Một trăm khúc Haiku hay nhất mọi thời đại

(http://www.thehypertexts.com/Best%20Haiku.htm)

Michael R. Burch* tuyển

Lê Văn Truyền dịch

Trần Anh Thơ hiệu đính

alt

Haiku là gì? Trong ngôn ngữ Nhật Bản, “hai” có nghĩa là “khác thường”/ “tuyệt vời” (unsual) và “ku” có nghĩa là “khổ thơ” (verse/strophe). Sir George Sansom gọi haiku là “những giọt tinh túy của thơ” (little drops of poetic essence). Harold Henderson gọi haiku là những khoảnh khắc “trầm tư/thiền định” (meditations). Tôi nghĩ về haiku như là những lát cắt được cấu trúc bằng ngôn từ, là “hình ảnh bằng ngôn ngữ”. Một định nghĩa có ích khác: haiku là những “hình ảnh siêu nghiệm” (transcendent images). Ví như khúc haiku sau đây:

Grasses wilt:
the braking locomotive
grinds to a halt.

Yamaguchi Seishi, Michael R. Burch phỏng dịch
Đám cỏ tàn úa

đầu tầu giảm tốc vào ga

nghiền nát

Trong phiến khúc haiku trên đây, những ngọn cỏ tàn úa mùa thu và bị đầu tầu vào ga nghiền nát tượng trưng cho sự già cỗi, chết chóc. Dưới bàn tay của thi sỹ tài hoa, hai hình ảnh đơn giản đã thay lời muốn nói.
Trong khi theo truyền thống Nhật Bản, haiku được viết thành 3 dòng với 5-7-5 âm tiết thì trong sáng tác haiku bằng tiếng Anh, đó không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, vì vậy dịch haiku khi cần thiết tôi thường dùng số âm tiết nhiều hơn miễn là chuyển tải được hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa của khúc haiku theo như tôi cảm nhận được.

Ảnh hưởng của haiku đối với thơ ca anh ngữ hiện đại là rất hiển nhiên và đậm nét. Quả thực, nhiều quy tắc của Chủ nghĩa hình tượng (Imagism) bắt nguồn từ haiku, như việc sử dụng sự tưởng tượng cụ thể và việc “xử lý trực tiếp sự vật (chủ thể/khách thể)”. Ezra Pound, cha đẻ và là người tiên phong của trường phái hình tượng đã dịch nhiều thơ phương Đông và cũng đã sáng tác nhiều bài thơ tương tự. Bài thơ “Trong ga tầu điện ngầm” là một trong những bài thơ có dáng dấp haiku của ông.

The apparition of these faces in the crowd;

Petals on a wet, black bough

Những khuôn mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa trên một cành cây khô, ướt đẫm.

Những thi phẩm nổi tiếng mang dáng dấp haiku gồm có “The Red Wheelbarrow” (Bánh xe cút kít mầu đỏ) của William Carlos Williams và “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách nhìn một con chim hét) của Wallace Stevens. Các nhà thơ Anh khác đã sáng tác, dịch và chịu ảnh hưởng của haiku gồm có Richard Wright, Allen Ginsberg, Gary Snyder, Jack Kerouac, Amy Lowell, Kenneth Rexroth, Margaret Atwood, Robert Hass và Paul Muldoon. Cũng có thể ghi nhận ảnh hưởng của Phương Đông đối với các sáng tác của những nhà thơ trường phái hiện đại đầu tiên như Walt Whitman, Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau.

Dưới đây là bản dịch của tôi* (Michael R. Burch - chú thích của người dịch) một số khúc waka cổ nhất của Nhật Bản, theo thời gian đã phát triển thành các biến thể như tanka, renga haiku. Những bản dịch của tôi được trích dẫn từ tác phẩm Kojiki (Thi phẩm của các bậc thầy), tác phẩm được nhà thơ Ô no Yasumaro biên soạn vào khoảng năm 711 - 712 sau Công Nguyên. Thi phẩm Kojiki thuật lại sự khởi đầu có tính thần thoại và lịch sử của vương triều. Giống như tác phẩm Aeneid của nhà thơ Virgil, Kojiki đã cố hợp thức hóa những quy tắc bằng cách thuật lại nguồn gốc các quy tắc ấy.

Đây là một trong những dòng thơ cổ nhất được ghi trong quyển sách cổ nhất của Nhật Bản:

While you decline to cry,
high on the mountainside
a single stalk of plumegrass* wilts.

Khi bạn muốn òa khóc

trên triền núi cao

một bông lau héo rũ

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Và đây, là một trích dẫn khác với sắc thái hài hước cũng từ Kojiki:
Hush, cawing crows; what rackets you make!
Heaven's indignant messengers,
you remind me of wordsmiths!

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh mịch, tiếng quạ kêu vang

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc ta nhớ về những nhà văn

Và một bài khác:
Onyx, this gem-black night.
downcast, I await your return
like the morning sun, unrivaled in splendor.

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Mã não, viên ngọc huyền

ta chờ em trở lại

như mặt trời rực rỡ vô song
Snow –obcured heights,
mist-shrouded slopes:
this spring evening.

Ilio Sõgi (1421-1502), Michael R. Burch phỏng dịch
Đỉnh núi tuyết phủ

dốc núi mờ sương

chiều Xuân chạng vạng
Soundlessly they go,
the herons passing by:
arrows of snow filling the sky.

Yamâzki Sõkan (1464-1552),Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn diệc lặng lẽ bay

những mũi tên tuyết trắng

ngập tràn bầu trời xanh
O, fluttering moon,
if only we could hang a handle on you,
what a fan you would be!

Arakida Moritake (1472-1549) Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng lung linh

ước gắn một cái cán

cho trăng thành chiếc quạt

An orphaned blossom
returning to its bough, somehow?
No, a solitary butterfly.

Arakida Moritake (1472-1549) Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa đơn côi sao lại bay lên cây?

ồ không, một chú bướm

tha thẩn trong nỗi buồn

Life: a solitary butterfly
swaying unsteadily on a slender stalk of grass,
nothing more. But so exquisite!

Nishiyama Soin (1605-1682), Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc đời: cánh bướm cô đơn

lửng lơ trên ngọn cỏ

không gì hơn, nhưng thật thanh tao

This darkening autumn:
my neighbor,
how does he continue?

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch
Mùa thu ảm đạm này

người hàng xóm của tôi

liệu có qua khỏi?

Autumn darkness

descends
on this road I travel alone

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch
Bóng tối mùa thu

buông xuống con đường

mình tôi độc hành

Lightning
shatters the darkness -
the night heron's shriek.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ánh sáng xua tan bóng tối

đêm đen

tiếng thét của những anh hùng

An ancient pond,
the frog leaps:
the silver plop and gurgle of water.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ao xưa

con ếch nhảy vào

nước xao ánh bạc

A crow settles
on a withered branch:
autumn nightfall.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch
Quạ đậu

trên cành cây khô

hoàng hôn mùa Thu

My eyes,
having observed everything,
returned to the white chrysanthemums.

Kosugi Isshõ (1652-1688), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi mắt tôi

sau trải nghiệm cuộc đời

hướng về đóa cúc trắng

A white swan
parts the cherry-petalled pond
with her motionless breast.

Roka (1671-1703), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái ức bất động

con thiên nga trắng

rẽ mặt ao ngập cánh anh đào

Năm 1692, Roka trở thành một môn đệ thụ giáo haiku với Basho; và đó là những năm cuối đời của Basho.

Useless dreams, alas!
Over desolate fields
winds whisper as they pass.

Uejima Onitsura (1661-1738), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, những giấc mơ hão huyền

như xạc xào cơn gió

lướt qua cánh đồng hoang

Observe:
see how the wild violets bloom
within the forbidden fences!

Shida Yaba (1663-1740), Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy ngắm nhìn

hoa tím dại bừng nở

bên bờ dậu hoang

Leaves, like the shadows of crows
cast by a lonely moon.

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Những chiếc lá như những con quạ đen

gieo trên mặt trăng cô đơn

A kite floats
at the same place in the sky
where yesterday it floated ...

Yosa Buson (1716-1783), Michael R. Burch phỏng dịch

Con diều trôi

trên bầu trời

đúng chỗ hôm qua nó lượn

Standing beneath cherry blossoms
who can be strangers?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ngồi dưới anh đào nở

có ai thấy xa lạ?

Overdressed for my thatched hut:
a peony blossoms.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Lợp lại mái tranh

túp lều của tôi

mẫu đơn bừng nở

Oh, magnificent peony,
please don't disdain
these poor surroundings!

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ơi đóa mẫu đơn lộng lẫy

xin đừng kiêu kỳ

giữa bao người nghèo đói

Insolent peony!
Demanding I measure your span
with my fan?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Bông mẫu đơn hỗn hào

đòi ta đọ ngươi

với cái quạt của ta?

"This big!"
The child's arms
measured the peony.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay trẻ thơ

đo cánh mẫu đơn

“Ồ! Nó to thật!”

Peonies blossom;
the world is full of fibbers.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch
Hoa mẫu đơn bừng nở

quanh ta đầy người dối trá
Hình như Issa có một phức cảm yêu – ghét đối với những bông hoa mẫu đơn, bà viết đến 84 khúc haiku về loài hoa này, khi thì ca ngợi và khi thì phê phán sự kiêu kỳ của chúng.

Sing, my sacred tortoiseshell lyre;
come, let my words
accompany your voice

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cây thụ cầm đồi mồi thần thánh

hãy cất tiếng đàn

cho ta hòa theo

Sappho là nhà thơ trữ tình đầu tiên đến nay chúng ta vẫn nhắc đến tên tuổi và nữ thi sỹ có thể vẫn là nhà thơ trữ tình lớn nhất. Nữ haijin nổi tiếng về sự dí dỏm, giống như haiku đơn giản, súc tích đôi khi đến mức làm ta sửng sốt. Vì tôi đã phụ trách một trang thơ về những vần thơ trữ tình hay nhất mọi thời đại, dòng thơ haiku sau đây đã xuất hiện với tôi một cách hoàn toàn bất ngờ, và hoàn toàn không có ý định từ trước, tôi đã chấm dứt trang thơ này và bắt đầu dịch nhiều bài haiku.

Dark-bosomed clouds
pregnant with heavy thunder ...
the water breaks

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Những đám mây đen

mang sấm sét trong lòng

trời bỗng tuôn mưa

The butterfly
perfuming its wings
fans the orchidMatsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm

quạt cánh hoa lan

ướp thơm đôi cánh

Thật thú vị khi nhận thấy sự tương đồng giữa ba bài thơ của những nhà thơ rất khác biệt. Sappho là một nhà thơ của Hy Lạp cổ đại sinh trưởng ở đảo Lesbos; tính cách tình dục đồng giới của bà đã mang lại sự biểu đạt và nghĩa rộng của những từ “Lesbian” hay “Sapphic” mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay.

Matsuo Basho là một bậc thầy haiku cổ của Nhật Bản, đã ảnh hưởng (và vẫn tiếp tục ảnh hưởng) đến nhiều nhà thơ Phương Tây. Tôi là một nhà thơ Mỹ không mấy tên tuổi nhưng rất yêu thích các trường phái thơ ca khác nhau. Các bài thơ cùng có chung một loạt các đặc điểm: sự khúc chiết, súc tích, trong sáng và việc sử dụng hình ảnh để biểu đạt cảm xúc. Trong mỗi bài thơ, người thi sỹ sử dụng hình ảnh để biểu đạt nhiều thông tin về cảm xúc của mình còn nhiều hơn những dòng văn xuôi.

Sappho viện dẫn đến cây đàn lyre, một loại đàn giống cây thụ cầm (đàn harp), nhạc cụ đã đem lại thuật ngữ hiện đại “thơ trữ tình” (lyric poetry). Khi Sappho nói đến “cây đàn lyre thần thánh” (the lyre sacred), nhà thơ cũng đã viện dẫn đến Muse, những nữ thần Thơ Ca (những vị thần của Hy Lạp cổ đại đã giải thích cội nguồn của thi ca, là nguồn cảm hứng tuyệt diệu).

Thơ haiku của Basho là những tuyệt tác có thể làm cho ta nhầm lẫn vì vẻ ngoài đơn giản của chúng, nhưng chúng có thể lột tả một cách sinh động bản chất cộng sinh (symbiotic nature) của đời sống. Những con bướm hút mật hoa, và qua đó giúp hoa thụ phấn. Thơ của Basho là một minh chứng cho nghệ thuật phản ánh thiên nhiên; thật khó để nói lên cái gì là đáng yêu hơn: con bướm, nhành lan hay những dòng thơ được chạm trổ một cách trang nhã. Khúc haiku của tôi so sánh những đám mây tích sấm sét trước cơn mưa với một thai phụ vỡ ối. Tôi cho rằng đó là một hình ảnh có hiệu ứng, mặc dù tôi nghĩ bạn đọc có thể cho rằng rằng tôi không xứng đáng là một bậc thầy haiku. Hy vọng rằng, tôi có thể dành cho bạn đọc sự tôn kính xứng đáng. Và bây giờ, sau đây là những khúc haiku tôi yêu thích.

Pausing between clouds
the moon rests
in the eyes of its beholders

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những đụn mây trắng

Chị Hằng nghỉ ngơi

trong mắt người chiêm ngưỡng

Khúc haiku trên đây cũng đã chứng tỏ được sự đơn giản và sức mạnh của bài thơ dưới tay một ngòi bút tài năng. Khi một bậc thầy như Basho viện dẫn hình ảnh của mặt trăng, Basho có thể cuốn hút chúng ta đến với tất cả những gì chúng ta biết và tất cả cảm xúc của chúng ta về Chị Hằng.

Oh, fallen camellias,
if I were you,
I'd leap into the torrent!

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi đóa hoa trà

nếu là ngươi

ta đã gieo mình vào giòng suối

Bài thơ trên đây là một khúc haiku khác mà tôi đặc biệt yêu thích, vì nhà thơ đã làm người đọc thấu cảm và thông cảm với những nhành hoa khô héo. Khi tôi dịch bài thơ này, tôi nhín thấy ở bên ngoài những cánh hoa rơi tơi tả trong mưa và hình như nhà thơ gợi cho ta rằng một cái chết nhanh chóng tốt hơn một cái chết từ từ, chậm rãi. Bài thơ hình như cũng là một gợi ý tự vẫn hoặc cái chết không đau đớn (euthanasia) cũng là một giải pháp so với cái chết kéo dài, mặc dù vẫn có những cách diễn giải khác nhau về khúc haiku này. Một bài thơ hay là một bài thơ có thể gợi cho người đọc nhiều cách thưởng ngoạn khác nhau.

Eros harrows my heart:
a wind on desolate mountains
uprooting oaks.

Sappho, fragment 42, Michael R. Burch phỏng dịch

Người anh hùng dày vò tim ta

ngọn gió trên núi đồi hoang vu

bật gốc cây sồi già

Tôi nghĩ trong bài thơ này của Sappho hiện hữu “sự tương đồng nguồn cội” (family resemble) giữa dòng thơ trữ tình ngắn gọn, súc tích và đầy sức gợi của Sappho với dòng thơ của các bậc thầy phương Đông.

when you opened
my letter
were you surprised
my heart
fell out?

Michael Windsor McClintock (USA)

Khi mở lá thư anh

em có ngạc nhiên

thấy trái tim anh rơi ra?

next door
the lovemaking
subsides
stars fall
from other worlds

Michael Windsor McClintock (USA)

Nhà bên cuộc yêu lắng xuống

những vì sao rơi

từ thế giới khác

an old photo of my parents
young and happy -
of all the things I own
that is the saddest

Michael Windsor McClintock (USA)

Một bức ảnh cũ

bố mẹ vui vẻ trẻ trung -

buồn thay những gì tôi đang có

Ba bài thơ trên đây là của Michael Windsor McClintock, một nhà thơ Hoa Kỳ đương thời. Vào những năm 1960’ nhà thơ là Phụ Tá Biên Tập tạp chí Haiku Hightlights. Trong những năm 70’ ông là Phụ Tá Biên Tập tạp chí Modern Haiku và là biên tập tạp chí American Haiku Poets Series và tạp chí Seer Ox: American Senryu Maggazine. Tôi nghĩ các bài haiku của ông đã cho thấy một hình ảnh trong sáng, giản dị có thể gợi cho ta bao nhiêu là cảm xúc: một phong thư được mở ra, một ngôi sao băng trên bầu trời, một bức ảnh của người yêu dấu đã rung động trái tim ta như thế nào.

Tôi nghĩ những bậc thầy thời xưa cũng sẽ tán thưởng những bài thơ như thế này.

One apple, alone
in the abandoned orchard
reddens for winter

Patrick Blanche, Michael R. Burch phỏng dịch

Quả táo cô đơn

trong vườn hoang

ửng hồng đón mùa Đông

Bài thơ trên đây là của một nhà thơ Pháp cho thấy thơ ca của các bậc thầy Phương Đông đã ảnh hưởng như thế nào đến nền thi ca trên thế giới.

Our life here on earth:
to what shall we compare it?
It is not like a rowboat
departing at daybreak,
leaving no trace of us in its wake?

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc sống ta trên trái đất này

có gì sánh được?

không giống chiếc du thuyến

khởi hành lúc rạng đông

không để lại dấu vết gì trên đuôi sóng

Bài thơ trên đây là một bài tanka, một thể thơ phương Đông khác. Bài thơ nói về bệnh tật của con người: có bao nhiêu người đã chết mỗi ngày mà không “wake” (thức dậy)? Đối với mỗi Shakespeare trong ta, có hàng triệu con người bình thường (non-entity), ít nhất là theo nghĩa trong ký ức của mọi người. Nhà thơ hay nhất là nhà thơ biết nói lên sự thật. Không như những “ông lang băm” và những “ông thầy bói”, nhà thơ đem đến cho độc giả sự thật trần trụi mà nhà thơ cảm thấy được.

Graven images of long-departed gods,
dry spiritless leaves:
companions of the temple porch

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hình ảnh của thần linh

khắc trên những chiếc lá khô vô hồn

bạn đồng hành của cổng đền

Tôi rất thích khúc haiku trên đây của Basho bởi vì nó đề cập đến tính xác thực và quyền lực của tôn giáo. Các “lang băm”, thầy tu và các nhà truyền giáo của bất kỳ tôn giáo nào cũng muốn nói về Thượng Đế và thánh thần nhưng Thượng Đế của họ bất công và vô hiệu một cách khác thường. Thượng đế của những “lang băm”, tu sĩ và nhà truyền giáo không bao giờ có thể tránh được bệnh tật và cái chết: với các nhà thơ nói lên sự thật, điều đó là hiển nhiên.

Sau đây là một bài thơ làm cho tôi nghĩ rằng Basho không bao giờ là tín đồ của những tôn giáo được lập ra như vậy:

The temple bells grow silent
but the blossoms provide their incense
a perfect evening!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chuông chùa dần lặng

hoa nở ngát hương

màn đêm tuyệt vời

Và một bài khác:

See: whose surviving sons
visit the ancestral graves
white-bearded, with trembling canes?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nhìn: những đứa con sống sót

râu tóc bạc run rẩy chống gậy

viếng mộ cha ông

Một lần nữa, Basho đã nói lên một cách trung thực một sự thật rất thuyết phục dù có làm cho ta nản lòng. Những nhà thơ Hy Lạp cổ đại cũng không ngần ngại nói về cái chết một cách trực diện. Sau đây là một đoạn văn bia Hy Lạp cổ đại khắc trên đá làm gợi nhớ đến Basho:


Does my soul abide in heaven, or hell?
Only the sea gull
in his high, lonely circuits, may tell.
Michael R. Burch, theo Glaucus

Linh hồn tôi ngụ trên Thiên Đàng hay dưới Địa Ngục?

chỉ những con mòng biển cô đơn

trên trời cao mới biết

Và đây là một đoạn văn bia cổ Hy Lạp khác có thể sánh được với một khúc haiku hay nhất về sự đơn giản, chân thật, rõ ràng và thẳng thắn của nó:

Mariner, do not ask whose tomb this may be,
but go with good fortune: I wish you a kinder sea.

Michael R. Burch, theo Plato

Này, thủy thủ, đừng hỏi đây là nấm mồ của ai

hãy ra khơi may mắn

hãy là đứa con của biển khơi

Hai khúc haiku dưới đây là của một nữ haijin, Hisajo Sugita:

I remove my beautiful kimono:
its varied braids
surround and entwine my body

Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiếc kimono đẹp buông rơi

quanh thân tôi

chỉ còn những dải áo

This day of chrysanthemums
I shake and comb my wet hair,
as their petals shed rain
Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày Hoa cúc

tôi vẩy làn tóc ướt

cánh hoa tỏa mưa


Sau đây là một số khúc haiku của Matsuo Basho:

Let us arrange
these lovely flowers in the bowl
since there's no rice

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hãy cắm những bông hoa đẹp

trong cái bát

khi không còn một hạt cơm

The first soft snow:
leaves of the awed jonquil
bow low

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết đầu mùa:

lá cây hoa trường thọ

cúi chào

Come, investigate loneliness!
a solitary leaf
clings to the Kiri tree

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy đến đây, nỗi cô đơn!

một chiếc lá mồ côi

níu lấy cành Kiri

The first chill rain:
poor monkey, you too could use
a woven cape of straw

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mưa đầu mùa lạnh lẽo:

con khỉ đáng thương

hãy đội cái mũ rơm


This snowy morning:
cries of the crow I despise
(ah, but so beautiful!)

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Buổi sáng tuyết lạnh này

chẳng màng tiếng quạ kêu

(ôi, buổi sáng tuyệt đẹp)

Like a heavy fragrance
snow-flakes settle:
lilies on rocks

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Như mùi hương ngát

hoa tuyết đậu trên đá:

những bông huệ tây

The cheerful-chirping cricket
contends gray autumn's gay,
contemptuous of frost

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Tiếng dế rả rích

đua với thu vàng

không màng sương giá

Whistle on, twilight whippoorwill,
solemn evangelist
of loneliness

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hoàng hôn, tiếng hót chim bắt muỗi

phúc âm trang nghiêm

nỗi niềm hiu quạnh

The year's first day ...
thoughts come, and with them, loneliness;
dusk approaches

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày tân niên

cô đơn cùng những suy tư;

hoàng hôn buông xuống

An empty road
lonelier than abandonment:
this autumn evening

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con đường hoang vắng

cô đơn hơn bị bỏ rơi

trong chiều thu này

Ballet in the air!
two butterflies, twice white,
meet, mate, unite.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vũ điệu trong không trung

đôi bướm trắng

gặp nhau, kết đôi, hòa hợp

High-altitude rose petals
falling
falling
falling:
the melody of a waterfall.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Từ trên cao

những cánh hoa hồng

rơi

rơi

rơi

giai điệu của dòng thác

The cicada's cry
contains no hint to foretell
how soon it must die.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ve sầu ca vang

không hề biết trước

khi nào đời tàn

Fever-felled mid-path
my dreams resurrect, to trek
through a hollow land

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa cơn sốt kinh hoàng

những giấc mơ trỗi dậy

dìu tôi qua những miền đất hoang

The sea darkening,
the voices of the wild ducks:
my mysterious companions!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mặt biển tối dần

tiếng kêu những con vịt hoang

những người bạn đường bí ẩn

Will we meet again?
Here at your flowering grave:
two white butterflies

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Khi nào ta gặp lại

trên nấm mồ nở hoa

hai con bướm trắng

These wilting summer flowers?
The only remains
of "invincible" warriors

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Những bông hoa mùa hè tàn héo

chỉ còn lại dấu tích

những người chiến binh vô địch

Spring has come:
the nameless hill
lies shrouded in mist

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mùa xuân đã đến

ngọn đồi vô danh

ẩn mình trong sương

Among the graffiti
one illuminated name:
yours.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Giữa những bức tranh tường

chỉ một cái tên rực rỡ

đó là tên em

A spring wind
stirs willow leaves
as a butterfly hovers unsteadily.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Gió Xuân

lá liễu lay

như cánh bướm lửng lơ

Swallow flitting in the dusk,
please spare my small friends
buzzing among the flowers!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Chim nhạn lượn trong bóng đêm

hãy để những người bạn nhỏ của tôi

bay liệng giữa những đóa hoa

Morning glories blossom,
reinforcing the old fence gate

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Bình minh huy hoàng bừng nở

cổng rào cũ chắc hơn

Scrawny tomcat!
Are you starving for fish and mice
or pining away for love?

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Con mèo đực khẳng khiu

vì đói ăn

hay vì nỗi thất tình day dứt

The moon: glorious its illumination!
therefore, we give thanks
dark clouds cast their shadows on our necks

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hằng Nga lộng lẫy

cám ơn những đám mây đen

tỏa bóng trên cổ ta


Curious flower,
watching us approach:
meet Death, our famished donkey

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Bông hoa kỳ dị

canh chừng chúng ta:

con lừa khốn khổ gặp Thần Chết


Ah me,
I waste my meager breakfast
morning glory gazing!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Ồ, tôi bỏ

bữa điểm tâm đạm bạc

ngắm bình minh rực rỡ

Và dưới đây là một số bài của các nhà thơ khác:

Right at my feet!
When did you arrive here,
snail?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú sên

đến đây khi nào

ngay dưới chân ta

Oh, brilliant moon
is it true that even you
must rush away, as if tardy?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng sáng

cũng vội vàng trôi

như sắp muộn rồi

Ghostly the gray cow comes
mooing
mooing

mooing
out of the morning mist.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Con bò xám gầy trơ xương

một sáng mờ sương

rống lên ai oán

Peonies blossom;
the world is full of blooming liars.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa diên vỹ nở

thế giới đầy người dối trá

After killing a spider,
I was overcome by loneliness
in the bittercold night.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Tôi giết một con nhện

lòng ngập tràn cô đơn

trong đêm đen giá buốt

Summer river:
ignoring the bridge,
my horse charges through the water.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Lờ đi cây cầu

trên sông mùa hạ

ngựa thồ qua sông

After the fireworks,
the spectators departed:
how vast and dark the sky!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Sau màn pháo hoa

mọi người đi rồi

trời đêm mênh mang

Such a small child
sent to become a priest:
frigid Siberia!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Như chú tiểu đồng

thụ giáo đi tu

Siberi lạnh lẽo

We cannot see the moon
and yet the waves still rise

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Chẳng thấy được chị Hằng

sóng biển vẫn trào dâng

The first morning of autumn:
the mirror I investigate
reflects my father’s face
Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Một sáng mùa Thu

trong gương tôi soi

cha tôi hiện bóng


Wild geese pass
leaving the emptiness of heaven
revealed

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn ngỗng trời bay qua

để lại khoảng trống

trên bầu trời bao la

Silently observing
the bottomless mountain lake:
water lilies

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Lẳng lặng ngắm nhìn

mặt hồ không đáy trên núi:

những bông hoa súng

Cranes
flapping ceaselessly
test the sky's upper limits

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những con sếu

vỗ cánh không ngừng

thách thức trời cao

Falling snowflakes'
glitter
tinsels the sea

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những hoa tuyết rơi

lấp lánh

trang hoàng biển xanh

Blizzards here on earth,
blizzards of stars
in the sky

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên mặt đất bão tuyết

trời cao

bão sao băng


Completely encircled
in emerald:
the glittering swamp!

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọc lục bảo bao quanh

đầm lầy lấp lánh

The new calendar!:
as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Quyển lịch mới

như nói cùng ta

ngày mai có chắc …


Ah butterfly,
what dreams do you ply
with your beautiful wings?

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, con bướm

miệt mài dệt giấc mơ nào

với đôi cánh đẹp

Because morning glories
hold my well-bucket hostage
I go begging for water

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái gầu của tôi

vướng phải dây hoa bìm bìm

tôi đi xin nước


Spring
stirs the clouds
in the sky's teabowl

Kikusha-ni, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân

lay động những áng mây

bầu trời trong chén trà

Tonight I saw
how the peony crumples
in the fire's embers

Katoh Shuhson, Michael R. Burch phỏng dịch

Đêm nay tôi thấy

cánh diên vỹ nát nhàu

trong tro tàn lò sưởi

It fills me with anger,
this moon; it fills me
and makes me whole

Takeshita Shizunojo, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng làm tôi giận dữ

cũng vầng trăng này

đem lại bình yên

War
stood at the end of the hall
in the long shadows

Watanabe Hakusen, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiến tranh

trong bóng tối
đứng ở cuối đại sảnh

Because he is slow to wrath,
I tackle him, then wring his neck
in the long grass

Shimazu Ryoh, Michael R. Burch phỏng dịch

Anh ấy không cáu gắt

nên tôi vít cổ anh

lăn xoài trên cỏ xanh


Pale mountain sky:
cherry petals play
as they tumble earthward

Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Bầu trời nhạt nhòa trên non

những cánh hoa gió lay

rối tung trên mặt đất
Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

The frozen moon,
the frozen lake:
two oval mirrors reflecting each other.

Hashimoto Takako, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng đóng băng

mặt hồ đóng băng

hai tấm gương hình trái xoan phản chiếu

The bitter winter wind
ends here
with the frozen sea

Ikenishi Gonsui, Michael R. Burch phỏng dịch

Gió đông lạnh buốt

ngừng thổi nơi này

biển xanh băng giá

Oh, bitter winter wind,
why bellow so
when there's no leaves to fell?

Natsume Sôseki, Michael R. Burch phỏng dịch

Hỡi gió đông lạnh

còn gào thét làm chi

khi cây đà trụi lá

Winter waves
roil
their own shadows

Tominaga Fûsei, Michael R. Burch phỏng dịch

Những đợt gió Đông

khuấy đục

bóng mình

No sky,
no land:
just snow eternally falling ...

Kajiwara Hashin, Michael R. Burch phỏng dịch

Tuyết rơi, tuyết rơi

không trời

không đất

Along with spring leaves
my child's teeth
take root, blossom
Nakamura Kusatao, Michael R. Burch phỏng dịch

Răng sữa con tôi

cũng bắt đầu nhú

mầm xuân nẩy chồi

Stillness:
a single chestnut leaf glides
on brilliant water

Ryuin, Michael R. Burch phỏng dịch

Trong tĩnh lặng:

chiếc lá dẻ rơi

lướt trên mặt nước

As thunder recedes
alone tree stands illuminated in sunlight:
applauded by cicadas

Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Sấm sét qua rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

đàn ve hòa ca

The snake slipped away
but his eyes, having held mine,
still stare in the grass

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Con rắn trườn trong đám cỏ

đôi mắt không rời

khiến tôi bất động

Girls gather sprouts of rice:
reflections of the water flicker
on the backs of their hats

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Những cô gái gieo mạ

ánh nước lung linh

đằng sau chiếc nón

Murmurs follow the hay cart
this blossoming summer day

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Xe ngựa thồ cỏ khô

lọc cọc

ngày hè hoa nở

The wet nurse
paused to consider a bucket of sea urchins
then walked away

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Dừng chân ngắm đám nhím biển

rồi cất bước đi

cô nhũ mẫu ướt đẫm

May I be with my mother
wearing her summer kimono
by the morning window

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Ước gì được cùng mẹ

khoác chiếc kimono

một sáng hè bên cửa sổ

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Vẫn đôi tay ấy

người đàn bà bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

The moon
hovering above the snow-capped mountains
rained down hailstones

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên đỉnh núi tuyết

chị Hằng rong chơi

tuôn rơi mưa đá

Oh, dreamlike winter butterfly:
a puff of white snow
cresting mountains

Kakio Tomizawa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm mùa đông đẹp như mơ

bông tuyết trắng

đồi núi nhấp nhô

Spring snow
cascades over fences
in white waves

Suju Takano, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết mùa Xuân

đọng trên hàng rào

những làn sóng trắng


LỜI BẠT

Haiku “những giọt tinh túy của thơ” hay còn được gọi là “những hình ảnh siêu nghiệm” của các haijin Nhật Bản qua bản dịch tiếng Anh của nhà thơ Hoa Kỳ Michael R. Burch đã được người dịch không chuyên, haijin Lê văn Truyền dịch ra tiếng Việt, thổi hồn cho những gì là tinh túy và siêu nghiệm trong thế giới cõi người và cõi đời này. Những trải nghiệm buồn vui, đau đớn từ những gì cụ thể nhất của nơi sâu thẳm tình người và tình đời cho đến chốn vô thức mà vẫn long lanh như những giọt sương mai đọng trên những nỗi niềm trắc ẩn nơi con người. Thật đúng như lời học giả Jeihyi Hsich: “Cuộc sống là một phần những gì chúng ta đã làm nên, và một phần được làm nên bởi những người ta chọn làm bạn”.

Thành công của người dịch không chuyên này là đã làm nổi bật một thực tế là ảnh hưởng của nền thơ haiku Nhật Bản đối với thơ ca Anh ngữ hiện đại là rất hiển nhiên và đậm nét. Có thể nói rằng chủ nghĩa Ấn tượng phương Tây phần nào đã bắt nguồn từ dòng thơ haiku đặc sắc của người Nhật, như việc sử dụng sự tưởng tượng cụ thể và việc xử lý trực tiếp khách thể trong những phiến khúc haiku sau đây:

Những gương mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa

trên cành cây khô ướt đẫm

và:

Khi bạn muốn òa khóc

trên núi cao

một bông lau héo rũ

Những nét chấm phá đầy tính ẩn dụ đã làm cho khung cảnh hoang sơ bỗng như sống dậy, biết đi, biết nói, biết cất lên tiếng hát và cũng biết gào thét những nỗi truân chuyên của số phận đời người.

Ta hãy lắng nghe phiến khúc sau đây:

Tĩnh mịch tiếng quạ kêu

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc ta nhớ về những nhà văn

Người đọc khó tưởng tượng rằng khúc haiku ấy lại chứa đựng cái hài hước, hóm hỉnh, tương phản giữa thế giới thực tại với không gian tĩnh mịch có tiếng quạ kêu để nhắc nhở người đời nhớ về một thế hệ xa xưa của một thời quá vãng. Vâng, ẩn ý ở đây là hãy “uống nước, nhớ nguồn” như một đạo lý, một lẽ sống ở đời mà ông cha ta thường dạy.

Qua một trăm phiến khúc haiku của các haijin Nhật Bản được Burch tuyển chọn, người dịch không chuyên haijin Lê văn Truyền đã giao lưu trực tiếp với các tác giả mà ông yêu thích, đây đó có lúc mê say như đang lạc lối vào cõi Thiên Thai, bởi lẽ những vần thơ chuyển ngữ đã minh chứng cho những cảm xúc thăng hoa mà ông là “người chép lại”. Thơ là người. Ông đã làm sống lại cái cảm hoài của các haijin xa xưa:

Những đợt gió Đông

khuấy đục

bóng mình

và:

Sấm sét qua rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

đàn ve hòa ca

rồi thâm trầm hơn, tinh túy hơn và siêu nghiệm hơn khi tự hỏi:

Khi nào ta gặp lại

trên nấm mồ nở hoa

hai con bướm trắng

Vâng, người dịch, sau những trải nghiệm, tri niệm và tri âm cùng với nhiều tác giả, những phiến khúc tuyệt vời của các haijin Nhật Bản đã vào ngồi cùng với ông trong Vườn Thơ Việt Nam.

Vâng, trong sự lãng mạn của suy cảm, những vần thơ dịch đã làm sáng lên tinh thần yêu thơ haiku của một dịch giả không chuyên Việt Nam.

Trần Anh Thơ

Phó Chủ nhiệm Khoa tiếng Anh

Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ - Hà Nội

MICHAEL R. BURCH

Michael R. Burch (sinh ngày 19-2.1958) là giám đốc một công ty công nghệ thông tin ở Mỹ. Ông đồng thời là nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận và nhà biên tập, sống ở Nashville, bang Tennessee.

Ông cũng là một nhà hoạt động vì hòa bình, là tác giả của sáng kiến hòa bình Burch-Elberry được mạng Diễn Đàn Quốc Gia về Liên Kết Tiến Bộ của Ấn Độ công bố. Ông cũng là nhà hoạt động tích cực cho trường phái New Formalist (Tân Hình Thức) và Neo-Romanticism (Tân Lãng Mạn). Ông đã công bố những bài thơ hay nhất trên trang mạng thơ The HyperTexts xuất hiện trong suốt hai thập kỷ qua và theo đánh giá của Google đã có hơn hai triệu lượt truy cập kể từ năm 2010. Thơ và truyện ngắn của Burch đã được đăng trên các tạp chí: TIME, USA Today, Writer Digest, Writer’s Journal, Writer’s Gazette, The Lyric, Poet Love … và trên hàng trăm tạp chí thơ ca khác. Ông phụ trách một cột báo hàng tuần trên tờ Nashville’s City Paper trong ba năm cho đến khi chuyên mục này ngừng vào năm 2013. Ông cũng dịch thơ từ tạp chí Old English và các ngôn ngữ khác ra tiếng Anh hiện đại. Burch đã dịch thơ của nhiều nhà thơ trong đó có Basho, Bertolt Brecht, Robert Burns, William Dunbar, Allama Iqbal, Ono no Komachi, Miklós Radnóti, Rainer Maria Rilke, Reneé Vivien và Sappho.

Michael R. Burch đã đạt 5 giải thưởng “Pushcart Prize” từ các nhà xuất bản The Aurorean, Romantics Quarterly, The Raintown Review, Trinacria và Victorian Violet Press. Tác phẩm “Ordinary Love” của ông được giải thưởng thơ “Algernon Charles Swinburne Poetry Award”. Đồng thời ông cũng đạt 6 giải thưởng các cuộc thi thơ và 35 giải thưởng các cuộc thi văn học khác.

Ông kết hôn với ca sỹ Elizabeth Harris Burch và có người con trai Jeremy Michael Burch là ca sỹ, nhạc sỹ và diễn viên.

(Theo WIKIPEDIA tiếng Việt)

Haiku Thế giới 2020- WHA Reviews No 16

Thưa các bạn, Hiệp hội Haikư Quốc tế (World Haiku Association) do Chủ tịch Ban’ya Natsuishi thành lập và chủ trì từ năm 2.000 là một trong 7 tổ chức quốc tế cùng một mục tiêu phổ cập và tổ chức sáng tác thể thơ này trên thế giới nhưng theo phong cách Haikư hiện đại mà |HKV đã góp phần tham luận năm 2015 tại Đại Hội Haiku Thế giới lần thứ 8- Tokyo. Thư tịch rất phong phú của WHA hiện có trên hàng vạn khúc Haiku chọn lọc từ hàng trăm hội viên của 78 quốc gia và vùng lãnh thổ.May mắn thay, dù gia nhập muộn năm 2012 nhưng KV-Hà Nội đã sở hữu đầy đủ kho tàng THƠ và LÝ LUÂN vô giá ấy nhờ ưu ái của ngài Chủ tịch và phu nhân Sayumi Kamakura.Xin tuần tự tuyển dịch hầu các bạn thân quý một phần rất nhỏ,chọn lọc.

alt

Xin thưa! Nếu như sáng tác HKV là một niềm vui sáng tạo,đầy ngẫu hứng chủ động tung tẩy khôn cùng theo thi hứng tuôn trào của tác giả thì ngược lại- dịch Thơ HK nước ngoài luôn bị hạn chế trong khuôn mẫu của bài thơ nguyên tác,không thể tự do thêm bớt nội dung.Trình độ và khả năng có hạn nên ngại ngùng ,nhiều khi hơi chút nản nhưng sức hấp dẫn của nguồn thơ thế giới quá mạnh,ăm ắp chân trời thơ luôn mê hoặc,lại luôn đựơc bè bạn và bạn đọc tích cực động viên nên vẫn say mê tiếp tục. Rất mong trên thi đàn Haikư Việt mênh mông, hấp dẫn mảng Thơ dịch này của các Haijin Lê Văn Truyền, Đinh Trần Phương,Trần Hữu Hiển, Nghiêm Xuân Đức… luôn được hoan nghênh và mong đón nhận sự chỉ giáo, uốn nắn chân tình của các bậc thức giả uyên bác trong và ngoài nước.

Trân trọng.

alt

Bo Lille (1949-) Đan Mạch

1-the sea is quiet / fishermen stand in the sun / reddish like their sea

-Biển lặng như tờ

dãi dầu nắng gió

da ngư phủ đỏ như màu biển họ


2-red blood of the sky / seeps along the waves / slashing at the beach

-Bầu trời bầm đỏ máu

lênh loang trên sóng ,

quật mạnh vào bờ


3-sun on the waves / sneaking in my direction / am I its favorite?

-Mặt trời rực ngọn sóng

len lén chiếu phía tôi

phải chăng mình được chuộng?


Mohammed Bennis(1948-) Morocco

1-Elle apparait de 4 coins qui donnent sur l’infini / Nudité de la grande vallée

-Lồng lộng 4 phương trời

vô tận …

Thung lũng lớn khỏa thân


2-Quand je lui parle des amis perdus / j’entends les échos de leurs voix Des chemins dévastés me regardent

-Kể với anh về những người đã mất

tôi như nghe tiếng họ vọng về…

Những con đường bị tàn phá nhìn tôi…


3-Dans l’ombre, je la devine marcher /elle change de taille et de couleurs / En cadence ,tombe la pluie

-Trong bóng đêm, tôi đoán nàng đang bước

sắc màu cùng vóc dáng đổỉ thay

Nhịp nhàng ,mưa rơi rơi


Goda Virginija Bendoraitienne (1968-) Lithuania –Nữ

1-Sea is open to sky / sky is open to sea / just breath

-Biển mở rộng tận trời

Trời ôm chầm lấy biển

hổn hển thở bên nhau


2-It’s raining light / from golden leaves / My new name is Grand Ma

-Mưa ánh sáng rắc vàng

từ lá cành rực rỡ

mình vừa lên chức BÀ !


3-The New Year abroad / travelled far enough / To meet… myself

-Ăn Tết ở nước ngoài

lộ trình xa đáng kể-

Để mình lại gặp… mình


Tibor Bornai (1955-) Hungary

1-A poem is crying / panting and groaning/ A poet is born

-Một bài thơ đang khóc than,

hổn hển và rên rỉ

Một nhà thơ ra đời


2-I’m afraid that / it is not a dream / Only colorful reality

-Tôi đang rất lo

đó không là giấc mơ

chỉ là một sự thật màu mè


3-If I find you out / I’ll not see you in order / to look for you more !

-Nếu còn thấy em ra ngoài

anh sẽ không gặp em nữa

để trông mong thêm gì!


Ryuji Yamagishi (1966-) Nhật Bản

1-New year / I’m / nothing

Năm mới

Cái thằng tôi

chẳng ra cái quái gì!


2-Strong dry wind / the bookstore for porn / doesn’t go bust for some reason

-Một luồng gió lạnh khô khốc

hiệu sách khiêu dâm này không thua lỗ

vì một lý do nào đây


3-Coming out from the anesthetic / I recall/ winter Milky Way

- Sau mổ, thoát khỏi gây mê

bỗng tôi nhớ lại

giải Ngân Hà mùa đông


Ichitaro Yamamoto (1973-) Nhật Bản

1-This zone without wind / darkness is spreading / between the galactic stars

-Miền này lặng gió

bóng tối trùm lan

giữa những ngôi sao trên giải Ngân Hà


2-Searching for round cobbles / I only find / the strange faces

-Đi tìm đá cuội tròn

tôi chỉ thấy

toàn những khuôn mặt lạ


3-Sounds of insects / I can’t find / a door to sleep !

-Côn trùng nỉ non

không sao tìm nổi

cái cổng nào qua đêm!


Ivanka Yankova ( 1936-) Bungary

1-A tear / on the face of a child / the sound of a church bell

-Giọt nước mắt

trên khuôn mặt bé

Vọng tiếng chuông nhà thờ


2-Cold rain / a sore verse / in my throat

-Mưa lạnh

một câu thơ nhức nhối

mắc trong cổ họng mình


3-The moon / behind a cloud / scurrying footsteps of migrants

-Vầng trăng

khuất mây

những bước chân vội vã của đoàn người di tản

Hà Nội đêm 9/7/2020

Sưu tầm& Dịch thơ: Đinh Nhật Hạnh

Chín khúc Haiku của ba Haijin Roumanie

Tập san WORLD HAIKU No. 16 (2020)

Lê văn Truyền dịch

(từ nguyên văn tiếng Roumanie)

alt

MARIUS CHELARU (1961- …)

Eu si luna

fată in fată

cu ceasca goală

Tôi và trăng

đối diện

cùng chiếc ly cạn đáy


Un măr de gheată -

luna pe o cruce in

satul de sub lac

Trăng - quả táo tuyết

treo trên thánh giá

trong ngôi làng dưới hồ


Călare pe cal

un curcubeu nesfirsit –

copilăria mea

Cưỡi trên lưng ngựa

chiếc cầu vồng bất tận -

tuổi ấu thơ tôi


MAGDALENA DALE (1953-…)

Teii infloriti

intre cer si pământ

doar dorul meu

Cây đoan¹ trổ bông

giữa trời và đất

nỗi nhớ tràn đầy


Pe luciul apei

frunza adusă de vânt

singură pe drum

Gió đưa chiếc lá

đáp xuống vũng nước

cô đơn trên đường


Nici urma de pasi

să strice rânduila

frunzelor căzute

Không dấu chân nào

xóa được hàng lối

những chiếc lá rơi


VALENTIN NICOLITOV (1945-…)

Seara

ninge pe sufletul meu

amintirea ta

Chiều tà

tuyết rơi trong lòng ta

những kỷ niệm về em


Singură in casa

doar un fluture rătăcit

printre perdele

Ở nhà một mình

với một cánh bướm

lạc lối trong rèm


Curătenie

scutur din sandale

nisiptul de astă vară

Tắm biển mùa hè

tôi cởi đôi dép

dưới chân cát ấm

Chú thích:

[1] Linden: Cây đoan, còn được gọi là cây đoạn (tên Latin Tilia sp.) gồm rất nhiều loài phân bố ở những vùng ôn đới của Bắc bán cầu, Châu Á, Châu Âu và Bắc Mỹ. Cây đoan có mặt trên trái đất khoảng 70 triệu năm trước. Cây có thể cao từ 20 đến 40m, sống được hơn 150 năm, một số loài có thể sống từ 350 năm đến 600 năm. Hoa dùng để chưng cất tinh dầu làm nguyên liệu chế nước hoa. Ở Roumanie cây đoan mọc hoang và được trồng nhiều trên đường phố. Hoa cây đoan còn được dùng để bào chế thảo dược như trà an thần, chống cảm cúm ...

Chùm Haikư của Jean Antonini (1946-)- Pháp

Jean Antonini lả một trụ cột của nền Haikư Pháp đương đại. Hiện ông là thành viên Ban dịch thuật WHA Review của Hiệp Hội Haikư Thế Giới (WHA) cùng với Dịch giả Trần Hữu Hiển- Hội viên danh dự của Haikư Việt Hà Nội, James Shea USA,Tim Gardener…

alt

1-Second jour de l’an –/ un second haiku / se pose sur la page

- Mồng hai Tết

bài haikư thứ hai

đậu trên trang giấy


2-Jour 4 de l’an/ Écouter le silence / qui suit le haiku –

-Mồng bốn Tết

lắng nghe sự im lặng

theo sau câu thơ này


3-Jour 4 de l’an –/ Assis devant la petite table / enfoncé dans la neige

-Mồng bốn Tết

tôi ngồi trước chiếc bàn nhỏ

đôi chân tuyết ngập đầy


4-Les arbres que j’ai coupés / viennent la nuit / me parler

Những cây gỗ ban ngày tôi đốn hạ

đêm đêm về

trò chuyện cùng tôi


5-Assis au bord du Rhône / regarder ses rêves / glisser sur l’eau

Trên bờ sông Rôn tôi ngồi

lặng ngắm những giấc mơ sông

xuôi dòng


6-Lire un livre / comme si j’ai passé le temps / à regarder ma vie

Đọc một quyển sách

y như tôi đã dành thời gian

nhìn lại cuộc đời mình


7-Violette ou pensée / Nous n’étions pas d’accord / elle et moi

Hoa Vi -ô -lét hay là hoa Păng xê?

Nàng và tôi

mãi không sao thống nhất !


8-Ombre épouvantable / des tilleuls taillés / sur le mur de l’école

Bóng đen kinh khủng

của những cây đoạn tỉa tót

in trên tường trường học


9-“ Nous ne voulons pas / des étrangers chez nous “ / disent-ils –cris des martinets

“Chúng tôi không muốn

có người lạ đến đây đâu”

Bầy chim bói cá kêu inh ỏi


10-Pêcher de grand’mère / Autant de branches / autant de pensées

Cây đào của Bà tôi

có bao nhiêu cành

bấy nhiêu suy nghĩ


11-Fin de l’été / nos voisins sont rentrés des vacances / Combats en Ukraine

Cuối hè

láng giềng tôi đi nghỉ về .

Chiến tranh ở Ukraina


12-Une femme dans le bus / elle frotte rudement ses seins / à travers la robe

Trên xe bus

một bà đang xoa xát mạnh hai bầu vú

qua lần vải áo


13-Retour à la maison / pensées de gloire / Feuilles qui tombent

- Tôi về nhà

bao ý nghĩ về vinh quang

Lá vàng tơi tả rụng


14-Matin encore nuit / Elle consulte l’horaire des bus / en buvant le thé

Trời tờ mờ sáng

Nàng vừa uống trà

vừa tra cứu bảng giờ xe bus


15-Retour du boulot / Coup d’oeil de l’immigré / à la boite aux lettres

Trở lại công việc thường ngày

Người dân nhập cư ấy

liếc vội qua hòm thư


16-Au fond de ses yeux/ une mini grotte humide / éclairée aux néons

Thẳm sâu đôi mắt nàng

là một hang động thu nhỏ

ẩm ướt ,sáng chói đèn nê ông


17-Pour déménager / plier le paysage en trois / dans la mémoire

Muốn chuyển nhà

xếp gấp phong cảnh làm ba

cho vào bộ nhớ


18-Étoile filante / ce jour-là / j’ai mis des bas et du rouge à lèvres

– Sao đổi ngôi

Hôm đó tôi đi tất dài

và tô son môi


19-La caissière blonde / cric cric cric cric cric cric cric / Je la regardais

Cô thu ngân tóc vàng

cric cric cric cric cric cric cric

Tôi nhìn cô


20-J’ai posé l’orchidée / près de la fenêtre de la chambre / pour le soleil

- Tôi đặt chậu phong lan

cạnh cửa sổ phòng

để hoa tiếp nắng trời


21-Cette nuit dans mon rêve / l’orchidée blanche volait –/je la regardais

-Đêm nay trong giấc mơ

hoa lan trắng bay bay

tôi nhìn thấy thật mà


22-Le mot “orchidée” / vient à mon esprit / avant que mes yeux s’ouvrent – Từ “Hoa lan”

vang trong trí tôi

ngay trước khi tôi mở mắt


23-Ce matin / des corbeaux sont posés /dans des labours du Champ des Corbeaux

- Sáng nay

bầy quạ đậu kín trên thửa ruộng canh tác

có tên là cánh đồng Quạ


24-Un vieux corbeau noir / la mémoire du nouveau-né / disparait d’un coup

-Một cụ quạ đen già

ký ức về đứa trẻ sơ sinh

đột nhiên biến mất


25-Le cri d’un corbeau / (quelle vie a-t’il celui-là?) / traverse ma tête

Một tiếng quạ

(đời con quạ này ra sao nhỉ?)

bỗng xuyên qua đầu tôi

...

Ngõ Bằng lăng Làng Tám

Hà Nội ngày 20/5/2020

Đinh Nhật Hạnh sưu tầm và dịch thơ

Nguồn tư liệu: Wha Reviews số 12,13,14,15,16

Giới thiệu Haiku Thế giới WHA Review 2020

Ban Biên tập: Thưa các bạn, từ tháng 5/2020, chúng tôi bắt đầu Chuyên mục giới thiệu những khúc Haikư xuất sắc trên Tạp chí WHA Review số 16/2020.Mỗi nhà thơ ,mỗi nước có một phong cách riêng tạo nên một nền thơ đa sắc màu,độ nông sâu và chất lượng tiềm ẩn khác nhau -nếu đọc lướt qua,không đầu tư thời gian thẩm định,thưởng thức e khó lòng tiếp nhận được những ưu việt của từng tác giả trong Rừng thơ Haikư quốc tế đương đại.Hy vọng nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của Hội viên và Bạn đọc với yêu cầu chân thành được tiếp thu những khiếm khuyết về chất lượng chuyển ngữ để đạt yêu cầu cao nhất. Trân trọng.

alt

I-Priscilla Lignori-(1953-) USA

1-Tossing a penny / into the water fountain / a child learns to wish

Ném một đồng xu

vào trong bể nước

em bé học cách ước ao


2- The many willows / on the edge of the river / can’t weep without leaves

-Rặng liễu bờ sông

thảy đều trụi lá

nên không thể khóc,chỉ vì cành trơ


3-Before it has eyes / the jack’o lantern* / can see only its insides

-Trước khi có mắt

đèn quả bí ngô

chỉ nhìn trong ruột

* Loại đèn đồ chơi bằng vỏ quả bí ngô bỏ ruột ,trổ đôi mắt để lọt ánh đèn ra ngoài.


II-Sayumi Kamakura ( 1953-) Nhật Bản

1- Playing with the waves / My loneliness / and a solitary rock

Đùa chơi với sóng

Nỗi cô đơn mình tôi

cùng tảng đá đơn côi


2- I’m not going to cry –/ like that ceiling / remaining so firm

– Em sẽ không khóc đâu

giống như trần nhà kia

trụ vững


3-Strong smell of grass / for enjoying / without the way

- Mùi cỏ hăng nồng

khi đang vui đùa

không có đường đi


III.Ban’ya Natsuishi (1955-) Nhật Bản

1- The soul / doesn’t get soaking wet / or smeared with blood

– Linh hồn ta

không thể để vấy ướt

hoặc dính máu người


2- A white crayon / holds / many waterfalls

–Chỉ với chiếc bút chì trắng

trụ với

biết bao dòng thác


3-Voice of a man /who cannot live / like water

Tiếng một người đàn ông

không thể nào sống

như dòng nước trôi


IV-Kei KINJO ( 1945-) Nhật Bản

1-The head of Rodin sculpture / falling down /the shadow of a crescent moon

– Đầu một bức tượng của Rodin*

rơi xuống đất

trong bóng trăng lưỡi liềm

*Rodin (1840-1917) sinh tại Paris.Nhà điêu khắc trứ danh người Pháp-tác giả 2 bức tượng tuyệt tác Le penseur ( Nhà suy tưởng),Le baiser (Nụ hôn)…


2-The horizon looks like / it is fighting again / the human realm

Phía chân trời

hình như lại đang xung đột

trong lĩnh vực nhân sinh


3-Our conversation / smells / wafer paper

Cuộc nói chuyện của chúng tôi

thơm mùi

giấy lau tay xốp


V-Azi Kuder (1960-) Ba Lan

1-Rusty key / of the drawer’s bottom / yours letters

Chiếc chìa khóa rỉ

dưới đáy tủ

đựng thư từ của em


2-Scarecrow / the buttons still shine / on my father coat

Con bù nhìn kìa!

những chiếc khuy vẫn sáng lấp lánh

trên chiếc áo bố tôi khoác cho


3- Fresh grave / disappears in the mist / a night butterfly

– Một ngôi mộ mới táng

như biến mất trong sương mù

Một cánh bướm đêm


VI-Alexandra IVOYLOVA (1966-) Bulgary

1- A morning / 2 clouds in the sky/ race with the butterflies

-Một buổi sáng kia

trên trời có 2 đám mây

bay thi với đàn bươm bướm


2-A torrent / the shadows of the cherries / green white

Trên dòng nước xiết

bóng rặng anh đào

lên màu lục nhạt


3-Along the sandy coast / footsteps / a road into infinity

Dọc bờ cát trắng

những dấu chân ai

đi về vô tận


VII- Georges Friedenkraft (1945-) Pháp

1-Monarque absolu / Louis XIVa mal aux fesses / les courtisans tremblent

-Louis XIV - Vị Hoàng đế tối cao

bị đau mông

Nịnh thần sợ ,run như cầy sấy!


2-Sous le Pantheon / au milieu de ces grands hommes / je me sens fourmi

Dưới hầm Điện Panthéon*

giữa các bậc vĩ nhân

mình chỉ là con kiến

*Điện Panthéon ở Paris,nơi hợp tự các danh nhân Pháp các thời đại –mỗi vị chỉ được một tượng nhỏ đặt chung trên bệ.Riêng quả tim của Napoleon Bonaparte được đặt thờ trong Hôtel des Invalides-Paris.


3-*Le Pape a souri / Ban’ya brise son stylo / qui s’envole au ciel

-Đức Giáo hoàng mỉm cười

Ban’ya bẻ gãy chiếc bút của Ngài

mảnh vỡ bay lên tận trời xanh

* Liên tưởng đến tác phẩm nổi tiếng của Ban’ya Natsuishi”The flying Pope” (Giáo hoàng bay)gồm 99 khúc HK đều mở đầu bằng một dòng cố định:”Giáo hoàng bay


VIII-Rahim Karim (1960-) Kirghizstan

1-Ma pensée / accepte le monde / comme une rue

- Tâm tư tôi đón nhận

thế giới này

giống y như một đường phố


2-Monde : Forêt dense / injustice

Thế giới này:

Rừng rậm

bất công


3-Surprendre les Japonais / après Matsuo Bashô / pas facile !

Tạo bất ngờ cho người Nhật

sau thời Cụ Matsuo Bashô

quả chẳng dễ gì!


IX- + Mikihiko ITAMI (1920-2019) Nhật Bản

1-No way to know / cherry blossoms / in the next year

Làm sao biết được

mùa hoa Anh đào

năm sau ?


2-These days of cherry blossoms news / my Haiku friends / in the East and the West –

-Tin tức về hoa Anh đào

mấy hôm nay của các bạn quý Haikư

từ Đông sang Tây


3-Watching a night train / it may go to / a snowy country

Đợi chuyến tàu đêm

có thể đi đến

xứ nào tuyết rơi


X-Harim Akimo (1969-) Nhật Bản

1-The pipe organ / of a church echoing / “Yes,we can “

Giàn nhạc Oóc nhà thờ

vang vọng

“ Vâng, chúng ta có thể”


2- You are ,/you are,/ you are us

– Các bạn là,

các bạn là ,

các bạn là chúng ta


3- Waves of spring / in the God’s mountain / the sounds of a bell

- Sóng mùa xuân

trên Núi Chúa

tiếng chuông vang ngân


XI- Jean Antonini (1946–) Pháp

1- Les arbres que j’ai coupés / viennent la nuit / me parler

Những cây tôi vừa đốn hạ

đêm rồi

đến hỏi tôi


2-Assis au bord du Rhône/ regardant / ses rêves glisser sur l’eau

-Ngồi bên bờ sông Rôn

ngắm những giấc mơ của con sông

xuôi dòng


3-Lỉre un livre / comme si j’ai passé le temps / à regarder ma vie

- Đọc một quyển sách

giống như đã dành cả thời gian

nhìn lại cuộc đời mình


XII-Leonilda Alfarrobinha (1943-) Bồ Đào Nha

1-Summer day / a sail on the sea / I dream of living

Một ngày mùa Xuân

cánh buồm trên biển

Mình mơ cuộc đời…


2-In the shells on the beach / thousands of memories /time does’nt turn back

Trong những vỏ sò trên bãi

cơ man là ký ức

thời gian không trở lại bao giờ


3-What a gift :the spring kept in / a jar of pollen

Món quà gì đây ?

Cả một mùa xuân

trong một lọ phấn hoa


XIII-Karunesh Kumar Agrawal (1976-) Ấn Độ

1-Amid unknown/ unwanted life beauty and love/ exist playfull children

-Ngay giữa cuộc đời dù không mong muốn,nhiều ẩn số

Vẻ Đẹp và Tình Yêu

vẫn hiện diện qua những em bé vui đùa


2-Rain drops stream / from kindness of clouds/ abundance grace –

Mưa xối xả

Nhờ ơn mưa móc nhân từ

của mây


3-Several hours / rich in true happiness / children on journey

Rất lâu

ngập tràn chân hạnh phúc

ngắm nhìn bọn trẻ trong cuộc viễn du


XIV- Bakhtiyar Amini (1975-) Takjikistan &Đức

1-Refugee camp / cooked in one pan / pork and beef

Trại tị nạn

cả thịt lợn ,thịt bò

nấu chung một nồi


2- Teahour / weather forecast for tomorrow / the best news

– Tại Quán trà giờ giải lao

tin báo thời tiết ngày mai

những tin tốt lành


3- Child birth / start learning / the language of angels

– Trẻ sơ sinh

bắt đầu tập nói

ngôn ngữ của thiên thần


XV- Romano Zerashi (1947-) Italia

1-Wait / I want to stay by your side , little turtle / Dusk

- Gượm nào , rùa con tí tẹo

Mình muốn luôn bên cậu

Chiều tà


2- Boat people / Wave upon wave / Dancing moon

Thuyền dân tị nạn

sóng trùm lên sóng

Vầng trăng khiêu vũ


3- I compose /I howl to the moon / I’m Bashô

Mình làm thơ

Hú lên tận cung trăng :

Ta - Bashô đây!

Hà Nội ngày 30-4-2020

Đinh Nhật Hạnh tuyển dịch và giới thiệu

Haikư mùa dịch của Tiến sĩ Les Raff, Chicago, USA- Lê Văn Truyền dịch

alt

LỜI GIỚI THIỆU: Les Raff, thường được bạn bè thân mật gọi là Les, là một tiến sĩ bác sĩ chuyên khoa bệnh lý học (Pathology) ở ngoại ô phía Bắc Chicago. Vợ chồng ông đã sống ở đây suốt cả cuộc đời và cảm thấy hạnh phúc với thành phố này, với sự quyến rũ của nó, với văn hóa, các nhà hàng và bạn bè, đồng nghiệp… Ông là cha của hai người con và là ông của một đứa cháu. Trên trang blog mang tên “About” ông chia sẻ những khúc haikư trong những ngày đặc biệt của đại dịch Covid-19. Xin mời quý bạn thơ thưởng thức những sáng tác của một haijin thầy thuốc trong tâm dịch Corona tại Hoa Kỳ, quốc gia đến hôm nay (12-4-2020) đã có hơn 500.000 người mắc và hơn 20.000 người tử vong.

alt

Overwhelming

COVID Virus
I look for it on Google
find 10 billion hits

Tràn ngập

Virus Covid

tôi vào Google

thấy mười tỷ lần tìm kiếm


Interconnection

The world is not flat
despite Thomas L.Friedman
it's a petri¹ dish

Mối liên hệ

Thế giới không phẳng

dù Thomas L. Friedman² nói phẳng

Trái đất – một đĩa cấy vi khuẩn


Leading

Rick Grimes is gone
don't need him for a hero
no zombies are here

Dẫn đầu

Rick Grimes³ đã mất rồi

xin đừng làm anh hùng

ở đây không có “xác sống”


Isolation

Quarantined, alone
no way to spend a birthday
or any day, at all

Cách ly

Cách ly một mình

không mừng được ngày sinh

thôi để dịp khác vậy


Educate

Who will teach the kids
to read and write and do math
the teachers silently weep

Dạy học

Ai dạy bọn trẻ đây

tập đọc tập viết làm toán

thầy cô giáo khóc thầm


Laboratory

Yes we still work here
corners echo with shadows
of what is to come

Phòng xét nghiệm

Vâng, chúng tôi vẫn làm việc

bốn phương vang điềm báo

những gì sẽ xẩy ra


Helping

I don't have any masks
can't fix a respirator
I can donate blood

Giúp đỡ

Tôi không có khẩu trang

tôi không có máy thở

tôi xin hiến giọt hồng


Hope

World outside frightens
now not the time to panic
think of life ahead

Hy vọng

Thế giới kinh hoàng

giờ không phải lúc ta hoảng loạn

hãy nghĩ về tương lai


Hate

It's not a China
virus that will consume us
but lack of the heart

Căm giận

Không phải con virus Trung Hoa

ăn thịt chúng ta

mà sự nhẫn tâm


Sport

Tom Brady⁴ moves
from Patriots to Jaguars
no one gives a damn

Thể thao

Tom Brady

thay xe Patriots bằng Jaguars

mà chẳng ai chê trách


Life

James Bond goes away
not defeated by a spy
just by a little speck

Cuộc sống

James Bond đã chết

không phải vì một điệp viên hạ sát

mà bởi đốm siêu vi


Remember

Love those who love you
do the best for those who don't
Golden Rules still count

Ghi nhớ

Hãy yêu quý người yêu ta

hãy tốt nhất với người không yêu ta

“Luật vàng” mãi giá trị

...

GHI CHÚ

[1] Hộp Petri: là hộp gồm hai đĩa thủy tinh lồng vào nhau để nuôi cấy vi khuẩn

[2] Thomas L. Friedman (1953), nhà văn, nhà chính luận nổi tiếng Hoa Kỳ chuyên về các vấn đề ngoại giao, thương mại quốc tế, toàn cầu hóa và bảo vệ môi trường. Tác phẩm “Thế giới phẳng” (The Flat World”) là một trong những quyển sách nổi tiếng của Ông về toàn cầu hóa. Năm 2005,cuốn sách này được trao giải thưởng Cuốn sách hay nhất năm do Financial TimesGoldman Sachs bình chọn

[3] Rick Grimes: nhân vật chính người hùng trong serie phim kinh dị nổi tiếng “The Walking Dead”, trong tập cuối ra tay cứu người, hạ từng con “xác sống” (Zoombie).

[4] Tom Brady: Thomas Edward Patrick Brady J. (sinh 1977) là một tiền vệ nổi tiếng của đội Tampa Bay Buccaneers thuộc Liên đoàn bóng đá Mỹ. Patriot và Jaguar là những dòng siêu xe đắt tiền.

[5] James Bond: Nhân vật chính trong serie phim Mỹ “Điệp viên 007” nổi tiếng.

Haiku phụ nữ quốc tế mùa dịch covid-19- Lê Văn Truyền chọn và dịch

Lời giới thiệu: Trong các khổ nạn của con người – chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh – phụ nữ là những người dễ bị tổn thương và chịu nhiều thiệt thòi nhất. Họ không chỉ phải lo cho họ mà còn phải hy sinh cho mọi người và những người thân. Họ là những “chiến binh thầm lặng”. Xin giới thiệu những cảm xúc đời thường “rất phụ nữ” của một số nữ haijin phương Tây trong cơn đại dịch virus Corona khởi phát từ Vũ Hán (Trung Quốc).

alt

It is so quiet
Oakhurst Elementary
playground is empty

Amanda Styles

Tĩnh lặng quá

trường cấp hai Oakhurst

sân chơi vắng tanh


Covid-19 stalking

the entire human race

we feel it coming

Emili Swan

Covid-19 lén lút

săn đuổi nhân loại

đang đến gần ta


Social distancing
neighbors drink outside
I’m six feet away

Amanda Styles

Giãn cách xã hội

láng giềng ngồi uống ngoài kia

tôi cách xa hai mét


I miss my mailman
I wave to him from the door
but it’s not the same

Meagan Mehlhop Berardi

Nhớ người đưa thư

tôi vẫy chào từ cửa

nhưng không còn như xưa


What’ll we do today?
same thing we did yesterday.
Yes, homeschool is on.

Kelly Cooke Brock

Hôm nay ta làm gì

việc giống hôm qua chăng?

À, lớp học tại nhà


A haiku a day
will keep the doctor away
and washing your hands!

Kelly Walsh

Một bài haiku mỗi ngày

sẽ không cần thầy thuốc

và nhớ rửa đôi tay.


Sure, conference calls. Work.
but baking, board games, horseplay!
dog happy. Us too.

Tanya Comer Frazee

Họp trực tuyến, làm việc

nướng bánh, chơi cờ, vui nhộn

chú chó vui, ta cũng vui.


My pantry runneth
over into the kitchen
who will cook all this

Zoë Gangemi Barracano

Chạn thức ăn tràn trề

trong bếp

ai nấu hết chúng đây


Today, we must learn
at home with our family
we will get through this

Molly Weaver Patterson

Hôm nay ta phải học

ở nhà với gia đình

sẽ làm được điều khó đó.


Afternoon recess
mandatory for us all
just don’t cough or sneeze

Sue Joyce

Giờ giải lao buổi chiều

không được hắt hơi, ho

đó là điều bắt buộc.


Last run to the store
I’ve said at least four times
still need Oreos

Sue Joyce

Lần cuối chạy đến cửa hàng

tôi phải nói đến bốn lần

rằng cần mua bánh ngọt


Social distancing
means lots of togetherness
for an introvert.

Beth Kelhoffer

Giãn cách xã hội

bao cảm xúc yêu thương

cho một người hướng nội.


Scary pandemic
paid leave, books, family time
introvert heaven

Sara Van Deventer Williams

Đại dịch đáng sợ

sách vở, ở nhà, nghỉ hưởng lương

thiên đường người hướng nội


So appreciate
the grocery workers now
front lines, no glory

Katie Burkholder Brady

Khâm phục xiết bao

những người bán nhu yếu phẩm

âm thầm trên tuyến đầu chống dịch.


Somnambulism:

the nation that never stops

found itself asleep

Emily Swan

Mộng du

cả quốc gia không chịu nghỉ

giờ đây bỗng ngủ vùi


Everything I touch
with love intended, now
feels like a plague

Hannah Kiely

Những gì tôi chạm đến

với tất cả yêu thương

giờ bỗng như gây dịch


A sneeze, god bless you
distance magnified run fast
marathon ensues

Hắt hơi, Trời phù hộ*

bắt đầu cuộc chạy maraton

để giãn cách

Hannah Kiely


My friend lives alone…
always self-isolating
never goes outside

Bạn tôi sống một mình

luôn tự cách ly

chẳng bao giờ ra phố

Hannah Kiely


The sideways rain
agile disease is spreading
smell of death certain

Hannah Kiely

Giọt mưa rơi nghiêng

dịch bệnh lan tràn

váng vất mùi tử khí

*Ở phương Tây, khi có người hắt hơi, (triệu chứng của cảm cúm) mọi người chung quanh thường nói: “God blees you!” (Cầu Chúa ban phước lành cho bạn!)

Ba lần gặp lại Steven Ross- Đinh Nhật Hạnh

alt

STEVEN ROSS (1950-)

TRÊN TẠP CHÍ WHA REVIEW

Năm nay tròn 70 tuổi,bạn thơ người Mỹ Steven Ross –Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế Giới ,chỉ được gặp trên những khúc Haikư tự sự ngắn ngủi đầy xúc động đăng Tạp chí WHA Review thời gian qua mà HKV vẫn rất thông cảm ,xót thương và cảm phục ý chí phấn đấu suốt cuộc đời bất hạnh,đầy sóng gió do căn bệnh hiểm nghèo đã đầy đọa ông suốt mấy chục năm liền.Thời gian qua ,chúng tôi đã 2 kỳ dịch đăng mấy chục khúc tự sự đầy xúc động của ông trên Nội san và Website haikuviet.Mùa xuân 2020 năm nay,vỏn vẹn chỉ 3 câu ngắn ngủi dưới đây cũng đủ nói lên ý chí kiên cường ,tinh thần lạc quan ,chiến đấu thầm lặng của tác giả chống căn bệnh nan y .Xin phép tác giả giới thiệu cùng bạn đọc Website haikuviet.com và hy vọng còn được thường niên gặp nhau trên thi đàn thơ của Hiệp Hội Haikư Thế Giới .

Tiện đây ,xin kính nhờ WHA chuyển đạt lời thăm hỏi chân tình và lời cảm ơn của Câu lạc bộ Haikư Việt-Hà Nội đến bạn Steven Ross mà chúng tôi không có địa chỉ và Email.Trân trọng.

***

1- If you could press /a black button and die / would you?

Nếu bạn có thể

bấm nút đen tự kết liễu đời mình

bạn có muốn thế không?


2- I slip on / ice on a brick path ,/ concussion

Mình bị chấn thương

do trượt chân

trên con đường lát gạch


3- In the sky / Buddhist mountain temple / a bell sounds

Trên trời

chuông ngân vang

từ ngôi chùa thờ Phật trên đỉnh núi

***

WHA Review - No 16-2020

Đinh Nhật Hạnh dịch thơ &giới thiệu

Sưu tầm cùng bạn: Thơ Haiku của Matsuo Basho

alt

MATSUO BASHO

(1644-1694)

Đôi dòng tâm sự: Xin thưa đôi điều về chuyện dịch thơ-khâu cốt yếu hàng đầu trong nghiên cứu, quảng bá thể thơ Cực ngắn Haikư Nhật Bản. Dịch văn xuôi thường thuận lợi hơn rất nhiều nhưng hễ chạm đến dịch thơ thì xem như chèo thuyền trên biển từ ngữ bằng… tay. Riêng với dịch thơ Haikư cổ điển Nhật Bản thì càng chới với, xem như bắc thang leo lên trời vậy. Theo các dịch giả Âu-Mỹ, tiếng Nhật vốn nổi tiếng là ngôn ngữ khó dịch nhất thế giới- có khi KHÔNG THỂ nào dịch đươc. Thơ Haikư NB đa âm vốn kiệm từ trong cấu trúc 5/7/5 âm tiết. Chỉ riêng một từ MỆT ( tsu-ka-re-ma-shi-ta ) đã có những 6 âm tiết, chiếm hẳn 1 dòng rồi. DỊCH THƠ HAIKU CỔ ĐIẺN NHẬT BẢN ở nước mình mấy chục năm nay số dịch giả thành công như lá mùa đông, thưa thớt mà nổi bật lên tài năng của các dịch giả Vĩnh Sính, Lê Từ Hiển- đặc biệt là Nhật Chiêu qua tập Ba nghìn thế giới thơm kinh điển- sách gối đầu giường của bất cứ ai mê thơ Haiku cổ điển Nhật Bản ở xứ minh.Đặc biệt Cố tác giả Vĩnh Sính có phong cách riêng, rất tài hoa, dịch thành từng cặp Lục Bát hoàn chỉnh, chuyển tải thần thái và nội dung nguyên bản đến bạn đọc.Tiếp thụ tài năng, học tập kinh nghiệm của các vị tiền bối trên, thời gian 12 năm qua trên tổng số hơn vạn câu đã dịch Haikư cổ điển Nhật Bản và Haikư Thế giới, chúng tôi vẫn theo phong cách dịch sát nghĩa nội dung, tinh thần của tác giả rồi sắp đặt một bài thành 3 dòng, hoàn thiện bằng cấy vần điệu vào cho dễ đọc, dễ nhớ. Thú vị biết bao trong quá trình đó hiếm hoi xuất thần dăm khúc chuyển hầu như lập tức biến thành đôi Lục- Bát hoàn chỉnh ngay sau khi dịch thô, tạo niềm vui bất ngờ. Đương nhiên chúng tôi chỉ xin phép được họa hoằn thể hiện làn Lục Bát khi dịch chuyển ngữ Haikư nước ngoài, không dám lạm dụng biến Lục Bát thành Haikư khi sáng tác HKV. Tiếp sau đây xin giới thiệu một số khúc HK NB nổi tiếng của Đại sư Bashô mà chúng tôi trích trong thư tịch nước ngoài để mở đầu Chương Tuyển thơ Haikư cùng bạn sẽ lần đầu tuần tự đăng tải trên Website haikuviet.com đều đặn từ nay. Đối với hơn 1.000 khúc Cụ đã để lại cho hậu thế, con số ít ỏi chúng tôi giới thiệu lần này chỉ là một bài tập khởi đầu. Rất mong nhận được những chỉ bảo, uốn nắn, bổ sung của các vị thức giả đặng muôn một hoàn thiện được chất lượng của dự định khó khăn, ngoài tầm tay này.

Trân trọng!

alt
(Bên Am cỏ Basho)

1/- Ôi ,cứ nói chuyện hoa

cười đến vỡ bụng

Gió mùa xuân sang

Sáng tác năm1667


2/- Hoa mai nở đẹp thế này !

Ngay cả chú bò

cũng kêu tiếng bé

1676


3/-Với hoa ,ta hạnh phúc

nhưng buồn nỗi thế gian

vẫn cơm gạo lứt với bình sakê

1683


4-Nhớ thương mòn mỏi mẹ,cha

Tiếng kêu chim trĩ *

khiến ta chạnh buồn

1688

* Ở Nhật Bản ,chim Trĩ xả thân bảo vệ con ,được

xem như biểu tượng củaTình mẫu tử thiêng liêng .


5- Giữa mây hoa anh đào

tiếng chuông đồng vọng

từ Ueno hay Akasusa ?

1688


6-Nhẹ ,êm…

từng cánh hoa hồng rụng

tiếng thác nước xa vang

1687


7-Trọ cùng hoa anh đào

hai chục ngày gì đó

lúc nở đến khi tàn

1688


8-Biết bao nhiêu chuyện

mình hồi tưởng lại

bên hoa anh đào

1688


9-Hoa gì thế nhỉ !

mình chẳng biết tên

mà thơm,thơm thế!

1688


10-Mùa xuân kia rồi

ngọn núi không tên

buông làn sương mỏng

1688


11-Ôi cảnh thần tiên !

lá non chồi biếc

mặt trời chói chang

1685


12-Chợp mắt trên lưng ngựa

vô tận những giấc mơ

Trăng xa…khói bếp pha trà

1689


13-Theo gió muôn chiều

cánh anh đào rụng

sóng hồ Niô…

1690


14-Giữa dòng sông xanh

trong cuộc lữ hành

ngôi sao tạm nghỉ trên ghành đá nhô


15-Bụi chuối trước cơn giông

giọt mưa rơi trong chậu

Thâu đêm nằm nghe


16-Lặng như tờ -

Tiếng ve

khoan đá

1689


17-Vỗ tay , vỗ tay

bình minh lên theo tiếng vọng

một đêm trăng hè


18-Nhìn đom đóm bay

ông lái đò say

loạng choạng

1690


19-Thường ngày ta ghét quạ

nhưng sáng nay,

hoa tuyết rơi đầy

1690


20- Ta vẫn hằng mong

ban mai ,anh đào nở

để thấy dung nhan Trời


21-Sương xuân

phong cảnh tuyệt vời

hoa mai dưới trăng

1688


22-Vui thú thế này

lại mùa xuân nữa

thêm chuyến đi xa !


23-Còn cao hơn cánh sơn ca

nghỉ ngơi một chốc

trèo lên núi này


24-Chim chích

như một linh hồn

hỏi thăm lệ liễu có còn ngủ say?

1688


25-Liễu xanh

lá rủ dưới bùn

triều dâng

1688


26-Ao xưa

con ếch nhảy vào

tiếng nước

1686-42t


27- Lối mòn vách núi

Kìa !mặt trời lên

trong hương hoa mận

1688


28-Lũ mèo vừa tan cuộc

từ phía phòng riêng

một vầng trăng sương

1692


29-Đêm xuân

tràn ngập hoa anh đào

-Thế là đã qua


30-Chỉ mình bướm bay

nắng tràn

xuống đất

1685


31-Trong hai cuộc đời thi sĩ

có một chỗ

cho anh đào

1685


32-*Cành trơ ,trụi lá

bóng quạ

hoàng hôn thu

* Có dị bản ghi là : Cành khô / quạ đậu / chiều thu


33-Bướm ơi!bướm dậy đi nào

Vỗ đôi cánh bạc

nhập vào cùng đi


34-Ôi ! hương hoa mận thơm lừng

bỗng nhiên thức dậy ,sáng bừng vầng dương

ngay trên dốc núi mù sương


35-Lặng tiếng chuông ngân

cỏ hoa đồng vọng

hương lan tuyệt vời


36-Mùa xuân ra đi

chim,cá khóc than

lệ tràn khóe mắt


37-Suối trong veo

những kim thông xanh

rơi trên dòng biếc


38-Nào chấy,nào rận

lại thêm ngựa tè

ngay bên cạnh gối


39-Ôi ,cỏ dại mùa hè

những gì còn lại

giấc mơ chiến binh


40-Trên đền Suma

nghe tiếng sáo tắt

trong bóng rừng cây

* Liên quan đến một thiên sử bi hùng 500 năm trước giữa 2 bộ tộc lớn cừu địch thời phong kiến đại quý tộc ở Nhật Bản.Ngay tại đền Suma đêm trước trận huyết chiến sinh tử cuối cùng,tiếng sáo thâu đêm réo rắt của vị tướng chỉ huy 16 tuổi thay Cha già ra trận động viên quân sĩ phía sẽ tử bại ngày mai.Nhà thơ Basho lữ hành qua đây, trong đêm khuya khoắt vẳng nghe tiếng sáo xa xưa đã tắt 500 năm trước vọng về…


41- Buồn ngủ ,không chiếu chăn

đành mượn áo bù nhìn

đêm khuya che giá buốt


42-Muốn

hái lá tươi non

lau nước mắt cho nàng

1688


43-Nấn ná mãi

trên giường

Cầm tay ,nàng thức dậy


44-Nhịp chèo vỗ sóng

buốt giá ruột gan

đêm nay lệ tràn


45-Năm cùng tháng tận

vẫn đôi dép cỏ ,

vẫn chiếc mũ rơm


46-Đến như chú ngựa,

mình cũng ngắm nhìn

-Sáng này tuyết rơi


47-Đèn dầu đông đặc

ngọn đèn hiu hắt

thức giấc sáng nay


48-Bóng tôi lạnh ngắt

lồm cồm bò dưới đất -

Mình ngồi trên yên


49 -Chết thì ta chưa

cuộc viễn du sắp hết

Hoàng hôn thu


50-Trái tim

trắng bệch dưới mưa

bộ xương khô ,gió giập tơi bời

1684


51-Từ trong bầu nhụy mẫu đơn

con ong tìm lối

bay lên phía ngoài

1685


52-Hút nhụy hoa lan

bướm xức thơm

đôi cánh


53-Con lộ này vắng tanh

chỉ hoàng hôn

bảng lảng


54-Mặt trời

đỏ chói chang

làn gió đã vào thu ,mát rợi


55-Rơi trên lá cỏ lâu rồi

chàng đom đóm vút lên trời

rồi bay

1688


56- Làng cũ ,cuối năm

nhìn cuống nhau mẹ cất

dòng dòng nước mắt tuôn *

*Ở Nhật Bản thời xưa,cũng như phong tục cổ Việt Nam phổ biến mãi tận trước CM tháng 8-1945 ,ngay sau khi bà mẹ lâm bồn, có tục lệ cắt một khúc giây nhau ngâm rượu sát trùng rồi treo lên giàn bếp hay cạnh đĩa đèn dầu lạc giữ suốt đời trẻ sơ sinh này.


57-Mưa xuân

nấn ná trên giường

Cầm tay ,nàng thức dậy

1691-47t


58-Thế là đã Thu!

mưa phùn đã tuôn,

lồ lộ khuôn hình chị Nguyệt

1694


59-Vẫn cảnh này đây

vừa nghe ve ran

vừa xem ve chết


60-Với giọng gì đây

và khúc hát nào hỡi nhện

trong gió thu này!

1694-


61- Đau ốm giữa hành trình

mộng đành phiêu lãng

trên cánh đồng hoang

Bài từ thế 1694

***

Ngõ bằng lăng –Hà Nội- Xuân phân - 20-3-2020 -Đinh Nhật Hạnh giới thiệu và dịch thơ

Trích tuyển: Bashô*Cent onze haiku*Joan Titus-Carmel-1998/ Paris-

-1020 HaikuThe Heart of Basho-Buson-Issa “ Takafumi Saito&William R.Nelson-2006 Anthologie du Poème court japonais * Corinne Atlan &Zeno Bianu- Gallimard –Paris 2002

Giới thiệu chùm Haiku của Sergiy Kurbatov- Ukraina

alt

BBT: Tiến sĩ Triết học Sergiy Kurbatov (1971-) hiện là Ủy viên Viện Cao học-Ukraina, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Sư phạm Ukraina, Ủy viên biên tập báo Triết học Giáo dục (Ukraina) và báo Nghiên cứu Giáo dục Thế giới (Canada). Ông sáng tác Haiku từ 2001. Ông là hội viên WHA đã cùng dự Đại hội Haiku Thế Giới lần thứ 8-Tokyo 2015. Với tính tình cởi mở, dung dị, dí dỏm và hay chuyện như đặc tính Nga, ông đã hoạt náo Đại hội lần ấy bằng những chuyện hài rất cuốn hút và những khúc Haikư đặc sắc, hồn nhiên mà uyên thâm, đầy dư vị. Ông còn trẻ, rất yêu quý Việt Nam và là Cộng tác viên nước ngoài của Website haikuviet.com và Nội san Haikư Việt từ 2016. Xin trân trọng giới thiệu 35 khúc haikư mới nhất của ông vừa gửi tặng bạn đọc và Hội viên Haikư Việt mà ông rất hâm mộ.

Trân trọng

Đinh Nhật Hạnh

Sergiy Kurbatov, PhD is a Doctor of Philosophical Sciences at the Institute of Higher Education, an academician of National Academy of Educational Sciences of Ukraine. He is also a member of Editors’ Boards of Educational Philosophy newspaper (Ukraine) and World Educational Study newspaper (Canada).

Sergiy Kurbatov began writing haiku in 2001. Being a WHA member he attended the 8th World Haiku Conference in Tokyo in 2015 with me. With his open-heartedness, simplicity and wit, this fair-spoken Russian-like man broke the silence in this Conference with his interesting jokes and special, artless and erudite haiku poems which left listeners an interesting aftertaste. He is still very young. He loves Viet Nam very much and has been a contributor to the Website haikuviet.com and Haikư Việt intramural magazine since 2016.

I would like to introduce his newly-written haiku poems presented to Vietnamese readers and members of Haiku Viet Club whom he admires very much.