận văn tiến sỹ với chủ đề «Sự im lặng trong văn học và các hình thái của nó thể hiện qua tiểu thuyết của Marguerite Duras». Hiện tại, bà là Phó Giáo sư giảng dạy Ngôn ngữ và Văn học Pháp tại Đại học Lisbonne, đồng thời làm khảo cứu về Ngôn ngữ và Văn hóa Bungary. Ngoài các bài viết trong lĩnh vực phê bình văn học, dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ, Zlatka Timenova còn làm thơ ngắn và thơ haiku. Ba cuốn thơ haiku đã xuất bản của bà gồm có: Chama, a palavra (2013); Comme un oiseau contre le vent (Như một cánh chim trong gió, 2013) và Kato zvezden prah (Bụi sao, 2013).

alt

Chùm thơ haiku của Zlatka Timoneva Valcheva

1-Nuit froide / le chat blotti / dans mes vers

Đêm lạnh / con mèo cuộn mình / trong thơ tôi


2-Fin d’après-midi / le silence suspendu / aux ailes d'une mouche

Xế chiều / im lặng treo / trên cánh một con ruồi


3-Le vent habite / dans son corps cosmique / pas de place pour lui

Gió ngụ / trong thân hình vũ trụ / không có chỗ cho chàng


4-Sous le réverbère / personne n'embrasse / personne

Dưới ánh đèn đường / không ai / hôn ai


5-Les pétales de rose / par terre / le vent n'ôse pas

Những cánh hồng / rơi trên mặt đất / làn gió chẳng nỡ lòng


6- La nuit / des ombres / sans histoires

Ban đêm / có những bóng hình / không chuyện


7- Vendeur d'eau / sourire collé / aux lèvres blanches

Người bán nước rong / nụ cười dính chặt / trên môi tái xanh


8- Un ciel de pluie / descend la pente / le village court devant

Cả một trời mưa / ào ào xuống dốc / xóm làng chạy trước lao xao


9-Pigeons sur le toit / nettoient le jour / de leurs ailes

Bồ câu trên mái / rỉa sạch ngày / khỏi đôi cánh nhỏ


10- Vieille maison / une chaussure de bébé / dans le coin

Ngôi nhà xưa / chiếc giày em bé / trong góc một mình


11- En regardant le ciel / les larmes deviennent / des étoiles

Nhìn lên trời cao / những giọt nước mắt / hóa thành ngôi sao


12- Nuit d'hiver / solitude suspendue / aux réverbères

Đêm đông / nỗi cô đơn treo / trên những cột đèn đường


13- Un enfant court / après l'ombre d'un oiseau / c'est tout

Một em bé / chạy theo bóng con chim / chỉ vậy


14- Pluie d'été / entre les grosses gouttes / deux sourires mouillés

Mưa mùa hạ / giữa những giọt nặng / ướt hai nụ cười

Zlatka Timenova

Đinh Nhật Hạnh giới thiệu, chuyển ngữ từ tiếng Pháp

Thực tại là thoảng qua trong thơ Buson- Nhật Bản

alt

Đêm xuân

Tâm tư ai cũng thế

Bay xa khỏi mái nhà

Thơ BUSON (Đinh Nhật Hạnh dịch)

Bài thơ 3 câu, 12 chữ. Đọc rồi phải ngẫm. Ngẫm rồi đọc lại. Đọc nhiều lần mới dần dần cảm được. Cảm sự tinh tế. Cảm triết lý sâu xa. Cảm cái tình người rất người. Người thơ trải nghiệm. Và, người thơ nói lên tiếng nói không còn của riêng mình. Nói cái điều của quy luật hiển nhiên, như nhiên, mà phải đâu nhận thức ngay được.

“Đêm xuân” là một ước lệ. Nhưng ước lệ ấy có chủ ý. Bởi, mùa xuân, tâm trạng con người ta thư thái hơn. Mùa xuân là dấu hiệu một vòng quay mới của đất trời. Con người cũng bước vào một tuần hoàn mới của tư duy, của nhận thức, của khát khao, mơ ước. Trạng thái, tâm tư của con người hòa hợp với cảnh sắc, với sự trỗi dậy của muôn loài, với thiên nhiên cựa quậy đầy sức sống. Ban đêm, khi lắng xuống mọi điều vất vả, lo toan, là lúc thức dậy những trằn trọc, trở trăn. Nhưng đêm xuân, nỗi trằn trọc, trở trăn ấy không bị dằn vặt, vật vã, đối đầu với cuộc mưu sinh, giảm bớt sự toan tính tầm thường. Đêm xuân, ánh sáng của trí tuệ bừng lên, thả bay trong lãng đãng, mơ màng về cõi nào đấy của thanh thản, trầm lắng. May ra, chỉ có “đêm thu” mới có thể sánh được với “đêm xuân”; nhưng, “đêm thu” trí tuệ thiên về việc “gói” lại và trầm ngâm những gì đã qua nhiều hơn?

“Tâm tư ai cũng thế” là một khái quát của một tâm hồn thơ, vừa nhân tình, nhân tính, vừa nhân văn, nhân loại. Cá thể người thơ thấu hiểu tâm sự chung nhiều người.

Thật bất ngờ khi người thơ “buông” câu kết rất… bất ngờ: “Bay xa khỏi mái nhà”! Cái gì bay xa khỏi mái nhà? “Đêm xuân” hay “tâm tư”? Và, tại sao lại phải bay đi?

Câu thơ này khiến tôi bật hình dung, nhớ lại. Nhiều lắm những ví dụ từ thực tế cuộc sống. Bên bàn trà hay bên mâm rượu, một mình hay bầu bạn quay quần, những suy nghĩ, những câu chuyện cứ dần dần loang ra, loang ra đến lúc các thứ trước mặt ta bỗng nhòa đi, biến mất, nhường chỗ cho những thứ xa tắp mù khơi. Hiện thực của thực tại chỉ còn bóng dáng mờ nhạt. Qua khứ, ẩn náu nơi nào, được khơi dậy. Thì tương lai thả sức bung ra trong tưởng tượng. Chuyện của trí nhớ và chuyện của trí tưởng tượng đan cài, móc nối, thành thử “chuyện nọ xọ chuyện kia”. Ban đêm, nằm một mình, dĩ chí nằm bên vợ/chồng, thì ý nghĩ càng không dừng lại ở thì hiện tại, Biết bao chuyện ập tới. Tâm tư không còn ở dạng trạng thái nữa. Nó đã thoát xác, bay khỏi thân thể, khỏi “vai ấp, má kề”, tới thế giới khác, không có trong thực tại. Mái nhà chỉ là một ước lệ. Thực tại cũng ước lệ mà thôi. Không có khuôn khổ nào, ranh giới nào ngăn cản nổi sức bay của tưởng tượng, của ước mơ và khát vọng. Không gian rộng lớn mới là nơi gặp gỡ, giao hòa, cảm thông và tiếp tục nâng cánh những bay lượn đó, để tạo nên miền cực lạc/thượng giới, mà con người thực tại hướng tới như một thiên đường để kết thành niềm tin.

Bài thơ haikư của Buson, vào thế kỷ XVII, khiến người đọc ngày nay “tương tư”, đặc biệt câu kết. “Đêm xuân” hay “tâm tư” vừa bay vừa không bay, đó chỉ là “điểm tựa” cho tư duy, cho tưởng tượng bay lên hòa vào không gian vô định

Cao Ngọc Thắng


Hai bài haiku xuân của Buson- Cao Ngọc Thắng

Xuân đang qua

chầm chậm, ngập ngừng

trên những cánh anh đào nở muộn

A passing spring

how low and hesitant

late cherry blossoms

alt

Một gốc anh đào

xem chừng lơ đễnh

khi mùa xuân sang

One cherrytree

appearing to neglect

the spring time

Hai bài thơ trên đây của thi sỹ Nhật Bản Buson (1716-1783), do Đinh Nhật Hạnh dịch và giới thiệu, đều có hình ảnh mùa xuân-hoa anh đào và một tâm trạng ẩn sâu trong đó.

Ta chưa nói tâm trạng đó là gì.

Trước hết, cả hai bài thơ đều đem đến cho ta “cái nhìn thấy được”. Ở bài thứ nhất: mùa xuân đang qua – đang dần đi đến kết cục, chuẩn bị chuyển mùa, khác với khi mùa xuân sang ở bài thứ hai – sự bắt đầu của tiếp diễn. Hai khung cảnh khác nhau về thời điểm, nhưng vẫn là xuân – mùa sinh sôi nảy nở của muôn loài, mùa của tươi xanh mơn mởn, của sức sống trỗi dậy. Dù đọc riêng từng bài, ta vẫn thấy cả không gian và cả thời gian dịch chuyển, bởi ở từ đang hoặc từ khi. Đó chính là cái khoảnh khắc của thiên nhiên (đối tượng) mà thi sỹ “thấy có vấn đề” để ghi nhớ vào tâm khảm của mình. Chỉ khác một điều, khoảnh khắc xuân ấy được cảm nhận lúc mở đầu (bài 1) hay khi kết thúc bài thơ (bài 2).

Dụng ý của nhà thơ đặt vào “cái thấy được” tiếp theo: cánh (hoa) anh đàogốc (cây) anh đào – một hình ảnh của tươi non, còn hình ảnh kia nhắc tới già cỗi đến gần. Cả hai hình ảnh đều có thật, song không phải ai cũng để ý, cũng “chớp” được. Chúng cũng là những khoảnh khắc khuấy động tâm hồn thi sỹ trong Buson.

Xuân đang qua/…/trên những cánh anh đào nở muộnMột gốc anh đào/…/khi mùa xuân sang là những hình ảnh khi đặt vào cấu trúc mỗi bài thơ đã chuyển hóa các đối tượng trong mối quan hệ ràng buộc, tạo nên “tứ” sinh động, có sức liên tưởng sâu xa. Nếu, xuân đang qua trên gốc cây anh đào, hoặc mùa xuân sang trên những cành anh đào, thì chẳng có gì để bàn, vì nó thông thường đến thông tục, và, nếu như vậy sẽ không bật ra tâm trạng nhà thơ.

Vì không có “cái nếu” ấy nên mới có câu thứ hai trong mỗi bài thơ với các cụm tù ngập ngừng hoặc lơ đễnh. Chính câu thứ hai trong mỗi bài là nơi thi sỹ gửi gắm cái tình, cái tâm trạng và có vai trò “đưa đẩy”, gắn kết các ý thơ thành bài thơ hoàn chỉnh.

Ở bài thứ nhất, cái chầm chậm, ngập ngừng chia cho cả hai (theo thiển ý cá nhân, chỉ nên chọn cặp từ “ngập ngừng” là đủ, là bao hàm và xúc tích). Xuân cũng ngập ngừng không muốn/không thể trôi nhanh, mặc cho sự kết thúc đang hối thúc, vì “nó” không nỡ để những cành đào nở muộn kia chưa kịp vươn tới đỉnh cao của sắc đẹp mà cả loài anh đào được hưởng. Những cánh anh đào, vì nở muộn, cũng ngập ngừng, không biết xuân có đợi mình không, có hiểu cho nỗi chậm chạp của mình không. Chỉ một khoảnh khắc, hai đối tượng - mùa xuân và những cánh anh đào, hiện ra đã khiến nhà thơ rung động và bật ra trạng thái tâm tư lan tỏa cả ba dòng thơ.

Ở bài thứ hai, trạng thái lơ đễnh cũng thật đặc sắc. Gốc anh đào cũng lơ đễnh. Mùa xuân cũng lơ đễnh. Thực ra cả hai, xuân và gốc anh đào, đều cần đến nhau, cần nương tựa vào nhau để xác định giá trị đích thực của mình trước người mẹ thiên nhiên. Song, cái lơ đễnh ấy nảy sinh bởi sự thờ ơ, có thể đi đến hắt hủi trong thế sự, trong nhân tình thế thái. Ở đây, hai từ xem chừng, tức là chưa khẳng định sự lơ đễnh, đã xóa đi cái mặc cảm “hắt hủi” ấy.

Hai bài thơ trên đây của thi sỹ Buson cách chúng ta hơn ba thế kỷ - người tiếp tục thi sỹ Basho khẳng định vị thế thể haiku trong nền thơ Nhật Bản và vươn ra thế giới - cho thấy sự thâm trầm, sâu sắc của thể thơ haiku. Dù ngày nay thơ haiku đã nhiều cải tiến, nhưng cách cấu trúc ba dòng-ba ý vẫn thu hút sự sáng tạo hướng tới sự tinh tế. Cách cấu trúc này, mà câu thứ hai – cũng là một ý độc lập, luôn là chất kết dính hai ý bên cạnh thành bài thơ hoàn chỉnh, vững vàng. Nó, câu thứ hai, có giá trị làm bật lên tâm trạng chung của cả bài thơ mà nhà thơ gửi một cách kín đáo vào từng ý/từng dòng/từng câu thơ.

Từ hai bài thơ này mới thấy: người làm công việc dịch thơ nói chung, dịch thơ haiku nói riêng, qua một ngữ thứ hai quả là khó và nhọc nhằn.

C.N.T


Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay88
mod_vvisit_counterHôm qua299
mod_vvisit_counterTất cả63101
Hiện có 26 khách Trực tuyến