Nhìn và thấy- Lê Văn Truyền

alt

Hai người yêu nhau

ngắm nhìn đắm say

mà sao không thấy?

Những người đang yêu nhau thường có chung một ước nguyện cháy bỏng: mong được luôn luôn gần gũi bên nhau để có thể say đắm nhìn thấy người mình yêu. Nhưng nhìn thấy là một hay là hai? Nhìn thấy hay nhìn và thấy? Muốn thấy nhau chắc gì cần phải nhìn nhau và nhiều khi nhìn nhau rồi chắc gì đã thật sự thấy nhau?

Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường nói "nhìn" và "thấy" là hai khái niệm đa nghĩa, gần gũi mà xa xôi. Đấy không chỉ là vấn đề triết lý cao xa mà còn là vấn đề nhân sinh gắn bó mật thiết với đời sống và cuộc sống hàng ngày của con người. Có người nhìn và thấy. Có người nhìn mà không thấy. Đôi mắt chúng ta nhìn thế giới bên ngoài, quan sát và biểu đạt nhận thức của chúng ta về mọi sự vật và sự việc nhưng không phải lúc nào ta cũng thấy được hết bản chất của sự vật và sự việc.

Tagore viết về cái nhìn của một cô gái đối với người mình yêu:

Đôi mắt em lo âu

muốn nhìn tâm tưởng anh sâu thẳm

như ánh trăng rọi tìm nơi đáy biển

Trái tim anh bên em

như anh luôn ở bên cuộc đời em

nhưng chẳng bao giờ em hiểu hết nó đâu

Cô gái trong bài thơ của Tagore nhìn rất kỹ, rất sâu vào người mình yêu nhưng tiếc thay cô không thể thấy hết và thấu cảm trọn vẹn tình yêu của anh, trái tim của anh dành cho cô. Có người nói, để nhìn rõ sự vật và sự việc, cạnh bên đôi mắt, chúng ta cần có thêm một “con mắt thứ ba”, con mắt có thể nhìn rõ những gì là phi vật thể bên trong sự vật và sự việc với một tâm thái rộng mở, đón nhận, đầy cảm thông, đầy thương yêu và sự quan tâm đối với đối tượng ta muốn nhìn thấy. Và như vậy, ta không chỉ nhìn, thấy mà còn thấu cảm với sự vật và sự việc chung quanh ta trong cuộc sống thường nhật.

Vì vậy, người ơi! Xin hãy đừng nhìn đời và nhìn mọi người chỉ bằng đôi mắt. Hãy nhìn bằng tất cả tâm hồn, bằng trái tim, bằng sự độ lượng, lòng vị tha. Khi đó ta sẽ nhìn thấy rõ mọi điều.

LVT

Hòa thuận với thiên nhiên- Lê Văn Truyền

alt

Ngày cha tôi mất

cây cối vườn nhà

trắng giải khăn tang

Hồi còn nhỏ mỗi lần Tết sắp đến, vào ngày cúng ông Công ông Táo 23 tháng chạp, tôi sung sướng được bà ngoại sai cầm bát hồ líu tíu theo bà đi dán vàng mã ở thành giếng và cây cối ngoài vườn. Tôi thắc mắc không hiểu bà làm như vậy để làm gì. Bà tôi dạy phải dán giấy vàng cho cây để năm mới cây cối trong vườn tốt tươi, những cây cau cho buồng sai quả, gốc mít nặng trĩu trái từ gốc đến thân, cây bưởi, cây chanh lúc lỉu quả … Cái giếng cổ luôn luôn cho đầy nước ngọt, trong mát ngay cả trong những ngày nắng hạn đủ để nhà dùng và cho láng giềng sang xin mấy gánh nước uống mỗi ngày. Trong suy nghĩ của bà tôi, cây cối cũng như giếng nước trong vườn đều có “cuộc sống” riêng. Chúng biết lặng lẽ quan sát, cảm nhận cách đối xử của chủ nhà với chúng và sẽ không phụ lòng trả ơn nếu ta tử tế với chúng. Thật đúng vậy, thu nhập của bà tôi để trang trải cuộc sống hàng ngày cũng chỉ trông chờ vào sản vật của mảnh vườn bé tẹo. Buổi sáng, bà ra vườn hái mấy xếp trầu, mấy bó lá chè, quả mít, mớ chanh, thi thoảng được một buồng cau … bỏ vào rổ đem bán ở chợ đầu làng để có tiền mua vài con cá, mớ tép, đôi khi một gói “kẹo cau” bọc trong lá chuối khô để làm quà cho mấy đứa cháu … Và như vậy, rõ ràng giữa bà tôi và cây cối trong vườn tự nhiên đã hình thành một mối quan hệ bạn bè, tương hỗ, cộng sinh trong suốt cuộc đời.

Ngày cha tôi mất, sau lễ phát tang, ông anh con bác trưởng cắt những mảnh vải tang còn sót lại thành những giải khăn trắng, sai bọn trẻ mang ra vườn buộc vào cây cối, những cây cau, gốc mít, cây khế, những bụi chuối, bụi tre … Anh tôi bảo cây cối trong vườn là bạn của người quá cố, suốt bao nhiêu năm được người chăm sóc, vun trồng hàng ngày. Giữa con người và cây cối, đặc biệt là những cây lưu niên đôi khi tuổi đời còn dài hơn tuổi của người trong nhà, đã nẩy sinh một mối thâm tình. Vì vậy, phải buộc giải tang cho cây để cây được tỏ lòng biết ơn và tiếc thương người quá cố. Nếu ta quên, cây cối có thể buồn phiền và … tàn tạ theo người đã khuất.

Thiết nghĩ, ông cha ta, dân tộc ta từ hàng ngàn năm đã biết suy nghĩ và sống một cách minh triết, nhân văn, thuận thảo với thiên nhiên mà không phải đợi các nhà khoa học phương Tây mãi đến cuối thế kỷ XX mới rầm rộ cảnh báo loài người về sự tàn phá thiên nhiên và các thảm họa môi trường. Nhưng đau đớn thay, trong thời đại này chúng ta đang chứng kiến thế lực của đồng tiền đang tàn phá, hủy hoại không thương tiếc những gì ông cha ta đã chắt chiu vun đắp, gầy dựng từ thế hệ này qua thế hệ khác trong suốt chiều dài lịch sử sinh tồn của dân tộc.

LVT

Thi pháp Haiku hiện đại- thể thơ thế giới

Toshio Kimura

World Haiku số 13 – WHA, 2017

Một điểm nhìn mới về Haiku hiện đại

Haiku, ở một mức độ nào đó, tiếp nhận các đặc tính truyền thống của thơ “haikai” thời Edo (1603–1868) và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc Cách tân Haiku của Masaoka Shiki (1867–1902) vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, haiku hiện đại như là một thể thơ đương đại thì chỉ tính từ thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, và có những đặc thù hiện đại của riêng nó. Ở đây, haiku hiện đại sẽ được xem xét trong so sánh với haiku truyền thống.

alt

Cuộc Cách tân Haiku dưới ánh sáng thời nay

Khác biệt lớn nhất giữa haiku đầu thế kỷ 21 và haiku thời trước nằm ở chỗ, ngày nay haiku không còn là thể thơ riêng của nước Nhật. Haiku trong thế kỷ này đã trở thành một thể thơ thế giới, được thưởng thức ở hàng chục quốc gia: tức là, haiku được đọc và sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ. Từ giữa thế kỷ 20, nhiều loại hình nghệ thuật đã được toàn cầu hóa và tiến trình đó càng được đẩy nhanh với mạng internet. Theo cùng cách ấy, haiku cũng trở nên quốc tế hóa. Dẫu vậy, do thể luật của haiku mang đậm tính Nhật nên một số nhà thơ haiku Nhật theo khuynh hướng bảo thủ cảm thấy những vần thơ của Basho và các thi hào khác khi dịch sang một ngôn ngữ khác thì không còn giống với nguyên tác. Thế nhưng, họ hãy nhớ rằng chính nước Nhật cũng đã tiếp nhận nhiều loại hình văn chương, được dịch sang tiếng Nhật, từ Ấn Độ và Trung Quốc thời xưa, và từ châu Âu những năm gần đây hơn.

Lại cần nói thêm rằng, kỷ nguyên hiện đại của chúng ta không phải thời điểm gặp gỡ đầu tiên giữa haiku và thế giới. Haiku đã được giới thiệu tới châu Âu gần như cùng lúc với thời gian của cuộc Cách tân Haiku do Shiki chủ xướng. Shiki là người khởi dựng cho thể thơ haiku ngày nay. Trong thập niên 1880, ông đã cải cách haikai, thể thơ liên ca hợp tác truyền thống và là tiền thân của haiku, thành thể thơ một dòng hiện đại chỉ do một người soạn tác, và gọi nó là haiku. Shiki cải cách haiku như vậy là bởi ông cho rằng thơ haikai cũ đã trở nên sáo mòn. Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy vì lý do đó, ông có lẽ chỉ cần tái thiết lại haikai về đề tài, chất liệu và kỹ thuật. Nhưng sự cách tân không dừng lại ở đó; ông đã thực hiện một cuộc đại phẫu thay đổi ngay chính hình thức thơ. Dường như lý do thực sự cho việc cách tân về thể thơ nằm ở chỗ thời đại của Shiki chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc hiện đại hóa theo phương Tây. Chứng kiến xã hội Nhật đang trong đà hiện đại hóa/Tây hóa, có thể ông cảm thấy rằng nếu haikai cứ tiếp tục lối cũ thì sẽ chẳng ai còn hứng thú với nó nữa. Kết quả từ công cuộc cách tân ấy của Shiki, haiku đã nở rộ trên đất Nhật và ngày nay lan tỏa khắp toàn cầu.

Sau khi haiku được giới thiệu ra châu Âu, cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ một số ít nhà thơ ở các nước phương Tây, có thể kể đến Ezra Pound (1885–1972), quan tâm tới thể thơ này. Phải đến nửa sau thế kỷ 20, haiku mới bắt đầu mê hoặc nhiều thi sỹ hơn nữa trên thế giới. Giờ đây, haiku đã phổ biến trên toàn cầu, và dễ thấy rằng haiku như một thể “thơ thế giới” sẽ tác động trở lại haiku Nhật gốc trong tương lai, vì mọi thứ đều trở nên toàn cầu hóa ở kỷ nguyên này. Sau tất cả, tình huống toàn cầu hóa của haiku ngày nay gần như đồng cấu với tình huống của thời Shiki; cả hai đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từ bên ngoài nước Nhật. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của haiku ôm vào nó nhiều nhân tố nội, ngoại khác nhau, không nên coi sự tiến hóa đó chỉ mang tính thụ động. Ngoài cuộc cách tân của Shiki, trong thời gian chiến tranh, haiku còn chịu tác động do cuộc đàn áp “Phong trào Shinko-Haiku (Tân hưng Haiku)” phản chiến từ phía cảnh sát, và sau Thế chiến, chịu thêm búa rìu từ bài “Luận về Haiku như một Nghệ thuật thứ cấp” của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo. Đây là những áp lực đến từ bên ngoài thế giới haiku, nhưng haiku đã vượt qua những phép thử đó và phát triển càng mạnh mẽ hơn.


Tính ngắn gọn

Đặc điểm của haiku là ngắn gọn. Nó là thể thơ ngắn nhất ở Nhật. Tính ngắn gọn này thường được xem có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trên thực tế, vào thế kỷ 17 – thời của Basho, thể haiku còn chưa tồn tại; “Haikai-no-renga” (bài hài liên ca), tiền thân của haiku, thì dài hơn rất nhiều. Haiku mà chúng ta biết, như đã nói ở trên, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, khoảng hơn 100 năm trước, có nghĩa rằng nó ra đời như một thể thơ hiện đại. Đây là lý do vì sao haiku thường có vẻ rất hiện đại. Basho thực chất không phải một nhà thơ haiku mà là một bậc thầy haikai, ông coi trọng “hokku” (phát cú – cú 17 âm đầu của một bài haikai) cũng như người soạn ra nó, và Basho đã nâng hokku lên tầm nghệ thuật.

Trong lịch sử thơ ca cổ điển thế giới, từ Homer đến thời Trung Cổ, rồi thời kỳ đầu hiện đại, châu Âu có truyền thống sáng tác các sử thi dài, ở đó, nhà thơ nỗ lực miêu tả trạng huống của sự vật một cách kỹ lưỡng sao cho người đọc hiểu được rõ ràng. Haiku ngược lại, nằm ở thái cực kia của bức phổ. Nguyên do haiku quá đỗi ngắn có thể là vì dưới thời chính quyền Kyoto và sau đó là Mạc Phủ Edo ở Nhật, quyền lực chính trị và cùng với đó các kiểu văn hóa được hợp nhất ở kinh đô. Hệ quả là, thị dân đủ học vấn để thưởng thức haikai có thể gợi lên một hình ảnh tương đồng từ quý ngữ trong một bài thơ. Những hình ảnh này được đặt cùng nhau vào “saijiki” (Tuế Thời Ký – từ điển các từ chỉ mùa).

Trong lịch sử văn chương thế giới, thơ ca có xu hướng thay đổi từ dài thành ngắn: từ sử thi đến thơ trữ tình và gần đây là haiku. Trong thời đại của chúng ta, nhờ vào các lực hợp nhất của việc toàn cầu hóa và mạng internet, thi sỹ trên khắp thế giới có thể có chung những ý tưởng tương đồng từ một sự vật, và do đó, haiku có thể là thứ thơ ca thế giới cho nhiều kiểu người khác nhau.

Ở bất cứ ngôn ngữ nào, haiku đều rất ngắn, ít diễn tả, đối lập với truyền thống thơ ca phương Tây. Bản chất ít diễn tả của nó dẫn đến việc quan hệ giữa các từ trong một bài haiku trở nên kém rõ ràng. Người đọc phải lấp vào những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng của họ. Như thế, với haiku hiện đại, việc đọc là tối quan trọng: người đọc phải tham gia vào mỗi bài haiku mà hoàn thiện nó. Nghịch lý của sự thiếu miêu tả có lẽ là một đặc điểm hấp dẫn giúp cho haiku lan tỏa rộng rãi trên thế giới.


Thể thơ

Thể chính yếu của haiku trong tiếng Nhật là 5-7-5-on (âm). Như vậy, haiku Nhật là loại thơ có thể thức cố định với nhịp điệu từ bên ngoài. Tuy nhiên, haiku trong các ngôn ngữ khác chủ yếu là thơ tự do ba dòng. Cho dù một số nhà thơ bên ngoài nước Nhật thử làm với kiểu 17 âm tiết, nhưng đó chỉ là thiểu số. Và nữa, có những người thử làm với kiểu thơ một dòng theo dạng haiku Nhật gốc, hay số khác thử với thể hai dòng hoặc hơn ba dòng, tất cả những kiểu như thế chỉ là ngoại lệ. Ta có thể nói rằng, về haiku bên ngoài nước Nhật, kiểu thơ nguyên gốc 17-on với ngoại nhịp đã chuyển hóa thành thể thơ ba dòng với nội nhịp. Thể thơ ba dòng này rất dễ nhận biết và dường như là một nhân tố khác cho việc truyền bá rộng rãi của haiku trên thế giới.

I found my / cat – one / Silent star[1]

Tôi tìm thấy

con mèo của mình

tĩnh lặng một vì sao

(Jack Kerouac)

Khi xem xét định nghĩa thế nào là haiku ở các phần lãnh thổ khác của thế giới ngoài nước Nhật, chúng ta phải thừa nhận một điều rằng nó không phụ thuộc vào kiểu thức cố định 17-on. Trên thực tế, kiểu thức của haiku thế giới khác về căn bản so với haiku Nhật gốc. Thế thì đâu là điểm chung của haiku giữa Nhật và thế giới? Có một gợi ý cho vấn đề này khi ta nhìn vào lịch sử haiku Nhật. “Haiku Tự Do” (Jiyuritsu Haiku), khoảng năm 1910, là một phong trào cách tân khác nhằm mục đích giải phóng haiku khỏi niêm luật 17-on cố định và quý ngữ.

片つ方の耳にないしよ話しに来る

Katatsukata no mimi ni naishi yo hanashi ni kuru

To one of my ears, she comes to tell a secret[2]

Nàng đến thì thầm vào một bên tai tôi điều bí mật

(Hosai Ozaki)

Haiku Tự Do đã thành công và vẫn được đọc rộng rãi trong thế kỷ 21. Điều đó cho thấy haiku không nhất thiết phải có thể cách cố định hay quý ngữ ngay cả trong tiếng Nhật. Từ sự thật lịch sử này, ta có thể rút ra một đặc điểm khác của haiku: thể thơ haiku chứa đựng một thi tính với khả năng đổi mới, thậm chí là xa rời chuẩn mẫu. Mặc dù đa số các nhà thơ haiku Nhật ngày nay vẫn sáng tác với thể cố định, dưới đây là một ví dụ về haiku tự do hiện đại viết bởi một thi sỹ cũng làm cả haiku 17-on.

Watch again / Jesus’s despair / made of rocks[3]

Nhìn lại

nỗi thất vọng của Jesus

làm từ đá

(Ban’ya Natsuishi)

Bài haiku trên trong nguyên tác tiếng Nhật được viết theo thể tự do chứ không theo thể cố định 17-on thông thường. Người đọc dễ nhận thấy ở bản dịch, không có khác biệt rõ ràng giữa haiku Nhật thể cố định với thể tự do. Tuy nhiên, thông qua nhịp điệu và chủ đề của nó, bài thơ được sáng tác hướng ra thế giới – cái thế giới vẫn đang đi tìm một tiêu chuẩn cho haiku.

“Cắt” (kire) là một yếu tố kỹ thuật. Đối với những thể thơ ngắn như haiku, kỹ thuật cắt có thể rất hiệu quả. Tại Mỹ, nó được diễn giải thành “phép đặt cạnh nhau” (juxtaposition). Ở hai bài thơ trên, mấy chỗ “nàng đến…” (ni kuru) và “nhìn lại…” (watch again) không sử dụng các lối cắt truyền thống hay đặt cạnh nhau các hình ảnh. Cho dù vậy, ta vẫn không thể kết luận đơn giản là chúng không có sự cắt. Dường như những thảo luận về kỹ thuật cắt cần có đặc điểm gì trong haiku hiện đại cho đến nay là chưa đủ. Nhưng ít nhất, ta có thể khẳng định đã có những khác biệt với phương thức truyền thống của haiku cổ điển.


Chủ đề

Trong thập niên 1910, Kyoshi Takahama, một trong số những môn đệ của Shiki đã chủ trương haiku nên là thể thơ 5-7-5-on và liên quan tới các mùa. Quan niệm đó hàm ý rằng mỗi tác phẩm haiku đều nên chứa đựng một “từ chỉ mùa”, tức quý ngữ (kigo). Hokku vốn có truyền thống sử dụng quý ngữ để gợi mở bốn mùa, và lời khẳng định của Kyoshi đặt cơ sở trên truyền thống ấy. Với nhiều nhà thơ Nhật, các chủ đề về thời tiết bốn mùa thường rất dễ hiểu và kết nối trực tiếp với đời sống của họ. Vì lẽ đó, quan niệm trên được đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, bên ngoài nước Nhật lại không có từ điển các từ chỉ mùa như ở Nhật. Các nhà thơ haiku ở những nơi khác trên thế giới muốn theo truyền thống Nhật, thay vì sử dụng các quý ngữ, lại có suy nghĩ hơi khác. Họ xem haiku như một kiểu thơ về thiên nhiên. Cách nhìn này khá thông dụng ở nhiều nước. Đồng thời, tại những nước đó, nhiều nhà thơ cũng không quan tâm tới chủ đề thiên nhiên: họ viết haiku theo cảm năng của bản thân và theo các truyền thống thơ ca ở xứ sở của họ.

Hơn nữa, ngay cả ở Nhật, haiku không nhất thiết phải theo truyền thống; nó mở ra những thử nghiệm mới. Chủ đề của haiku hiện đại có thể đa dạng, không cứ về thiên nhiên, mà về toàn thể tạo hóa. Ở Nhật, mặc dù nhiều nhà thơ tiếp cận theo hướng truyền thống bốn mùa, số khác vẫn nỗ lực kế thừa tinh thần cách tân của Shiki, đi tìm những chủ đề mới khác với đề tài thiên nhiên. Vào thập niên 1930, một số thi sỹ dẫu theo thể cố định đã phát động phong trào “Tân Hưng Haiku” nói ở trên với mục đích thể hiện bất cứ đề tài nào họ muốn trong haiku. Phong trào này đã trở thành một đợt sóng mạnh mẽ.

Insist on the hairpin / in the rain / of ash[4]

Nài chiếc cặp tóc

trong làn mưa

tro

(Kakio Tomizawa)

Bài haiku này, làm nổi bật hình ảnh “chiếc cặp tóc”, thể hiện một phong cách mới. Trong khi nhiều người nghĩ haiku chỉ là một thể thơ truyền thống, những hướng tiếp cận như thế này, tiếp nối tinh thần cách tân của Shiki, có thể được xem là tương đối sớm trong lịch sử haiku.

Đa phần các nhà thơ Nhật đều viết haiku trong một dòng, haiku nhiều dòng là một thử nghiệm mới ở nửa cuối thế kỷ 20.

Holding a lyre / a nameless / god / drifted ashore[5]

Cầm cây đàn lia

một vị thần

không tên

trôi giạt vào bờ

(Shigenobu Takayanagi)

Nhà thơ xuất chúng này, trong thập niên 1970, chủ yếu viết haiku bốn dòng thay vì ba dòng; dẫu vậy, dường như ông đã dự báo trước cho sự phong nhiêu của haiku ba dòng ngày nay. Bài haiku trên không phải một phác họa về thế giới tự nhiên trước mắt chúng ta, cũng không miêu tả thời khắc hiện tại – như vẫn gọi “haiku thời khắc”. Nó cố gắng theo dấu những ký ức thơ trở ngược về tinh thần sáng tạo của thi sỹ, gợi lên một vùng đất tưởng tượng và con người nơi đó. Lối tiếp cận này, khởi đầu từ cá thể, chuyển qua những nhóm người, và vươn ra toàn thế giới, tỏ ra hiệu quả thay cho những chủ đề mùa. Thi sỹ ở khắp nơi có thể thử sức với kiểu chủ đề này bằng khả năng tưởng tượng của họ.


Đi tìm Tinh thần Haiku

Định nghĩa chính xác về thể thơ haiku trên thế giới gần như là điều không thể. Dẫu chỉ xét trong nước Nhật, ý niệm “thể thơ cố định về bốn mùa” lấy từ bách khoa toàn thư cũng không thể đem áp dụng cho toàn bộ lịch sử haiku Nhật được. Do đó, định nghĩa về haiku hiện đại ở Nhật cũng như trên thế giới nên là “một thể thơ ngắn mang tinh thần haiku truyền thống, bảo tồn những giá trị đậm chất thơ của nó, và đồng thời truy cầu những tinh thần haiku mới”. Bất cứ bài haiku xuất sắc nào cũng biểu lộ ý niệm này. Bởi thế, haiku cốt ở cái tinh thần, không phải ở hình thức: Điểm mấu chốt không nằm ở phong cách mà ở chính cái tinh thần của haiku. Vậy tinh thần haiku là gì? Quả thực, nhận định chính xác điều này cũng thật khó. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng đó là một cảm thức mà thể thơ haiku có được từ khởi nguồn của nó, và các thi sỹ haiku có thể cảm nhận một cách vô thức. Sau tất cả, haiku có thể dung hòa cả tinh thần truyền thống lẫn cách tân.

Đinh Trần Phương dịch


[1] Jack Kerouac, Book of Haikus (Penguin, 2003), tr. 4.

[2] Hosai Ozaki, “The Sky”, Japanese Poets Collection 30 (Shincho-sha, 1969), tr. 133.

[3] Ban’ya Natsuishi, World Haiku 10 (Shichigatsudo, 2014), tr. 40.

[4] Kakio Tomizawa, “Revelation”, The World of Modern Haiku Vol. 16 (Asahi, 1985), tr. 98. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

[5] Shigenobu Takayanagi, “Collection of Mountains and Oceans”, Complete Works of Shigenobu Takayanagi Vol. 1 (Rippu Shobo, 1985), tr. 194. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

Điều cốt tử của thơ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

ngôi nhà cũ

người bỏ đi

nhện giăng tơ khung cửa

(Lê Văn Truyền)

Từ thuở "ăn lông ở lỗ", con người đã coi trọng nơi cư trú của mình. Nơi cư trú là nơi ta được sinh ra và lớn lên, cất tiếng khóc chào đời. Tất cả đã trở thành những kỷ niệm thân yêu nhất. Ngôi nhà cũ trong bài haiku trên đây, chính là nơi cất giữ những kỷ niệm của tác giả.

Cuộc sống tự nó là một vòng quay, từ mới đến cũ. Và cứ thế, cho đến ngày "người bỏ đi". Chỉ bấy nhiêu thôi, đã nêu bật tính vô thường của cuộc sống, không có gì là mãi mãi, không có gì là tồn tại, bất biến. Nhưng nếu như thế thôi, cũng không có gì mới mẻ, vì nó là quy luật tất yếu, vốn xảy ra không ngừng trong dòng chảy bất tận của vũ trụ mà thôi.

Thơ haiku tạo ra trong nó khoảng trống. Và im lặng. Để cho độc giả tự thâm nhập khoảng trống. Và điều kỳ diệu đã xảy ra:"thơ gợi mở một thế giới nội tâm, một khoảng trống khủng khiếp khi "người bỏ đi", là lúc tâm hồn ta đang thiếu vắng...

Xác thân ta chính là ngôi nhà tâm thức. Khi tâm hồn "người bỏ đi", thì chỉ còn cái xác không hồn! Ta vong thân trong chính thân xác của ta. Đây mới là điều cốt tử của thơ. Dĩ nhiên, khi ngôi nhà không có ai chăm sóc, thì cảnh "nhện giăng tơ khung cửa" diễn ra u ám, điêu tàn; nếu không nói là nơi ma quái, rắn rết kéo nhau đến làm nơi cư trú. Lục phủ ngũ tạng ta cũng thế, bệnh tật kéo đến hành hạ, đau đớn không cùng. Ta thử tưởng tượng, một người điên sống như thế nào, thì ngôi nhà có "nhện giăng tơ khung cửa" cũng như thế ấy.

Thơ haiku nhỏ thật, nhưng chứa trong nó một năng lực phi thường. Khi được khai mở, nó sẽ như dòng nước ngầm tuôn ra tràn ngập tâm trí kẻ hữu duyên.

Vỡ lẽ, ta mới hồn nhiên kêu lên:"Ồ, thơ haiku là thế!", là những gì được giấu kín bên trong, giúp ta tỉnh thức và thực hành.

Chăm sóc ngôi nhà của chính chúng ta, cho thân tâm được an cư, an lạc, trước khi duyên tứ đại tan vỡ. Đó là những gì mà thơ đem lại trong bài haiku tuyệt hay này...

Sài Gòn 11.2017

N.T.N

Tiếng chuông, hạt sương và lẽ vô thường- Lê Văn Truyền

Tiếng chuông Thiên Mụ

gieo màn sương

trên dòng Hương

alt

Cả tuổi thơ của tôi gắn liền với làng Kim Long, vùng đất vào năm 1636 được Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làm thủ phủ đầu tiên của xứ Đàng Trong suốt 60 năm trước khi xây dựng kinh thành Huế và Hoàng cung triều Nguyễn ở Phú Xuân. Kim Long nằm bên tả ngạn Hương Giang thơ mộng và có 2 dòng sông nhỏ, sông Kim Long và sông Bạch Yến, bao quanh làng.

“Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn

Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long

Sương sa gió thổi lạnh lùng

Sóng xao trăng lặn chạnh lòng nhớ nhung”

Ca dao xứ Huế

Kim Long chỉ cách chùa Thiên Mụ, tọa lạc trên một ngọn đồi nhỏ ở làng Hà Khê tách ra từ làng Kim Long, khoảng 2 cây số theo đường chim bay. Vì vậy, tiếng chuông Thiên Mụ hàng ngày vang đến tận làng Kim Long vào cái thủa mà văn minh công nghiệp chưa lan đến những làng quê (không ô tô, không đèn điện, không máy móc…). Mỗi ngày, những hồi chuông 108 tiếng kéo dài trong một giờ đồng hồ từ đại hồng chung Thiên Mụ ngân nga vang vọng khắp vùng bắt đầu vào lúc 7:30 tối (canh 1) và 3:30 sáng (canh 5), giữ nhịp thời gian cho sinh hoạt của những người dân quê hiền hậu, chất phác trong vùng. Một trăm linh tám tiếng chuông thiêng gióng lên như để an ủi cho 108 khổ nạn mà chúng sinh phải trầm luân trong cõi trần gian này.

Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần tiếng chuông Thiên Mụ cuối cùng buổi tối dứt, có nghĩa là tôi phải lên giường đi ngủ (trẻ con không được thức khuya, bà ngoại tôi bảo thể). Trước khi đắm mình vào giấc ngủ tôi nằm lằng nghe từng tiếng chuông đĩnh đạc bung ra, trầm bổng ngân nga như trò chuyện cùng tôi rồi từ từ tắt hẳn trong đêm tối để nhường chỗ cho tiếng chuông tiếp theo. Và buổi sớm mai, trong cơn ngủ vùi vô tư của con trẻ, tiếng chuông chùa vọng vào cơn mê ngủ của tôi, và những tiếng chuông cuối cùng của cữ chuông buổi sáng kéo tôi ra khỏi những giấc mơ đẹp đẽ của tuổi ấu thơ. Cả nhà lục tục dậy, bếp củi bắt đầu đỏ lửa chuẩn bị cho bữa ăn sáng và sau đó mọi người ra đồng. Theo thời gian, tôi nhận ra tiếng chuông Thiên Mụ thay đổi theo mùa: thanh trong vào những buổi sáng nắng hanh, trầm buồn trong những ngày mưa dầm gió bấc, ngân nga ai oán trong những buổi sớm mù sương … Vì vậy, tiếng chuông Thiên Mụ đã đi theo suốt cuộc đời tha hương của tôi cho đến tận bây giờ. Có những lần được trở về Kim Long, được nghe tiếng chuông Thiên Mụ, lòng thấy như ấm lại.

Người ta cho rằng tiếng chuông Thiên Mụ vang xa như vậy, ngoài bí quyết đúc đồng vi diệu của những người thợ đúc đồng Phường Đúc ở phía bên kia bờ sông, dòng Hương Giang uốn khúc trải dài trước chùa được coi như một dòng vật chất dẫn truyền tự nhiên cho tiếng chuông. Tôi thì lại nghĩ và tin rằng, tiếng chuông gióng lên mang theo công phu thiền định và hạnh nguyện từ bi của các thiền sư chùa Thiên Mụ chính là một yếu tố xúc tác vật lý, nhờ sóng âm và sóng siêu âm huyền diệu trong tiếng chuông, đã làm cho hơi nước bốc lên từ mặt sông ngưng tụ lại, gieo một màn sương khói huyền ảo trên dòng Hương xinh đẹp.

Mây thiêng đỉnh Yên Tử

thành hạt sương bậu trên mi mắt

hạnh ngộ lẽ Vô Thường

Cách đây mấy năm, một sớm đầu Xuân, tôi hành hương về Yên Tử. Leo qua hàng ngàn bậc đá để lên Chùa Đồng trên đỉnh núi, tôi cùng hàng ngàn khách hành hương đi trong mây. Mây mù làm phong cảnh chung quanh trở nên huyền ảo như một bức tranh thủy mặc, người ta không còn thấy rõ mặt nhau. Và tôi cảm thấy trong mây khuôn mặt mọi người bỗng trở nên hiền hậu hơn, đẹp đẽ hơn.

Thấm mệt, tôi nhắm mắt nằm trên một vạt cỏ ven đường và rồi tự nhiên cảm thấy có những hạt sương nhỏ li ti đang nhẹ nhàng bậu trên mi mắt và dịu dàng đáp xuống làn da mặt, mát rượi. Đột nhiên, mọi mệt mỏi bỗng tan biến, thân mình như bồng bềnh trong mây, tâm hồn bỗng nhẹ nhàng như hạt sương bay. Và chính trong phút giây ngắn ngủi đó dường như tôi đã ngộ ra lẽ Vô Thường. Nước biến thành mây, mây hóa thành sương, sương đọng thành giọt mưa cho hạt nẩy mầm, cho cây cối tươi xanh … Rồi theo vòng tuần hoàn của tự nhiên nước lại thành mây… Dù là một làn mây, một hạt sương, một hạt mưa hay cả một đại dương cũng đều thuận theo vòng tuần hoàn bất diệt này.

Vậy hà cớ gì ta lại không sống tùy duyên. Tùy duyên, ta hãy là mây, là sương, là hạt mưa, là giọt nước … Tùy duyên, đừng vô vọng cưỡng lại mà hãy an nhiên thuận theo lẽ Vô Thường trong cõi thế gian Bất Toàn này.

Thượng Đình, ngày Lập Hạ

LVT

Nhớ ngày Thầy đưa Haiku về làng- Lưu Văn Quỳnh

(Kỷ niệm ngày giỗ đầu thầy giáo Lưu Đức Trung)

alt

Trong cuộc đời có những chuyện thật mười mươi, chẳng biết có sự trùng hợp ngẫu nhiên hay thần giao cách cảm. Qua rồi kể lại không ít người cho đó chỉ là chuyện hư cấu văn chương. Đặc biệt trong những chuyện đó có đôi tình tiết mang màu sắc tâm linh, kỳ bí. Ví như chuyện cây mai nhà tôi nở hoa hai lần khi thầy giáo Lưu Đức Trung về thăm.

Sau mấy chục năm gặp lại. Mời thầy về thăm nhà, đợi ngày đón thầy về quê kỷ niệm 5 năm ngày thành lập trang Caolaoha.com – Tờ báo điện tử của làng. Dắt tay đón thầy bước lên thềm. Vô tình ngước lên thấy bông hoa vừa nở, tôi vui mừng:

Ôi, thầy ơi! Gốc mai này cháu Lâm mua đã lâu, chở từ Nam ra, hoa nở đẹp lắm. Nhưng từ ngày cháu đi vắng, nó chẳng nở thêm lần nào. Mười mấy năm chờ đợi, hôm nay thầy đến lại nở hoa đây này.

Ngước lên theo hướng tay tôi chỉ, thầy khẽ khàng: Thật ư. Vui quá. Lạ Nhỉ.

Càng lạ lùng hơn, mấy hôm sau thầy đi, hoa lại nở thêm lần nữa. To, đẹp, thẫm mầu hơn. Thầy đi rồi sáng nào tôi cũng ra thềm ngóng đợi, nhưng cây buồn chẳng chịu ra hoa. Chuyện tưởng chỉ thế, không ngờ sau chuyến về thăm quê lần ấy, mấy tháng sau thầy tôi qua đời ở tuổi 85. Cây mai bên thềm nhà tôi cũng héo tàn rồi chết.

Thương thầy, tiếc hoa, tôi cấy vào gốc mai già mấy chồi non. Những mong sớm tối ra vào như vẫn có thầy hiện hữu. Vẫn như còn được thấy thầy “rong chơi suốt bốn mùa hoa” (Đông Tùng) giữa cõi đời này.

Sắp đến ngày giỗ đầu của thầy, tôi lại ra gốc mai già tỉa lá, uốn cành, lòng suy nghĩ miên man. Chuông điện thoại đổ dồn:

A lô em đây, em Hải đây!

Mừng quá anh à. Hôm qua bác Đinh Nhật Hạnh, Chủ nhiệm câu lạc bộ thơ Hai Ku Việt Hà Nội tặng em cuốn Nội san. Bác cảm động lắm, vừa nói vừa khóc. Bác khóc khi được đọc bài viết Đưa Hai Ku về làng quê của chú Trung và mấy bài thơ của anh em mình vừa mới sáng tác. Khi nào sang, anh lấy sách về đọc, sẽ hiểu thêm về bác và Câu lạc bộ Hai Ku Hà Nội anh nhớ.

Cầm tập nội san trên tay. Trang đầu tiên là lời đề tặng rất mực trìu mến yêu thương bác dành cho chủ nhân Lưu Đức Hải. Tôi lật tiếp và đọc say sưa bài viết dài hơn mười trang MƯỜI HAI NĂM, MỘT CHẶNG ĐƯỜNG của bác Đinh Nhật Hạnh. Càng đọc tôi càng thấm thía rồi cũng đồng cảm, xúc động không kém tâm trạng của bác khi đọc bài của thầy Trung làng ta.

Mười hai năm, một chặng đường, kể từ khi “nàng Hai Ku Nhật” thoảng hương vào đất Việt”, cùng với nhà thơ Nhật Chiêu, giáo sư Lưu Đức Trung  những người “phá thạch, khai sơn”, bác Đinh Nhật Hạnh là người rất mực chăm chút, lo toan cho sự phát triển của thơ Hai Ku. Nỗi niềm của bác chất chứa, dồn nén từ mong chờ, hy vọng, kỳ vọng rồi cả xót xa, nuối tiếc, hoài nghi, khi “Mong ước ấy hãy còn xa xôi lắm, chưa thể hẹn trước trong tình thế hiện nay”

Vâng! Trong tình thế hiện nay khi xã hội hầu như quay lưng lại với thơ ca đích thực, nói chi đến với Hai Ku, thể thơ kén người đọc, vốn chỉ quen với những bậc tao nhân, mặc khách ở chốn thị thành.

Trong tình thế hiện nay, khi người chủ soái, nhà sáng lập Lưu Đức Trung vừa mới qua đời để lại bức tâm thư đầy tâm huyết đề ngày 15/5/2015 với bao mong ước chưa thành.

Trong tình thế như vậy, không ngờ ở một miền quê xa xôi, làng Cao Lao Hạ, quê hương của thầy Lưu Đức Trung có cả một Câu lạc bộ thơ. Hàng chục người tham gia làm thơ Hai Ku, hàng trăm bài thơ Hai Ku được chọn lọc đăng trên Đặc san Xuân Bính Thân 2016, nhân kỷ niệm 9 năm thành lập Câu lạc bộ Hai Ku Việt thành phố Hồ Chí Minh.

Lưu Đức Hải:

Võng đưa

Lên xuống

Cuộc đời

Lưu Văn Quỳnh

Cánh hoa rơi

Cá giật mình

Trời xanh rung động

Lê Quang Quý:

Dắt nhau lên động

Thiên đường

Mở ra

Lê Chiêu Phùng:

Nắng Đông

Bóng hạc ẩn mình

Vách đá

Lê Văn Viên:

Trà hoa nhài

Xuân đương độ

Vắng cành mai

Lưu Trọng Tri:

Người phụ nữ

Ngồi khâu nón

Ôm cả vầng trăng

Đặng Văn Quang:

Trái hồng leo

Xóm nghèo

Tuổi thơ xúm xít

Lưu Văn Lộc:

Lưng mẹ còng

Tay cắm đất

Mùa vàng

Đọc những bài thơ Hai Ku như thế, có ai ngờ đó là những sáng tác đầu tay của người dân làng Cao Lao Hạ viết vội khi tay còn vương mùi bùn đất của đầm tôm, ao cá. Chân còn vướng víu gai góc giằng dịt của núi đồi, nương rẫy. Có ai ngờ đó là những sáng tác đầu tay của lớp học trò đặc biệt, chỉ mới được học qua một bài đầu tiên trên chuyến xe về quê cùng thầy Lưu Đức Trung hôm ấy…Người nghệ sĩ lớn như bác Đinh Nhật Hạnh hết lòng chăm lo cho thơ Hai Ku làm sao không vui mừng, xúc động đến trào nước mắt.

Ngày 29 tháng 10 năm 2015: Quốc lộ 1A vừa mới mở rộng, rải thảm bê tông phẳng lỳ. Xe lướt êm ru. Chỉ tiếc toàn ở ngoại đô nên 9 giờ sáng, thầy trò còn chưa được điểm tâm. Thầy Trung có sáng kiến: Đọc và bình thơ Hai Ku chống đói. Mọi người vỗ tay hưởng ứng.

Giữa bao nhiêu sự ồn ào, hỗn tạp của âm thanh, lớp học đặc biệt của đám học trò làng Hạ đang chăm chú lắng nghe như nuốt lấy từng lời giảng của thầy. Vị giáo sư già, Lưu Đức Trung đang truyền thụ những kiến thức sơ đẳng, vô cùng mới mẻ về thơ Hai Ku cho lớp con cháu của quê hương mình. Thú vị nhất khi thầy lấy luôn bài thơ thầy trò vừa sáng tác tuần trước khi xuống Hạ Long để phân tích, giảng giải cho chúng tôi:

Chiều

Hạ Long

Đá đôi âu yếm

Đấy! Thơ Hai Ku là thế, nó là thể thơ đặc biệt của nước Nhật. Thể thơ có dung lượng nhỏ nhất của thơ ca nhân loại. Nhiều nhất cũng chỉ đến 14, 15 âm tiết, ngắt làm ba nhịp. Ý tứ cô đọng, sâu xa. Đúng như điều anh Quỳnh đã viết trong bài thơ Thầy tôi:

Những bài thơ Hai Ku xinh như cánh bướm.

Ấp ủ ý vị thiền, xứ sở hoa Anh đào của đất nước Phù Tang.

Chất thiền trong thơ Hai Ku là sự an nhiên, tự tại, quay lưng lại với bao sự cám dỗ của cuộc đời trần thế. Nó sâu xa, lắng đọng, gợi mở, tưởng tượng đến vô cùng. Người làm thơ, thưởng thơ Hai Ku phải lắng tai mà nghe, mở mắt mà nhìn, trải lòng ra mà cảm nhận.

Chao ôi! Chỉ mới được nghe như thế, đám học trò chúng tôi đã sáng ra rất nhiều điều. Chắc rằng rồi đây những hạt giống thơ Hai Ku thầy đem về gieo xuống mảnh đất quê hương trong ngày lễ kỷ niệm 5 năm thành lập trang Caolaocom - Ngày 1 tháng 11 năm 2015 tại đình làng sẽ phát triển thành vườn thơ Hai Ku xum xê, tươi tốt .

Giữa không khí trang nghiêm của ngày lễ lớn, đình làng Cao Lao Hạ nghi ngút hương trầm. Ông Lưu Văn Tác – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã trong trang phục đại lễ, trịnh trọng đánh hồi trống dài khai mạc. Trong tiếng trống vang rền, tôi như nghe tiếng của ông cha nghìn năm vọng về. Tiếng vọng của vùng đất địa linh còn in nhiều dấu tích của một nền văn hóa lâu đời. Tác giả Lê Văn Sơn, người con của làng đã ghi lại trong cuốn Địa chí làng Cao Lao Hạ:

“Đứng trên tầm cao mà nhìn, làng Cao Lao Hạ có hình dáng như một chiếc thuyền Long châu đang thả neo trên dòng Linh Giang xanh biếc. Thật vậy, tại đây mặt nước Linh Giang trải rộng như một tấm gương trong xanh. Từ xa, núi rừng Lệ Đệ như một bức trường thành che chắn ở phía trời Nam. Có cái thế đất Long triều hổ phục, ở giữa là cánh đồng rộng mênh mông. Được cái thế sông bồi thủy tụ. Rõ ràng là một vùng đất mang vượng khí thái bình mở ra cả một triển vọng lớn lao ở phía chân trời. Nhờ đó, nơi đây không những đã sinh ra bao lớp anh tài, tuấn kiệt mà còn xây dựng được cả một nền văn hóa dân gian đa dạng…

Âm vang của tiếng trống vừa dứt, Tiến sĩ Lưu Đức Hải được mời đọc diễn văn trình bày thành tựu của Caolaocom 5 năm hình thành và phát triển. Tiếp đến là thầy Lưu Đức Trung phát biểu, tặng bức thư pháp do chàng Ngẫu Thư Thanh Tùng – Thành viên Câu lạc bộ Hai Ku Hà Nội tung tẩy vẽ từ bài thơ Hai Ku của thầy Lưu Đức Trung:

Tay gõ

Caolaoha.com

Tình quê lắng đọng.

Lời thơ thầy vừa dứt, đình làng vang rộn tiếng vỗ tay hoan hô chào mừng. Thầy chưa kịp bước xuống, hàng chục thành viên Câu lạc bộ thơ, cộng tác viên trang báo chạy ùa lên sân khấu. Nào nhà thơ Cảnh Giang, Linh Giang, Lưu Thông, Chung Qúy, nhà báo Lê Chiêu Phùng, kiến trúc sư Lê Chiêu Chung, nhà thơ Quân đội Lê Quang Nhân, Đặng Văn Quang, Lê Quang Qúy… Nào các nữ sỹ Lưu Hoa, Lê Mận, Hồng Tư, Thúy Mơ, Hương Trà… bấy lâu chỉ biết danh thầy qua sách báo, qua bao thế hệ học trò cũng là những giáo sư, tiến sĩ tôn vinh thầy : Nhà giáo, nhà thơ, nhà khoa học, thiền sư. Hôm nay được tha hồ thỏa thuê nhìn ngắm người thầy giáo kính yêu của quê hương mình. Thầy đứng đó khiêm nhường, lặng lẽ đọc thơ. Bao nhiêu người chạy ùa lên. Người ôm hôn, người níu kéo, tung hô. Tôi và Thanh Tùng phải vội vàng chạy lên giải cứu để giữ gìn sức khỏe cho thầy. Thầy vừa qua cơn trào ngược dạ dày, lại vừa hành trình trên suốt chặng đường dài cả nửa nghìn cây số để đem thơ Hai Ku về gieo hạt trên mảnh đất quê hương…

alt

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ. Mới ngày nào đó, hôm nay thầy đã đi xa, xa lắm. Kính yêu thầy, con viết đôi dòng như một nén hương lòng tường nhớ thầy trong ngày giỗ đầu. Dưới suối vàng chắc thầy sẽ vui khi biết hạt giống thơ Hai Ku thầy đem về gieo trên đất quê hương may đã lên mầm xanh tươi. Cầu mong thầy yên giấc ngàn thu để phù hộ độ trì cho con cháu làng ta. Con cháu của các bậc tiền nhân, những nhà thơ, nhà văn lớn: Lưu Trọng Lư, Lưu Đức Trung… đã từng làm rạng danh nền thơ ca dân tộc. Chúng con hứa sẽ chăm lo, vun trồng để những hạt giống thơ Hai Ku thầy đem về gieo trên đất quê hương phát triển thành vườn thơ Hai Ku sum xuê, tươi tốt. Góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà trong thời kỳ hội nhập. Tiếp nối truyền thống cha ông làm rạng danh quê hương, đất nước./.

Ngày 2 tháng 5 năm 2018

LVQ

Tình quê hương chất chứa trong bài thơ Haiku- ĐặngVăn Quang

alt

“Đất khách muôn trùng răng nhỏ hẹp

Một góc quê nhà nhớ mênh mang”

Kỷ niệm năm năm trang web làng ta, tôi thật sự ấn tượng và xúc động khi Giáo sư Lưu Đức Trung cụ, “Tiên chỉ” của làng tuổi đã ngoài 80, cả cuộc đời sống tha hương, tay run run cầm bức thư pháp viết bài thơ Hai ku do cụ sáng tác tặng Caolaohạ.com.

Tay gõ

caolaoha.com

tình quê lắng đọng.

Thơ Haiku thì tôi chưa hiểu lắm, nhưng quả thực đọc kỹ câu chữ của bức thư pháp kia mới thấy thấm thía và ý nghĩa vô cùng.

Năm năm qua, đã bao lần tôi gõ caolaoha.com là bấy nhiêu lần lắng đọng tình quê. Khi bật máy tính lên chỉ cần nghĩ đến quê hương là trong ta đã có một cảm xúc khác lạ. Có thể nói, từ khi có trang web quê, không ngày nào là tôi không truy cập, rảnh ra một tý là vào ngay, vì sao vậy? phải chăng đó là “Tình quê”?.

Tôi còn nhớ ngày đầu vọc vạch vi tính (theo cách nói của Lưu Văn Quỳnh) tôi cũng ngu ngơ truy cập caolaoha.com, loay hoay mãi không được bèn nhờ cậu lính trẻ:

- Cháu truy cập giùm chú trang caolaoha.com

- Cậu ta hỏi: Cao Lao Hạ ở mô chú?

- Quê chú chớ mô nữa.

Rồi cậu ta lẩm bẩm, tỉnh ta làm chi có xã ni hè, nếu là làng thì chắc là có.

Tôi lại mất công giải thích: Trên tỉnh Quảng Bình này, không nhiều nơi như Xã Hạ Trạch cũng là làng Cao Lao Hạ, làng là xã, xã cũng là làng và cũng là làng có trang web đầu tiên và duy trì phát triển đến bây chừ.

Rứa đó, tự hào, hãnh diện, nhiều rồi không ngày nào quê hương lại không hiển hiện trên máy tính của tôi.

Năm 2015 trôi qua, một năm với nhiều đổi mới trên quê hương mình, trang web đã đồng hành nói lên tất cả nhưng điều đổi mới đó, ai ở xa quê chắc thấy rõ.

Tháng ba cúng Cồn cui, tháng sáu cúng Đình, tháng mười khánh thành cổng Đình và hội ngộ 5 năm trang web, cuối năm mừng Xuân dâng tiến Hoành phi câu đối, bộ gươm giáo Đình làng…Rồi Cao Lao Hạ phương nam thì tôn tạo chùa Cao Lao Tự, các Họ tộc trong làng xây nhà thờ, lăng mộ tổ tiên…

Những sự kiện đó gõ vào Caolaoha.com ta sẽ thỏa lòng...Ôi tình quê lắng đọng.

Năm qua, điều ấn tượng nhất trong tôi đó là công trình Cổng đình làng và các hạng mục phụ trợ. Sức lực, trí tuệ, tâm huyết, tiền bạc của mọi người “lắng đọng” ghi lại những dấu ấn khó phai mờ.

Mấy năm trước, Đình làng ta khánh thành khang trang đẹp đẽ, nhưng quanh đình đầy cỏ mọc quạnh hiu, cứ thường kỳ các cháu học sinh lại phải phát cây, nhổ cỏ, để chúng không phủ lấp ngôi Đình hãnh diện của kia. Trăn trở suy tư, BBT Caolaoha.com đã phát động một chương trình huy động đóng góp…rồi có sân, có cột cờ, bình phong khắp nơi mọi người phấn khởi.

Nhưng mặt tiền của Đình vẫn thế, hai trụ biểu uy nghi của cha ông để lại, là niềm kiêu hãnh của cháu con, nhưng sao mà xót xa, không tương xứng với ngôi đình mà con cháu xây dựng hôm nay. Cứ như áo comple, cravat mặc chung với quần the khăn đóng vậy. Khách qua đường cảm nhận, giá như…

Một lần nữa Caolaoha.com lại làm cái sứ mệnh thiêng liêng, kêu gọi tôn tạo xây dựng mặt tiền, cổng đình. Một vấn đề hết sức gay cấn và trăn trở, đó là năm nào cũng kêu gọi, phát động, đóng góp… cũng không ít lời ra tiếng vào, cũng có những thì thào than thở …

Lượng truy cập cũng nhiều, người viếng thăm cũng lắm, nhưng danh sách đóng góp chưa được là bao, cứ tưởng chừng không thể thành công. Có những lúc nhạc trưởng Caolaoha.com Lưu Đức Hải bi quan gọi điện: “Anh ơi, tiến độ đóng góp chậm quá anh hè, e thất bại…” Tui bạo mồm động viên: “Yên tâm mọi người đang lắng đọng”. Và quả đúng như sự “bạo mồm” của tôi, kinh phí đóng góp chẳng những đủ mà còn dư.

Ôi chao! danh sách đóng góp sao mà dài, người đóng góp sao mà đông, mừng, mừng vô kể, bởi con cháu quê mình thật “lắng đọng” biết bao. Tôi đã thấy làng Lý Hòa, làng Ba Đồn và một số nơi nữa, có những mạnh thường quân đóng góp tiền tỷ để xây Đình, xây làng dễ như chơi.

Tôi thầm nghĩ, không phải con cháu quê mình không làm được như họ, mà “Tình quê” phải được dành cho mọi người. Trong tôi vẫn thấy tự hào, cảm phục với những tấm lòng sâu nặng của con cháu quê mình. Từ cháu học sinh, đến cụ già hưu trí, từ anh sinh viên đến các nhà doanh nghiệp, từ vị sĩ quan đến anh lính nghĩa vụ quân nhân, các cháu làm thuê, lao động xa quê…tất cả, tất cả đó đã giành một chút từ mồ hôi công sức của mình để được trãi lòng với quê hương, Tiên tổ.

Tôi cứ hình dung, mọi người khi gõ Caolaoha.com để đăng ký góp một chút ít cho quê nhà hoặc để xem hôm nay tiến độ công trình đến đâu…? Thì “Tình quê” đã hình thành, đúc kết từ trước khi mở máy.

Tay gõ Caolaoha.com, nhưng trong đầu mọi người đã nghĩ về nơi chôn rau cắt rốn, đã hình dung ra hai mươi lối xóm, với những con đường bê tông sạch sẽ thoáng khô, với Đình làng sừng sững uy nghi, với dãy nhà thờ Họ trầm mặc, nhìn ra cánh Đồng cửa tít tắp dưới chân dãy Lệ đệ mờ xa…lòng người bỗng chùng xuống, lắng lại, thẩm thấu, “lắng đọng” những ký ức quê nhà.

Tay gõ Caolaoha.com, là đã nghe tiếng thông reo trên Dốc Oằn, Ba trại, tiếng nước róc rách nơi Khe Mỏ, khe Ngang, qua những con mương thẳng tới đường Bạn, đường làng; thấy được bóng của Động Dôn, Lều Cù Đá bạc in trên mặt nước của Vực Sanh, Cửa Nghè yêu đấu.

Tay gõ Caolaoha.com, đã thấy bóng hình mẹ cha ta, một thời kiên gan bền chí, cho dầu bom rơi đạn lạc vẫn bám đất, bám làng, một tấc không đi, một ly không rời, để khắc ghi Bến Phà gianh, ngầm Hói Hạ, đường Ba trại, Thọ lộc …vào lịch sử dân tộc, xứng với cha ông ta đã một thời trấn ải miền biên viễn nơi đây.

Tay gõ Caolaoha.com, để nghe âm thanh “Nơi tôi tìm về” ngọt ngào sâu lắng;“Đưa em về quê mẹ miền trung”;“Về làng Hạ” da diết khôn nguôi…

Tay gõ Caolaoha.com, tôi được thưởng thức những bài thơ chân quê mộc mạc, như hạt lúa Bàu Mật, bàu Đưng , như củ khoai thành thơm thơm nóng hổi, nghe ngèn ngẹn đến tận bây giờ.

Rất nhiều, rất nhiều nữa…

Tay gõ

caolaoha.com

tình quê lắng đọng.

Rồi tôi bỗng giật mình nghĩ dại: Nếu một mai không còn Caolaoha.com, tôi biết gõ vào đâu, gõ vào đâu cho thỏa lòng, cho khuây nỗi nhớ quê mỗi khi chiều về, đêm xuống?

Lắng đọng lắm QUÊ ƠI!

ĐVQ

Hoa tri ân bật nở- Nguyễn Thánh Ngã

alt

hoa nở

trò cũ đến thăm

thơm lừng trang sách

(Lê Đăng Hoan)

Đọc bài haiku của nhà thơ - Haijin Lê Đăng Hoan, chợt nhớ cụ Nguyễn Du từng viết:"Khi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên", tức nhà giáo đã về hưu rồi. Vì vậy, "hoa nở" ở đây được viết với phong thái "hạ nhàn". Ta có thể hiểu, nhà giáo đang vui hưởng cảnh thong dong nhàn nhã, sau khi đã cống hiến cả đời trên bục giảng.

Và những hạt "bụi phấn bay bay" rơi trên tóc thầy, đóa hoa tuổi tác đã nở trắng. Màu trắng của đám mây phiêu lãng, trôi qua dòng sông của "người đưa đò" dày dạn nắng sương, dày dạn kinh nghiệm "trồng người", khiến ta cúi đầu ngưỡng mộ...

Hiểu được như vậy, nên "trò cũ đến thăm" là cách thể hiện "tôn sư trọng đạo". Nét đẹp văn hóa đó, được người đời truyền tụng mãi mãi. Thầy đã dạy dỗ biết bao thế hệ, bao lớp học trò đỗ đạt, đem sức trẻ cống hiến cho đất nước quê hương. Báo đáp ân thầy dạy dỗ, là một trong tứ ân mà người học trò phải biết, phải thực hiện cho "thơm lừng trang sách"...

Sách ở đây là sách nhân học, sách dạy làm người. Thầy trò mở lòng ra với nhau, người biết ơn, người độ lượng, chính là giềng mối làm nên hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc ấy, khiến những đóa hoa lòng thơm thảo bật nở và lan tỏa hương thơm. Đó là đạo lý "uống nước nhớ nguồn", đã được cha ông ta gìn giữ. Lòng chợt buồn, khi biết rằng ngày nay mối quan hệ đó đã bị rạn nứt. Cảnh học trò "đánh thầy", đối xử vô ơn bạc nghĩa với thầy cô đã từng diễn ra. Và cũng có những thầy cô lợi dụng chức năng nhà giáo, tăng thu nhập quá mức cho phép, làm phiền lòng phụ huynh vv...

Tuy nhiên, cảnh ấy chỉ là "con sâu làm rầu nồi canh". Tất cả chúng ta đang hướng tới một nền giáo dục nhân văn, chất lượng hơn.

Xét về ý tưởng, câu thơ:" thơm lừng trang sách", đã bắt theo mạch trên, nên dù là ba ngắt ý khác nhau trong ba dòng thơ haiku, vẫn thể hiện một mạch văn nhất quán, logic.

Thái độ biết ơn thầy hợp với lòng trời, thuận theo lẽ tự nhiên. Và cái gì thuận theo lẽ tự nhiên sẽ đem lại an hòa cho cuộc sống.

Có thể nói, bài thơ nhỏ bé của nhà giáo Lê Đăng Hoan là một trong những bài thơ hay tiêu biểu, rất đáng trân trọng. Thế mới biết, công năng của thơ đã góp phần giáo dục không nhỏ trong thời đại chúng ta...

Sài Gòn tháng 04.2018

N.T.N

Đôi điều về cấu trúc thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Trong các phiến khúc Haiku từ xưa đến nay, ở mọi quốc gia, đều rõ mồn một ba thành phần. Người ta có thể viết trên ba dòng:

古池や (Furuikeya)

蛙飛び込む ( Kawazu tobikomu )

水の音 ( Mizu no oto)

( Basho )

Hay một dòng, dùng dấu ngắt để phân cách ba thành phần ấy: 古池や / 蛙飛び込む /水の音

Hãy cùng nhau làm công việc tìm xem các thành phần ấy là gì để đi đến chuẩn mực khảng định một khúc thơ có phải Haiku hay không.

alt

Là ba câu ư?

Ở một số bài thơ, đó là ba câu thực sự . Chẳng hạn:

“Cá xuống nước

Mây về trời

Ta thả ta vào chân không” (Doãn Thiện Niệm). Hay:

“Chiếu giải hiên đình

Sáo ghẹo trúc xinh

Tay em uốn gió” (Lý Viễn Giao)

“Sông đưa nước ra biển

Gió dìu mây về nguồn

Người đưa hồn về quê” (Lam Hồng)

Nhưng ở rất nhiều bài, ba thành phần này chưa là câu:

“Ngõ cụt

Thoáng bóng hồng

Vấp” (Nguyễn Kỳ Anh). Hay:

“Không mưa

Những cột đèn đường

Âm bản đêm” (Đinh Trần Phương)

Ngay cả bài thơ Con ếch của Basho, chỉ có hai thành phần sau “Con ếch nhẩy vào” và “Tiếng nước xao” là câu còn “Ao xưa” đâu phải thế!

Ba thành phần của khúc thơ Haiku là ba câu với đầy đủ chức năng của nó để tạo nên bài thơ thì điều đó không sao cả. Nhưng có cần phải như vậy không thì cũng thấy rồi. Cho nên không thể mặc định cho thơ haiku là Thơ ba câu.

Hay là ba dòng?

Dòng không mảy may mang ý nghĩa nội dung nào trong viết lách. Dòng chỉ có vai trò như một đơn vị đong chữ. Trên một dòng, người ta có thể chỉ viết một chữ nhưng cũng có thể viết đầy kín chữ. Có thể viết một câu hay nhiều câu. Nếu các chữ trên đó là của một ý sẽ không cần phải dùng đến dấu phân cách . còn như trên dòng ấy gồm nhiều thành phần, tùy theo mối quan hệ giữa chúng mà dùng các dấu phẩy (,), chấm (.), chấm phẩy (!), hỏi chấm (?) … hay gạch chéo (/) để phân định. Thơ Haiku thường hay dùng cách viết mỗi thành phần riêng một dòng, cũng có viết chúng trên một dòng rồi dùng dấu gạch chéo để phân chia nhưng ít hơn. Chẳng hay có phải vì thế mà nhiều người mặc nhiên gọi thơ này là thơ ba dòng? Điều này rất nguy hiểm, nó sẽ dẫn đến sự lẫn lộn về tiêu chí của một bài thơ. Nếu trên mỗi dòng là một thành phần đúng chức năng thì sẽ không sao rồi, nhưng nếu đặt lên dòng kẻ một số chữ không có ý, không hình ảnh, không nằm trong mối quan hệ chung với các dòng khác để nói lên một ý tưởng thì sao thành khúc Haiku.

Vậy ba thành phần ấy là gì ?

Trong nhiều trường hợp mỗi thành phần ấy là một hình ảnh, chẳng hạn:

“Hai người đơn côi

Ngược chiều

Sóng đôi” (Như Trang) Hay:

“Chớp lóe

Mưa trắng đồng

Mẹ gánh cơn giông” (Lương Thị Đậm)

“Tia chớp xanh lè

Gió bấu ngọn tre

Mưa nghiêng mái lá” (Lý Viễn Giao)

Nhưng trong nhiều trường hợp khác, ba thành phần của khúc thơ chỉ là ba ý:

“Xuân đến

Xuân đi

Tình ở lại” (Thánh Ngã) Hay:

“Tháng Bẩy qua rồi

Sao còn rơi lệ

Vợ chồng Ngâu ơi!” (Đoàn Thị Thu Vân)

“Trăng vàng đỏng đảnh

Đẹp chỉ đêm rằm

Đâu ngờ hôm khuyết” (Mai Trinh)

Lại cũng có khúc Haiku chứa cả hình ảnh và ý xen nhau trong ba thành phần của mình:

“Gió xuân

Tóc trắng bay

Nhớ thời mười bẩy” (Lê Thị Bình) Hay:

“Ánh mắt

Nụ cười

Tim lỗi nhịp” (Phạm Ngọc Liễn)

“Cánh buồm nâu

Về đâu

Biển nhớ” (Lý Viễn Giao)

Có thể gần như khảng định, ba thành phần trong phiến khúc Haiku phải là những hình ảnh hay ý. Nếu muốn biểu đạt cho gọn, chỉ dùng một tên thôi, thì nên gọi thế nào sẽ là hợp lý? Ý có thể không phải là hình ảnh nhưng mỗi hình ảnh thực ra đã nói lên một ý. Vin vào lẽ ấy mà thống nhất cho rằng bài thơ Haiku gồm ba ý quả thật không sai. Ba ý này độc lập với nhau trong một chủ đề thống nhất , bởi thế được nhấn mạnh bằng danh xưng “Ngắt ý”.

Quan hệ giữa ba ngắt ý trong một khuc Haiku rất bình đắng. Chúng bổ sung cho nhau để làm nên ý tưởng chung cho toàn bài. Xin lấy khúc Haiku của tác giả Phùng Gia Viên làm minh chứng:

“Cành củi

Gió lay

Bướm đậu”.

Ở đây các ngắt ý không hề phụ thuộc nhau, chẳng ý nào là phụ, là chính. Nếu nhặt riêng từng ý sẽ chẳng thấy điều gì nhưng gộp chúng lại thì đó là mùa xuân, là sự hồi sinh trên khô cằn, là tình yêu…

Ta hay gặp trường hợp một phần phụ, phần nối dài của một ý được viết tách ra rồi coi đây là một ý thì khúc thơ đó chưa phải Haiku:

“Chiều vương

Sương buông

Trên vuông cỏ biếc” (Ví dụ của tác giả bài viết này)

“Trên vuông cỏ biếc” có phải chỉ là cái đuôi của ý hai không. Vậy ví dụ trên chưa phải là bài thơ Haiku.

Đôi khi lại gặp trường hợp một phần của ý được tách ra để tạo cảm giác về hình thức coi đó là là một ý :

“Rau càng xanh

Canh

Càng rầu” (Vì phun thuốc !) (Ví dụ của tác giả bài viết này)

Như vậy cũng không làm nên khúc Haiku được vì cả hai dòng dưới mới chỉ là một ngắt ý “Canh càng rầu” mà thôi.

Bài thơ viết đúng tiêu chí của cấu trúc chưa chắc đã hay. Bài thơ hay nhưng không đúng tiêu chí sẽ không là thơ Haiku. Thiết nghĩ, người làm thơ Haiku trước hết phải làm đúng, sau đó nâng lên thành hay bằng tài ba riêng của từng người vốn có hoặc tích lũy mà có được. Cái hay bay lên từ cái đúng là hay vĩnh cửu, một điều không phải chỉ của thơ, lại càng không phải của riêng thơ Haiku.

LVG

Hương dậy thì- Nguyễn Thánh Ngã

alt

trắng muốt

trên những cánh hoa đan

hương cafe dậy thì

(Phượng Uyên)

Nếu ai từng sống, hoặc có dịp đến Tây Nguyên trong mùa hoa cafe nở, chắc sẽ có cùng cảm nhận với tác giả của bài thơ này. Phượng Uyên là cái tên mới toanh trong làng Haiku Việt, nhưng đã ghi dấu ấn bởi "hương cafe dậy thì".

Thật vậy, đứng trên đồi cao nhìn xuống rẫy cafe trải dài bạt ngàn như dải lụa bạch, ai không ngỡ ngàng reo lên "trắng muốt"...

Một màu trắng tinh khôi như màu áo học trò, cảm giác yêu thương và tinh khiết, dễ lay động lòng người. Đó là màu trắng toàn thể nhìn từ xa, còn nhìn gần sẽ thấy "trên những cánh hoa đan", hoa cafe nở xen nhau hàng nghìn vạn cánh. Màu hoa được những cánh ong hút mật làm trôi đi như dòng thác đổ.

Lặng lẽ.

Vô thanh...

Đây là câu thơ nói lên cái nhìn mỹ cảm của tác giả. Phân tích ta sẽ thấy hoa cafe có năm cánh, thường nở chùm đôi chùm ba, cho nên mỗi cây cafe có thể cho từ 30 - 40 ngàn bông hoa, nở đan nhau đến trĩu cành! Chỉ với hai ý thơ thôi, đã gợi lên cảnh tượng hùng vĩ của Tây Nguyên vào mùa hoa nở. Màu trắng bừng lên lấn át màu xanh chủ đạo của miền sơn cước.

Nhưng nếu nói về hoa thôi thì chưa đủ. Và sẽ là thiếu sót trầm trọng, nếu không nói đến mùi hương. Cùng với màu trắng bồng bềnh, thì "hương cafe dậy thì" là một ý tưởng độc đáo làm tươi mới bài thơ. Chỉ cần có mùi hương dậy thì thôi, thì tất cả sẽ trẻ lại. Mạnh mẽ nồng nàn. Bộc phát. Ngào ngạt lan tỏa, như tình yêu của tuổi mới lớn.

Mùa xuân ong bướm dập dìu, người Tây Nguyên còn có câu:"mùa con ong đi lấy mật", cũng chính là mùa tình yêu. Tuổi dậy thì như búp hoa đến thì đưa hương, gọi ong bướm bay về. Quả thật, đây là câu thơ dấu ấn, làm bừng lên cái không khí lễ hội của mùa xuân Tây Nguyên, mà nếu không có nó sẽ là một màu trắng vô hồn, lạnh lẽo...

Có thể khẳng định, đây là bài thơ hay đúng phong cách haiku. Quý ngữ ẩn của nó chính là mùa xuân. Vì thơ haiku tuyệt ngắn, nên nó chỉ truyền tải cái khoảnh khắc "dậy thì" chưa có tiền lệ, ám vào mọi nhận thức. Câu thơ trở nên tươi mới hơn bởi làn hương ấy, làn hương có công năng chuyển hóa tâm sinh lý, giàu nhạc tính hiện đại, và có sức cuốn hút mạnh mẽ.

Đó là thành công của bài thơ này!

Tây Nguyên tháng 1.2018

N.T.N

Cảm nhận về một số khúc Haiku thiếu thi- Lê Văn Truyền

Cuộc thi sáng tác haiku trên tranh vẽ chủ đề “Sinh vật sống” năm 2017 - 2018 do JAL Foundation chủ trì cùng hãng Hàng Không Nhật Bản, Đại Sứ Quán Nhật Bản tại Việt Nam, Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam thuộc Quỹ Giao Lưu Quốc Tế Nhật Bản phối hợp tổ chức. Trong hơn 1.000 khúc haiku dự thi các em học sinh tiểu học và trung học cơ sở từ các tỉnh, thành phố Việt Nam gửi về, Ban Tổ Chức cuộc thi đã chọn ra được 38 tác phẩm ưu tú và cuối cùng chọn ra được 8 tác phẩm xuất sắc được trao giải.

alt

Như những hạt sương lóng lánh trong vườn đào Xuân, 38 khúc haiku ưu tú được sáng tác bởi các em học sinh trong lứa tuổi từ 9 đến 15, trong đó có 7 em trai và 31 em gái đến từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương … Ban Giám Khảo gồm Đại diện Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam, Đại Diện Hãng Hàng Không Nhật Bản (J.A.L.) tại Việt Nam và 3 đại diện của Ban Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội đã chọn được 8 bài haiku xuất sắc. Các em sáng tác haiku trên các chủ đề thiên nhiên, hoa lá, sinh vật (các loài chim, cá, chuồn chuồn, bướm, sóc, nhện, gấu trúc, mèo, ve sầu …). Điều thú vị là các em không chỉ viết về các loài động vật, côn trùng … mà thông qua đó nhiều bài haiku đã gắn liền với các vấn đề lớn của cuộc sống như bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật, tình thương yêu, lòng nhân ái … một cách nhẹ nhàng nhưng sâu lắng đầy thú vị, đặc biệt trong cách diễn đạt thơ ngây, hồn nhiên, nhiều khi mộc mạc, nhưng không kém phần sâu sắc của lứa tuổi thiếu niên.

dưới đáy đại dương xanh
loài cá voi xanh sắp tuyệt chủng
nỗi đau này ai thấy

Đào Vân Anh, 15 tuổi

Bé gái Đào Vân Anh có cái nhìn sâu sắc hơn so với lứa tuổi (và có khi so với cả người lớn) khi viết về loài động vật biển cá voi xanh. Thông thường, người ta vẫn hay ca ngợi vẻ đẹp của biển cả bằng các hình ảnh đã quá quen thuộc: thuyền, sóng, cánh buồm, con tàu, mặt trời lấp lánh, chiếc vỏ ốc lóng lánh, vỏ sò xù xì, những mẻ lưới đấy ắp cá tôm, vầng trăng, bình minh và hoàng hôn trên biển … Nhưng ít ai nghĩ đến, nhìn thấy và hiểu được cuộc chiến sinh tồn khốc liệt đang diễn ra dưới đáy đại dương xanh: chất thải độc hại tàn phá môi trường biển, những rặng san hô bị đầu độc, cá lớn nuốt cá bé và đến lượt cá lớn và cá voi khổng lồ bị con người tàn sát. Một cái nhìn sâu sắc hơn ta tưởng của một tác giả ở tuổi thiếu niên, mang đậm tính nhân văn, trách nhiệm và ý thức bảo vệ động vật quý hiếm, bảo vệ môi trường, bảo vệ các đại dương và lục địa xanh của chúng ta: vấn đề sống còn và có tính thời đại của nhân loại trong thế kỷ XXI này. Tác giả đau thay và nói thay nỗi đau của loài cá voi xanh, loài động vật biển có thân hình khổng lồ nhưng rất hiền lành, có ích với ngư dân (đã có nhiều câu chuyện về cá voi cứu ngư dân lầm nạn) được người dân Việt Nam tôn là Cá Ông và lập đền thờ tại nhiều làng chài.

rừng cây muôn ngàn sắc hoa lá
gấu trúc, gấu trúc
giản đơn đen trắng ngồi một mình

Nguyễn Gia Linh, 12 tuổi

Khúc haiku có ý tưởng từ sự tương phản về mầu sắc: hoa lá muôn màu của rừng cây / mầu đen trắng của gấu trúc, động vật quý hiếm đang được bảo vệ khỏi sự tuyệt diệt. Đối với bé gái Nguyễn Gia Linh, sự đơn giản về sắc mầu (chỉ có đen và trắng) của chú gấu trúc hiền lành không hạ thấp mà còn nâng lên tầm quan trọng và sự đáng yêu của loài động vật quý hiếm này. Khúc haiku làm ta liên tưởng đến chiến dịch bảo vệ động vật quý hiếm và môi trường thông qua cái nhìn hồn nhiên đáng yêu của trẻ em. Khúc haiku cũng cho thấy sự trưởng thành trong tư duy thẩm mỹ của một tác giả tuổi thiếu niên: nhận thức được vẻ đẹp ở sự đơn giản chứ không quan trọng sự rực rỡ, lòe loẹt của sắc mầu như cách nhìn thông thường của trẻ em và ngay với cả không ít người lớn chúng ta.

sân trường rộn tiếng ve

râm ran giữa tàn cây phượng vỹ

ve hát lời chia tay

Nguyễn Thị Uyên Minh, 13 tuổi

Tuổi học trò luôn gắn liền với niềm vui được nghỉ hè sau nhũng tháng ngày vất vả, bận rộn với học hành và thi cử. Tiếng ve râm ran và những chùm hoa phượng đỏ nở rực khắp sân trường làm rộn lên trong tâm hồn các bé niềm háo hức ngày hè với những chuyến về quê thăm ông bà, những chuyến đi xa cũng bố mẹ và bao niềm vui trẻ thơ khác… Những chú ve sầu tấu lên khúc hát mùa hè trong những tàn cây phượng vỹ báo hiệu những ngày hè đầy thú vị đã đến, dù có chút nhớ nhung bạn bè lúc chia tay sau 9 tháng cùng ngồi bên nhau, nhưng chắc chắn trái tim các bé cũng rộn ràng như tiếng ve ran.

ta là chúa sơn lâm

bảo vệ khắp khu rừng xanh tốt

sự sống luôn sinh sôi

Lưu Bảo Khôi, 12 tuổi

Bé trai Lưu Bảo Khôi tìm thấy trong loài sư tử hình ảnh một vị chúa sơn lâm oai hùng đang ngự trên tảng đá cao, phóng tầm mắt giám sát muôn loài, giữ gìn trật tự trong khu rừng xanh hoang dã để bảo đảm sự sống luôn sinh sôi, nẩy nở.

buổi trưa hè gió mát

hươu con ghé sát vào hươu mẹ

“Mẹ ơi, bầu trời kia”

Trần Thục Anh, 12 tuổi

Trong khi đó, bé gái Trần Thục Anh lại tìm thấy ở loài hươu hiền lành hình ảnh ấm áp của tình mẫu tử. Một chú hươu non nép mình bên mẹ, tìm sự chở che trước mọi hiểm nguy để được yên tâm thả mình vào làn gió mát và ngắm nhìn bầu trời trong xanh vô tận trong một buổi trưa hè trong rừng xanh.

trăng rơi xuống
con nhện
giăng tơ hứng trăng

Nguyễn Uyên Trang, 12 tuổi

Khúc haiku xuất sắc, ngắn gọn (3 / 2 / 4) chỉ gồm có 9 từ nhưng rất tinh tế, bất ngờ, đầy trí tưởng tượng hồn nhiên, nhận ra mối liên quan giữa hai hình ảnh tưởng chừng như độc lập, không liên quan gì với nhau: mặt trăng đang lặn trên bầu trời đêm và con nhện đang cần mẫn và lặng lẽ giăng tấm mạng nhện trên mặt đất. Bé gái Nguyễn Uyên Trang đặt hai hình ảnh cạnh nhau và qua đôi mắt trẻ thơ phát hiện ra một mối liên quan giữa hai sự việc độc lập mà trên thực tế hai sự việc này không có mối liên hệ hữu cơ/tất yếu nào cả. Chỉ có trí tưởng tượng bay bổng và trái tim trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ mới kết nối được hai hình ảnh độc lập ấy và lý giải được mối quan hệ một cách thật trẻ con, thật dễ thương và lãng mạn: hóa ra vì sợ mặt trăng rơi xuống đất vỡ tan nên chú nhện giăng tấm lưới tơ để hứng như ta đang đưa đôi bàn tay để hứng và nâng niu một quả trứng, một bông hoa đang rơi. Ôi, con nhện nhỏ nhoi, tội nghiệp (đôi khi trông hơi xấu xí!) nhưng thật đáng yêu đang cuống quýt giăng tơ để cứu chị Hằng cho chúng ta trong khi trái tim của chúng ta, những động vật cao cấp duy lý, biết suy nghĩ (Homo sapiens), thì dửng dưng, vô cảm vì ta đã quá biết: “Trăng lên rồi trăng lặn” là quy luật tự nhiên của đất trời!

đoàn hồng hạc di cư
lội mây, lội cả vào vũ trụ
hồ nước trong in bóng

Trần Thanh Ngân, 14 tuổi

Bé gái Trần Thanh Ngân bằng trí tưởng tượng phong phú của mình từ hình ảnh đàn hồng hạc bay trong mây đã liên tưởng đến một chiều kích rộng lớn, bay bổng hơn, bao la hơn: những con hồng hạc nhỏ bé như muốn bay vào vũ trụ. Hai hình ảnh đặt kề nhau: “Lội mây, lội vào vũ trụ / in bóng trên mặt nước hồ” thể hiện một cái nhìn tươi mới, đầy phóng khoáng, tự do về đàn hồng hạc di cư đang bay trên bầu trời đầy mây.

chú ếch ngồi đáy giếng
chú ta thường hay hỏi tại sao
bầu trời lại bé thế

Đặng Nhật Minh, 11 tuổi

Khúc haiku độc đáo dựa trên ý của một thành ngữ Việt Nam “ếch ngồi đáy giếng”. Chú bé trai hiếu động, tinh nghịch Đặng Nhật Minh hàng ngày sau giờ học, chắc vẫn bầu bạn, tâm tình với những người bạn nhỏ: chú ếch dưới đáy giếng, con cóc cụ trong góc vườn hay xó nhà, chú ve sầu ca hát suốt mùa hè, con dế trũi đen thui trốn trong hang đất … Chỉ có chú bé Đặng Nhật Minh mới có khả năng “trò chuyện” và hiểu được “tâm sự” của những động vật bé tí này nên em đã coi chú ếch là một động vật biết tư duy, biết thắc mắc về bầu trời quá nhỏ bé và biết trăn trở ngày đêm tìm câu trả lời. Khúc haiku thể hiện cách nhìn hồn nhiên, đầy cảm thông của trẻ thơ đối với thân phận con vật bé nhỏ đáng yêu đang bị “cầm tù” dưới đáy giếng với câu hỏi khắc khoải chưa được giải đáp của nó: tại sao bầu trời lại bé thế? Hoàn cảnh sống làm chú ếch không hiểu tại sao bầu trời chỉ bé bằng cái miệng giếng. Trong khi đó rất nhiều người, được gọi là người lớn, nhưng “kiêu ngạo”, “cố chấp”, “thiển cận” không chịu mở mang tầm hiểu biết mà lại dám coi bầu trời mênh mông vô tận chỉ nhỏ bằng cái vung nồi trong xó bếp nhà mình: “coi trời bằng vung”!

Ngoài 8 khúc haiku được Ban Giám Khảo bình chọn giải nhất trên đây, trong 38 bài lọt vào chung kết cũng còn những khúc haiku khá đặc sắc dù rất tiếc không được bình chọn.

xin chào chú bướm nhỏ
cậu đi chơi đâu mà xinh thế?
tớ đi lấy phấn hoa

Ngô Uyên Linh, 9 tuổi

Bé gái Ngô Uyên Linh đã nhân cách hóa chú bướm bằng đôi mắt và tâm hồn trẻ thơ thật đáng yêu. Với Ngô Uyên Linh, trẻ em khi đi chơi thì phải mặc đẹp và tất cả trẻ em tất nhiên đều rất xinh xắn. Các chú bướm luôn xinh đẹp và đầy mầu sắc nên tác giả khẳng định phải hỏi chú bướm định “đi chơi đâu” chứ không phải là “đi đâu”? Cuộc đối thoại dễ thương giữa hai người bạn trẻ: cô bé và chú bướm. Câu trả lời của chú bướm là “tớ đi lấy phấn hoa” hơi bất ngờ với tác giả (chú bướm không đi chơi như tác giả vẫn nghĩ và đặt ra trong câu hỏi, mà là “đi làm việc”, đi hút mật hoa đúng với tập tính loài bướm). Cuộc trò chuyện, hỏi đáp đầy thú vị và bất ngờ. Nếu thay cụm từ “đi chơi đâu” bằng cụm từ “đi đâu” khúc haiku đã không gây được sự bất ngờ, hồn nhiên rất dễ thương và giảm đi rất nhiều sức nặng của ngôn từ trong khúc haiku cũng xinh xắn như bé gái và chú bướm đáng yêu này.

ngoài kia trời trong xanh
có con mèo ngồi bên cửa sổ
đón ánh nắng ấm áp

Hoàng Trần Minh Trang, 12 tuổi

Nhận xét tinh tế và dễ thương của bé gái Hoàng Trần Minh Trang về tập tính của loài mèo, vật nuôi thân thiết của bé: hay ngồi trên bậu cửa sổ, mắt lim dim sưởi nắng, nhất là trong những ngày mùa đông hiếm hoi có ông Mặt Trời xuất hiện. Chắc chắn con mèo này phải là vật nuôi thân thiết của bé, được bé yêu thương, chăm bẵm hàng ngày.

trong một đêm tuyết lạnh
nhưng có một lùm cây xanh tốt
là nơi có tình thương

Phạm Quỳnh Anh, 11 tuổi

Khúc haiku của bé gái Phạm Quỳnh Anh thể hiện cái nhìn đầy trí tưởng tượng và thấm đẫm tình yêu thương của trẻ thơ. Tuyết trắng mùa Đông bao phủ đất trời lạnh buốt. Tưởng chừng như vạn vật đều đã chết, đều đông cứng lại trong cái lạnh cắt da, cắt thịt, trong cái tủ lạnh thiên nhiên khổng lồ. Các loài cây rụng hết lá chỉ trơ lại thân cành khẳng khiu, khô cứng. Nhưng tại sao vẫn có một lùm cây xanh tốt (chắc chắn phải là những cây thông loài lá kim)? Với cái nhìn trong trẻo và tâm hồn trẻ thơ, không cần viện đến các lý do khoa học, tác giả đã lý giải một cách rất duy tình, rất hồn nhiên và rất sâu sắc: đó là nơi có tình thương. Tất nhiên rồi, trong tâm hồn của bé nơi nào có tình thương thì ở đó có sự sống. Tình thương yêu của con người là vũ khí tuyệt vời không chỉ giúp con người mà cả vạn vật nữa - theo suy nghĩ của bé Quỳnh Anh - trong những hoàn cảnh khốn khó nhất, tuyệt vọng nhất vẫn có thể vượt qua để tồn tại trên cõi đời, giống như lùm cây xanh kia vẫn không rụng lá để tồn tại giữa mùa Đông tuyết trắng ngập tràn.

Đọc những khúc haiku hồn nhiên, tươi tắn nhưng không kém phần sâu sắc của các bạn nhỏ tham dự cuộc thi dù được giải hay chưa được giải, cùng với đất trời man mác hơi xuân, thấy lòng như đôi chút trẻ lại. Rồi bỗng dưng thấy tiếc nuối làm sao khi những cọ xát khốc liệt, bạo tàn của cuộc đời này, những lo toan bé mọn của cuộc sống thường nhật này đã từ lâu lắm rồi tước đoạt của ta biết bao suy nghĩ hồn nhiên, những cái nhìn trong trẻo, tươi tắn đối với cuộc sống chung quanh. Tự nhiên, lại bồi hồi nhớ đến Mihai Eminescu, thi hào dân tộc và danh nhân văn hóa của Rômânia (1850 – 1889) trong bài thơ “O, rămâi!” (Hãy ở lại cùng em!) đã có những dòng cảm thán bất hủ về nỗi tiếc nuối tuổi thơ đã mất:

… Astăzi, chiar de m’as intoarce

A ‘ntelege n’o mai pot

Unde esti, copilărie,

Cu pădurea ta cu tot?

Mihai Eminescu

… Dù em muốn trở lại

Chẳng thể quay ngược dòng

Tuổi thơ yêu dấu xa rồi,

Đâu rừng xưa của một thời đã qua?

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

Bài thơ con niềng niễng- Nguyễn Thánh Ngã

alt

từ lớp bùn non

niềng niễng cựa mình bay

thoát cõi hồng trần

(Nguyễn Thị Như Hà)

Trước khi làm thơ haiku, tác giả Nguyễn Thị Như Hà đã làm các thể thơ khác. Nhưng thơ haiku như mưa thấm đất, hồn nhiên chảy theo mạch cảm xúc, và những bài thơ mang hương vị cuộc sống ra đời...

Trong chùm thơ rất hay của Như Hà, tôi chọn bài "con niềng niễng". Bài thơ dân dã này, nói lên cái "cựa mình" một cách kỳ diệu.

Nước ta là một nước nông nghiệp, đa số nông dân, ai cũng bước ra từ gốc rạ nên thấu hiểu "lớp bùn non" lắng đọng này. Bùn là nơi những "hạt ngọc của trời" được kết tụ, cũng là nơi những đóa sen tinh khiết thơm tho nhất được vươn lên...

Trong đó, một con niềng niễng sẽ xuất hiện. Và nó "cựa mình" bay lên!

Câu thơ viết đúng phẩm chất haiku, về cái khoảnh khắc rất gợi và bất chợt. Đây là dấu ấn mà một bài haiku hay cần có, để lại trong lòng độc giả hành động của con vật được xem là loài sâu bọ thủy sinh, bỗng cất cánh bay lên một cách mạnh mẽ, và đẹp đẽ lạ thường.

Sỡ dĩ bài thơ có điểm nhấn để bay lên, là nhờ chiếc đòn bẫy rất tinh vi được cài đặt sẵn để thơ "cựa mình". Vâng, cái "cựa mình" của con "niềng niễng" làm thành một khoảnh khắc ấn tượng nhất, tạo ra ý thơ hay nhất bởi một từ "cựa" đắc địa.

Thơ haiku không có đề, nhưng người ta vẫn gọi bài thơ "Con ếch", "Con quạ" của Basho, thì đây bài thơ "Con niềng niễng" của Như Hà cũng vậy; dẫu không dám so sánh khập khiểng, nhưng tôi vẫn cho rằng đây là một trong những bài haiku hay trong tiếng Việt.

Bài thơ gợi cho độc giả những cảm xúc rộng lớn về không gian nghệ thuật, và sự sáng tạo. Ở đây thi hứng là yếu tố quyết định, làm thăng hoa câu chữ ngỡ như chân chất và bình dân.

Bởi mọi thứ có thể ngủ yên, nhưng cú "cựa mình" của một vật luôn tạo ra sức sống mới...

Và "thoát cõi hồng trần" là cách thi vị hóa đầy chất thơ!

N.T.N

Khúc Haiku lạ của Sekitei Hara- Lê Văn Truyền

alt

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

R. Burch phỏng dịch

Đôi tay người đàn bà

đang bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

Lê Văn Truyền dịch

Khi đọc phiến khúc haiku trên đây được R. Buch tuyển chọn trong chuyên khảo “Một trăm bài haiku hay nhất mọi thời đại”, thoạt đầu tôi không hiểu tại sao nó lại được đánh giá cao như vậy. Cho đến khi, trong một buổi chiều chủ nhật rảnh rỗi mới đây, tình cờ được xem một chương trình của kênh Discovery Asia về chủ đề ẩm thực Nhật Bản. Chương trình có nhắc đến món mắm mực “Shiokara”.

Shiokara, một món ăn có mùi rất "lạ" của ẩm thực Nhật Bản, thường được làm từ mực cắt miếng nhỏ và ngâm với chính nội tạng của chúng (là nguồn enzym để lên men) cùng 10% muối và 30% bột gạo. Các nguyên liệu khác làm món này là sốt ớt shichimi, wasabi, rượu gia vị mirin hoặc vỏ quả yuzu bào... để tăng hương vị. Để làm mắm mực shiokara ngon các nguyên liệu trên phải được lên men trong vòng 6 tháng cho đến 3 năm, gần như cách lên men cá để làm nước mắm ở Việt Nam. Vì vậy, ta hiểu tại sao người phụ nữ Nhật Bản trong phiến khúc haiku của Sekitei Hara lại phải chăm chú, cẩn thận bóc nội tạng (dạ dày của con mực, nơi chứa nhiều enzym tiêu hóa protein) để bảo tồn nguồn enzym giúp cho quá trình “ngấu” của thân con mực mùa Xuân, vốn có hàm lượng protein rất cao, để làm nên món mắm mực.

Món mắm đặc trưng này của người Nhật đã có từ hàng ngàn năm trước. Vào thế kỷ XI, khi người Viking (Bắc Cực) ăn món cá mập lên men thì người Nhật lại quen thuộc với mắm mực shiokara như một cách dự trữ thức ăn cho mùa đông. Khi thực phẩm chưa đa dạng, món ăn này có thể cung cấp cho người Nhật protein, các loại vitamin và khoáng chất nhưng lại chứa rất ít calo và chất béo có hại cho sức khỏe.

Với lịch sử đánh bắt hải sản lâu dài của Nhật Bản, món mắm mực shiokara có lẽ là một trong những loại mắm hải sản đầu tiên được tạo ra mà vẫn còn phổ biến và trở thành “đặc sản” ẩm thực Nhật Bản cho đến ngày nay. Tờ Telegraph của Anh khi nhắc đến món shiokara đã phải thốt lên: “Đây là món ăn kỳ lạ nhất thế giới mà ta phải ăn một lần trước khi chết”. Có lẽ vì đây là món ăn “quốc hồn, quốc túy” của Nhật Bản nên nó nhất thiết phải đi vào thơ ca, mà một trong những minh chứng là đã được Sekitei Hara đưa vào phiến khúc haiku nổi tiếng nói trên.

Liệu có haijin Việt Nam nào sáng tác được khúc haiku về món “mắm tôm” của dân tộc chúng ta với hy vọng được tuyển chọn vào 100 hay chí ít 1.000 khúc haiku hay nhất mọi thời đại?


CHÚ THÍCH:

Sekitei HARA (1889 -1951): Sinh trưởng ở Yoshino, có nhiều tác phẩm công bố trên Tạp Chí Haiku “Hototogisu” do Kyoshi Takahama chủ biên. Trong thời đại Taisho, các tác giả Kijo Murakami (1865 ~ 1938), Suiha Watanabe (1882 ~ 1946), Fura Maeda (1884 ~ 1954), Dakotsu Ida (1885 ~ 1962), Sekitei Hara (1889 -1951) ... đã tập hợp thành nhóm “Các nhà thơ Hototogisu Taisho” chủ trương cách tân haiku. (Theo Mushimegane, Histoire du Haiku)

Thời đại “Bốn chấm không”- Lê Văn Truyền

alt

Thời đại “bốn chấm không”

cưới một nàng robot tình yêu

có đứa con “nửa người - nửa máy”


Cuộc sống nhạt nhòa

chiếc điện thoại thông minh

bỗng biến thành lung linh


Không cần bấm cò súng

facebook có thể giết người

bằng cú bấm “like”


Mạng xã hội ồn ào

rao bán tâm hồn, thể xác người

như giữa chợ trời


Thế gian ngàn vạn năm

chỉ có hai cõi Âm, Dương

nay thêm “Cõi sống ảo”


Chiếc smartphone hỗn hào

réo lên ồn ào

khi ta đang yêu


*Thời đại “Cách mạng công nghiệp 4.0”


MẠNG XÃ HỘI

Mạng xã hội ồn ào

rao bán tâm hồn, thể xác người

như giữa chợ trời


Gần đây, mạng xã hội chấn động với thông tin do Sunday Telegraph (Anh) tung ra: Facebook đã sử dụng hệ thống phần mềm phức tạp để thu thập thông tin từ hoạt động của 50 triệu người sử dụng (trong đó theo giới truyền thông có khoảng 400.000 người sử dụng facebook ở Việt Nam) bất chấp các thiết lập về quyền riêng tư do chính Facebook đặt ra. Các thông tin này có thể là các thông tin về bạn bè, gia đình, trường học, nhấn “like” trên tường, từ khóa tìm kiếm, tin nhắn và chuyện trò trực tuyến … ngay cả khi các thông tin này được xóa bởi người sử dụng. Sau đó, Facebook bán những thông tin này cho các hãng quảng cáo. Có người nói “trên facebook mọi hành tung của bạn đều được ghi chép và lưu trữ. Vấn đề là chúng sẽ được rao bán khi nào … có giá”. Người khác nói “Chúng ta đang bị Facebook, Apple, Google bán … như bán rau”. Thông tin do Sunday Telegraph đưa ra đã làm cho Mark Zuckerberg, một trong những tỷ phú đô la trẻ tuổi nhất thế giới, nhà sáng lập kiêm CEO của Facebook đối diện pháp luật với cuộc điều tra của Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Mỹ và phải điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Và mấy dòng tin ngắn ngủi của Sunday Telegraph đã làm cho tài khoản cá nhân của Ông chủ Facebook chỉ trong nháy mắt bốc hơi 9 tỷ đô la trong tổng số thiệt hại 60 tỷ đô la giá trị vốn hóa thị trường của Facebook.

Thế mới hay, Facebook không phải là một sân chơi miễn phí. Khi chơi với “Ông Tây” Mark Zuckerberg chúng ta phải luôn luôn nhớ nằm lòng một câu nói của người phương Tây: “Không có bữa ăn trưa nào là hoàn toàn miễn phí”. Dù bạn có được mời một bữa ăn trưa miễn phí thì hãy nên nhớ rằng đến một ngày nào đó, bằng một cách nào đấy, bạn phải trả món nợ hoặc ít nhất bạn phải “đáp lễ” bằng một bữa theo nguyên tắc mà các cụ nhà ta vẫn nói: “có đi, có lại mới … toại lòng nhau” hoặc “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”. Trớ trêu là rất nhiều khi ta được mời một bữa “cơm bụi” miễn phí nhưng phải đáp lễ bằng một tiệc trưa hoành tráng trong một khách sạn 6 sao. Và cũng không khỏi có trường hợp ông đưa chân giò thịt sạch nhưng đổi lại bà lại thò một chai rượu dỏm.

Với chúng ta, tâm hồn mỗi người như một cô gái có những nét đẹp riêng. Dù vậy, cũng không nên trần truồng phô hết tấm thân ngà ngọc của mình ra trước mắt thiên hạ. Một vẻ đẹp e ấp, kín đáo nhiều khi còn quyến rũ mãnh liệt hơn sự trần trụi cả về thể xác và tâm hồn.

LVT

Vần điệu trong thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Từ cái nôi của mình, đất nước Mặt Trời Mọc, thơ Haiku không hề có vần. Điều này dễ hiểu, ngôn ngữ Nhật Bản cũng như các ngôn ngữ đa âm khác, vì không có hoặc ít dấu cho thanh ngữ nên việc gieo vần là khó và không cần thiết.

alt

Người Việt Nam thì ngược lại, vần điệu vốn trở thành nhu cầu ngay cả trong đời sống thường nhật chứ chưa nói đến thơ. Khi quảng cáo , người ta nói về tác dụng của một loại thuốc là “Khỏe bụng con, tròn giấc mẹ”! Ở một cửa hàng dịch vụ giặt quần áo thì ghi “Giặt sấy lấy ngay”. Nói về hành vi của cơ sở sang chiết ga, đài truyền hình bảo ở đây “Cắt tai mài vỏ” bình ga để làm hàng giả. Còn đưa tin một bãi giữ xe chụp giật, nhà đài kêu họ đã “Đánh tráo tháo trộm” gương xe của khách gửi. …Quả thật khi gieo vần cho câu nói, nội dung của nó dễ ngấm và gây ấn tượng hơn nhiều.

Từ xa xưa, ngay trong ca dao tục ngữ, dân ca hò vè đều coi vần là một yếu tố quan trọng, hãy điếm xuyết đôi dòng minh chứng :

“Chớp đông nhay nháy

Gà gáy thì mưa”

“Ve vẻ vè ve

Cái vè lá lốt

Anh A cũng tốt

Chị B cũng xinh

Hai bên dập dình

Bà C làm mối !”

“Bao giờ đom đóm bay ra

Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng”

“Thấy người sang bắt quàng làm họ”

“Không ai giầu ba họ

Chẳng ai khó ba đời”

Trong thơ, yêu cầu này càng khắc nghiệt. Xin đề cử vài ví dụ :

“Ình ịch đêm qua trống các làng
Ai ai mà chẳng rước xuân sang
Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén
Bút mới xô tay thử một hàng
Ngoài lũy nhấp nhô cò cụ tổng
Cách ao lẹt đẹt pháo thầy Nhang
Một năm một tuổi, trời cho tớ,
Tuổi tớ trời cho, tớ lại càng …” (Khai bút-Nguyễn Khuyến”

Ngay cả thơ của “Phong trào thơ mới”, nhiều bài cũng vẫn chú ý đến vần, ngoài nhịp điệu của thi phẩm :

“Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn...”
(Trích “Tiếng sáo Thiên Thai”-Thế Lữ)

Những bài thơ dù gọi là Tự do cũng chỉ khoáng đạt ở số từ trên một dòng, số dòng trong một bài và cách gieo vần linh hoạt hơn thôi chứ vần điệu chưa hề bỏ qua :

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của ong bướm này đây tuần trăng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của bướm ong này đây khúc tình si…”

(Trích “Vội vàng” của Xuân Diệu)

Chỉ có gần đây, loại “Thơ văn xuôi” do một số người viết trẻ đề xướng mới bỏ qua cả vần và điệu. có lẽ cũng chính vì thế mà thể loại này chưa có sức lan tỏa rộng thì phải.

Với thơ Haiku, khi vào Việt Nam, có nhiều người cũng tìm cách gieo vần cho nó. Những cách gieo vần được nhiều người sử dụng thường là :

Vần chân: bằng-bằng-trắc .

“Xõa tóc huyền

Mặt hồ bình yên

Gợn sóng” (Lương Thị Đậm).

“Ngày em đi

Nâng ly

Uống sóng” (Lý Viễn Giao)

“Tuổi học trò

Tròn vo

Trái sấu” (Nguyễn Hoàng Lâm)

“Gió đưa hoa cải bay đi

Triền sông bờ cỏ xanh rì

Nhớ nắng” (Mai Liên).

“Chuông ngân nga

Thiết tha

Cứu rỗi” (Thanh Vân).

Vần chân: bằng-bằng-bằng .

“Bé con

Theo mẹ ra đồng

Ngủ gật mép sông” (Cao Ngọc Thắng).

Vần chân: trắc-bằng-bằng :

“Mạng nhện

Rung giọt sương

Đu nhớ thương” (Nghiêm Xuân Đức).

Vần chân: Trắc-trắc-bằng.

“Cỏ may găm áo

Khờ khạo

Ngày xưa” (Lý Viễn Giao)

Hoặc vần lưng, gieo trắc :

“Tiếng rao đêm

Lạnh lùng ngõ phố

Bán khổ cho ai” (Lam Hồng)

Vần lưng, gieo bằng :

“Biển lặng lờ

Trăng mờ ảo

Tình lạc cõi mơ” (Vũ Tam Huề).

Cũng có những phiến khúc Haiku không gieo vần nhưng tạo nhịp điệu làm phương tiện dẫn dắt hứng thú cho người đọc :

“Vườn cũ, nhà xưa

Tìm đâu cuống rốn

Mẹ hong đĩa đèn” (Đinh Nhật Hạnh).

“Ráng chiều

Ánh nước

Thu trong mắt em” (Lê Đăng Hoan)

Không có bất kỳ yêu cầu nào bắt buộc thơ Haiku phải có vần điệu. Nhưng rõ ràng một bài thơ mà haijin sử dụng thủ thuật này sẽ tiếp cận người đọc theo con đường mềm mại hơn, từ đó có thể nâng mức hấp dẫn cho bài thơ. Cũng chính vì vần điệu không phải là một trong những tiêu chí của thơ Haiku mà chỉ là một sáng tạo của người Việt khi làm thơ nên cũng không có quy tắc nào trong gieo vần hết. Những ví dụ đã nêu chỉ là nhặt nhạnh dọc đường để minh chứng cho một hiện tượng . Hiện tượng Vần điệu trong thơ Haiku.

LVG

Mạng xã hội- Lê Văn Truyền

alt

Trên mạng xã hội

thể xác, tâm hồn ta đang bị rao bán

như ở ngoài chợ trời

Lê Văn Truyền

Gần đây, mạng xã hội chấn động với thông tin do Sunday Telegraph (Anh) tung ra: “Facebook đã sử dụng hệ thống phần mềm phức tạp để thu thập thông tin từ hoạt động của người sử dụng, bất chấp các thiết lập về quyền riêng tư do chính Facebook đặt ra. Các thông tin này có thể là các thông tin về bạn bè, gia đình, trường học, nhấn “like” trên tường, từ khóa tìm kiếm, tin nhắn và chuyện trò trực tuyến … ngay cả khi các thông tin này được xóa bởi người sử dụng. Sau đó, Facebook bán những thông tin này cho các hãng quảng cáo”. Có người nói “trên facebook mọi hành tung của bạn đều được ghi chép và lưu trữ. Vấn đề là chúng sẽ được rao bán khi nào … có giá”. Người khác nói “Chúng ta đang bị Facebook, Apple, Google bán … như bán rau”.

Thông tin do Sunday Telegraph đưa ra đã làm cho Mark Zuckerberg, một trong những tỷ phú đô la trẻ nhất thế giới, nhà sáng lập kiêm CEO của Facebook đối diện pháp luật với cuộc điều tra của Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Mỹ. Và mấy giòng tin ngắn ngủi của Sunday Telegraph đã làm cho tài khoản cá nhân của Ông chủ Facebook chỉ trong nháy mắt bốc hơi 9 tỷ đô la trong tổng số thiệt hại 60 tỷ đô la giá trị vốn hóa thị trường của Facebook.

Thế mới hay, Facebook không phải là một sân chơi miễn phí. Chơi với “ông tây” Mark Zuckerberg chúng ta phải luôn luôn nhớ nằm lòng một câu nói của người phương Tây: “Không có bữa ăn trưa nào là hoàn toàn miễn phí”. Dù bạn được mời một bữa ăn trưa miễn phí thì hãy nhớ rằng đến một ngày nào đó, bằng một cách nào đấy, bạn phải trả món nợ hoặc ít nhất bạn phải “đáp lễ” bằng một bữa theo nguyên tắc mà cụ nhà ta vẫn nói “có đi, có lại mới … toại lòng nhau”. Trớ trêu là đôi khi ta được mời một bữa “cơm bụi” miễn phí nhưng phải đáp lễ bằng một bữa trưa hoành tráng trong một khách sạn 6 sao.

Với chúng ta, tâm hồn mỗi người như một cô gái có những nét đẹp riêng. Dù vậy, cũng không nên trần truồng phô hết tấm thân ngà ngọc của mình trước mắt thiên hạ. Một vẻ đẹp e ấp, kín đáo nhiều khi còn quyến rũ mãnh liệt hơn sự trần trụi cả về mặt thể xác và tâm hồn.

LVT

Ma trận câu chữ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

thằng khùng

cảm thấy yêu đời

bởi hắn đang điên

(Kiều Lam)

Thơ haiku ngoài phong cách phong nhã, còn là loại thơ phong trần, gần gụi với đời sống. Nhà thơ Kiều Lam, với cái nhìn trực diện, đã cho chúng ta thấy ngay một "thằng khùng" trong xã hội hiện đại, phồn vinh và phức tạp.

Tôi mỉm cười thích thú khi gặp bài thơ này, nó không đạo mạo mà bụi bặm, một phong cách rất hiếm thấy trên thi đàn. Đây có thể nói là bài thơ rất đời, thậm chí rất người nữa là khác.

Vì sao vậy?

"thằng khùng", không những không chống đối cuộc đời vốn đã làm cho nó khùng, mà ngược lại, biết yêu quá cuộc đời này, thì nó phải vượt qua những trở lực ghê gớm của xác thân để cân bằng não trạng. Nó hiểu đời vốn dĩ là bể khổ, cũng là nơi đạt được hạnh phúc trần gian nếu biết sống một đời tu dưỡng đạo hạnh, thì "khùng" mới yêu đời chân thật đến vậy.

Thông thường, chúng ta sẽ dễ dải hiểu rằng, "khùng" mà yêu đời là loại "thần kinh", loại "chập mạch". Bởi toàn bộ bài thơ đang ở trạng thái "hắn đang điên". Nếu vậy, thì bài thơ sẽ không có gì đáng nói. Chỗ tâm yếu của haiku nằm ở đây. Người non tay không dám viết, bởi có khi chính mình cũng sẽ hiểu một cách xuôi chiều, sẽ bị lạc vào ma trận của câu chữ.

Thật ra, người viết không hề đánh đố người đọc, ông viết rất thật. Thật đến nỗi, không tin mình đã làm ra ma trận ấy.

Điên như Hàn Mặc Tử, như Bùi Giáng thi sĩ, là điên làm nên tên tuổi lớn. Theo Freud, "khùng điên" là một dạng bị dồn nén. Cho nên, những cái khùng điên của nghệ thuật khi bùng vỡ thì rất đáng yêu. Người khùng hay làm những việc khác thường mà người bình thường không làm được. Vậy thì cái lằn ranh giữa cái bình thường và cái phi thường, chỉ là một sợi chỉ. Họ đạt được trạng thái đó, thì trở nên yêu đời cách mạnh mẽ phi thường. Cho nên, có nhà văn nào đó nói rằng: "làm gì cũng phải điên điên một chút". Những người làm nghệ thuật nói chung, và những nhà thơ nói riêng, không phải "điên" sao, khi dâng hiến chất xám cho đời mà không hề đòi lại điều gì. Chúng ta không "điên" sao, khi yêu quá thể thơ haiku thâm thúy này, mà không hề có chút lợi lộc vật chất nào. Làm kiếp con tằm thì phải nhả tơ. Con yến thì lấy nước miếng và máu làm nên tinh chất cho đời. Thật sự chúng ta rất "khùng điên", theo nghĩa mà Haijin Kiều Lam muốn nói.

Tôi đoan rằng, Haijin Kiều Lam sẽ mỉm cười gật đầu, vì đã có người đồng cảm, giải huyệt đạo thơ ông.

Quả thật, thơ haiku vô cùng kỳ vĩ!

Sài Gòn tháng 11.2017

N.T.N

100 bài Haiku hay nhất mọi thời đại

Michael R. Burch tuyển và bình

Lê Văn Truyền dịch

alt

ĐỊNH NGHĨA HAIKU

Haiku là gì? Trong ngôn ngữ Nhật Bản, từ “hai” có nghĩa là “khác thường/tuyệt vời” (unsual) “ku” có nghĩa là “khổ thơ” (verse/strophe). Sir George Sansom gọi haiku là “những giọt tinh túy thi ca (little drops of poetic essence). Harold Henderson gọi haiku là những khoảnh khắc “thiền định(meditations). Tôi nghĩ về haiku như là những lát cắt được cấu trúc bằng ngôn từ, là “hình ảnh bằng ngôn ngữ”. Một định nghĩa có ích khác: haiku là những “hình ảnh siêu nghiệm” (transcendent images). Ví như khúc haiku sau đây:

Grasses wilt:
the braking locomotive
grinds to a halt

Yamaguchi Seishi, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọn cỏ héo

đầu tầu giảm tốc vào ga

nghiền nát

Lê văn Truyền dịch

Trong phiến khúc haiku trên đây, những ngọn cỏ tàn úa mùa thu và đầu tầu vào ga nghiền nát tượng trưng cho sự già cỗi, chết chóc. Dưới bàn tay của thi sỹ tài hoa, hai hình ảnh đơn giản đã thay lời muốn nói.
Trong khi theo truyền thống Nhật Bản, haiku được viết thành 3 dòng với 5-7-5 âm tiết thì trong sáng tác haiku bằng tiếng Anh, đó không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, vì vậy, khi dịch haiku trong nhiều trường hợp tôi đã dùng số âm tiết nhiều hơn miễn là chuyển tải được hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa của khúc haiku theo như tôi cảm nhận được.

ẢNH HƯỞNG CỦA HAIKU ĐỐI VỚI THƠ CA ANH NGỮ HIỆN ĐẠI

Ảnh hưởng của haiku đối với thơ ca anh ngữ hiện đại rất hiển nhiên và rõ nét. Quả thực, có nhiều quy tắc của chủ nghĩa Ấn Tượng (Imagism) bắt nguồn từ haiku, ví dụ như việc sử dụng trí tưởng tượng và việc xử lý trực tiếp sự vật (chủ thể/khách thể). Ezra Pound, cha đẻ và là người tiên phong của trường phái Ấn Tượng đã dịch nhiều thơ phương Đông và cũng đã sáng tác nhiều bài thơ tương tự. Bài thơ ngắn “Trong ga tầu điện ngầm” sau đây là một trong những bài thơ của ông mang sắc thái haiku:

The apparition of these faces in the crowd;

petals on a wet, black bough.

Ezra Pound

Những khuôn mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa trên cành cây đen, đẫm nước.

Lê Văn Truyền dịch

Những thi phẩm nổi tiếng mang dáng dấp haiku gồm có “The Red Wheelbarrow(Bánh xe cút kít mầu đỏ) của William Carlos Williams và “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird(Mười ba cách ngắm nhìn một con chim hét) của Wallace Stevens. Các nhà thơ Anh khác đã sáng tác, dịch và chịu ảnh hưởng của haiku gồm có Richard Wright, Allen Ginsberg, Gary Snyder, Jack Kerouac, Amy Lowell, Kenneth Rexroth, Margaret Atwood, Robert Hass và Paul Muldoon. Cũng có thể nhận thấy ảnh hưởng rất sớm của Phương Đông đối với các sáng tác của những nhà thơ trường phái hiện đại như Walt Whitman, Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau.

Dưới đây là bản dịch của tôi một số khúc waka cổ nhất của Nhật Bản, mà theo thời gian đã phát triển thành các biến thể như tanka, renga haiku. Các khúc waka này được trích từ tác phẩm Kojiki (Thi phẩm của các bậc thầy) được nhà thơ Ô no Yasumaro biên soạn vào khoảng năm 711-712 sau Công Nguyên. Thi phẩm Kojiki thuật lại sự khởi đầu có tính thần thoại và lịch sử của vương triều.

Đây là một trong những bài thơ cổ nhất ghi chép trong quyển sách cổ nhất của Nhật Bản:

While you decline to cry,
high on the mountainside
a single stalk of plumegrass wilts.

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Khi bạn muốn khóc

trên núi cao

bông lau đơn côi héo rũ

Lê Văn Truyền dịch
Và đây, là một trích dẫn khác với sắc thái hài hước cũng từ Kojiki

Hush, cawing crows; what rackets you make!
Heaven's indignant messengers,
you remind me of wordsmiths*!

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh mịch, tiếng quạ kêu vang

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc nhở ta về những nhà văn

Lê Văn Truyền dịch

*Wordsmith: nhà văn tài năng
Và một bài khác:

Onyx, this gem-black night.
downcast, I await your return
like the morning sun, unrivaled in splendor

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Mã não, viên ngọc huyền

ta chờ em trở lại

mặt trời rực rỡ vô song

Lê Văn Truyền dịch

TÓM TẮT LỊCH SỬ VÀ BIÊN NIÊN SỬ HAIKU

Snow-obscured heights,
mist-shrouded slopes:
this spring evening.

Ilio Sõgi (1421-1502), Michael R. Burch phỏng dịch

Đỉnh núi tuyết phủ

dốc núi mờ sương

trong chiều Xuân này

Lê văn Truyền dịch

Soundlessly they go,
the herons passing by:
arrows of snow filling the sky.

Yamâzki Sõkan (1464-1552),Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn diệc lặng lẽ bay

những mũi tên tuyết trắng

ngập tràn bầu trời xanh
Lê văn Truyền dịch

O, fluttering moon,
if only we could hang a handle on you,
what a fan you would be!

Arakida Moritake (1472-1549), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi vầng trăng lung linh

chỉ cần ta gắn thêm cái cán

em sẽ là

chiếc quạt

Lê Văn Truyền dịch

An orphaned blossom
returning to its bough, somehow?
No, a solitary butterfly.

Arakida Moritake (1472-1549), Michael R. Burch phỏng dịch

Một bông hoa mồ côi

sao bay ngược lên cành?

ồ không, một chú bướm!
Lê Văn Truyền dịch

Life: a solitary butterfly
swaying unsteadily on a slender stalk of grass,
nothing more. But so exquisite!

Nishiyama Soin (1605-1682), Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc đời là cánh bướm cô đơn

lửng lơ trên ngọn cỏ mong manh

còn gì thanh tao hơn

Lê Văn Truyền dịch

This darkening autumn:
my neighbor,
how does he continue?

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa thu ảm đạm này

người hàng xóm của tôi

liệu có qua khỏi?
Lê Văn Truyền dịch

Autumn darkness

descends
on this road I travel alone

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Bóng tối chiều thu

buông xuống con đường

tôi đang độc hành

Lê Văn Truyền dịch

Lightning
shatters the darkness
the night heron's shriek.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ánh sáng xua tan bóng tối

trong đêm đen

tiếng thét người anh hùng
Lê Văn Truyền dịch

An ancient pond,
the frog leaps:
the silver plop and gurgle of water.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ao xưa

con ếch nhảy vào

nước xao sóng bạc

Lê Văn Truyền dịch

A crow settles
on a withered branch:
autumn nightfall.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Một con quạ đậu

trên cành cây khô

hoàng hôn mùa Thu
Lê Văn Truyền dịch

My eyes,
having observed everything,
returned to the white chrysanthemums.

Kosugi Isshõ (1652-1688), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi mắt tôi

nhìn ngắm khắp nơi

rồi hướng về đóa cúc trắng

Lê Văn Truyền dịch

A white swan
parts the cherry-petalled pond
with her motionless breast.

Roka (1671-1703), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái ức im lìm

con thiên nga trắng

rẽ mặt ao ngập cánh anh đào
Lê Văn Truyền dịch

Năm 1694, Roka trở thành một môn đệ thụ giáo haiku với Basho; và đó là những năm cuối đời của Basho.

Useless dreams, alas!
Over desolate fields
winds whisper as they pass.

Uejima Onitsua (1661-1738), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, những giấc mơ hão huyền

gió xào xạc lướt qua

trên cánh đồng hoang vắng
Lê Văn Truyền dịch

Observe:
see how the wild violets bloom
within the forbidden fences!

Shida Yaba (1663-1740), Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy ngắm nhìn:

hoa tím dại bừng nở

trong bờ rào hoang

Lê Văn Truyền dịch

Leaves, like the shadows of crows
cast by a lonely moon.

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Những chiếc lá

bóng những con quạ đen

gieo trên mặt trăng cô đơn
Lê Văn Truyền dịch

A kite floats
at the same place in the sky
where yesterday it floated ...

Yosa Buson (1716-1783), Michael R. Burch phỏng dịch

Con diều trôi

trên bầu trời

đúng chỗ hôm qua nó lượn

Lê Văn Truyền dịch

Standing beneath cherry blossoms
who can be strangers?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ngồi dưới anh đào nở

xa lạ với nhau sao được?

Lê Văn Truyền dịch

Overdressed for my thatched hut:
a peony blossoms.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Lợp lại mái tranh

túp lều của tôi

đóa mẫu đơn nở
Lê Văn Truyền dịch

Oh, magnificent peony,
please don't disdain
these poor surroundings!

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ơi đóa mẫu đơn lộng lẫy

hãy đừng kiêu kỳ

giữa những cảnh đời gieo neo

Lê Văn Truyền dịch

Insolent peony!
demanding I measure your span
with my fan?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Bông mẫu đơn hỗn hào

dám đòi ta đo cánh hoa ngươi

bằng cái quạt?
Lê Văn Truyền dịch

"This big!"
the child's arms
measured the peony.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay trẻ thơ

đo bông hoa mẫu đơn

“Ồ! Nó thật to!”

Lê Văn Truyền dịch

Peonies blossom;
the world is full of fibbers.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Mẫu đơn bừng nở

quanh ta đầy người dối trá
Lê Văn Truyền dịch

Hình như Issa có một phức cảm yêu – ghét đối với những bông hoa mẫu đơn, bà viết đến 84 khúc haiku về loài hoa này, khi thì ca ngợi và khi thì phê phán vẻ kiêu kỳ của chúng.

SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA THI CA TRỮ TÌNH VÀ TRÀO PHÚNG

Đây là một bài thơ cổ viết về một nửa thế gian xa xôi:

Sing, my sacred tortoiseshell lyre;
come, let my words
accompany your voice

Sappho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cây thụ cầm đồi mồi thần thánh

hãy cất tiếng đàn

cho ta hòa ca

Lê Văn Truyền dịch

Sappho là nhà thơ trữ tình đầu tiên mà ngày nay chúng ta vẫn nhắc đến tên tuổi của bà và nữ thi sỹ có thể vẫn là nhà thơ trữ tình lớn nhất cho đến hiện nay. Nữ haijin nổi tiếng về sự dí dỏm, giống như haiku là đơn giản, súc tích đôi khi đến mức làm ta sửng sốt. Vì tôi đã phụ trách một trang thơ trữ tình hay nhất mọi thời đại, tôi đã viết khúc haiku sau đây một cách hoàn toàn bất ngờ. Và hoàn toàn không dự định, tôi đã chấm dứt trang thơ trữ tình và bắt đầu dịch nhiều bài haiku.

Dark-bosomed clouds
pregnant with heavy thunder ...
the water breaks

Michael R. Burch

Những đám mây đen

thai nghén sấm sét…

mưa tuôn như vỡ ối
Lê Văn Truyền dịch

Và sau đây là bản dịch tiếng Anh của tôi về một trong những khúc haiku của bậc thầy Nhật Bản Basho mà tôi yêu thích.

The butterfly
perfuming its wings
fans the orchid

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm

quạt cánh hoa lan

ướp thơm đôi cánh
Lê Văn Truyền dịch

Thật thú vị khi nhận thấy sự tương đồng giữa ba bài thơ của những nhà thơ rất khác biệt. Sappho là một nhà thơ của Hy Lạp cổ đại sinh trưởng ở đảo Lesbos; tính cách tình dục đồng giới của bà đã mang lại sự biểu đạt và nghĩa rộng của những từ “Lesbian” hay “Sapphic” mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại.

Matsuo Basho là một bậc thầy haiku cổ của Nhật Bản, đã ảnh hưởng, và vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ Phương Tây. Tôi là một nhà thơ Mỹ không mấy tên tuổi nhưng rất yêu thích các trường phái thơ ca khác nhau. Các bài thơ cùng có chung các đặc điểm, đó là sự khúc chiết, súc tích, trong sáng và việc sử dụng hình ảnh để biểu đạt cảm xúc. Trong mỗi bài thơ, người thi sỹ sử dụng hình ảnh để truyền đạt những thông tin về cảm xúc của mình còn nhiều hơn những dòng văn xuôi.

Sappho dùng hình ảnh cây đàn “lyre”, một loại đàn giống cây thụ cầm (đàn harp), nhạc cụ đã đem lại thuật ngữ hiện đại “thơ trữ tình” (lyric poetry). Khi Sappho nói đến “cây đàn lyre thần thánh” (the lyre sacred), nhà thơ cũng đã nhắc đến Muse, những nữ thần Thơ Ca (những vị thần của Hy Lạp cổ đại đã giải thích cội nguồn của thi ca, là nguồn cảm hứng tuyệt diệu).

Thơ haiku của Basho là những tuyệt tác có thể làm cho ta nhầm lẫn vì tuy hình thức và cấu trúc đơn giản nhưng chúng có thể lột tả một cách sinh động “bản chất cộng sinh” (symbiotic nature) của cuộc sống. Những con bướm hút mật hoa, và qua đó, giúp hoa thụ phấn. Thơ của Basho là một minh chứng cho nghệ thuật phản ánh thiên nhiên; thật khó để nói lên cái gì là đáng yêu hơn: con bướm, nhành lan hay những dòng thơ được khắc họa một cách trang nhã. Khúc haiku của tôi so sánh những đám mây tích sấm sét, một cơn mưa với một phụ nữ mang thai đang vỡ ối. Tôi cho rằng đó là một hình ảnh có hiệu ứng, mặc dù tôi nghĩ bạn đọc có thể cho rằng tôi không xứng đáng là một bậc thầy haiku. Hy vọng rằng, tôi có thể dành cho bạn đọc sự tôn trọng xứng đáng. Và bây giờ, sau đây là những khúc haiku tôi yêu thích.

Pausing between clouds
the moon rests
in the eyes of its beholders

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những đám mây trắng

mặt trăng nghỉ ngơi

trong mắt người ngưỡng vọng

Lê Văn Truyền dịch

Khúc haiku trên đây cũng đã bày tỏ được sự đơn giản và sức mạnh của bài thơ dưới tay một ngòi bút tài năng. Khi một bậc thầy như Basho viện dẫn hình ảnh của mặt trăng, Basho có thể cuốn chúng ta đến với tất cả những gì chúng ta biết và tất cả cảm xúc của chúng ta về Chị Hằng.

Oh, fallen camellias,
if I were you,
I'd leap into the torrent!

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi đóa hoa trà rụng

nếu là ngươi

ta đã gieo mình vào giòng suối

Lê Văn Truyền dịch

Bài thơ trên đây là một khúc haiku khác mà tôi đặc biệt yêu thích, vì nhà thơ đã làm người đọc thấu cảm với những nhành hoa khô héo. Khi tôi dịch bài thơ này, tôi nhìn thấy ở ngoài trời những cánh hoa rơi tơi tả trong mưa và hình như nhà thơ gợi cho ta rằng một cái chết nhanh chóng tốt hơn một cái chết từ từ, chậm rãi. Bài thơ hình như cũng là một gợi ý về sự tự vẫn hoặc cái chết không đau đớn (euthanasia) cũng là một giải pháp so với cái chết khổ sở kéo dài, mặc dù vẫn có những cách diễn giải khác nhau về khúc haiku này. Một bài thơ hay là một bài thơ có thể gợi cho người đọc nhiều cách diễn giải khác nhau.

Eros harrows my heart:
a wind on desolate mountains
uprooting oaks.

Sappho, đoạn 42, Michael R. Burch phỏng dịch

Những người anh hùng dày vò tim ta

ngọn gió trên núi đồi hoang vu

bật gốc cây sồi già

Lê Văn Truyền dịch

Tôi nghĩ trong bài thơ này của Sappho hiện hữu “sự tương đồng nguồn cội” (family resemble) giữa dòng thơ trữ tình ngắn gọn, súc tích và đầy sức gợi của Sappho với dòng thơ của các bậc thầy phương Đông.

When you opened my letter
were you surprised
my heart fell out?

Michael Windsor McClintock

Khi mở lá thư

em có ngạc nhiên

thấy trái tim anh rơi ra?

Lê Văn Truyền dịch

Next door
the lovemaking subsides
stars fall from other worlds

Michael Windsor McClintock

Nhà bên

cuộc yêu lắng xuống

những vì sao rơi từ thế giới khác
Lê Văn Truyền dịch

An old photo of my parents
young and happy -
of all the things I own
that is the saddest

Michael Windsor McClintock

Một bức ảnh cũ

bố mẹ vui vẻ trẻ trung -

buồn thay những gì tôi đang có
Lê Văn Truyền dịch

Ba bài thơ trên đây là của Michael Windsor McClintock, một nhà thơ Hoa Kỳ đương thời. Vào những năm 1960’ nhà thơ là Phụ Tá Biên Tập tạp chí “Haiku Hightlights”. Trong những năm 70’ ông là Phụ Tá Biên Tập tạp chí “Modern Haiku”, là biên tập tạp chí “American Haiku Poets Series” và tạp chí “Seer Ox: American Senryu Magazine”. Tôi nghĩ các bài haiku của ông đã cho thấy những hình ảnh trong sáng, giản dị có thể gợi cho ta bao nhiêu là cảm xúc: một phong thư được mở ra, một ngôi sao băng trên bầu trời, một bức ảnh của người yêu dấu đã rung động trái tim ta như thế nào.

Tôi nghĩ những bậc thầy thời xưa cũng sẽ tán thưởng những bài thơ như thế này.

One apple, alone
in the abandoned orchard
reddens for winter

Patrick Blanche, Michael R. Burch phỏng dịch

Trong vườn hoang

quả táo cô đơn ngượng ngùng

đỏ mặt vì mùa Đông
Lê Văn Truyền dịch

Bài thơ trên đây của một nhà thơ Pháp cho ta thấy thơ ca của các bậc thầy Phương Đông đã ảnh hưởng như thế nào đến nền thi ca trên thế giới.

Our life here on earth:
to what shall we compare it?
It is not like a rowboat
departing at daybreak,
leaving no trace of us in its wake?

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc sống trên đời

có gì sánh được?

Không như chiếc du thuyền

khởi hành buổi rạng đông

không để lại dấu tích của ta trên vệt sóng

Lê Văn Truyền dịch.

Bài thơ trên đây là một bài tanka, một thể thơ phương Đông khác. Bài thơ nói về bệnh tật của con người: có bao nhiêu người đã chết mỗi ngày mà không “wake” (để lại vết tích)? Đối với mỗi Shakespeare trong ta, có hàng triệu con người bình thường tồn tại trong ký ức của mọi người. Nhà thơ hay nhất là nhà thơ biết nói lên sự thật. Không như những “ông lang băm” và những “ông thầy bói”, nhà thơ đem đến cho độc giả sự thật trần trụi mà nhà thơ cảm thấy được.

Graven images of long-departed gods,

dry spiritless leaves:
companions of the temple porch

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hình ảnh của thần linh

khắc trên những chiếc lá khô vô hồn

bạn đồng hành của cổng đền

Lê Văn Truyền dịch

Tôi rất thích khúc haiku trên đây của Basho bởi vì nó đề cập đến sự xác tín và quyền lực của tôn giáo. Các “lang băm”, thầy tu và các nhà truyền giáo của bất kỳ tôn giáo nào cũng luôn nói về Thượng Đế và Thánh Thần nhưng Thượng Đế của họ bất công và vô hiệu một cách khác thường. Thượng Đế của những “lang băm”, tu sĩ và nhà truyền giáo không bao giờ có thể tránh được bệnh tật và cái chết: với các nhà thơ nói lên sự thật, điều đó là hiển nhiên.

Sau đây là một bài thơ làm cho tôi nghĩ rằng Basho không bao giờ là tín đồ của những tôn giáo được lập ra như vậy:
The temple bells grow silent
but the blossoms provide their incense
a perfect evening!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chuông chùa dần lặng

hoa nở ngát hương

hoàng hôn tuyệt đẹp

Lê Văn Truyền dịch

Và một bài khác:

See: whose surviving sons
visit the ancestral graves
white-bearded, with trembling canes?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nhìn những đứa con sống sót

râu tóc bạc run rẩy chống gậy

viếng mộ cha ông
Lê Văn Truyền dịch

Một lần nữa, Basho đã nói lên một cách trung thực một sự thật rất thuyết phục dù có làm cho ta nản lòng. Những nhà thơ Hy Lạp cổ đại cũng không ngần ngại nói về cái chết một cách trực diện. Sau đây là một đoạn văn bia Hy Lạp cổ đại khắc trên đá gợi cho ta nhớ đến Basho:

Does my soul abide in heaven, or hell?
only the sea gull
in his high, lonely circuits, may tell
Michael R. Burch, theo Glaucus

Linh hồn ta sẽ ở Thiên Đàng hay Địa Ngục?

chỉ con mòng biển cô đơn

bay trên trời mới biết

Lê Văn Truyền dịch

Và đây là một đoạn văn bia cổ Hy Lạp khác có thể sánh được với một khúc haiku hay nhất về sự đơn giản, chân thật, rõ ràng và thẳng thắn của nó:

Mariner, do not ask whose tomb this may be,
but go with good fortune: I wish you a kinder sea.

Michael R. Burch, theo Plato

Hỡi thủy thủ, đừng hỏi đây là nấm mồ của ai

ra khơi may mắn và hãy là đứa con của biển khơi
Lê Văn Truyền dịch

Hai khúc haiku dưới đây là của một nữ haijin Nhật Bản, Hisajo Sugita:

I remove my beautiful kimono:
its varied braids
surround and entwine my body

Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Cởi chiếc kimono đẹp đẽ

những dải áo

quấn quanh thân tôi

Lê Văn Truyền dịch

This day of chrysanthemums
I shake and comb my wet hair,
as their petals shed rain
Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày Hoa cúc

tôi vẩy làn tóc ướt

những cánh hoa tỏa mưa

Lê Văn Truyền dịch

Và, sau đây là một số khúc haiku của Matsuo Basho:

Let us arrange
these lovely flowers in the bowl
since there's no rice

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy cắm những bông hoa đẹp

trong cái bát

đã lâu không còn một hạt cơm
Lê Văn Truyền dịch

The first soft snow:
leaves of the awed jonquil
bow low

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết đầu mùa:

lá cây hoa trường thọ

cúi chào
Lê Văn Truyền dịch

Come, investigate loneliness!
a solitary leaf
clings to the Kiri tree

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nghiền ngẫm nỗi cô đơn!

chiếc lá đơn côi

níu lấy cây Kiri
Lê Văn Truyền dịch

The first chill rain:
poor monkey, you too could use
a woven cape of straw

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Mưa đầu mùa lạnh lẽo:

con khỉ đáng thương

hãy đội chiếc mũ rơm

Lê Văn Truyền dịch

This snowy morning:
cries of the crow I despise
(ah, but so beautiful!)

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Buổi sáng tuyết lạnh này

tôi không màng đến tiếng quạ

(ôi, buổi sáng tuyệt đẹp!)

Lê Văn Truyền dịch

Like a heavy fragrance
snow-flakes settle:
lilies on rocks

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Như mùi hương ngát

hoa tuyết bậu trên đá

những bông huệ tây
Lê Văn Truyền dịch

The cheerful-chirping cricket
contends gray autumn's gay,
contemptuous of frost

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Tiếng dế rả rích

đua với thu vàng

không màng sương giá
Lê Văn Truyền dịch

Whistle on, twilight whippoorwill,
solemn evangelist
of loneliness

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoàng hôn, tiếng hót chim bắt muỗi

lời phúc âm trang nghiêm

nỗi niềm hiu quạnh

Lê Văn Truyền dịch

The year's first day ...
thoughts come, and with them, loneliness;
dusk approaches.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày tân niên

cô đơn cùng những suy tư;

hoàng hôn buông xuống
Lê Văn Truyền dịch

An empty road
lonelier than abandonment:
this autumn evening

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con đường trống vắng

cô đơn hơn bị bỏ rơi

trong chiều thu này
Lê Văn Truyền dịch

Ballet in the air!
two butterflies, twice white,
meet, mate, unite.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vũ điệu không trung

đôi bướm trắng gặp nhau

hòa hợp kết đôi
Lê Văn Truyền dịch

High-altitude rose petals
falling
falling
falling:
the melody of a waterfall.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Từ trên cao

những cánh hoa hồng

rơi

rơi

rơi

giai điệu của dòng thác
Lê Văn Truyền dịch

The cicada's cry
contains no hint to foretell
how soon it must die.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ve sầu ca vang

không hề biết trước

khi nào đời tàn
Lê Văn Truyền dịch

Fever-felled mid-path
my dreams resurrect, to trek
through a hollow land

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cơn sốt kinh hoàng

giấc mơ trỗi dậy

dìu tôi qua miền đất hoang
Lê Văn Truyền dịch

The sea darkening,
the voices of the wild ducks:
my mysterious companions!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Mặt biển tối dần

tiếng kêu vịt hoang

người bạn đường bí ẩn
Lê Văn Truyền dịch

Will we meet again?
here at your flowering grave:
two white butterflies

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Khi nào gặp lại

hai con bướm trắng

trên mồ nở hoa?

Lê Văn Truyền dịch

These wilting summer flowers?
The only remains
of "invincible" warriors ..

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Những bông hoa mùa hè héo tàn

chỉ còn lại

những người chiến binh vô địch.
Lê Văn Truyền dịch

Spring has come:
the nameless hill
lies shrouded in mist

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân đã đến

ngọn đồi vô danh

ẩn mình trong sương

Lê Văn Truyền dịch

Among the graffiti
one illuminated name:
Yours.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những bức tranh tường cổ

chỉ một cái tên rực rỡ

ấy là tên em

Lê Văn Truyền dịch

A spring wind
stirs willow leaves
as a butterfly hovers unsteadily.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọn gió Xuân

lá liễu lay

cánh bướm lửng lơ

Lê Văn Truyền dịch

Swallow flitting in the dusk,
please spare my small friends
buzzing among the flowers!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chim nhạn liệng trong đêm

hãy để những bạn nhỏ của tôi

lượn giữa những đóa hoa

Lê Văn Truyền dịch

Morning glories blossom,
reinforcing the old fence gate.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bình minh huy hoàng bừng nở

cổng rào cũ chắc hơn

Lê Văn Truyền dịch

Scrawny tomcat!
Are you starving for fish and mice
or pining away for love?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con mèo đực tong teo

vì đói ăn

hay vì nỗi thất tình ray rứt

Lê Văn Truyền dịch

The moon: glorious its illumination!
therefore, we give thanks.
dark clouds cast their shadows on our necks.
Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng sáng huy hoàng

cám ơn đám mây đen

thả bóng trên cổ ta

Lê Văn Truyền dịch

Curious flower,
watching us approach:
meet Death, our famished donkey.
Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Đóa hoa hiếu kỳ

lại gần ta rình rập:

gặp Thần chết, con lừa khốn khổ

Lê Văn Truyền dịch

Ah me,
I waste my meager breakfast
morning glory gazing!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ồ,

tôi bỏ bữa sáng đạm bạc

để ngắm bình minh rực rỡ

Lê Văn Truyền dịch

Và dưới đây là một số bài của các nhà thơ khác:

Right at my feet!
When did you arrive here,
snail?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú sên

đến đây khi nào

ngay dưới chân tôi

Lê Văn Truyền dịch

Oh, brilliant moon
is it true that even you
must rush away, as if tardy?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng sáng

cũng vội vàng trôi

như sắp muộn rồi

Lê Văn Truyền dịch

Ghostly the gray cow comes

mooing
mooing

mooing
out of the morning mist.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Con bò xám trơ xương

rống

rống

rống

vang trong sương sớm

Lê Văn Truyền dịch

Peonies blossom;
the world is full of blooming liars.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa diên vỹ nở

thế giới đầy người dối trá

Lê Văn Truyền dịch

After killing a spider,
I was overcome by loneliness
in the bittercold night.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Tôi giết một con nhện

lòng ngập tràn cô đơn

trong đêm đen giá buốt

Lê Văn Truyền dịch

Summer river:
ignoring the bridge,
my horse charges through the water.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Không màng đến cây cầu

trên dòng sông mùa hạ

ngựa thồ lội nước qua sông

Lê Văn Truyền dịch

After the fireworks,
the spectators departed:
how vast and dark the sky!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Sau màn pháo hoa

mọi người rời xa

bầu trời đen mênh mang
Lê Văn Truyền dịch

Such a small child
sent to become a priest:
frigid Siberia!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Như chú tiểu đồng

thụ giáo đi tu

Siberi lạnh lẽo
Lê Văn Truyền dịch

We cannot see the moon
and yet the waves still rise
Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Không thể thấy trăng

những con sóng vẫn trào dâng
Lê Văn Truyền dịch

The first morning of autumn:
the mirror I investigate
reflects my father’s face
Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Buổi sáng đầu Thu

trong gương tôi soi

cha tôi hiện bóng

Lê Văn Truyền dịch

Wild geese pass
leaving the emptiness of heaven
revealed

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn ngỗng trời bay qua

để lại trống vắng

trên bầu trời bao la

Lê Văn Truyền dịch

Silently observing
the bottomless mountain lake:
water lilies

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Lẳng lặng ngắm nhìn

mặt hồ không đáy trên núi:

những bông hoa súng

Lê Văn Truyền dịch

Cranes
flapping ceaselessly
test the sky's upper limits

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những con sếu

vỗ cánh không ngừng

thách thức trời cao
Lê Văn Truyền dịch

Falling snowflakes'
glitter
tinsels the sea

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những bông tuyết rơi

lấp lánh

trang hoàng biển xanh

Lê Văn Truyền dịch

Blizzards here on earth,
blizzards of stars
in the sky

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Dưới mặt đất bão tuyết

trên bầu trời

bão sao băng

Lê Văn Truyền dịch

Completely encircled
in emerald:
the glittering swamp!

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọc lục bảo bao quanh

đầm lầy lấp lánh

Lê Văn Truyền dịch

The new calendar!
as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Quyển lịch mới

như nói cùng ta

ngày mai có gì chắc chắn …
Lê Văn Truyền dịch

Ah butterfly,
what dreams do you ply
with your beautiful wings?

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, con bướm miệt mài

dệt giấc mơ nào

với đôi cánh đẹp

Lê Văn Truyền dịch

Because morning glories
hold my well-bucket (cái gầu múc nước giếng) hostage
I go begging for water

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Bận buổi cầu kinh sáng

không đụng đến cái gầu

tôi đi xin nước

Lê Văn Truyền dịch

Spring
stirs the clouds
in the sky's teabowl

Kikusha-ni, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân

lay động đám mây

bầu trời trong tách trà

Lê Văn Truyền dịch

Tonight I saw
how the peony crumples
in the fire's embers

Katoh Shuhson, Michael R. Burch phỏng dịch

Đêm nay tôi thấy

cánh mẫu đơn nhàu nhĩ

trong tro tàn lò sưởi

Lê Văn Truyền dịch

It fills me with anger,
this moon; it fills me
and makes me whole

Takeshita Shizunojo, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng làm tôi giận dữ

cũng vầng trăng này

đem lại bình an

Lê Văn Truyền dịch

War
stood at the end of the hall
in the long shadows

Watanabe Hakusen, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiến tranh

đứng ở cuối đại sảnh

trong bóng tối

Lê Văn Truyền dịch

Because he is slow to wrath,
I tackle him, then wring his neck
in the long grass

Shimazu Ryoh, Michael R. Burch phỏng dịch

Anh không hay cáu

tôi tóm và đè cổ anh

xuống thảm cỏ xanh

Lê Văn Truyền dịch

Pale mountain sky:
cherry petals play
as they tumble earthward

Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên núi trời nhợt nhạt

những cánh hoa đào bay

rối tung mặt đất

Lê Văn Truyền dịch

The frozen moon,
the frozen lake:
two oval mirrors reflecting each other.

Hashimoto Takako, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng đóng băng

mặt hồ đóng băng

hai tấm gương trái xoan phản chiếu

Lê Văn Truyền dịch

The bitter winter wind
ends here
with the frozen sea

Ikenishi Gonsui, Michael R. Burch phỏng dịch

Gió đông lạnh buốt

ngừng thổi nơi đây

biển xanh băng giá

Lê Văn Truyền dịch

Oh, bitter winter wind,
why bellow so
when there's no leaves to fell?

Natsume Sôseki, Michael R. Burch phỏng dịch

Hỡi gió buốt mùa đông

cây không còn lá

gào thét làm chi?

Lê Văn Truyền dịch

Winter waves
roil
their own shadows

Tominaga Fusei, Michael R. Burch phỏng dịch

Biển mùa đông

khuấy đục

đầu sóng

Lê Văn Truyền dịch

No sky,
no land:
just snow eternally falling ...

Kajiwara Hashin, Michael R. Burch phỏng dịch

Không bầu trời

không mặt đất

tuyết không ngừng rơi

Lê Văn Truyền dịch

Along with spring leaves
my child's teeth
take root, blossom
Nakamura Kusâto, Michael R. Burch phỏng dịch

Cùng với cây lá

răng sữa con tôi bén rễ

mầm xuân nẩy chồi

Lê Văn Truyền dịch

Stillness:
a single chestnut leaf glides
on brilliant water

Ryuin, Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh lặng:

một chiếc lá dẻ

lướt trên mặt nước

Lê Văn Truyền dịch

As thunder recedes
alone tree stands illuminated in sunlight:
applauded by cicadas

Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Sấm sét tan rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

ve sầu hòa ca

Lê Văn Truyền dịch

The snake slipped away
but his eyes, having held mine,
still stare in the grass

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Con rắn trườn trong cỏ

đôi mắt chằm chằm

làm tôi bất động

Lê Văn Truyền dịch

Girls gather sprouts of rice:
reflections of the water flicker
on the backs of their hats

Kyoshi Takkahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Những cô gái gieo mạ

ánh nước lung linh

đằng sau chiếc nón

Lê Văn Truyền dịch

Murmurs follow the hay cart
this blossoming summer day

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Lọc cọc xe ngựa thồ cỏ khô

trong ngày hè hoa nở
Lê Văn Truyền dịch

The wet nurse
paused to consider a bucket of sea urchins
then walked away

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Cô nhũ mẫu ướt đẫm

dừng chân ngắm đám nhím biển

rồi cất bước đi
Lê Văn Truyền dịch

May I be with my mother
wearing her summer kimono
by the morning window

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Ước được cùng mẹ

mặc áo kimono

bên cửa sổ buổi sáng mùa hè
Lê Văn Truyền dịch

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay người đàn bà

bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

Lê Văn Truyền dịch

The moon
hovering above the snow-capped mountains
rained down hailstones

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Chị Hằng

trôi trên đỉnh núi tuyết

mưa đá tuôn

Lê Văn Truyền dịch

Oh, dreamlike winter butterfly:
a puff of white snow
cresting mountains

Kakio Tomizawa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm mùa đông đẹp như mơ

nhúm bông tuyết trắng

đồi núi nhấp nhô

Lê Văn Truyền dịch

Spring snow
cascades over fences
in white waves

Suju Takano, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết mùa Xuân

đọng trên hàng rào

những con sóng trắng

Lê Văn Truyền dịch

Khương Thượng, Hà Thành

Mùa Xuân 2018

Lê Văn Truyền

TÓM TẮT TIỂU SỬ
MICHAEL R. BURCH

(theo WIKIPEDIA)

Michael R. Burch (sinh ngày 19-2.1958) là giám đốc một công ty công nghệ thông tin ở Hoa Kỳ. Ông đồng thời là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình và nhà biên tập, sống ở Nashville, bang Tennessee.

Ông còn là một nhà hoạt động vì hòa bình, là tác giả của sáng kiến hòa bình Burch-Elberry được mạng Diễn Đàn Quốc Gia về Liên Kết Tiến Bộ của Ấn Độ công bố. Ông cũng là nhà hoạt động tích cực cho trường phái New Formalist (Tân Hình Thức) và Neo-Romanticism (Tân Lãng Mạn). Ông đã công bố những bài thơ hay nhất trên trang mạng thơ The HyperTexts xuất hiện trong suốt hai thập kỷ qua và theo đánh giá của Google đã có hơn hai triệu lượt truy cập kể từ năm 2010. Thơ và truyện ngắn của Burch đã được đăng trên các tạp chí: TIME, USA Today, Writer Digest, Writer’s Journal, Writer’s Gazette, The Lyric, Poet Love … và trên hàng trăm tạp chí thơ ca khác. Ông phụ trách một cột báo hàng tuần trên tờ Nashville’s City Paper trong ba năm cho đến khi chuyên mục này ngừng xuất hiện vào năm 2013. Ông cũng dịch thơ từ tạp chí Old English và các ngôn ngữ khác ra tiếng Anh hiện đại. Burch đã dịch thơ của nhiều nhà thơ trong đó có Basho, Bertolt Brecht, Robert Burns, William Dunbar, Allama Iqbal, Ono no Komachi, Miklós Radnóti, Rainer Maria Rilke, Reneé Vivien và Sappho …

Michael R. Burch đã đạt 5 giải thưởng “Pushcart Prize” từ các nhà xuất bản The Aurorean, Romantics Quarterly, The Raintown Review, Trinacria và Victorian Violet Press. Tác phẩm “Ordinary Love” của ông được giải thưởng thơ “Algernon Charles Swinburne Poetry Award”, đồng thời ông cũng đạt 6 giải thưởng các cuộc thi thơ và 35 giải thưởng các cuộc thi văn học.

Ông kết hôn với ca sỹ Elizabeth Harris Burch và có người con trai Jeremy Michael Burch là ca sỹ, nhạc sỹ và diễn viên.

Tiếng sóng tâm thức- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Tiếng gì trong đêm

hình như tiếng sóng

hay là tiếng mẹ, mẹ ơi!

(Romano Zeraschi - Italia - Đinh Nhật Hạnh dịch)

Nhà thơ Romano Zeraschi là một Haijin người Ý, quê hương của bánh pizza nổi tiếng. Nước Ý có nhiều núi cao và bờ biển trải dài. Cho nên tiếng sóng xuất hiện trong thơ Romano không có gì lạ.

Vậy mà quá thảng thốt. Romano chợt kêu lên. Có tiếng gì vọng lại từ vô thức. Thật ra, trong điệu thức tâm hồn của thơ, luôn có một thứ âm vang vô thanh xao động. Nhà thơ đã kịp nhận tiếng gì là một nỗi niềm hơn là một thường trực.

Tiếng gì trong đêm ấy, xuyên qua tâm thức?

Lạ mà quen.

Mơ hồ và ám ảnh.

Tự hỏi. Ấy là tiếng sóng ngàn năm chăng?

Không. Như ngọn hải triều âm gào thét, tiếng gì ấy, dội vào hốc lòng sâu thẳm. Rồi bật ra ngào nghẹn. Cứ mãi không thôi. Đó chỉ có thể là tiếng yêu thương nhất mà nhà thơ thừa tự.

Hay là tiếng mẹ? Nhà thơ tự cho phép mình được gọi như thế. Bởi thiêng liêng bao giờ cũng đánh thức trái tim hơn là cảm giác.

Đúng vậy, chỉ có tiếng gọi thiêng liêng của "thần giao cách cảm", mới lay động đến thế. Con sinh ra từ cung lòng của mẹ. Dây rốn tinh khôi đã buột vào từ thuở bào thai. Mẹ sầu khổ luôn ảnh hưởng tới con. Con đau mẹ cũng đau không kém. Mẹ con, con mẹ, đã kết làm một. Không thể tách rời.

Nói về mẹ thì có nhiều áng thơ hay. Nhưng thơ Haiku của Romano Zeraschi ray rứt khôn nguôi. Người chuyển ngữ hình như cũng linh cảm được điều tinh tế ấy mà kéo dài tiếng gọi "Mẹ ơi!". Khắc khoải. Trầm buồn: "may be your voice, Mother"!

Thú thật, đây là bài Haiku làm tôi thao thức mãi. Lòng tôi cùng với Romano làm nên một cung bậc. Nhớ mẹ mình biết bao!

Nếu chuyển ngữ:"hay là tiếng mẹ", rồi bỏ lửng. Không có gì sai. Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh quá hiểu điều đó, nhưng ông vẫn dịch sát: "hay là tiếng mẹ, mẹ ơi"! Người ta bảo thơ Haiku kiệm lời. Tuy nhiên không phải tất cả. Có lúc không kiệm được mà phải gọi lên.

Gọi lên cho những thứ khác được giấu kín.

Người sáng tác và người dịch đã thành công.

Vì họ cùng một tầng sóng siêu âm...

Đà Lạt tháng 3/2017

N.T.N

Haiku tình yêu phương Tây

Lê Văn Truyền

Khi thưởng thức haiku truyền thống của Nhật Bản, trong các “quý ngữ” người đọc hiếm thấy có chỗ cho chủ đề tình yêu hoặc nhục cảm. Mặc dù, như trong bài viết trước đây, khi giới thiệu “chi lưu” haiku tình yêu, điểm qua một số khúc haiku của các đại thụ haiku Nhật Bản, ta có thể thấy một số bài “luyến ca” đề cập đến tình yêu và vẻ đẹp nhục cảm của người phụ nữ một cách nhẹ nhàng, đầy tính ẩn dụ.

alt

Khi haiku lan tỏa sang các nước phương Tây rồi dần dần có một vị thế quan trọng và đặc thù trong nền thi ca Tây phương, người ta thấy các haijin đã đưa vào haiku những chủ đề quen thuộc của văn hóa Tây phương, trong đó không thể thiếu chủ đề về tình yêu và nhục cảm. Khi tiếp cận với haiku, nhiều nhà thơ Anh, Mỹ… đã phát hiện ra rằng, tuy rất ngắn gọn, chỉ bao hàm trong 17 âm tiết, nhưng thể thơ ngắn haiku của Nhật Bản vẫn có khả năng thể hiện một cách cô đọng, hoặc trực tiếp hoặc ẩn dụ, các sắc thái tình yêu mạnh mẽ nhất, nồng nàn nhất với tất cả các cung bậc khác nhau của tình yêu và nhục cảm giữa người nam và người nữ. Các haijin phương Tây đã tìm thấy trong bản sắc và khả năng của haiku – có thể gợi đến “cái vô tận” của thời gian thông qua “một khoảnh khắc”, thấy cả “vũ trụ” trong một “giọt nước”, phát hiện cái “đại ngã” trong “bản ngã” của mỗi con người, nhận thức được quy luật “thiên nhân hợp nhất” – một thế mạnh để ghi lại những khoảnh khắc thăng hoa, nắm bắt những tia chớp huyền diệu khi người nam và người nữ đắm mình trong tình yêu và nhục cảm.

Để cảm thụ “erotic haiku”, một haijin nổi tiếng của phương Tây đã viết, đại ý: Để có thể đánh giá được đầy đủ vẻ đẹp của “erotic haiku” người đọc cần tiếp cận dòng thơ này với sự hiểu biết cơ bản và chính xác thế nào là “erotic”. Mặt khác, sự cảm thụ “erotic haiku” phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm cá nhân và trải nghiệm của người đọc. “Erotic haiku” tuyệt đối không phải là lời người nam hay người nữ mời gọi bạn lên giường mà là để giúp bạn thăng hoa trí tưởng tượng của mình về tình yêu và nhục cảm.

Đúng thế, có những “khoảnh khắc tình yêu” ở phương Tây có thể mô tả bằng câu chữ trần trụi nhưng ở phương Đông chỉ có thể biểu thị bằng những ẩn dụ, những hình ảnh để người đọc “tự diễn dịch” theo “gu” thẩm mỹ, sự cảm thụ và trải nghiệm của mình mà thôi.

Ishibani Hideno dùng hình ảnh những nụ hoa mận bừng nở chạm vào nhau trong buổi hoàng hôn mùa đông như là một ẩn dụ về sự đụng chạm và giao hòa thể xác giữa nam và nữ:

The winter blooming plum

buds touching one another

in the twilight

Hoa mận bừng nở

cọ vào nhau

buổi hoàng hôn mùa đông


Nhưng với Ruth Yarrow, nữ haijin tuổi thất thập cổ lai hy, bậc thầy haiku của Đại học Cornell (Hoa Kỳ), phút giây giao hòa nhất thiết phải thể hiện như trong khúc haiku sau đây:

Warm rain before dawn

my milk flows

into her unseen

Mưa ấm trước bình minh

dòng sữa tôi

trút vào nàng sâu thẳm

Tả vẻ đẹp của người đàn bà khỏa thân, bậc thầy haijin Nhật Bản đồng thời là ni cô Chiyo-ni sử dụng biểu trưng đóa cúc bạch tinh khôi:

Moonflowers –

when a woman’s skin

is revealed

Đóa cúc bạch

khi làn da người đàn bà

phát lộ

Và cũng Chiyo-ni viết tiếp trong một khúc haiku khác:

Moonflower in bloom

when a woman skin

gleams through the dusk

Đóa cúc trắng bừng nở

khi làn da đàn bà

ánh lên trong hoàng hôn

Các haijin phương Tây mạnh bạo hơn khi sử dụng hình tượng và màu sắc, không chỉ là một màu trắng trinh bạch, mà gần như tất cả các sắc màu mạnh mẽ, ấm áp, rực rỡ của các loài hoa để biểu trưng cho nữ tính của người phụ nữ. Trên khắp thế giới, khi đến với người yêu, các chàng trai thường trân trọng mang theo một bó hoa. Nhưng hầu như các cô gái ít khi mua hoa tặng người yêu vì trong mình cô đã có cả một vườn hoa. Alexis Rotella đã rất tinh tế và có chút hài hước, theo tinh thần haiku Nhật Bản, khi phát hiện ra điều đó:

Late August

I bring him the garden

in my skirt

Tháng tám mới rồi

tôi đem tặng anh

cả một vườn hoa trong váy

Đúng rồi, nếu đã sở hữu cả một “vườn hoa địa đàng” thì không có lý do gì nàng lại phải đem tặng chàng chỉ một nhành hoa hay thậm chí một bó hoa?

Với haijin này chắc chắn đó không phải là bông hoa cúc bạch mà phải là một đóa hồng đen:

Dark rose

the sun lights it

as you undress

Mặt trời rọi sáng

đóa hoa hồng đen

khi em trút xiêm y

Nhưng trong trí tưởng tượng của haijin khác, đó lại là những cánh hoa tulip đang nở bung khoe sắc trong một gian phòng ẩm ướt:

Steamy room

the tulip petals

spread wide

Gian phòng ẩm ướt

cánh tulip

mãn khai

Bộ ngực phụ nữ, nguồn sữa nuôi dưỡng cả nhân loại là một chủ đề không thể thiếu trong “erotic haiku”. Với Brynne Mc Adoo, bầu sữa mẹ đã được nhân cách hóa một cách thật sinh động và cũng không kém phần hài hước. Vầng trăng non nhũ hoa của người yêu len lén ngắm chị Hằng trên bầu trời trong đêm nguyệt thực, chắc để tự so mình với chị Hằng xem ai hấp dẫn hơn chăng:

Lunar eclipse

a nipple peeks

over her dress

Nguyệt thực

nhũ hoa hé nhìn

qua làn áo mỏng

Michael Dylan Welch cảm nhận vị ngọt ngào quyến rũ của đôi nhũ hoa:

The taste of honey

on your nipple

the symphony’s crescendo

Vị mật ong

trên đôi nhũ hoa em

cao trào bản giao hưởng

Và cũng Michael Dylan Welch cảm nhận một khía cạnh khác, khía cạnh nhục thể của đôi nhũ hoa:

Moonlit surf…

your nipple hardens

against my tongue

Sóng trào ánh trăng soi

nhũ hoa em săn cứng

chạm vào đầu lưỡi anh

George Swede cảm nhận vẻ đẹp của bộ ngực phụ nữ dưới đôi mắt của một nhà điêu khắc hay một họa sỹ:

Night begins to gather

between her breast

Bóng đêm đọng lại

giữa đôi vú nàng

Và một haijin khác:

By the lamp

the curve of her breast

in silhouette

Ánh đèn rọi bóng

đôi vú

em cong

Ram Krisna Singh, bậc thầy haiku Ấn Độ, cảm nhận bộ ngực người phụ nữ như một “thực thể sống” với tất cả sự sinh động tạo nên vẻ khêu gợi của họ. Người phụ nữ trong khúc haiku sau đây chắc chắn phải có một vẻ đẹp trẻ trung, mạnh khỏe, phồn thực vì vậy bộ ngực của nàng mới kiêu hãnh vươn lên và dám thách thức cả vầng trăng:

With her breasts bobbing

up and down she challenges

the moon as she walks

Đôi vú nàng bập bềnh

thách thức cả vầng trăng

mỗi khi nàng cất bước

Và, bộ ngực cũng sống động theo chu kỳ của người phụ nữ:

Through erect nipples

feeling the warmth of your body

days of abstinence

Đôi núm vú săn cứng

tấm thân em nóng bỏng

những ngày kiêng khem

Những cung bậc khác nhau của tình yêu và nhục cảm được các haijin phương Tây thể hiện từ nhẹ nhàng đến táo bạo trong muôn vẻ khúc dạo đầu. Tình yêu vốn kiệm lời, chỉ cần tiếng thầm thì của người yêu bên tai, hai tâm hồn đã hiểu nhau và… tình yêu tới. Michele Langlo nói lên mong muốn đơn sơ của người yêu:

My whispers escaped

in the silence you heard me

and then I knew love...

Trong yên lặng

anh nghe tiếng em thầm thì

ấy là lúc tình yêu đến

Và một nụ cười dịu dàng của người yêu nhiều khi còn có sức mời gọi nhiều hơn những lời nói hoặc cử chỉ gợi tình. Ram Krisna Singh thấy chỉ nụ cười của người yêu đã đủ khởi động mạnh mẽ nhục cảm:

Her smile triggers

fire in the loins

sunbathing nude

Nụ cười nàng

sưởi ấm thắt lưng tôi

tấm thân trần tắm nắng

Với June O'Reilly chỉ cái ôm dịu dàng âu yếm của chàng đã đủ mang lại cho tâm hồn mình bao điều kỳ diệu:

Touch me with your love

feed my mind with your wonder

tomorrow starts today

Hãy âu yếm dịu dàng

ban tặng em những điều kỳ diệu

ngày mai bắt đầu từ hôm nay

Trong lúc Jennifer lại muốn tan chảy trong vòng tay mạnh mẽ của người yêu:

Dreamy stars at night

your kisses melted my heart

your arms held me tight

Những ngôi sao đêm kỳ ảo

nụ hôn làm tan chảy tim em

trong tay anh ghì chặt

Hàng bao ngàn năm trôi qua nhưng các nhà thơ trên trái đất chưa bao giờ thôi ca ngợi về “hương vị” của tình yêu. Đã có những thi phẩm tuyệt diệu về mùi hương người đàn bà, trong đó có hai câu thơ đẹp, tương truyền của đấng quân vương – thi sĩ Tự Đức lãng mạn của Vương triều Nguyễn:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

Khoa học hiện đại, đặc biệt là ngành hóa học và sinh học, đã thành công trong việc chứng minh mùi hương hấp dẫn của tình yêu chính là các phân tử hóa học “pheromone”, chất dẫn dụ sinh học (và cũng là chất gây nghiện) của con người (và cả một số loài động vật), để gợi tình, để quyến rũ, để “đánh dấu” bạn tình và để duy trì mối quan hệ tình cảm lâu dài. Nhưng tình yêu không chỉ có “hương” mà còn có cả “vị” nữa. Nhiều khi, chỉ chút vị mặn mòi của mồ hôi trên làn da người yêu cũng đủ để đánh thức trong ta niềm khao khát khôn nguôi. Ram Krisna Singh là một kẻ “khát tình” trong khúc haiku sau đây:

Craving for a lick

of the salt on her skin

to become one with her

Khao khát nếm vị muối

trên làn da nàng

muốn giao hòa thành một

Raymond Roseliep, một thầy tu Hoa Kỳ và vừa là bậc thầy “erotic haiku” rất tài hoa đã dám viết:

Her breath

and the rose

caught in my mouth

Hơi thở nàng

và đóa hồng

mắc kẹt trong miệng tôi

Và haijin Steve Mount là một người tình tham lam:

Tasting salty wet

still thirsting, my tongue pursues

her hot sweat again

Nếm vị mặn vẫn khát

lưỡi tôi lại đi tìm

giọt mồ hôi nóng bỏng

Omond thật tự do trong rừng sâu khi chỉ có hai người yêu nhau:

In forest we taste

each other in evergreens

hot dews on the moss

Trong rừng sâu

nếm giọt sương ấm của nhau

trên thảm rêu

Lisa Marie Darlington, nữ haijin từ Vương Quốc Anh, rất thích thú khi được người yêu nghịch ngợm “rong chơi” trải nghiệm vị mặn mòi trên làn da của mình:

Your tongue walks

heavily, up against

the surface of my naked skin

Lưỡi anh rong chơi

trên làn da em

trần trụi

Và hai tâm hồn thấu cảm trong im lặng:

Speaking in tongue

my body understands

every words

Lưỡi anh chuyện trò

thân em thấu cảm

từng lời của anh

Nhiều khi, lời yêu đương cần phải lặng để nhường tiếng cho đôi bàn tay quý báu của chúng ta đã được Trời Đất và Mẹ Cha ban tặng. Jack Jordan cảm thấy những ngón tay người yêu đang lướt trên làn da mịn màng như đang mời gọi những sợi dây đàn trong cơ thể cất lên tiếng nhạc thổn thức, tưng bừng:

Your fingers make

music from the instrument

that is me

Những ngón tay anh

gọi cơ thể em - cây đàn

cất lên tiếng nhạc

Nhưng cuối cùng, rồi cũng phải đến lúc toàn bộ hình hài của chúng ta lên tiếng. Ngắm những cành kim ngân quấn quýt, Raymon Roseliep liên tưởng đến sự giao hòa cơ thể:

Our body

honeysuckle

knots

Thân thể chúng ta

cành kim ngân

giao hòa quấn quýt

Và, khi “ngôn ngữ cơ thể” lên tiếng thì mọi ngôn từ khác đều phải im tiếng:

Rocking on the porch

the couple have nothing left

to talk about

Lắc lư ngoài ban công

đôi tình nhân

lặng yên không nói

Lisa Marie Darlington:

Her slender body

curved to the couch

back arched out in pleasure

Thân hình nàng mảnh dẻ

tấm lưng cong ưỡn lên

trong cơn khoái cảm

Và khi đó đôi tình nhân chỉ còn thấy đang đắm chìm trong niềm đam mê hừng hực:

Hot fire

kindling, the passion

that burns like Hell

Lửa tình nóng bỏng

đam mê bốc cháy

lò lửa Địa Ngục

Khi người ta yêu nhau thì nắng mưa, giông bão không còn là vấn đề, mà nhiều khi thiên nhiên còn xúc tác cho cuộc tình thêm ý vị. O. Roben nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vang lên dịu dàng như một bản dạ khúc tiếp sức cho đôi tình nhân vào cuộc tình không có hồi kết:

Awakned vigor

rain on tin roof’s serenade

our storm has no end

Khúc nhạc mưa rơi trên mái

đánh thức sức mạnh đôi ta

trong cơn bão tình bất tận

June O'Reilly lại thấy hạt mưa như cùng ngọn gió xuân đem lại tình yêu:

Rain down into me

enter as the wind my love

spring into my heart

Mưa rơi trên mình

ngọn gió mùa Xuân

đem tình yêu tới

Ruth Yarrow chớp được khoảnh khắc của cuộc tình và nguồn cảm xúc cao trào tột đỉnh của bản giao hưởng tình yêu:

Hoa hồng dại

quằn mình run rẩy

dưới cánh ong bay*

Và đôi môi hé mở của người yêu chợt lóe lên ánh sáng của niềm khoái lạc tựa tia chớp trên bầu trời đêm trong cơn bão tình:

Sâu thẳm

tôi vào trong

và răng nàng hé sang*

Alexis Rotella cảm nhận sự tiếp xúc ấm áp của người yêu:

Lying in the wet grass

him still beating

inside me

Nằm dài trên cỏ ướt

anh vẫn đập

trong em

Thị giác bất lực trong bóng đêm nhưng cần gì, Steve Mount vẫn thấu cảm được dòng điện khoái lạc và nghe được tiếng thổn thức của niềm hạnh phúc:

Hard flesh meets soft flesh

electric arcs of pleasure

in the dark, a cry

Linga gặp Yoni

dòng điện khoái lạc

một tiếng rên trong đêm

Anita Virgil rộn ràng trong tâm hồn khi cảm nhận sự giao hòa nhục thể:

Em đang giữ anh

bên trong em nồng ấm

tiếng chim sẻ vang lừng*

Vâng, hàng ngàn năm trước khi nữ haijin hiện đại Anita Virgil cảm nhận được tiếng chim sẻ vang lừng, rộn ràng trong tim mình thì Kama Sutra (Dục Kinh Ấn Độ) cổ đại đã mô tả “con chim sẻ” nô đùa như thế nào và sẽ còn nô đùa trong vĩnh cửu mai sau để loài người tồn tại:

Khi Linga nằm trong Yoni

đó là trò chơi của chim sẻ

Niềm hạnh phúc giao hoan vang lên như tiếng ríu rít của những con chim sẻ đang rộn ràng trong tâm hồn chúng ta, là “chỉ dấu sinh tồn” cho ta biết rằng mình vẫn đang còn được tồn tại trên Trái Đất và trong Cõi Đời nhiều bất hạnh, đau thương này.

Để kết thúc, người viết bài này xin mượn lời Alexis Rotella khi bình khúc haiku của Anita Virgil về bài ca chim sẻ, khúc haiku đã đạt giải nhất trong cuộc thi “Erotic Haiku” toàn thế giới năm 1983 do Tạp Chí Haiku “Cicada” (Con ve sầu) tổ chức:

Yoni và Linga, Âm và Dương, Tiểu ngã và Đại ngã – cả vũ trụ này há chẳng phải đã sinh ra từ ‘cái trò chơi chim sẻ’ ấy hay sao?”.

L. V. T

CHÚ THÍCH

Các bản haiku tiếng Việt trong bài này được tác giả bài viết dịch qua bản tiếng Anh. Kính mong quý thi hữu thông thạo Anh ngữ và Nhật ngữ kiểm tra và cho ý kiến chỉ giáo. Các bài haiku (*) chưa tìm thấy nguyên bản tiếng Anh, xin mạn phép sử dụng bản dịch của các tác giả khác.

Giới thiệu một số haijin được trích dẫn trong bài viết:

Ishibani Hideno (1909-1947): Một nữ haijin hiện đại nổi tiếng của Nhật Bản.  Đã thọ giáo các nữ bậc thầy haiku như Kyoshi và Akiko Yosano. Bà kết hôn với nhà phê bình haiku nổi tiếng Kenkichi Yamamoto (1907-1988). Hideno mất ở Tokyo năm 1947 vì bệnh lao và vết thương chiến tranh. Tác phẩm duy nhất của bà là tuyển tập “Sakura Koku” (Cherry Blossom Deep) đạt giải thưởng “Kawabata Bosha”. Haiku của bà đã được Makoto Uedo dịch ra tiếng Anh trong tác phẩm “Haiku by Japanese Women”

Ruth Yarrow: Haijin Hoa Kỳ, sống ở Rainier Valley. Bà là Thạc Sỹ về Sinh Thái Học ở Đại Học Cornell. Ruth Yarrow sáng tác haiku từ những năm 1070’ khi bà giảng dạy ở Đại Học Stockton (New Jersey). Bà là tín đồ của giáo phái Quaker, là nhà hoạt động vì hòa bình và thành viên phong trào “Thầy Thuốc vì Trách Nhiệm Xã Hội” (Physicians for Social Responsibility). Ruth Yarrow quan niệm:” Sáng tác haiku là để tự trau dồi nhận thức”. Sáng tác nhiều khúc “love haiku/erotic haiku” nổi tiếng nhưng bà cho rằng: “Thật nguy hiểm khi viết quá nhiều “sweet haiku”, nếu không nghĩ đến thực tế là một cá nhân không thể bao quát được toàn bộ kinh nghiệm của con người” (There’s a danger writing a lot of sweet haiku, to not think one can’t encompass the whole human experience).

Chiyo-ni (1703-1775): Một trong những nữ haijin lớn nhất của Nhật Bản. Sinh trưởng trong một gia đình làm giấy, bà thọ giáo cùng hai môn đệ của Basho và trở thành một ni cô đồng thời là một bậc thầy nổi tiếng về renga, hội họa. Bà xuất bản hai tuyển tập: “Chiyo-ni Kushu” (Chiyo-ni’s Haiku Collection: Tuyển Tập Haiku của Chiyo-ni) và “Matsu no Koe” (Voice of the Pine: Tiếng Vọng của Rừng Thông).

Ram Krisna Singh (1950-): Sinh năm 1950 tại Ấn Độ, ông là nhà phê bình văn học, nhà thơ đương đại Ấn Độ và là một trong những haijin Anh ngữ xuất sắc. Ông có học vị Thạc Sỹ Văn Học Anh năm 1970 và từ 1993 là Giáo Sư Văn Học Anh.  Các tuyển tập haiku của ông gồm có: “Từng Giọt Đá Cuội” (Every Stone Drop Pebble, 1999), “Những Giấc Mơ Vụn Vặt” (Peddling Dreams, song ngữ Anh/Italia, 2003), “Dòng Sông Trở Lại” (The River Return, 2006), “Cảm Thức & Tĩnh Lặng: Tuyển Tập” (Sense & Silence: Collected Poems, 2010)”, “Tanka và Haiku tuyển chọn” (New and Selected Poems: Tanka and Haiku, 2012), và “Tôi không phải là Đức Chúa Trời và các bài Tanka và Haiku tuyển chọn” (I Am No Jesus and Other Selected Poems: Tanka and Haiku, song ngữ Anh/Crimean Tatar, 2014). Haiku của ông đã được dịch ra 23 thứ tiếng trong đó có: Pháp, Tây ban Nha, Roumanie, Trung Hoa, Serbia, Croatia, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Đức, Bulgarie, Italia và Esperanto (Quốc tế ngữ)…

Alexis Rotella: Nhà thơ Hoa Kỳ gốc Nga, hiện đang sống ở thành phố Slavic (Pennsylvania). Bà tốt nghiệp Đại Học “Five Branches Institute” ở Santaz Cruz và có bằng Thạc Sỹ về Châm Cứu và Dinh Dưỡng của Học Viện “Five Element Acupuncture” ở Maiami, Florida. Là một nhà sáng tác haiku và haiga nổi tiếng nhưng phần lớn thời gian bà dành cho châm cứu và chữa bệnh.  Sáng tác haiku từ những năm 20 tuổi, thơ của bà được in trong nhiều tạp chí trên thế giới và đạt được nhiều giải thưởng haiku quốc tế. Năm 2007, bà đạt Giải thưởng lớn (Grand Prize) trong cuộc thi haiku hàng năm “Kusamakura Annual Contest” (Kumamoto, Nhật Bản) khi cùng chồng du lịch tới Nhật Bản. Bà được công nhận như là một trong những haijin hàng đầu của Hoa Kỳ hiện nay. Kasuo Sato, giáo sư ở Đại học Waseda Tokyo viết “Alexis Rotella là một trong những haijin hiện đại hàng đầu ở Hoa Kỳ. Bà là người bẩm sinh có thể nắm bắt được những khoảnh khắc của thiên nhiên và của con người để sáng tác những khúc haiku. Nếu bà được sinh ra ở Nhật Bản, bà có thể đã là một trong những bậc thầy haiku hàng đầu của Nhật Bản”.

Anita Virgin: Nguyên Chủ Tịch Hiệp Hội Haiku Hoa Kỳ (The Haiku Society of America). Haiku của bà đã được công bố trong nhiều tạp chí và tuyển tập haiku từ 1969. Gần đây, bà bắt đầu sáng tác và công bố các bài tanka. Từ 2004, các tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên mạng Internet.

Raymon Roseliep (1917-1983): Sinh năm 1917 tại Farley (Iowa). Năm 1939, Raymon Roseliep tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương sau đó nhận bằng Thạc Sỹ Văn Chương tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ (1948). Năm 1954, ông nhận bằng Tiến Sỹ Văn Học Anh ở Đại Học Nostre Dame. Raymon Roseliep được thụ phong linh mục năm 1943 tại Nhà Thờ Raphael’s Cathedral, Dubuque, Bang Iowa. Ông đã được Giải Thưởng Harold G. Henderson của Hiệp Hội Haiku Hoa Kỳ (Haiku Society of America: HAS) vào các năm 1977 và 1982. Là linh mục công giáo sáng tác haiku, Raymon Roseliep để lại một gia tài haiku đồ sộ. Dù là một tu sỹ, ông không hề thấy có gì mâu thuẫn khi sáng tác “love haiku”: “Haiku tình yêu giúp tôi cảm thấy tràn trề sức sống, trẻ trung, tỉnh táo; và luôn luôn thấy rằng đó là những gì sâu sắc và thiêng liêng nhất trong tất cả chúng ta” (It keep me alive and young and remembering; and always with feelings that are deepest and most sacred in all of us).

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3566
mod_vvisit_counterHôm qua7289
mod_vvisit_counterTất cả2128241
Hiện có 324 khách Trực tuyến

Quảng Cáo