Thơ Haiku đeo nặng suy tư- Lý Viễn Giao

Thơ Haiku ngày càng được nhiều người tìm đến có lẽ bởi đặc điểm ngắn gọn của nó. Trong thời đại mà mọi lĩnh vực đời sống đều vận hành với tốc độ cao, ít ai có điều kiện và nghị lực để thưởng thức những tác phẩm dài, dẫu cho đó là văn chương. Ngắn gọn nhưng không gây nhàm chán, nhạt nhèo thì hẳn nhiên phải hàm súc rồi. Những con chữ tích hợp trong một khúc thơ càng gợi nhiều, gợi đa chiều, sẽ nâng tầm giá trị của thơ lên càng cao. Với một số lượng từ rất hạn chế, người làm thơ tài ba có thể gửi vào đấy ý tưởng lớn mang tính định hướng cho đời sống xã hội và tình cảm con người trong mọi ngõ ngách của suy tư. Là thế, nhưng thơ Haiku không răn dậy, rao giảng mà chỉ nêu lên thông qua ý tứ hay hình ảnh để người đọc chiêm nghiệm. Bài thơ không đề xuất triết lý nhưng độc giả có thể rút ra từ đó, nhào nặn nên châm ngôn cho riêng mình.

alt

Hãy đọc khúc thơ này của tác giả Lê Đình Công :

“Tôi đi về phía hoàng hôn

Ráng chiều rực rỡ

Bình minh đợi phía bên kia”

Ta có thấy anh nói gì đâu. Chỉ là ba ngắt ý dưới dạng hình ảnh để tạo nên bức tranh toàn cảnh về một người hướng bước phía trời tây tràn đầy ánh sáng , cả ánh sáng hiển hiện và ánh sáng còn đang ẩn mình đợi phía bên kia. Ấy vậy mà anh nói với ta nhiều đấy. Nói về sự tự tin, tự tại đón nhận cái quy luật chắng của riêng ai, chẳng của thứ gì, Vô Thường. Nhưng không chỉ thế mà còn vẽ lên cái bản lĩnh của con người đã đủ nhận chân được quy luật sinh tồn này. Đoạn cuối của con đường không u ám mà sáng đến diệu kỳ cho cả hiện tại và tương lai.

Lại cũng có thể hiểu khúc thơ này gợi mở cho ta nhớ ra những điều tất yếu khác. Nó như tìm ra ánh sáng cuối đường hầm. Nó như niềm vui của Bĩ cực thái lai hay Khổ tận cam lai…

Cùng sử dụng hình ảnh buổi cuối ngày để nói về cuộc đời. Cùng thể hiện sự bình thản, tự tin dẫu đã trải nhiều dâu bể. Thạch Lựu lại viết:

“Đường đời

Chân mỏi

Nắng hoàng hôn”

Cái nắng của hoàng hôn dẫu chẳng chói chang gì, nó không được như cái nắng quái chiều hôm nhưng nhiều khi lại tạo nên vẻ đẹp say lòng.

Đọc khúc Haiku này :

“Tiếng mưa

Rơi trên chiếc lá

Xuyên thủng màu xanh”

(Nguyễn Thánh Ngã)

Tôi sực nhớ tới hai câu luận trong bài thơ Sơn Trà của nhà thơ Nguyễn Khuyến :

穿

Người tự dịch nghĩa :

“Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà” và dịch thơ :

“Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi già”

Dân gian có câu “Mưa dầm ra nước” với hàm ý cả tốt lẫn xấu cho mưa. Mưa đem nước về tưới nhuần để vạn vật sinh sôi nhưng nếu mưa dầm dài dài nước lại biến thành thủy họa. Nguyễn Ngã không trực ngôn như cụ Tam Nguyên nhưng “xuyên thủng màu xanh” thì khác gì “xuyên diệp”. Cách nói này làm ý tứ mềm đi, hình ảnh thơ hơn, nhưng cũng vẫn là cái e ngại về sự đời đen bạc, tình người trắc ẩn mà thôi .

Hai jin Lương Thị Đậm mượn hình ảnh con thuyền thúng để nói về phận người. Chị không gán cho phận con người bằng một từ mặc định nào cả mà chỉ đưa ra hai ngắt ý bằng hình ảnh Thuyền thúng và Phận người. Ngắt ý thứ ba là một hình ảnh động chung cho cả hai ý trên,Tròng trành ! Người quen lái, ngồi thuyền thúng đã ngắc ngư, chao đảo cùng con sóng và bước chèo. Người non tay, sự tròng trành ấy lại càng là những thử thách không nhỏ, khôn lường. Ấy cũng chính là phận người trước sóng gió cuộc đới đấy “Thuyền thúng xoay xoay/ Phận người/ Tròng trành”

Khi nói về bài học đường đời, dân gian có những câu “Chim sợ cành cong” hay “Sợ như gà phải cáo”. Con chim đã một lần gặp bẫy sẽ cứ thấy cành cây có dạng cong cong là dè chừng. Còn chú gà nào một lần được giáp mặt cáo thì chỉ thấp thoáng một cái gì đó cũng đủ giật mình. Người xưa mượn hiện tượng về con vật để nói thay mình như thế. Giản dị thôi nhưng cũng sâu sắc đấy. Khúc Haiku sau đã khiến ta liên tưởng đến tiền nhân :

“Em sợ ngọt

Vì đã say

Bởi mật”

(Kiều Lam)

Cũng là bài học đường đời nhưng óng ả hơn, văn chương hơn và cũng uyên thâm hơn. Không phải chỉ vì nó nói về người. Cái làm ta sợ không khô cứng như cành cây, không dữ dằn như loài cáo. Cái bẫy gài lại là mật để ta đã không phải chỉ thích , mà say. Dân gian có nói một câu răn na ná : “Mật ngọt thì ruồi chét tươi / Những nơi cay đắng là nơi thật thà”, có phải hơi lộ quá không ? Kiều Lam tự sự thôi, cứ như chẳng bảo ai cái gì thế mà như nói với tất cả. Nhẹ nhàng, tế nhị mà sâu sắc.

Đạo Phât dậy con người biết buông, biết xả. Nhủ nhau về điều này người làm thơ lại viết :

“Buông câu

Vẩy chuyện đời

Vào quên”

(Thiện Niệm)

Chỉ cần buông câu đã nói lên động thái của người tìm sự quên lãng bằng một thú vui thanh thản. Ai đã từng một lần tựa gối ôm cần hẳn biết động tác trước lúc buông câu là hất nhẹ đầu cần để mồi rơi đúng vào nơi bỏ thính. Động tác nhẹ ấy mà tác giả so với việc vẩy chuyện đời thì quả là tinh tế. Mồi câu vẩy vào ổ thính còn chuyện đời anh vẩy vào quên. Mượn việc nhỏ gửi gắm ý lớn quả là tài tình. Điều này cũng không lạ lắm bởi anh vốn là một điếu ngư thủ mà.

Người ta tìm đến cửa hàng gỗ để mua sắm, để tìm tòi những nét trạm trổ tinh tế của nghệ nhân làng mộc. Ngọc Căn thì khác, qua khúc thơ :

“Cửa hàng gỗ

Nghĩa địa

Rừng”

Ta thấy anh không phải thế. Thay vì bị thu hút bởi vẻ đẹp của các sản phẩm để vui, anh lại đau lòng nhìn mỗi đồ vật như một nấm mồ của cây, cửa hàng là nghĩa địa của rừng. Nỗi niềm đau đáu này là cách phản ứng tế nhị nạn phá rừng, là hình thức gián tiếp truyền cảm ứng bảo vệ môi trường cho mọi người bằng thơ.

Có hay không hiện tượng hiền tài chịu đìu hiu ẩn giật? Có hay không chuyện ếch nhái nhẩy lên làm người? Nhiều đấy! Suy tư về những chuyện này của cả xưa và nay, Lê Đăng Hoan chỉ nhẹ nhàng :

“Lúa hết thời

Cỏ lên ngôi

Đời lộn ngược”

đủ cho ta chiêm nghiệm về ta, về đời trong cuộc người.

Đọc đến ngắt ý thứ ba trong khúc Haiku này :

“Đau khổ về đây

Ta sẽ trả thù

Bằng nụ cười độ lượng”

(Lê Vũ)

chắc nhiều người phải ngạc nhiên về cách trả thù của tác giả. Nó nâng ý nghĩa của lòng khoan dung lên tới tầm, nâng tính nhân văn đạt đủ độ. Đức Phật nêu tình huống cho các đồ đệ rằng nếu có người làm điều không tốt với mình thì nên chọn động thái dừng lại, tiến tới hay bước qua? Dừng lại là để tìm cách đối phó. Tiến tới là để hành động đáp trả. Còn bước qua là coi như không có gì. Và Phật khuyên nên hành sử theo cách thứ ba ! Khúc thơ trên cho thấy chẳng phải chỉ bước qua mà còn vui vẻ bước qua nữa kia. Quả là một cách hóa giải sự việc thật cao thượng phải không ?

Những uẩn khúc, những nỗi niềm hàm súc trong một bài thơ đôi khi không bình nổi thành lời mà chỉ biết nó rồi để suy ngẫm mà thôi. Một vài phiến khúc Haiku sau đây là những bài thơ như thế :

“Giọt thời gian

Những vì sao cũ

Rưng rưng con người”

(Đinh Trần Phương)

“Tự nguồn

Đáy mắt

Mùa xuân”

(Phùng Gia Viên)

Người viết gieo suy tư vào thơ. Người đọc cảm nhận thơ để suy tư. Thường hai luồng đó là đồng nhất nhưng đôi khi cũng có sự vênh lệch. Hay gặp nhất là suy tư của độc giả rộng hơn hay hẹp hơn tác giả. Mức độ rộng hẹp, nông sâu của suy tư lệ thuộc nhiều yếu tố, trong đó bao gồm nhân sinh quan, thế giới quan … và cả cá tính, năng lực nữa. Với thơ Haiku, đặc tính súc tích của nó lại càng dễ tạo ra khả năng thiếu đồng nhất giữa đôi bên. Với cách hiểu này, xin các tác giả có trong bài viết hãy bước qua nếu có chuyện đó xẩy ra.

LVG

Một thế giới bất trắc- Lê Văn Truyền

alt

the new calendar!

as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko

Michael R. Burch phỏng dịch

quyển lịch mới

như nói cùng ta

liệu ngày mai có chắc …
Lê Văn Truyền dịch

Mỗi khi đón chào năm mới, ta thường háo hức bóc tờ lịch đầu tiên với bao niềm hy vọng vào một năm sẽ đem lại cho ta những niềm vui mới, hạnh phúc mới như lời chúc “Happy New Year” vẫn thường nổi bật trên bìa quyển lịch. Thế nhưng tại sao phiến khúc haiku của Inahata Teiko lại thể hiện một tâm trạng khắc khoải, bất an … khi bà bóc tờ lịch đầu tiên của năm mới?

Ngày mai có chắc …?” là câu hỏi lửng lơ không lời đáp về một tương lai không chắc chắn, bất định … không chỉ thể hiện tâm trạng của bà mà phần nào là tâm trạng của cả nhân loại trong thời đại này.

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI nền sản xuất công nghiệp toàn cầu phát triển như vũ bão đã để lại những hậu quả kinh hoàng và khó lường cho nhân loại (trái đất nóng lên vì khí thải hiệu ứng nhà kính, tốc độ diệt vong của sinh giới tăng nhanh, môi trường suy thoái khủng khiếp …). Nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội đã phải trăn trở đặt câu hỏi: Với cái đà này, đâu là tương lai của nền văn minh công nghiệp?

Ulrich Beck (1944-2015), nhà xã hội học đương đại người Đức, cho rằng: Trước đây con người là nạn nhân của nền “kinh tế khan hiếm” với ý nghĩa khan hiếm của cải vật chất, trong đó các rủi ro và nguy cơ chủ yếu đến từ các thảm hoạ tự nhiên. Ngày nay, chúng ta đang trở thành nạn nhân của những nguy cơ do chính mình gây ra. Nhân loại đang chứng kiến bước ngoặt của xã hội hiện đại từ một xã hội công nghiệp cổ điển chuyển sang một hình thái mới “xã hội công nghiệp nguy cơ” (risk industrial society) trong đó nhân loại phải đối mặt với cả nhân tai và thiên tai, và ngay cả thiên tai cũng có phần không nhỏ do con người gây ra. Gắn liền với “xã hội công nghiệp nguy cơ” là sự chuyển đổi từ phương thức phân phối sự giàu có và phúc lợi sang phương thức phân phối nguy cơ và rủi ro. Sự giàu có, phúc lợi do nền công nghiệp hiện đại tạo ra được phân phối cho một thiểu số người giàu, quốc gia giàu có trong khi đa số người nghèo, những người yếu thế và các nước nghèo phải gánh chịu phần lớn các nguy cơ và rủi ro như là một thứ “phụ phẩm” (by-products) của nền công nghiệp hiện đại.

Không phải là nhà xã hội học cũng không phải là nhà kinh tế học, với tư cách là thường dân của một nước đang phát triển, tôi thì lại muốn đặt tên cho cái “nền công nghiệp nguy cơ” của Ulrich Beck là “nền công nghiệp tham lam”. Tham lam vì nó chiếm hầu hết phần phúc lợi, sự giàu có trong khi trút hết mọi nguy cơ và rủi ro lên đầu người khác. Hãy nhìn các nước thượng nguồn sông Mekong đã xây 15 nhà máy thủy điện và còn dọa sau 2020 sẽ xây thêm 30 đập thủy điện nữa để khai thác tiềm năng 250.000 MW điện năng phục vụ cho nền công nghiệp của họ, biến đất nước họ thành “cái bình điện khổng lồ” của Đông Nam Á, đẩy nước ta vào thế phải hứng chịu rủi ro nhãn tiền về “những quả bom nước” treo lơ lửng trên đầu và đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa, thủy hải sản, trái cây … nuôi sống hàng chục triệu người sẽ trở thành những “cánh đồng chết” như thế nào! Và đêm 23 tháng 7 năm 2018 mới đây, đập thủy điện Setien Senamnoi trên sông Mekong công suất 410 MW, một “quả bom nước” chứa 5 tỷ mét khối nước, đã nổ ở Attapeu (Nam Lào) chắc chắn không những gieo tai họa nhãn tiền cho người dân địa phương mà nhân dân vùng hạ lưu sông Mekong cũng phải hứng chịu những ảnh hưởng khôn lường.

Ấy thế mà, việc phân bổ nguy cơ và rủi ro cho các nước kém phát triển đôi khi còn được ngụy trang bằng một thuật ngữ kinh tế mỹ miều “đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI: Lưu Foreign Direct Investment) để chuyển những ngành “công nghiệp rủi ro” sang các nước chậm phát triển.

Thế giới hiện đại đang bất ổn vì cũng như sự bất công trong phân phối của cải, phân phối nguy cơ, rủi ro cũng không công bằng. Nói cho ngay, theo suy nghĩ của kẻ viết những dòng này, nạn khủng bố dã man không thể tưởng tượng nổi đang lan tràn như dịch bệnh nhắm vào những nước giàu, ngoài những nguyên nhân về tôn giáo, phần nào còn phản ánh sự bất mãn về thực trạng mất công bằng trong khai thác tài nguyên, trong phân phối của cải, phúc lợi và rủi ro. Hơn thế nữa, chúng ta đang chứng kiến nạn dịch “hội chứng sùng bái giá trị vật chất” ngày càng lấn át các giá trị tinh thần cao đẹp của con người. Lòng trắc ẩn, tâm từ bi đã trở nên khan hiếm, nhường chỗ cho bạo lực và sự dã man trong khi “lòng trắc ẩn chính là nền tảng của mọi đạo đức” (Arthur Schopenhauer, 1788 – 1860, Đức). “Một người từ bi không bao giờ giàu. Nhưng một người giàu, lại không có chút từ bi” (Tục ngữ Trung Quốc).

Câu hỏi lửng lơ trong phiến khúc haiku của Inahata Teiko tuy ngắn gọn nhưng đã phản ánh sâu sắc tâm trạng khắc khoải, bất an thường trực của cá nhân bà với tư cách là một công dân Nhật, một trong những nước có nền công nghiệp phát triển nhất thế giới, nhưng đồng thời cũng là tâm trạng của nhân loại về một tương lai bất định với những bất trắc, nguy cơ và rủi ro không lường trước được.

Trước thực trạng xã hội đáng buồn của nhân loại, Đạt Lai Lạt Ma đã phải lên tiếng thiết tha kêu gọi: “Lòng trắc ẩn không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề của con người. Nó không xa xỉ nhưng rất thiết yếu đối với sự bình an, sự ổn định tinh thần của chúng ta và đối với sự sống còn của nhân loại.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Khi ta lìa đời- Lê Văn Truyền

alt

rồi đến một ngày trong cỏ dại

ta lìa đời

đám mới nở hoa, đám nhú mầm

Santoka (Taneda Shoichi) (1882-1933) Đinh Nhật Hạnh dịch

Sống trên đời ai ai cũng tự hỏi, cuộc sống quanh ta sẽ như thế nào sau khi ta từ trần. Có người sống cuộc đời quá bất công, bất hạnh, cực khổ, nhiều khi phải ngửa mặt lên trời mà kêu than: Sao ông Trời không cho ta chết quách cho rồi để nhẹ nợ trần gian? Nhưng có người lại muốn sống để lưu danh muôn thuở:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858)

Vấn đề là để lại cái gì? Và đời có công nhận và ghi nhận không? Có người muốn lưu danh với bất cứ giá nào mà kẻ đốt đền Herostratos là một trường hợp điển hình. Trong hy vọng sẽ được nổi tiếng, năm 356 trước C.N. Herostratos đã phóng hỏa đốt Đền thờ thần Artemis ở Ephesus, ngôi đền đẹp nhất trong số khoảng ba mươi ngôi đền của người Hy Lạp đương thời và là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Trong tiếng Đức hiện đại, tên riêng của kẻ đốt đền đã biến thành danh từ chung “herostrat” dùng để chỉ những kẻ điên cuồng tìm kiếm danh vọng bằng bất cứ giá nào. Đáng buồn là trong cuộc sống quanh ta hiện nay không hiếm những tên đốt đền như Herostratos. Ngược lại, có rất nhiều người sống cuộc đời hết sức giản đơn mà chỉ sau khi họ từ trần nhân loại mới nhận chân được tất thảy giá trị họ để lại cho đời. Những nhà hiền triết, những nhà tư tưởng lớn, những nhà bác học kiệt xuất là những người như thế.

Bậc thầy haiku Ryokan đã sống một cuộc đời cực kỳ đơn giản. Và ông thấy cái chết của mình chẳng có gì quan trọng để đáng nói, đáng sợ. Hãy sống thuận theo quy luật của Đấng Tạo Hóa: sinh, lão, bệnh, tử. Khi giờ của ta đã điểm, hãy nhẹ nhàng lìa đời, siêu thoát vào cõi hư vô. Hãy nhớ rằng, sau khi ta – dù là một kẻ thứ dân bần hàn, vô danh hay là một đấng thiên tài lừng lẫy, kiệt xuất – từ giã cõi đời, cuộc sống bất diệt quanh ta vẫn tiếp diễn. Tài năng, thiện tâm của con người vẫn sẽ như đám cỏ dại đầy sức sống trong khúc haiku trên đây:

đám mới nở hoa, đám nhú mầm

Ryokan luôn bình tĩnh đón nhận cái chết. Ông luôn điềm đạm tự hỏi:

khi nào thì mình chết?

rắc gieo

những hạt mầm

Đừng sợ cái chết. Trái lại, cái chết sẽ là niềm vui sướng đối với kẻ nào đã sống một cuộc đời chân thật” (Marcus Aurelius). Người khất thực Ryokan, bằng cuộc đời chân thật của mình với con người, với muôn loài và thiên nhiên, bằng những khúc haiku đầy tính thiền như những hạt mầm vẫn nẩy nở, đâm chồi, hai trăm năm sau được tôn vinh là một đại thụ trong dòng thơ haiku đang phát triển tại quê hương ông và trên toàn thế giới. Đêm trước hôm từ trần Ryokan đã từng chia sẻ tâm sự với một người bạn: “Mình cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa. Sẽ thật thích nếu được như lũ chim sẻ hay lũ voi, chết lặng lẽ một mình giữa đồng hoang”.

Khi thầy Lưu Đức Trung tạ thế, kẻ viết bài này đã viếng thầy bức thư pháp do Dương Minh Hoàng thủ bút, khúc haiku sau đây để tiễn thầy về với cõi Vô Ưu:

đời là cõi tạm

nhẹ bước thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt –Hà Nội

SANTOKA TANEDA (1882-1940). Là một trong những nhà thơ haiku hiện đại nổi tiếng nhất và lập dị nhất của Nhật Bản. Ông được cứu khỏi một vụ tự tử khi còn trẻ và sau này trở thành một trong những Thiền Sư Hành Hương đích thật cuối cùng của thế kỷ XX. Thơ haiku của ông thuộc thể tự do cũng như cuộc đời của ông vậy; Ông sử dụng tinh thần của haiku, nhưng không tuân theo số âm tiết và quý ngữ (kigo) của haiku. Có thể đọc haiku của ông bằng tiếng Anh trong tác phẩm “Mountain Tasting: Zen Haiku by Santoka Taneda”, được John Stevens dịch. (Theo Patricia Donegan).

Khiếu hài hước- Lê Văn Truyền

alt

nusubito ni / tori nokosareshi / mado no tsuki

chàng trộm lỉnh rồi

chỉ quên một việc

cửa số còn trăng

Ryokan Taigu (1758 – 1831)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Chúng ta thường có hai thái độ khi phải đối mặt với rủi ro: xem xét sự việc với cái nhìn hài hước, lạc quan hay với cái nhìn bi quan, bi lụy. Robert A Heinlein khuyên: “Hãy đừng là người bi quan; người bi quan thường đúng hơn người lạc quan nhưng người lạc quan vui vẻ hơn – và quan trọng hơn là cả hai đều không thể ngăn được dòng sự kiện đang ập tới”.Bi quan hay lạc quan đều không thể ngăn chặn được những rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của ta.

Tác giả của khúc haiku đầy hài hước trên đây là Ryokan, một haijin - thiền sư sống cuộc đời lãng du cực kỳ đơn giản. Sống một cuộc đời lý tưởng về sự hòa hợp của con người với thiên nhiên, tâm của Ryokan trở nên vô phân biệt. Ông kết bạn với trẻ con cũng như kết bạn với côn trùng, cây cỏ. Ông ngây thơ đến cảm động và tràn đầy lòng từ bi. Một lần, thương mấy cây tre bị kẹt trong túp lều, ông cố tạo một chỗ trống trên mái tranh để cây tre có thể vươn lên đón ánh sáng mặt trời. Thế rồi, chẳng may Ryokan tự đốt cháy chính mái lều của mình. Có giai thoại kể rằng, một buổi tối có tên trộm lẻn vào túp lều của ông dưới chân núi nhưng chẳng tìm thấy gì đáng giá để cuỗm đi. Khi Ryokan quay về, gặp tên trộm ông nói: “Anh đã đi đường xa đến đây thăm tôi, nên tôi chẳng nỡ để anh về tay không. Tôi tặng anh bộ quần áo này”. Nói rồi, ông cởi bộ quần áo đang mặc trên người cho tên trộm. Tên trộm ngẩn người ra nhưng cũng cầm bộ quần áo và biến mất. Đêm hôm ấy, Ryokan trần truồng ngắm trăng.

Nhưng lần này, một đạo chích khác đã lẻn vào túp lều của Ryokan, khoắng đi tất cả những vật dụng nghèo nàn tối cần thiết của ông. Khi phát hiện chàng trộm đã lỉnh rồi và túp lều của mình trống rỗng, thiền sư đành hài hước tự an ủi rằng: may mà trong lúc vội vàng, chàng trộm đã không để ý còn có vầng trăng treo bên cửa sổ túp lều. Ryokan cảm thấy mình thật may mắn vì nếu hắn ta để ý đến vầng trăng thì đêm nay chắc ông không còn ai để bầu bạn.

Hài hước là liều thuốc an thần, giảm đau hiệu nghiệm cho tâm hồn chúng ta trước những tai ương không thể tránh khỏi trong cuộc sống thường nhật. Hài hước đem cho ta cách nhìn sáng suốt và lòng khoan dung trong hoạn nạn. “Khiếu hài hước là vật liệu để ta lấp đầy những ổ gà trên con đường đời gập ghềnh mà ta phải dấn thân mỗi ngày” (Frank Tyger).

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

RYOKAN TAIGU: (1758 - 1831), tên thật Yamamoto Eizo sinh ở làng Izumozaki, tỉnh Echigo (Nhật Bản). Ông rời bỏ gia đình rất sớm và tu tập tại ngôi đền Koshô-ji với thiền sư Kokusen. Khi sư phụ Kokusen mất ông bắt đầu sống cuộc đời khất thực. Ông dành cả cuộc đời để làm thơ, viết thư pháp và đàm thoại với thiên nhiên. Thơ ông rất đơn giản và thường lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Ông rất yêu trẻ con và đôi khi say sưa chơi đùa với trẻ con mà quên cả việc khất thực.  Ông không bao giờ tự nhận mình là “nhà sư” hoặc “nhà thơ”. Thơ ông đầy tính thiền và hài hước. Ryokan sống cuộc đời cực kỳ đơn giản và có rất nhiều giai thoại về lòng nhân từ, lòng vị tha của ông. Ông mất ngày 6 tháng giâng năm 1831. Teshin, người bạn thân của ông cho biết Ryokan từ trần trong tư thế thiền định, từ giã cõi đời như đang trong một giấc ngủ quên. (Nguồn: Wikipedia)

Hạt bụi trần- Lê Văn Truyền

alt

này, bướm đang đập cánh

ta cũng như cậu

chỉ là hạt bụi thôi

Issa Kobayashi

Đinh Nhật Hạnh dịch

Thân phận con người luôn luôn là câu hỏi chúng ta thường đau đáu tìm câu trả lời. Ta từ đâu đến? Và ta sẽ về đâu sau khi chết. Có lên được thiên đường để hưởng thụ những gì ta đã cống hiến (hoặc … hưởng thụ tiếp những gì ta chưa kịp hưởng thụ trên cõi trần thế này) hay về cõi địa ngục để bị đọa đày, trả nợ cho những tội lỗi ta đã gây ra.

Trong Ngày thứ tư Lễ Tro của Kitô giáo bắt đầu cho Mùa Chay trước Lễ Phục Sinh, tín đồ được làm phép xức tro trên trán. Trong Kinh Thánh, sách Sáng thế ký viết: "... Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được sinh ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất". Phật giáo ở Phương Đông, cho rằng nguồn gốc của vạn vật là từ tứ đại: đất, nước, gió, lửa do nhân duyên kết hợp mà thành. Nhà Phật hay dùng cụm từ "thân tứ đại" để chỉ nhục thân của chúng ta. Cả Phật giáo và Kitô giáo đều cho rằng: “Con người sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về với cát bụi”.

Trịnh Công Sơn, chàng nhạc sĩ tài hoa xứ Huế đã thể hiện quy luật sinh diệt này của hai tôn giáo lớn trên thế giới thành một đoạn ca từ rất hay trong bài hát “Cát Bụi”:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

để một mai tôi về làm cát bụi

Cát Bụi – Trịnh Công Sơn

Hai trăm năm trước Trịnh Công Sơn, haijin – thiền sư Issa Kobayashi thì lại thể hiện quan niệm về sinh diệt của Nhà Phật và Kitô giáo trong khúc haiku đầy tinh thần nhân văn trên đây. Ngắm nhìn chú bướm đang đập cánh bay lượn trên những đóa hoa, Issa thì thầm với bướm để gửi đi một thông điệp: dù là một sinh vật nhỏ nhoi, mong manh hay là một thiền sư, ta và ngươi đều như nhau trước Đấng Tạo Hóa. Tất cả chúng ta đều sinh ra từ cát bụi và đều trở về với cát bụi mà thôi.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt –Hà Nội


Hương của tình yêu- Lê Văn Truyền

alt

rainy cottage

after lovemaking

the scent of jasmine tea

Ikuyo Yoshimura

Patricia Donegan dịch


túp lều trong mưa

sau cuộc ái ân

trà nhài hương ngát

Lê văn Truyền dịch


Tôi vẫn thường nghĩ khi người nam và người nữ yêu nhau ở đâu thì ở đó chính là Thiên Đường, là Cõi Bồng Lai trên mặt đất cho dù đấy chỉ là một túp lều rách nát của kẻ bình dân hay là cung điện xa hoa của bậc đại gia, vương giả.

Ikuyo Yoshimura và người yêu vừa trải qua một cuộc yêu trong túp lều dưới mưa. Có thể tiếng rơi của những giọt mưa qua mái lều dột nát và hơi nước ẩm ướt trong túp lều chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc ái ân của hai người. Nhưng chắc chắn trong ký ức của họ, niềm hoan lạc của cuộc yêu lần này sẽ được điểm xuyết và được “đánh dấu” bằng âm điệu đều đều của những giọt mưa rơi làm tăng thêm thi vị cho cuộc tình của họ. Thính giác và khứu giác của họ được cảm xúc hoan lạc của tình yêu mài sắc. Vì vậy, buổi thưởng trà để nghỉ ngơi sau cuộc ái ân trở nên đặc biệt. Ykuyo cảm thấy hương nhài hôm nay ngát hơn thường lệ trong buổi uống trà đặc biệt cùng với người đối ẩm cũng rất đặc biệt này. Và chắc chắn Ykuyo không bao giờ quên những cảm xúc do hương nhài hôm nay mang lại, vì như Jean de Bouffler đã nói: “Hoan lạc rồi cũng sẽ qua đi như đóa hoa rồi sẽ tàn: ký ức từ hương thơm sẽ ở lại”. Đó là nhờ “Mùi hương có khả năng cực kỳ gợi nhớ, nó có thể làm ta nhớ lại những hình ảnh sắc nét như một bức ảnh, đã bị lãng quên từ lâu trong tâm trí ta” (Thalassa Cruso).

Nhưng mùi hương không chỉ đánh dấu và gợi nhớ tình yêu nam nữ. Mùi hương có thể là “chứng nhân” cho mọi tình yêu, trước hết là tình mẫu tử, kể cả khi ta chỉ là một đứa hài nhi. Trong đêm tối, bé sơ sinh vẫn có thể tìm thấy vú mẹ nhờ mùi hương của bầu sữa mẹ mình. Hồi nhỏ, tôi vẫn thấy những em bé dù thiếu sữa mẹ vẫn ngúng nguẩy ngoảnh mặt đi khi được một bà mẹ trong xóm cho “bú nhờ”, chắc là vì không thấy có làn hương của mẹ.

“Những ký ức mạnh mẽ đầu tiên trong đời tôi có lẽ là mùi hương của mẹ tôi, một sự hòa trộn hương thơm của bà và hương thơm của thiên nhiên”, Mary Gaitskill đã viết như vậy.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Con nhện dễ thương- Lê Văn Truyền

alt

trăng rơi xuống

con nhện
giăng tơ hứng trăng

Nguyễn Uyên Trang, 12 tuổi (lớp 7), Hà Nội

Trong ngôi nhà, ngoài gián thì nhện cũng nằm trong danh sách những loài côn trùng bị đa số chúng ta ghét bỏ. Bởi vậy mà nhện thường xuyên là nạn nhân của dép lê và thuốc diệt côn trùng. Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã khuyên đừng bao giờ giết chết những con nhện trong nhà bạn. Mặc dù có hình hài đáng sợ, nhện là một phần quan trọng đối với hệ sinh thái khép kín trong từng gia đình và hầu hết đều là những loài nhện không nguy hiểm và thậm chí rất có ích. Bằng việc tiết một loại tơ khá chắc từ thân mình ra để giăng mạng, nhện tạo ra những cái bẫy để diệt các loài côn trùng biết bay, đặc biệt là ruồi và muỗi, những côn trùng mang vi trùng, virus và ký sinh trùng gây nhiều bệnh lây truyền nguy hiểm chết người.

Suy nghĩ của Nguyễn Uyên Trang, cô bé học sinh 12 tuổi, lớp 7A của Trường phổ thông Gateway (Hà Nội) có lẽ rất khác cách suy nghĩ của nhiều người lớn chúng ta đối với loài nhện. Trong một đêm tha thẩn trước hiên nhà, thấy một chú nhện đang miệt mài giăng tơ dưới ánh trăng, cô bé 12 tuổi bỗng phát hiện ra con vật tuy vẻ ngoài xấu xí nhưng thật đáng yêu làm sao. Chú nhện đang giăng tơ để “hứng trăng”.

Khúc haiku xuất sắc, ngắn gọn (3 / 2 / 4) chỉ gồm có 9 từ nhưng rất tinh tế, bất ngờ, đầy trí tưởng tượng hồn nhiên, phát hiện ra mối liên quan giữa hai hình ảnh tưởng chừng như không liên quan gì với nhau: mặt trăng đang lặn trên bầu trời đêm và con nhện đang cần mẫn, lặng lẽ giăng tấm mạng nhện dưới mặt đất. Bé gái Nguyễn Uyên Trang đặt hai hình ảnh cạnh nhau và qua đôi mắt trẻ thơ phát hiện ra một mối liên quan giữa hai hiện tượng độc lập mà trên thực tế không có mối liên hệ hữu cơ/tất yếu nào cả. Chỉ có trí tưởng tượng bay bổng và tâm hồn trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ mới kết nối được hai hình ảnh độc lập ấy và lý giải được mối quan hệ một cách thật trẻ con, thật dễ thương và lãng mạn: hóa ra vì sợ mặt trăng rơi xuống đất vỡ tan nên chú nhện giăng tấm lưới tơ để hứng trăng như ta đang dang đôi bàn tay để hứng và nâng niu một quả trứng, một bông hoa đang rơi. Ôi, con nhện nhỏ nhoi, tội nghiệp (trông hơi xấu xí) nhưng thật đáng yêu, đang cuống quýt giăng tơ để cứu chị Hằng cho chúng ta trong khi trái tim của chúng ta thì dửng dưng, vô cảm. Vì ta đã quá biết rằng: “trăng lên rồi trăng lặn” là quy luật tự nhiên của đất trời!

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt- Hà Nội

*Một trong 38 bài haiku ưu tú được Ban Giám Khảo bình chọn trong cuộc thi sáng tác haiku trên tranh vẽ chủ đề “Sinh vật sống” năm 2017 – 2018 cho học sinh trung học phổ thông do JAL Foundation (hãng Hàng Không Nhật Bản), Đại Sứ Quán Nhật Bản, Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Hạt mưa mồ côi- Nguyễn Xuân Dương

alt

Xó chợ
Chiếc lon trống
Hạt mưa mồ côi

(Nguyễn Thánh Ngã)

LỜI BÌNH:

Thể loại thơ haiku của Nhật Bản quy định rất chặt chẽ về số từ. Một bài thơ Haiku không vượt quá mười bảy từ. Còn với "đứa trẻ" ở đây chỉ có chín từ! Sự tối giản có thể coi là tận cùng. Chín từ lại được sắp xếp có chủ ý, tăng dần theo nhịp điệu của cảm xúc, theo thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm : hai từ, ba từ, bốn từ...
Bài thơ có tên là "đứa trẻ", nhưng tuyệt nhiên trong chín từ đó, không hề có một từ nào liên quan đến thân phận đứa trẻ. Vì thế, bài thơ rất kín đáo và sâu sắc. Đối với một bài thơ Haiku nói chung, và bài "đứa trẻ" nói riêng, muốn hiểu được một cách cặn kẽ, trước hết ta phải là người đồng sáng tạo với tác giả, hoặc không, ta phải có trí tưởng tượng, sự liên tưởng mạnh mẽ, sự kết nối của ba câu thơ vô cùng ngắn ngủi để giải mã thân phận đứa trẻ.
Tôi cứ mạo muội cảm nhận bài thơ này theo sự rung động, cảm xúc, và cũng phải có sự rung động mãnh liệt của trí tuệ, để giải mã bài thơ với hy vọng mang đến cho người đọc một sự cảm thụ:

“Xó chợ”

Tác giả đã cho ta nhận biết về một địa điểm cụ thể: "xó chợ" - một địa điểm bất an. Cổ nhân đã dạy “đầu đường xó chợ”, tức là một địa điểm chứa chấp những kẻ bất lương trộm cắp, và những người cùng khổ. Còn hơn thế, đó là nơi chứa chấp những thứ rác rưởi hôi thối của cả cái chợ dồn về, phải đợi đến tối những người lao công mới dọn dẹp xong. Vâng, đó là địa điểm "đứa trẻ" đang đứng, hoặc ngồi. Ta đã nhìn thấy ở cái "xó chợ" bất an kia, một "đứa trẻ" gầy gò, xanh xao ốm yếu, quần áo rách nát tả tơi trong một buổi chiều chạng vạng rét mướt thê lương, ngồi bên:

“Chiếc lon trống”

Trống nghĩa là không có gì! "Chiếc lon trống" đã minh chứng rõ ràng đứa trẻ ăn xin với "chiếc lon" để đựng những đồng tiền cáu bẩn, rách nát, có khi cả những mẩu thức ăn dư thừa của người đời. Thế nhưng, từ sáng đến chiều chiếc lon vẫn trống, đồng nghĩa lại một đêm nữa đứa trẻ bụng đói nằm co ro rét mướt ở cái "xó chợ" bất an bẩn thỉu đó...
"Chiếc lon trống" không có đồng xu, đồng hào, hay một mẩu thức ăn. Điều đó đã minh chứng rằng, cuộc đời này đã vơi cạn tình thương và sự lương thiện. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đang tôn vinh những nhà nọ, nhà kia làm từ thiện với số tiền lên đến hàng tỷ đồng. Có phải họ tốt không? Có phải họ thực sự là người lương thiện không, chỉ có lương tâm của họ mới cân đong đo đếm sự lương thiện, lòng hảo tâm của chính mình. Họ làm từ thiện, trước hết là vì chính họ, vì thương hiệu của họ, chắc gì đã vì những đứa trẻ đói khổ, bần hàn đầu đường xó chợ?

Vâng! những đứa trẻ ở cái "xó chợ" ấy, không hề nhận được một xu, một hào, từ những đồng từ thiện hảo tâm ấy. Một "chiếc lon trống": trống tiền, một mảnh đời trống rỗng, một cõi người trống rỗng!
Nhưng như thế, vẫn là chưa hết trong một buổi chiều chạng vạng, trong "xó chợ" âm thầm ấy bỗng nhiên:

“Hạt mưa mồ côi”!

Mồ côi là đơn lẻ, là duy nhất. Nhưng thật quái ác, cái đơn lẻ, cái duy nhất mong manh nhỏ bé đó, bỗng nhiên khuấy động lên trong đứa trẻ một chút hy vọng mong manh. Vâng, cái "hạt mưa mồ côi" ấy đã rơi đúng vào chiếc lon trống, làm vang lên một tiếng động, và đứa trẻ giật mình, chợt nghĩ đã có ai đó bố thí cho nó một đồng xu, đồng hào. Nhưng đứa trẻ chỉ nhận được âm thanh của một hạt mưa mồ côi...

Ôi cái "hạt mưa mồ côi" vô cảm ấy, sao có thể là kẻ đồng lõa với cõi người vô cảm mà hành hạ đứa trẻ khốn khổ đến cùng kiệt!?
Bài thơ khép lại rồi, ta vẫn nhìn thấy nơi "xó chợ" kia, một đứa trẻ gầy gò, ốm yếu xanh xao, áo quần tơi tả ngồi bên "chiếc lon trống" mà trong đó, chỉ có "hạt mưa mồ côi" quái ác đọng lại. Vậy là một đêm nữa, đứa trẻ lại đói rét, lạnh lùng...
Bài thơ chỉ "chín từ" thôi, mà gửi đến cho cõi người một thông điệp đớn đau về sự bần hàn, đói khổ của biết bao đứa trẻ mồ côi không mẹ không cha, nạn nhân của những cuộc ly hôn, vì tình yêu chộp giật của thời hiện đại!
Đọc bài thơ ta mới thấu hiểu tấm lòng nhân ái của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã lớn lao biết chừng nào...

Bài thơ xứng đáng sống mãi trong lòng người đọc, và người yêu thơ bốn phương...

Nguyễn Xuân Dương

...

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh

Lòng nhân từ- Lê Văn Truyền

alt

thương thay

bọ chét lều ta

chúng sẽ gầy thôi

Kyobashi Issa (1763 – 1828)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Bọ chét là một loài ký sinh trùng sống trên da vật chủ là các loài động vật có vú và động vật có lông vũ để hút máu. Thế kỷ XIV, bọ chét nổi tiếng là kẻ đã gieo rắc “cái chết đen” trong lịch sử nhân loại thời trung cổ khi đã làm lan truyền bệnh dịch hạch khắp Châu Á và Châu Âu. Riêng ở Châu Âu, cái chết đen đã cướp đi ba phần tư dân số. Thậm chí, nhiều nhà khoa học còn phân tích lý do tại sao con bọ chét – ký sinh trùng nhỏ bé – có thể làm thay đổi cơ cấu cả nền nông nghiệp và nền kinh tế nước Anh thời đó. Theo các nhà kinh tế, việc mất đi ¾ dân số trong một thời gian ngắn đã làm nước Anh giảm đột ngột nhu cầu lương thực, thực phẩm. Vì vậy, những người nông dân còn sống sót phải chuyển qua chăn nuôi cừu, từ đó nền công nghiệp len dạ của nước Anh đã phát triển và nổi tiếng khắp thế giới từ mấy thế kỷ nay. Có nhà kinh tế học còn hài hước cho rằng thị trường len dạ - một trong những thị trường lớn và nổi tiếng thế giới của nước Anh - được tạo ra do những con bọ chét!

Bọ chét ưa nơi tối tăm, thiếu ánh sáng, phần lớn ẩn náu trong các đám lông tơ, lông vũ của động vật, ở giường ngủ, quần áo của con người ... Bọ chét không phát triển trong môi trường có độ ẩm thấp. Vì vậy, túp thảo am nghèo nàn, dột nát, ẩm ướt, thiếu ánh sáng của Issa chắc chắn là môi trường phát triển lý tưởng của chúng. Và chúng ta nghĩ rằng chủ nhân của túp lều chắc phải chịu đựng bọ chét như những người bạn “bất đắc dĩ”. Nhưng không, với Issa các con bọ chét là những sinh linh gần gũi của ông. Cũng giống như Ryokan nhân từ trong một ngày nắng đẹp đã bắt từng con bọ chét trên người phơi ra ngoài nắng ấm cho chúng được khô ráo. Rồi khi tối đến lại cẩn thận cho chúng bò trở lại sống trên ngực mình. Ryokan viết:

với bọ chét, chấy rận

hay bất cứ côn trùng

của mùa thu ca hát

ngực áo ta chắc là

cánh đồng Musashino

Đinh Nhật Hạnh dịch

Còn hơn cả Ryokan, người dùng cơ thể mình làm nơi trú ngụ cho bọ chét, Kyobashi Issa dù đang sống một cuộc đời nghèo khổ, thiếu thốn, ốm yếu … nhưng ông không thấy tự thương thân mà lại để tâm lo lắng cho đàn bọ chét đáng thương trong túp lều của mình: chúng sẽ không có gì mà ăn và cũng “sẽ gầy” như ông thôi. Đúng rồi, chủ đã gầy yếu thì “vật nuôi” làm sao mà béo tốt được.

Hơn một trăm năm trước, Ryokan và Issa lấy thân mình để nuôi nấng và làm chỗ trú ngụ cho những con bọ chét. Hơn một trăm năm sau thời của Ryokan và Issa, có biết bao người nghèo đang bị hất đổ bát cơm và phải rời khỏi ngôi nhà của mình để dành đất cho những tòa cao ốc, các resort và sân golf. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời đại mà lòng nhân từ đối với kẻ yếu thế đã biến khỏi trái tim của rất nhiều người. Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển như vũ bão hứa hẹn sẽ đến cái thời đại rất gần mà loài người phải sống cộng sinh cùng các thế hệ người máy (robot) với những bộ não nhân tạo và trái tim thép đã được lập trình hàng loạt. Tôi rùng mình, nổi da gà khi nghĩ đến cái ngày định mệnh biết đâu ta phải sống chung với những thế hệ người máy có bộ óc và trái tim được lập trình bởi một “thiên tài vô lương” nào đó. Khi ấy, nhân loại sẽ đi về đâu?

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Cái cuốc đáng thương- Lê Văn Truyền

alt

một cái cuốc

đứng giữa đồng không

nắng thế

Matsuo Shiki

Đinh Nhật Hạnh dịch

Cái cuốc là một trong những nông cụ gắn liền với lịch sử loài người, đặc biệt với lịch sử của các dân tộc Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản … từ niên đại hậu kỳ đá mới (3.500 – 4.000 năm trước C.N.). Với sự xuất hiện các loại cuốc mà thoạt kỳ thủy con người cổ đại chế tác từ đá nham thạch: cuốc đá, nền nông nghiệp dùng cuốc đã ra đời thay cho việc trồng trọt bằng cách chọc lỗ, tra hạt. Đến thời đại kim khí, cái cuốc đá được thay bằng cuốc sắt đem lại năng suất lao động cao hơn nhiều. Ở nước ta, cái cuốc không chỉ là công cụ nông nghiệp phổ biến cho đến thế kỷ XX với hình ảnh người nông dân “vác cuốc ra đồng” mỗi buổi sáng mà còn có thể coi cái cuốc là một trong những thứ “vũ khí” để anh bộ đội cụ Hồ, để các chàng trai cô gái thanh niên xung phong đào ma trận chiến hào trong cuộc chiến Điện Biên Phủ thời kháng chiến chống Pháp và các địa đạo Vĩnh Mốc, Củ Chi và phá núi, bạt rừng để tạo nên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Là công cụ lao động gần như quan trọng nhất trong các công cụ lao động sản xuất nông nghiệp, cái cuốc cùng với cái cày, cái bừa, cái liềm, cái hái ... và con trâu, con bò là “bạn của nhà nông”. Giữa công cụ lao động, gia súc và người nông dân đã hình thành mối quan hệ tình cảm, tinh thần. Người nông dân chăm chút cho cái cuốc, cái cày … những vật vô tri, vô giác và đối xử với chúng như những người bạn có tri giác và tình cảm cũng như họ đã chăm sóc cho con trâu, con bò … cơ nghiệp của nhà nông.

Một buổi trưa hè, thấy người nông dân tạm dừng công việc, nghỉ ngơi trong bóng mát nhưng để quên cái cuốc trên cánh đồng trơ trọi không một bóng cây, dưới cái nắng chang chang, Shiki bỗng thấy động lòng cảm thán, thương cho cho cái cuốc đang phải đứng giữa trời “nắng thế”. Đọc khúc haiku đầy tính nhân văn trên đây của Matsuo Shiki, tôi đồ rằng trước khi trở thành một đại sư haiku nổi tiếng, chắc chắn Shiki đã xuất thân từ một gia đình nông dân truyền thống của Nhật Bản.

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Bông hoa huệ rừng- Lê Văn Truyền

alt

hoa huệ rừng

nhụy tỏa hương

ngấm thơm đôi vú em

Ijima Haruko (1921 – 2000)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Huệ rừng là một loài hoa có nguồn gốc từ Nam Phi (boselie - forest lily) còn có tên là hoa Clivia, mang tên Công nương Clivia, người đã đưa loài hoa hoang dã này về thuần hóa ở nước Anh.

Hàng ngày, trên các trang mạng tràn ngập những lời tiếp thị “có cánh” về các loại nước hoa dành cho phái đẹp. Nào là nước hoa “Happy” của hãng Clinique thể hiện sự tươi vui của một buổi sáng đầy nắng ấm dành cho phái đẹp, được sáng tạo bởi các bậc thầy Jean Claude Delville và Rodrigo Flores Roux. Nào là nước hoa “First” của hãng Van Cleef & Arpels, nước hoa “Salvator Ferragamo pour femme” của hãng mỹ phẩm Salvator Ferragamo được sáng tạo bởi Jacques Cavallier, nước hoa “Chanel No 5” của huyền thoại Mme Coco Chanel … Điều đặc biệt là trong các nhãn hiệu nước hoa hàng đầu thế giới, hương hoa huệ rừng luôn luôn chiếm vị trí chủ đạo ở lớp “hương giữa” trong ba lớp “hương đầu” (top notes), “hương giữa” (heart notes/middle notes) và “hương cuối” (base notes) của thành phần công thức hương liệu một lọ nước hoa. Lọ nước hoa là phụ kiện không thế thiếu trong túi xách của hàng trăm triệu phụ nữ hiện đại trên thế giới. Năm 2016, công nghiệp nước hoa toàn cầu có giá trị khoảng 40 tỷ đô la Mỹ, lớn hơn tổng thu nhập quốc dân một năm của một nước kém phát triển ở Châu Phi. Có những lọ nước hoa giá vài ba ngàn đô la, tương đương thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ vừa qua, ngưỡng thu nhập quốc dân đầu người của một nước đang phát triển. Các hãng mỹ phẩm nổi tiếng thế giới của phương Tây thu lợi nhuận nặng túi mỗi năm nhờ vào một quan niệm ngàn đời của chúng ta, đặc biệt là của cánh đàn ông: “Đã là phụ nữ thì phải đẹp và phải thơm” [sic]. Cũng cần phải nói rằng quan niệm này hiện đang bị các tổ chức nữ quyền trên thế giới phê phán vì mang mầu sắc bất bình đẳng và phân biệt đối xử về giới (gender unequality and discrimination).

Thế nhưng, tất cả những lọ nước hoa sang trọng, đắt tiền, thậm chí còn được vống lên là những “tác phẩm nghệ thuật” (pieces of Art) trên đây đều là sản phẩm nhân tạo.

Ngâm ngợi phiến khúc haiku của Ijima Haruko, ta thấy mặc dù sống trong thế kỷ XX, ông coi thường và không màng đến những hương thơm nhân tạo đó. Đơn giản chỉ cần nhụy bông hoa huệ rừng tỏa hương, vương trên bộ ngực vốn đã thơm tho người đàn bà của riêng mình, ông đã thấy mê ly. Mùi hương tự nhiên của da thịt người yêu hòa trộn với mùi hương tự nhiên của bông hoa huệ rừng sẽ tạo nên thứ hương thơm ngất ngây nhất dành cho riêng ông và thuộc của riêng ông mà không một chuyên gia bậc thầy lão luyện nào của Hãng Clinique, Hãng Salvator Ferragamo, Hãng Chanel hoặc bất cứ một hãng nước hoa nào trên thế giới có thể sáng tạo hoặc “copy” được như họ từng “chém gió” khoe khoang trên những trang quảng cáo bắt mắt về khả năng thâm hậu có thể làm chủ khoa học về mùi hương của họ.

Ở nước ta, tương truyền nhà vua thi sĩ Tự Đức (1829 – 1883) khi vĩnh biệt người cung nữ yêu quý Bằng Phi bạc mệnh đã lặng lẽ “xếp tàn y lại để dành hơi” mà không cho phép những kẻ thuộc quyền chôn y phục của nàng theo thi hài. Vì nhà vua biết rằng: dù là đấng quân vương đầy quyền năng nhưng thi sĩ Tự Đức sẽ không tìm được ai có thể đem lại cho mình mùi hương thân thương ấy của nàng trong suốt quãng đời còn lại của mình. Khi luận bàn về mùi hương, Diane Ackerman trong tác phẩm A Natural History of the Senses (Lịch sử tự nhiên của các giác quan) đã viết, đại ý: Không có gì có thể gợi nhớ ký ức cho ta hơn mùi hương. Mùi hương kích hoạt ký ức của chúng ta giống như đang khơi lên những kho báu đã bị chôn vùi dưới đám cỏ um tùm của thời gian.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Hai giọt nắng tung tăng- Lê Văn Truyền

alt

Sơn nữ gùi nước

bầu ngực trần

giọt nắng tung tăng

Phan Vũ Khánh

Dưới chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò và quyền lực rất lớn trong cộng đồng. Bởi họ là người có chức năng thiêng liêng: sinh ra và nuôi dưỡng các thế hệ tương lai để duy trì và phát triển giống nòi. Trong đời sống xã hội nguyên thủy, lương thực, thực phẩm rất hạn chế, nguồn dinh dưỡng duy nhất cho những đứa bé sơ sinh chỉ là sữa mẹ. Mặt khác, cộng đồng phải đối mặt với nạn “hữu sinh vô dưỡng” do thiếu dinh dưỡng và điều kiện vệ sinh kém nên trong nhận thức của xã hội nguyên thủy, bầu vú của người nữ có giá trị hết sức thiêng liêng. Với nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt ở vùng khí hậu nhiệt đới, tập tục để ngực trần thể hiện sự trân trọng của cộng đồng và sự tự hào của người phụ nữ.

Ở nước ta tập tục đẹp này vẫn được vẫn được một số dân tộc ở Tây Nguyên duy trì cho tới ngày nay. Trong đời sống thường nhật, hình ảnh bầu vú căng tròn xuất hiện khắp mọi nơi, kể cả những nơi linh thiêng nhất (nhà mồ, nhà rông …) một cách tự nhiên như biểu trưng cho nguyện vọng của cộng đồng về sự sinh sôi, nảy nở và phồn thực của con người và giới tự nhiên. Một điển hình là chiếc cầu thang đực - cái đặt trước cửa nhà sàn Tây Nguyên. Bên cạnh cầu thang đực nhỏ bé đơn giản, chiếc cầu thang cái làm từ một thân cây to lớn mang hình một con thuyền đang lướt sóng. Trên bậc cuối cùng của cầu thang có khắc hình hai bầu vú căng tròn thể hiện sự viên mãn, hạnh phúc, phồn thực. Vì vậy, để ngực trần khoe bầu vú của mình là điều tự nhiên, là niềm tự hào của người phụ nữ về thiên chức sinh nở và nuôi dưỡng các thế hệ tương lai cho cộng đồng.

Tự nhiên, tôi lại nghĩ đến nạn dịch “bơm ngực” đang lan tràn trong nhiều cô gái trẻ trong xã hội hôm nay. Các thẩm mỹ viện đang quảng cáo om sòm về các kỹ thuật hiện đại để làm tăng kích thước “vòng một” cho các thanh nữ. Đủ các loại vật liệu được bơm vào ngực của các cô gái trẻ: từ mỡ tự thân, các chất làm đầy tự nhiên và các chất làm đầy nhân tạo (filler) … để các cô có thể “thửa” bầu ngực của mình theo tiêu chuẩn quốc tế của những nữ hoàng nhan sắc hoặc minh tinh điện ảnh một thời như B. B. - Brigitte Bardot, Marylin Monroe … hay các nữ hoàng K-Pop hiện nay đến từ “quê hương của nhân sâm và linh chi” … mà không hề mảy may lo lắng cho thiên chức làm mẹ trong tương lai của mình. Bầu ngực từ hình ảnh biểu trưng linh thiêng cho thiên chức làm mẹ đã trở thành “vật trang trí nhân tạo” trên cơ thể người phụ nữ (đôi khi khá rẻ tiền do các “spa bình dân”, các “spa dạo” cung cấp).

Họa sĩ - Haijin Phan Vũ Khánh, trong một sáng sớm mai Tây Nguyên đã may mắn bắt gặp một sơn nữ đang cõng nước từ suối trở về nhà. Bộ ngực trần sáng lên trong nắng sớm và ánh bình minh đang nhảy múa tung tăng trên bầu ngực khỏe mạnh, phồn thực của nàng. Tôi đoán chắc, có thể trái tim của chàng họa sĩ – nhà thơ lúc ấy cũng nhảy múa không kém những giọt nắng đang nhảy múa kia. Hay là vì trên “điện tâm đồ”, nhịp tim nhà thơ – họa sĩ đang nhảy múa nên chàng thấy ánh nắng cũng như đang nhảy múa?

Nhưng, xin lỗi chàng họa sĩ – haijin tài hoa, bạn của tôi! Nếu tôi được may mắn như bạn trong buổi sớm mai tuyệt trần ấy chắc chắn tôi sẽ thấy trên bầu ngực sơn nữ không phải chỉ hai giọt nắng tung tăng mà là cả hai vầng mặt trời ấm áp, rực rỡ, lung linh.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Tự sự về bài thơ haiku- Lưu Đức Hải

alt

Đêm trăng

tiếng nước

bóng người nhấp nhô.

Khi tôi viết ra mấy câu trên tôi chỉ nghĩ đơn giản là ghi lại những ký ức về những đêm trăng đã đi qua cuộc đời tôi. Đó là các hình ảnh nhấp nhô của bà con nông dân tát nước dưới trăng khuya; là dáng thoăn thoắt của các cô thôn nữ quê tôi gánh nước từ giếng Hung, giếng Kiệt; là dáng chèo nghiêng nghiêng của cô lái đò trên sông; là bóng các bạn nữ cùng trường tắm bên bờ giếng, là cái khỏa chân bên cầu ao của cô hàng xóm đi chơi khuya về... Rồi mỗi âm thanh hay “tiếng nước” gắn với mỗi hình ảnh ở trên cứ từng cặp lần lượt hiện về sao mà thân thương, gần gũi. Tôi rất vui vì hình ảnh đêm trăng của cả vùng nông thôn Việt Nam đã được gói lại trong mấy câu, hay đúng hơn là chỉ trong mấy chữ.

Thế nhưng, khi tôi đọc bài này cho anh Lê Chiêu Phùng, người làng tôi hiện đang sống ở Đồng Hới thì anh cười ầm lên và phán rằng, hai chữ “nhấp nhô” là hình ảnh chàng trai mới lớn thập thò nhìn trộm ai đó tắm dưới ánh trăng, hay cao hơn, sâu hơn là hình ảnh của tình yêu nam nữ... Anh nói khác với những gì tôi nghĩ lúc đầu, nhưng thấy có lý nên tôi gật gù tán thưởng

Tưởng chỉ đến thế là cùng, nào ngờ mới đây trò chuyện với anh Lê Minh Thắng, tác giả tập thơ “Hai mươi bốn chữ cái”, anh cũng là người làng tôi thì tôi rất bất ngời khi nghe anh nói là thích bài này vì 2 từ “Đêm trăng” gợi ra được cái ước mơ có một cuộc sống hòa bình, no đủ, còn mấy từ sau là nỗi khắc khoải, là sự lam lũ, nhấp nhô tìm kiếm từng miếng ăn, nhấp nhô những mái nhà cao, thấp, nhấp nhô trong phân hóa giàu nghèo, nông thôn, thành thị... Thật là thú vị về suy nghĩ và sự liên tưởng của anh.

Và tôi hiểu sâu hơn rằng, thể thơ haiku rất đa nghĩa, có những nghĩa ngoài suy nghĩ của người làm ra nó. Người đọc haiku cũng chính là một nhà thơ haiku.

LĐH

Phẩm hạnh của hoa- Lê Văn Truyền

alt

Sau khi tàn rụng

một đóa mẫu đơn

vẫn giữ dáng hình.

BusonTaraguchi Yosa (1716 – 1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ và cả nhân loại nói chung đều coi hoa là biểu trưng của cái đẹp. Cái đẹp của các loài hoa thường được so sánh với vẻ đẹp của người thiếu nữ nói riêng và phụ nữ nói chung. Hoa, cũng như người đẹp, là đề tài vô tận của văn thơ nhạc họa từ xưa đến nay và mãi mãi sau này. Vẻ đẹp của các loài hoa, dù là loài hoa được chăm sóc vun trồng trong vườn thượng uyển hay là những bông hoa dại chốn đồng hoang, là điều không thể chối cãi. Đã nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp, dù đó là vẻ đẹp thanh tao, rực rỡ hay hoang dã, dữ dội…

Thế nhưng, khúc haiku độc đáo của bậc thầy Buson không như những vần thơ khác nhằm ca ngợi vẻ đẹp hình thức, vẻ đẹp bên ngoài của đóa hoa khi đang hàm tiếu hay lúc mãn khai mà lại biểu đạt một cái nhìn rất thâm trầm, sâu sắc, thấm đẫm tình yêu về vẻ đẹp toát ra từ một đóa mẫu đơn đã tàn rụng. Một đóa mẫu đơn đã tàn rụng vẫn còn đẹp như lúc mãn khai chăng? Không, Buson không mô tả vẻ đẹp bên ngoài của đóa hoa tàn. Nhìn đóa mẫu đơn đã tàn rụng Buson suy ngẫm về dáng hình, cốt cách của đóa mẫu đơn lúc mãn khai rực rỡ nhất. Khúc haiku của Buson gợi người đọc liên tưởng đến hình ảnh người phụ nữ Nhật Bản trong những năm cuối của cuộc đời, tuy nhan sắc đã phôi pha nhưng vẫn còn toát lên cốt cách trang nhã, đẹp đẽ, thanh tao của một thời thiếu nữ. Cảm thụ khúc haiku này, chúng ta không thể không nghĩ về vẻ đẹp tâm hồn không bao giờ tàn phai của những người bà, người mẹ Việt Nam trường tồn qua bao gian khó trong chiều dài lịch sử của dân tộc.

Khúc haiku về đóa mẫu đơn tàn rụng của Buson gửi đến người đọc trong xã hội hiện nay của chúng ta, một xã hội đang “lên đồng” với cái đẹp của các kiều nữ bất kể là cái đẹp mẹ cha ban tặng hay “cái đẹp dao kéo”, một thông điệp quan trọng: nhan sắc chỉ là cái đẹp nhất thời, cốt cách, phẩm hạnh của người phụ nữ mới là cái đẹp vĩnh cửu. Người phụ nữ đẹp nhất là người phụ nữ trong bất cứ nghịch cảnh nào cũng vẫn giữ được phẩm hạnh giống như đóa mẫu đơn kia dù đã tàn, rụng xuống vũng bùn vẫn toát lên dáng vẻ cao quý, thanh tao của mình.

Phẩm hạnh của hoa cũng cao quý như phẩm tiết của người đàn bà và tiết tháo của người quân tử vậy: “Cây chi, cây lan tuy mọc chỗ rừng vắng mà hoa vẫn thơm. Người quân tử theo lẽ phải làm điều hay, tuy gặp cảnh khốn cùng, mà tiết hạnh vẫn không đổi” (Gia Ngữ).

Lê Văn Truyền

CLB Haiku Việt- Hà Nội

Mặt trời độ lượng- Lê Văn Truyền

alt

Chân núi

mặt trời độ lượng

một dãy mồ

Taneda Santoka (1882-1940)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Trong cuộc sống bận rộn hàng ngày, liệu có lúc nào ta để tâm đến một câu hỏi: Trái Đất này, ngôi nhà chung của chúng ta, sẽ như thế nào nếu không có Mặt Trời? Ánh sáng mặt trời - nguồn năng lượng mặt trời - là yếu tố xúc tác cho mọi phản ứng hóa học và quá trình vật lý tạo nên sự sống của vạn vật, của muôn loài và các nền văn minh trên Trái Đất. Không có ánh sáng Mặt Trời, Trái Đất không có sinh vật, không có con người - loài động vật thông minh (Homo sapiens) chúng ta. Khi đó, Trái Đất đẹp đẽ sẽ là một tinh cầu chết, lạnh lẽo, lụi tàn trong bóng tối triền miên, trong một Hố Đen vô biên, vô tận.

Mặt Trời tuy có quyền lực siêu nhiên, quyết định sự sống chết của muôn loài, nhưng sự khác biệt của quyền lực Mặt Trời so với các thứ quyền lực tinh thần và vật chất khác do con người tạo ra dưới ánh Mặt Trời chính là ở chỗ: mặt trời rất công tâm. Từ các bậc vua chúa đến kẻ cùng mạt trong xã hội, sinh ra dưới ánh mặt Trời, đều được hưởng những ân phúc như nhau do mặt trời độ lượng ban phát. Nói theo ngôn ngữ thương mại quốc tế hiện đại, Mặt Trời cấp cho hơn 6 tỷ sinh linh trên Trái Đất cùng một mức “hạn ngạch (quota) ân sủng” như nhau. Anh hùng hay tiểu nhân, vua chúa hay kẻ cùng đinh, người giàu có nứt đố đổ vách sống trong cung điện bằng vàng nguy nga, tráng lệ hay kẻ nghèo hèn cùng cực sống trong túp lều tranh dột nát … chẳng qua là do nhân thế tạo ra chứ không phải do Mặt Trời thiên vị.

Rồi cho đến khi chúng ta từ giã cõi trần, Mặt Trời vẫn mỉm cười công tâm, độ lượng hàng ngày vẫn ấm áp chiếu dọi cho những nấm mồ của mỗi chúng ta nằm cạnh nhau trong bãi nghĩa địa dưới chân núi, dù ta đã từng là người anh hùng vĩ đại hay một kẻ khốn cùng, đã từng là tỷ phú được Forbes xếp hạng là 1 trong 100 người giầu nhất thế giới hay là một kẻ làm thuê thất nghiệp, đã từng là quan tòa thượng thẩm hay là tên tù khổ sai …

Câu nói “dưới ánh mặt trời ai cũng có một chỗ đứng” thật đúng khi ta còn sống và vẫn đúng cả khi ta đã chết. Taneda Santoka đã chuyển hóa ý tưởng minh triết trên đây của dân gian thành một khúc haiku nhẹ nhàng nhưng thật sâu sắc và có phần … dí dỏm. Kính thưa quý vị, chết là … hết chuyện. Vậy nên, xin quý vị đừng tị hiềm nhau sau khi đã chết bằng những thứ hư ảo. Xin hãy đừng nhìn sang bên cạnh mà buồn phiền tại sao nấm mồ của hắn, tấm bia của hắn to hơn của mình. Xin hãy bình tâm, an lạc tận hưởng gió mát, trăng thanh, nắng vàng rực rỡ, tiếng chim lảnh lót mỗi buổi sớm mai, tiếng dế nỉ non trong đêm tối … mà Mặt Trời độ lượng và công bằng đã ban phát cho nấm mồ của ta mỗi ngày.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Hoa bên bàn tiệc- Lê Văn Truyền

alt

Tiệc tan

sót lại trên bàn

bông hoa rũ cánh

Vân Đình

Trong giới quý tộc ngày xưa và trong xã hội phát triển ngày nay, ăn uống không còn đơn thuần là nhu cầu cơ bản để bảo đảm sự sinh tồn, là một trong “tứ khoái” bản năng của con người, mà đã được nâng lên thành nghệ thuật: nghệ thuật ẩm thực. Người ta không chỉ ăn, uống mà nhu cầu tiêu hóa phải đi kèm với nhu cầu nghe (nhạc), nhìn (ngắm hoa) và thưởng thức mùi (khứu giác), vị (vị giác). Nhân danh nghệ thuật, các nhà kinh doanh ẩm thực đã nghĩ ra không biết bao nhiêu tuyệt chiêu để lôi kéo các “thượng đế” đến với nhà hàng của mình không chỉ đơn giản để ăn, uống mà còn để thỏa mãn tất cả các giác quan trời ban cho con người.

Bàn tiệc đương nhiên phải có hoa để thõa mãn thị giác và kích thích vị giác. Các nghệ nhân ẩm thực sắp xếp, trang trí món ăn như những đóa hoa, thậm chí trên đĩa thức ăn còn điểm xuyết những bông hoa thật. Và ở một vài nước Phương Đông, người ta còn nghĩ ra một độc chiêu vô tiền khoáng hậu: bầy biện thức ăn không phải trên bàn tiệc đầy hoa mà trên cả một “tòa thiên nhiên” nõn nà với những bông hoa đặt trên các bộ phận nhậy cảm nhất. Việt Nam ta cũng tỏ ra không kém cạnh, thậm chí còn nổi trội hơn người trong thời đại “hiện đại hóa” và “hội nhập” này. Trong các nhà hàng ở nước ta hiện nay, bên cạnh trang trí các bình hoa, các ông chủ còn tuyển dụng các “bông hoa di động” để phục vụ đám thực khách trọc phú mới nổi nhiều tiền, lắm của.

Rõ ràng, dù chi trả bao nhiêu tiền, dù hoa đẹp đến đâu, thực khách cũng không bao giờ ăn những đóa hoa. Vì vậy, khi tiệc tàn, những bông hoa héo rũ bên những đĩa thức ăn ê hề, vương vãi còn lại. Và, những “bông hoa di động” đáng thương của chúng ta cũng héo rũ không kém sau những trò rững mỡ điên khùng của đám thực khách đã chi bạo cho những cuộc truy hoan. Thông qua hình ảnh những “bông hoa rũ cánh” còn sót lại trên bàn tiệc, khúc haiku của Vân Đình thể hiện một cái nhìn đầy cảm thán đối với bao nhiêu số phận “em gái nhà hàng”, những “bông hoa di động” đáng thương trong xã hội ngày nay của chúng ta.

Lê Văn Truyền

Lòng từ bi- Lê Văn Truyền

alt

"Này bông sen trắng, ta sẽ hái đây

sư ông băn khoăn

nhìn kìa, điệu bộ

Buson Tanaguchi – Yosa (1716 – 1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Lòng từ bi, vị tha, yêu thương và quý trọng sự sống là tinh thần cao đẹp nhất mà hầu hết các tôn giáo thường đề cập trong giáo lý của mình. Tinh thần vị tha theo đạo Phật không dừng lại ở mức độ yêu thương con người mà còn mở rộng ra tất cả muôn loài. Đạo Phật thường được gọi là “Đạo từ bi”, bởi lẽ giáo lý và hành động thiết thực của Phật giáo nhắm mang đến sự an lạc, bình yên cho hết thảy chúng sinh. Theo nhà Phật, chúng sinh được phân chia làm hai loại: chúng sinh hữu tình là tất cả động vật có sinh mạng, bao gồm cả con người, và chúng sinh vô tình là những loài không thuộc các loài chúng sinh hữu tình, ví như cây cỏ. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học trong mấy chục năm gần đây cho thấy hình như giới thực vật cũng có tri giác, tình cảm dù ở những hình thức rất sơ khai. Ingo Swann, môt nhà sinh học trong quyển sách ‘’The Real Story” (Chuyện Có Thật) xuất bản năm 1998 đã viết rằng: “Những nghiên cứu của Backster bắt đầu vào năm 1996 đã gần như tình cờ khám phá rằng thực vật có khả năng tri giác và đáp ứng tự nhiên những cảm xúc của con người ... Những cây cỏ bạn trồng và chăm sóc có thể biết là bạn đang nghĩ gì”.

Thế nên nhà sư trong khúc haiku trên đây đang đứng trước thế lưỡng nan. Thấy bông hoa sen trắng tinh khiết trong hồ sen, sư ông muốn hái để dâng lên cúng dường Đức Phật. Nhưng nghĩ đến đạo từ bi, nhà sư lại băn khoăn không muốn làm đau hoa và sợ phạm giới “sát sinh”, mặc dù trước đó đã hùng hồn cảnh báo đóa sen trắng “ta sẽ hái đây”. Điệu bộ do dự, băn khoăn, mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của nhà sư lúc ấy chắc trông rất buồn cười và khoảnh khắc đáng yêu đã được Buson “ghi hình” trong khúc haiku dễ thương trên đây. Tôi thì cứ nghĩ, nếu Đức Phật thần thông được chứng giám “kịch bản” này chắc hẳn Ngài cũng rất vui lòng khuyên nhà sư hãy để đóa sen trắng được khoe sắc tự nhiên trong hồ sen mà đừng ngắt bông hoa để trưng bày trong đại điện. Đức Phật đã từng dạy rằng sự tôn kính sâu sắc, thành kính nhất là tại tâm chứ không phải bằng sự cúng dường.

Bỗng nhớ lại một sự kiện cách đây vài năm trước ở nước ta. Trong một ngày đẹp trời, quan đầu tỉnh của thành phố nọ hơn 1.000 năm tuổi, vốn được tự hào công bố trước bàn dân thiên hạ là “thành phố hòa bình”, “thành phố xanh”, đã không ngần ngại ra lệnh chặt hạ gần chục ngàn cây xanh, nhiều cây có tuổi đời gần 100 năm, để thực hiện một hợp đồng khủng trồng cây thay thế. Cương quyết đốn hạ gần vạn cây để đổi mới mầu xanh cho thành phố, quan đầu tỉnh được giới “facebooker” cả nước yêu mến tặng cho một “nickname” thật dễ thương “Quan Thay Cây” lưu truyền cho hậu thế.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Như tiếng thở buồn- Hồ An Thạch

alt

"cuối thu gặp lại

sắc vàng tê tái

trận càn heo may"

(Nguyễn Thánh Ngã)

Trong cuộc rong chơi bất tận, Nguyễn Thánh Ngã là nhà thơ bụi bặm nhất. Anh thường làm thơ bằng bất cứ loại giấy gì khi có được, và mau chóng quên đi. Tôi là kẻ "giữ chùa" những bài thơ được ném ra khỏi cuộc chơi, trong đó có nhiều bài thơ hay của kẻ giang hồ thi sĩ họ Nguyễn kia.

Đời người, hưng vượng nhất là mùa xuân. Bao nhiệt huyết đổ dồn vào tuổi xuân, để làm nên sự nghiệp. Khi đến mùa thu của cuộc đời, người ta thường ngồi nhìn lại. Tuy nhiên, dòng chảy cuộc đời mỗi người có khác. Đối với Nguyễn Thánh Ngã thì dòng đời chảy xiết, phải vượt qua bao thác ghềnh, con thuyền không bến lênh đênh. Cho đến cuối thu, do cơ trời đưa đẩy, "người muôn năm cũ" mới bất chợt được gặp lại...

Vâng, "cuối thu gặp lại"...

Thơ haiku chỉ mang tính gợi, nhưng trong lời thơ kín đáo ấy, thầm chứa những tâm sự khó bề sẻ chia.

Định mệnh gì mà cay nghiệt thế?

Ở cái tuổi thu phai, mọi thứ dường như đã an bài, kỷ niệm đã ngủ yên trong tiềm thức. Vậy mà lúc này, bếp tàn tro lạnh lại được khơi dậy! Nói theo Nguyễn Du:"Tu là cội phúc, tình là dây oan", thì chúng ta đã ngầm hiểu rằng, đây là cuộc gặp mà cả hai đều không mong muốn. Vậy mà vẫn xảy ra. Ấy mới là Tạo hóa chơi "khăm" con người!

Không ai khác, người tình xưa đã chôn vùi trong ký ức, bất chợt sống lại bằng xương, bằng thịt giữa "mùa gió heo may đã về". Thật là ảm đạm, thê lương!

Hai mái đầu, ngày xưa là thế, đấng trượng phu "vai năm tấc rộng", "phận gái thuyền quyên "mặt hoa da phấn". Thì nay: "sắc vàng tê tái"!

Một tiếng thở buồn, như cơn gió lắt lay qua cành khô, mà chiếc lá đời người còn dai dẳng, thiết tha đeo bám...

Đã vậy, mà ngọn gió ấy vẫn chưa buông tha lữ khách, " trận càn heo may" một lần nữa, bổ trợ cho cái "tê tái", lại càng "tê tái" thêm, giữa lá cành hoang phế.

Đúng là quy luật "sinh lão bệnh tử" không chừa một ai, và luôn cợt đùa những thân phận nhỏ bé giữa trần ai chua chát này. Nguyễn Thánh Ngã khi làm thơ không nói riêng mình, anh đã nói giùm cho tất cả chúng ta.

Tôi đọc mà rùng mình, bởi cái già đang xồng xộc kéo đến...

Mùa An cư 2018

H.A.T

Ý kiến tại hội ngộ đầu tiên của đại diện các CLB Haiku Việt ở Nha Trang

alt

Cao Ngọc Thắng

CLB Haiku Việt- Hà Nội

BTC phân công tôi trình bày về “Haiku thiếu nhi thế giới” – một đề tài quá sức của tôi và, có lẽ, phạm vi chủ đề chưa mấy phù hợp với cuộc hội ngộ này, một cuộc hội ngộ đầu tiên đại diện những người sáng tác và nghiên cứu haiku ở một số tỉnh thành, tổ chức tại thành phố biển Nha Trang xinh đẹp và mến khách.

Cuộc hội ngộ hôm nay thực sự rất cần thiết và chắc chắn sẽ đọng lại nhiều dấu ấn sâu đậm sau một chặng đường, tuy chưa dài lắm nhưng vừa âm thầm vừa sôi nổi trong các nhóm, các CLB thơ haiku, nhằm cùng nhau thực hiện cuộc tiếp biến thơ thứ ba (thứ nhất là cuộc tiếp biến thơ chữ Hán, đặc biệt là thơ Đường luật, trải dài cả nghìn năm; thứ hai là cuộc tiếp biến thơ phương Tây, nhất là thơ Pháp, từ khi diễn ra sự tiếp xúc văn hóa Đông-Tây, mở ra phong trào Thơ Mới), để đồng thời thỏa mãn cả hai nhu cầu: tiếp thu những tinh hoa của các nền thơ (cũng tức là tiếp thu những tinh hoa của các nền văn hóa) trên thế giới, và không ngừng làm phong phú và đẹp hơn nền thơ của dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống lâu đời.

Thể thơ haiku truyền thống của đất nước Phù Tang được người Việt biết và vận dụng đơn lẻ từ những năm đầu thế kỷ 20. Phải đến đầu thế kỷ 21, việc nghiên cứu, sáng tác, dịch thuật thơ haiku ở Việt Nam mới thực sự được chú ý và lan tỏa nhanh chóng, trở thành trào lưu, đồng thời cũng nhanh chóng hội nhập với sự mở rộng thể thơ haiku ở nhiều nước trên thế giới. Năm nay, CLB Thơ Haiku Việt TP Hồ Chí Minh kỷ niệm 10 năm thành lập. Trong 10 năm vừa qua, CLB thơ haiku đầu tiên này đã có nhiều thành tựu trong sáng tác, đặc biệt là việc đưa thơ haiku vào chương trình giảng dạy ở trường phổ thông và phát triển mạnh phong trào thể hiện thơ haiku bằng thư pháp chữ Việt. Tại cuộc hội ngộ này, chúng ta tưởng nhớ một trong những người có công thúc đẩy trào lưu sáng tác, giảng dạy và sáng lập CLB Thơ Haiku Việt tại TP mang tên Bác Hồ Kính yêu – đó là GS Lưu Đức Trung, một haijin có nhiều bài thơ haiku Việt mẫu mực. Sau đó 2 năm, ở Thủ đô Hà Nội, từ CLB Thơ Hải Thượng, một nhóm nhà thơ, đứng đầu là bác sỹ Đinh Nhật Hạnh, đã nhóm họp thành CLB Thơ Haiku Việt Hà Nội. Mặt mạnh của CLB này, ngoài sáng tác, đã hội tụ đông đảo những người nghiên cứu sâu thể thơ cực ngắn, cụ thể đã tổ chức hai cuộc tọa đàm có tính chuyên nghiệp và đạt kết quả nhất định, có tác dụng thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu thích thơ haiku, trong đó có sự hội tụ của nhóm thơ haiku Khánh Hòa, tiếp đến là nhóm haiku Đất Cảng Hải Phòng, cùng nhiều thành viên khác trong cả nước. Điểm nhấn trong hoạt động của hai CLB Thơ Haiku Việt ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội là việc hằng năm xuất bản Nội san, các tuyển tập sáng tác, các kỷ yếu. Việc làm này không dễ gì có ở hàng trăm CLB Thơ hiện có. Chính đó là động lực để trang web. Haikuviet.com ra đời (từ đầu năm 2017), với số lượng truy cập lớn, tính đến ngày 15-5-2018 lên tới 164.168 lượt người với nhiều mục khác nhau, đặc biệt là sự thu hút hàng trăm tác giả gửi thơ haiku dự thi đợt đầu tiên năm 2017 và tiếp tục cho đợt thi năm 2018. Sự ra đời trang web. haikuviet.com là công lao của nhóm Thơ Haiku Đất Cảng có sự phối hợp, hỗ trợ của CLB Thơ Haiku Việt Hà Nội. Tuy còn khá nhiều điều cần bổ khuyết, song trang web. haikuviet.com, nhất là cuộc thi thơ Haiku Việt lần thứ nhất, cho thấy lượng người quan tâm và yêu thơ haikuviet không ngừng tăng, chứng tỏ lực lượng sáng tác thơ haikuviet là khá lớn, có ý nghĩa không nhỏ trong cuộc tiếp biến thơ thứ ba đang diễn ra sôi nổi. CLB Thơ Haikuviet Khánh Hòa, ngoài một số tuyển tập chung, hầu như các thành viên đã xuất bản những tập thơ haiku cá nhân; về tỷ lệ đây là CLB có tác phẩm riêng cao nhất.

Khái quát tình hình hoạt động của các CLB Thơ Haiku Việt, có thể khẳng định: việc tiếp thu và vận dụng thể thơ cực ngắn từ xứ sở hoa anh đào, những người làm thơ ở Việt Nam rất chủ động, vừa tiếp nhận vừa sáng tạo, đưa tinh thần và hồn Việt vào thơ haiku một cách nhuần nhuyễn, đậm đà, có sắc thái, có nhịp điệu, mang tính cách riêng khi “đứng cạnh” thơ haiku của cộng đồng haijin quốc tế.

Qua đây cũng thấy một thực tế hiển nhiên rằng, trong quá trình tiếp nhận và biến thái, kể cả sáng tác và lý luận-phê bình, một số câu hỏi luôn luôn thường trực: thế nào là một phiến khúc haiku thực thụ?, tiêu chuẩn nào để đánh giá một phiến khúc haiku là hay? Những câu hỏi loại này hiện vẫn đang trên đường ngẫm suy, giống như bất kể thể thơ nào nói riêng và toàn thể nền thơ nói chung. Không dễ gì có câu trả lời tức thì, mà có chăng nữa thì cũng không bao giờ là bất biến. Cái đẹp rất mỏng manh trước sức sáng tạo và thưởng thức

Song, cho dù thế nào chăng nữa, đến thời điểm này, haiku được xác nhận là một thể thơ độc lập ở cấu trúc ngắn (chứ không phải là ở âm tiết), thể hiện ở “tính khoảnh khắc” của sự cảm nhận và biểu hiện, mà ngôn ngữ chỉ là phương tiện cho sự liên tưởng đến cái sâu xa và rộng mở. Cái “khoảnh khắc” của haiku vừa là sự mở đầu vừa là sự kết thúc, để làm nên một phiến khúc hoàn mỹ. Sẽ có ý kiến phản biện, rằng thơ nào mà không có “khoảnh khắc”. Đúng. Nhưng, cái khoảnh khắc ở các thể thơ khác đóng vai trò “khởi đầu” để người thơ triển khai “mạch” thơ cho đến tận cùng cái ý tưởng cần biểu đạt. Cái khác biệt căn bản so với các thể thơ khác là, thơ haiku, (chỉ ba câu hay ba dòng hay ba ý hay ba hình ảnh), rất kiệm lời, tưởng như rất dễ làm, nhưng lại vô cùng khó, càng khó hơn đối với người thưởng lãm nó. Một phiến khúc haiku hiện lên trang giấy, dù chỉ trong chốc lát nhưng thực ra nó đã được nhào luyện không chỉ bằng lao động thực tại mà bằng cả lao động quá khứ, không phải chỉ là kinh nghiệm mà bằng sự thăng hoa của sự “tức thời”. Đọc thơ haiku, kể cả của các nhà thơ truyền thống Nhật Bản cũng như của các nhà thơ hiện đại ngoài Nhật Bản, thấy độ mở của thể thơ haiku là rất lớn. “Độ mở” ấy nằm trên nền “sự tĩnh”, tĩnh từ trong tâm người sáng tạo, đòi hỏi người đọc cũng phải tĩnh. Song, tĩnh mà không tĩnh. Nó nằm ở câu mở đầu và gây bất ngờ ở câu kết, khi “nối” hai câu với nhau. Có được sự logic ấy là do vai trò của câu thứ hai. Ý và hình ảnh của ba câu, nếu tách bạch rất khác nhau, có khi chẳng liên quan gì tới nhau, nhưng đưa chúng vào một cấu trúc nhất định, do tư duy thơ của người thơ, chúng tạo nên một trường cảm nhận hoàn toàn mới mẻ. Cũng biểu tả hạt sương, ở nhiều khoảnh khắc cảm nhận khác nhau, mỗi tác giả lại đem đến cho người đọc “độ rộng” vô cùng tận của vũ trụ không giống nhau. Vì vậy, cũng là những sự vật và hiện tượng, song ở từng thời điểm xác định, ở từng góc nhìn nhất định, ở từng tâm trạng ổn định, ngay cả với một haijin, những sự vật và hiện tượng ấy được biểu cảm hoàn toàn không như chúng vốn có, vì vậy có nhiều phiến khúc haiku liên hoàn trong chuỗi chủ đề, mùa chẳng hạn. Không tuân thủ “tính khoảnh khắc”, người làm thơ haiku rất dễ rơi vào tình thế cạn nguồn sáng tạo.

Người đã từng làm thơ, trải nghiệm nhiều thể thơ khác nhau, thêm một lần thể nghiệm thơ haiku là điều dễ hiểu. Dễ hiểu nhưng không dễ làm. Lại càng không dễ khi làm thơ cho hoặc về con trẻ. Càng khó hơn đối với trẻ em làm thơ haiku. Tôi khâm phục những haijin người lớn làm thơ haiku cho trẻ em, số này chưa nhiều, như anh Lê Đình Công, anh Vũ Tam Huề. Tôi càng khâm phục hơn khi đọc thơ haiku của thiếu nhi, trong nước cũng như quốc tế. Bác Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ rất nhiều thơ của các haijin quốc tế, trong đó không ít thơ haiku của thiếu nhi các nước. Thơ của các em toát ra sự hồn nhiên hết sức trong trẻo, ngây thơ đấy mà không hề đơn giản. Cũng từ đó, chính các em đã phần nào trả lời những câu hỏi: thế nào là một phiến khúc haiku đích thực?, thế nào là một phiến khúc haiku hay? Xuất phát từ tâm hồn trong trẻo và tính chân thực, các em biết chọn thời điểm, góc nhìn thích hợp, tự phát hay tự giác, để thể hiện tâm trạng trong cái “khoảnh khắc” đúng lúc, khiến người đọc phải soi vào đó cho rõ sự vật hay hiện tượng tưởng như đã từng quá biết. Thơ haiku của các em không thấy dấu vết của sự câu nệ bất cứ nguyên tắc nào, cái mà người lớn vẫn thường tranh luận dài dài. Động cơ bên trong của các em duy nhất có một điều – bộc lộ cảm nghĩ của sự quan sát tức thời. Cái tức thời ấy, có thể các em không chuẩn bị cho người đọc sự liên tưởng, nhưng sự tưởng tượng của các em lại dẫn người đọc đến những liên tưởng không ngờ. Nhìn chung là như vậy. Khác với thơ haiku thiếu nhi quốc tế, thơ haiku của thiếu nhi Việt Nam có phần dung dị, chất phác hơn; điều đó nói rằng, tâm hồn của các em rất đằm thắm, rất Việt Nam, bởi các em được “tắm” trong nền thơ truyền thống đậm chất trữ tình của ca dao, của nhịp điệu lục bát, âm-thanh uyển chuyển. Sự hiện diện của thiếu nhi trong trào lưu sáng tác thơ haiku hiện nay ở nước ta là dấu hiệu đáng mừng khi nghĩ tới lực lượng bổ sung sau này trong tiến trình tiếp biến thứ ba của nền thơ đang và sẽ tiếp tục.

Tuy nhiên, không có bất kỳ một thể thơ nào duy nhất độc tôn. Bởi, mỗi thể thơ ra đời (hoặc nhập nội), phát triển đều có vị trí và vai trò độc lập của nó. Vận dụng thể thơ nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh sáng tạo, vào trạng thái tâm lý cụ thể, và nhất là sự triển khai ý-tứ để tạo mạch thơ của mỗi tác giả. Thơ haiku không trực tiếp tải  những ý tưởng lớn, những vấn đề phức tạp. Nếu có sự đúc kết thì thơ haiku cũng chỉ dừng ở chỗ tức thời, thiên về tính chiêm nghiệm, lấy cái tĩnh mà khiến cái động lộ ra (chứ không trực tiếp nói về cái động). Sáng tác hay đọc thơ haiku khó chính là ở điểm này. Cho nên, cảm nhận cái hay của thơ haiku tùy thuộc vào hoàn cảnh, tâm trạng tiếp nhận của từng người thưởng thức cụ thể.

Có một thực tế, thơ Việt Nam, trong đó có cả thơ haiku Việt (mặc dù có thuận lợi hơn về mặt ngôn ngữ), rất khó khăn trong việc chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài. Có lẽ do thơ Việt tính ẩn dụ cao, chữ nhiều nghĩa, nhip-điệu-vần khá phức tạp? Đây là vấn đề cần được người làm thơ haiku Việt chú ý khắc phục. Cho dù đã rất kiệm lời, song không phải không còn sự thừa chữ, hay sử dụng liên từ, giới từ, tính từ chưa thực sự chọn lọc. Những hạt sạn đó thực ra rất dễ khắc phục. Điểm nổi bật trong khoảng mười năm qua là ở sự lớn mạnh nhanh chóng số lượng người quan tâm đến thơ haiku Việt mở rộng ra nhiều địa phương trong cả nước, số lượng thơ haiku Việt sáng tác ngày càng phong phú, đa dạng và có chiều sâu; việc chuyển ngữ, nghiên cứu góp phần không nhỏ cho sự phổ biến thơ haiku rộng rãi.

Ở cuộc hội ngộ đầu tiên này, chúng ta có nhiều hy vọng vào sự phát triển của thơ haiku Việt trong thời gian tới, bởi hướng đi của các CLB rất rõ ràng, nhất quán. Ở Nội san của các CLB, trong các tuyển tập hoặc tập thơ, trong kỷ yếu các tọa đàm về thơ haiku Việt xuất bản những năm qua, đã thể hiện sâu sắc tinh thần đó, cho nên trong trao đổi này tôi không viện dẫn bất cứ một bài thơ, một ý kiến nào để làm minh họa, vì điều đó không cần thiết, mà chỉ bày tỏ mấy ý kiến tản mạn.

Trân trọng cám ơn vì có cuộc hội ngộ này mà tôi có dịp trao đổi. Và, rất mong tiếp tục được hội ngộ ở những địa điểm khác.

Kính chúc các haijin dồi dào sức khỏe !

CNT

Sắc sắc không không- Lê Văn Truyền

alt

yado no haru / nani mo naki koso / nani mo are

Yamaguchi Sodo

in my hut this Spring

there is nothing

there is every thing

mùa xuân này trong lều tôi

không có gì

không thiếu gì

Đinh Nhật Hạnh dịch

Nhà Phật có một khái niệm triết lý sâu sắc là “sắc sắc không không”, nghĩa là “có có không không”. Một cách đơn giản, ý nghĩa của cụm từ “có có không không” diễn tả mối quan hệ biện chứng giữa “không” và “”: có mà không, không mà có. Trong cuộc sống hàng ngày, dưới ánh nắng Mặt Trời, không ai là có tất cả cũng như không ai là không có gì cả. Có hay không chỉ là tương đối. Nhiều khi không có gì tức là có tất cả, và có tất cả lại là không có gì cả. Có hay không và suy rộng ra giàu hay nghèo, sang hay hèn, hạnh phúc hay bất hạnh … phụ thuộc vào cách suy nghĩ của mỗi chúng ta trước cuộc sống.

Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Socrate có câu nói nổi tiếng: "Tôi chỉ biết một điều, là tôi không biết gì cả". Người uyên bác chính là người tự nhận mình là người không biết gì cả, để học hỏi, để trau dồi... Khi tự nhận mình là người “không biết gì”, Socrate là người “biết” rất nhiều. Và cả nhân loại cho đến ngày nay không ai dám bảo Socrate là “người không biết gì”. Đó cũng là một phần của ý nghĩa “sắc sắc không không” trong giáo lý nhà Phật.

Khúc haiku của Yamaguchi Sodo là một ví dụ tuyệt vời về cách nhìn nhận nghịch lý (paradox) đời thường và cách giải quyết nghịch lý một cách minh triết theo quan niệm “sắc, không” của nhà Phật. Yamaguchi Sodo không hề buồn phiền về cái nghèo cùng cực trong túp lều của ông, một túp lều tranh nhỏ bé, đơn sơ, ẩm mốc, dột nát … trong đó hoàn toàn “không có gì”. Niềm vui của nhà thơ khi được đón chào mùa xuân của vạn vật, của đất trời làm ông cảm thấy mình là con người quá giàu có. Ông có tất cả và “không thiếu gì” trong túp lều của ông! Khúc haiku của bậc thầy Yamaguchi Sodo há chẳng cho mỗi chúng ta một bài học thế nào là “tri túc” (biết thế nào là đủ) trong xã hội ngày nay, cái xã hội mà rất nhiều người đang “không thiếu gì”: tiền bạc đếmkhông xuể, của cải đầy nhà, quyền lực và danh vọng ngút trời, vợ đẹp, con khôn, đệ tử và thủ túc hầu hạ cúc cung tận tụy… Những người chỉ ở dưới vài người nhưng ngồi trên đầu cả triệu triệu người. Nhưng rồi … chỉ trong một nháy mắt sa cơ lỡ vận, họ bỗng trở thành người tay trắng: “không có gì”, không còn gì.

LVT

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3511
mod_vvisit_counterHôm qua7289
mod_vvisit_counterTất cả2128186
Hiện có 305 khách Trực tuyến

Quảng Cáo