Hương của tình yêu- Lê Văn Truyền

alt

rainy cottage

after lovemaking

the scent of jasmine tea

Ikuyo Yoshimura

Patricia Donegan dịch


túp lều trong mưa

sau cuộc ái ân

trà nhài hương ngát

Lê văn Truyền dịch


Tôi vẫn thường nghĩ khi người nam và người nữ yêu nhau ở đâu thì ở đó chính là Thiên Đường, là Cõi Bồng Lai trên mặt đất cho dù đấy chỉ là một túp lều rách nát của kẻ bình dân hay là cung điện xa hoa của bậc đại gia, vương giả.

Ikuyo Yoshimura và người yêu vừa trải qua một cuộc yêu trong túp lều dưới mưa. Có thể tiếng rơi của những giọt mưa qua mái lều dột nát và hơi nước ẩm ướt trong túp lều chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc ái ân của hai người. Nhưng chắc chắn trong ký ức của họ, niềm hoan lạc của cuộc yêu lần này sẽ được điểm xuyết và được “đánh dấu” bằng âm điệu đều đều của những giọt mưa rơi làm tăng thêm thi vị cho cuộc tình của họ. Thính giác và khứu giác của họ được cảm xúc hoan lạc của tình yêu mài sắc. Vì vậy, buổi thưởng trà để nghỉ ngơi sau cuộc ái ân trở nên đặc biệt. Ykuyo cảm thấy hương nhài hôm nay ngát hơn thường lệ trong buổi uống trà đặc biệt cùng với người đối ẩm cũng rất đặc biệt này. Và chắc chắn Ykuyo không bao giờ quên những cảm xúc do hương nhài hôm nay mang lại, vì như Jean de Bouffler đã nói: “Hoan lạc rồi cũng sẽ qua đi như đóa hoa rồi sẽ tàn: ký ức từ hương thơm sẽ ở lại”. Đó là nhờ “Mùi hương có khả năng cực kỳ gợi nhớ, nó có thể làm ta nhớ lại những hình ảnh sắc nét như một bức ảnh, đã bị lãng quên từ lâu trong tâm trí ta” (Thalassa Cruso).

Nhưng mùi hương không chỉ đánh dấu và gợi nhớ tình yêu nam nữ. Mùi hương có thể là “chứng nhân” cho mọi tình yêu, trước hết là tình mẫu tử, kể cả khi ta chỉ là một đứa hài nhi. Trong đêm tối, bé sơ sinh vẫn có thể tìm thấy vú mẹ nhờ mùi hương của bầu sữa mẹ mình. Hồi nhỏ, tôi vẫn thấy những em bé dù thiếu sữa mẹ vẫn ngúng nguẩy ngoảnh mặt đi khi được một bà mẹ trong xóm cho “bú nhờ”, chắc là vì không thấy có làn hương của mẹ.

“Những ký ức mạnh mẽ đầu tiên trong đời tôi có lẽ là mùi hương của mẹ tôi, một sự hòa trộn hương thơm của bà và hương thơm của thiên nhiên”, Mary Gaitskill đã viết như vậy.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Con nhện dễ thương- Lê Văn Truyền

alt

trăng rơi xuống

con nhện
giăng tơ hứng trăng

Nguyễn Uyên Trang, 12 tuổi (lớp 7), Hà Nội

Trong ngôi nhà, ngoài gián thì nhện cũng nằm trong danh sách những loài côn trùng bị đa số chúng ta ghét bỏ. Bởi vậy mà nhện thường xuyên là nạn nhân của dép lê và thuốc diệt côn trùng. Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã khuyên đừng bao giờ giết chết những con nhện trong nhà bạn. Mặc dù có hình hài đáng sợ, nhện là một phần quan trọng đối với hệ sinh thái khép kín trong từng gia đình và hầu hết đều là những loài nhện không nguy hiểm và thậm chí rất có ích. Bằng việc tiết một loại tơ khá chắc từ thân mình ra để giăng mạng, nhện tạo ra những cái bẫy để diệt các loài côn trùng biết bay, đặc biệt là ruồi và muỗi, những côn trùng mang vi trùng, virus và ký sinh trùng gây nhiều bệnh lây truyền nguy hiểm chết người.

Suy nghĩ của Nguyễn Uyên Trang, cô bé học sinh 12 tuổi, lớp 7A của Trường phổ thông Gateway (Hà Nội) có lẽ rất khác cách suy nghĩ của nhiều người lớn chúng ta đối với loài nhện. Trong một đêm tha thẩn trước hiên nhà, thấy một chú nhện đang miệt mài giăng tơ dưới ánh trăng, cô bé 12 tuổi bỗng phát hiện ra con vật tuy vẻ ngoài xấu xí nhưng thật đáng yêu làm sao. Chú nhện đang giăng tơ để “hứng trăng”.

Khúc haiku xuất sắc, ngắn gọn (3 / 2 / 4) chỉ gồm có 9 từ nhưng rất tinh tế, bất ngờ, đầy trí tưởng tượng hồn nhiên, phát hiện ra mối liên quan giữa hai hình ảnh tưởng chừng như không liên quan gì với nhau: mặt trăng đang lặn trên bầu trời đêm và con nhện đang cần mẫn, lặng lẽ giăng tấm mạng nhện dưới mặt đất. Bé gái Nguyễn Uyên Trang đặt hai hình ảnh cạnh nhau và qua đôi mắt trẻ thơ phát hiện ra một mối liên quan giữa hai hiện tượng độc lập mà trên thực tế không có mối liên hệ hữu cơ/tất yếu nào cả. Chỉ có trí tưởng tượng bay bổng và tâm hồn trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ mới kết nối được hai hình ảnh độc lập ấy và lý giải được mối quan hệ một cách thật trẻ con, thật dễ thương và lãng mạn: hóa ra vì sợ mặt trăng rơi xuống đất vỡ tan nên chú nhện giăng tấm lưới tơ để hứng trăng như ta đang dang đôi bàn tay để hứng và nâng niu một quả trứng, một bông hoa đang rơi. Ôi, con nhện nhỏ nhoi, tội nghiệp (trông hơi xấu xí) nhưng thật đáng yêu, đang cuống quýt giăng tơ để cứu chị Hằng cho chúng ta trong khi trái tim của chúng ta thì dửng dưng, vô cảm. Vì ta đã quá biết rằng: “trăng lên rồi trăng lặn” là quy luật tự nhiên của đất trời!

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt- Hà Nội

*Một trong 38 bài haiku ưu tú được Ban Giám Khảo bình chọn trong cuộc thi sáng tác haiku trên tranh vẽ chủ đề “Sinh vật sống” năm 2017 – 2018 cho học sinh trung học phổ thông do JAL Foundation (hãng Hàng Không Nhật Bản), Đại Sứ Quán Nhật Bản, Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Hạt mưa mồ côi- Nguyễn Xuân Dương

alt

Xó chợ
Chiếc lon trống
Hạt mưa mồ côi

(Nguyễn Thánh Ngã)

LỜI BÌNH:

Thể loại thơ haiku của Nhật Bản quy định rất chặt chẽ về số từ. Một bài thơ Haiku không vượt quá mười bảy từ. Còn với "đứa trẻ" ở đây chỉ có chín từ! Sự tối giản có thể coi là tận cùng. Chín từ lại được sắp xếp có chủ ý, tăng dần theo nhịp điệu của cảm xúc, theo thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm : hai từ, ba từ, bốn từ...
Bài thơ có tên là "đứa trẻ", nhưng tuyệt nhiên trong chín từ đó, không hề có một từ nào liên quan đến thân phận đứa trẻ. Vì thế, bài thơ rất kín đáo và sâu sắc. Đối với một bài thơ Haiku nói chung, và bài "đứa trẻ" nói riêng, muốn hiểu được một cách cặn kẽ, trước hết ta phải là người đồng sáng tạo với tác giả, hoặc không, ta phải có trí tưởng tượng, sự liên tưởng mạnh mẽ, sự kết nối của ba câu thơ vô cùng ngắn ngủi để giải mã thân phận đứa trẻ.
Tôi cứ mạo muội cảm nhận bài thơ này theo sự rung động, cảm xúc, và cũng phải có sự rung động mãnh liệt của trí tuệ, để giải mã bài thơ với hy vọng mang đến cho người đọc một sự cảm thụ:

“Xó chợ”

Tác giả đã cho ta nhận biết về một địa điểm cụ thể: "xó chợ" - một địa điểm bất an. Cổ nhân đã dạy “đầu đường xó chợ”, tức là một địa điểm chứa chấp những kẻ bất lương trộm cắp, và những người cùng khổ. Còn hơn thế, đó là nơi chứa chấp những thứ rác rưởi hôi thối của cả cái chợ dồn về, phải đợi đến tối những người lao công mới dọn dẹp xong. Vâng, đó là địa điểm "đứa trẻ" đang đứng, hoặc ngồi. Ta đã nhìn thấy ở cái "xó chợ" bất an kia, một "đứa trẻ" gầy gò, xanh xao ốm yếu, quần áo rách nát tả tơi trong một buổi chiều chạng vạng rét mướt thê lương, ngồi bên:

“Chiếc lon trống”

Trống nghĩa là không có gì! "Chiếc lon trống" đã minh chứng rõ ràng đứa trẻ ăn xin với "chiếc lon" để đựng những đồng tiền cáu bẩn, rách nát, có khi cả những mẩu thức ăn dư thừa của người đời. Thế nhưng, từ sáng đến chiều chiếc lon vẫn trống, đồng nghĩa lại một đêm nữa đứa trẻ bụng đói nằm co ro rét mướt ở cái "xó chợ" bất an bẩn thỉu đó...
"Chiếc lon trống" không có đồng xu, đồng hào, hay một mẩu thức ăn. Điều đó đã minh chứng rằng, cuộc đời này đã vơi cạn tình thương và sự lương thiện. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đang tôn vinh những nhà nọ, nhà kia làm từ thiện với số tiền lên đến hàng tỷ đồng. Có phải họ tốt không? Có phải họ thực sự là người lương thiện không, chỉ có lương tâm của họ mới cân đong đo đếm sự lương thiện, lòng hảo tâm của chính mình. Họ làm từ thiện, trước hết là vì chính họ, vì thương hiệu của họ, chắc gì đã vì những đứa trẻ đói khổ, bần hàn đầu đường xó chợ?

Vâng! những đứa trẻ ở cái "xó chợ" ấy, không hề nhận được một xu, một hào, từ những đồng từ thiện hảo tâm ấy. Một "chiếc lon trống": trống tiền, một mảnh đời trống rỗng, một cõi người trống rỗng!
Nhưng như thế, vẫn là chưa hết trong một buổi chiều chạng vạng, trong "xó chợ" âm thầm ấy bỗng nhiên:

“Hạt mưa mồ côi”!

Mồ côi là đơn lẻ, là duy nhất. Nhưng thật quái ác, cái đơn lẻ, cái duy nhất mong manh nhỏ bé đó, bỗng nhiên khuấy động lên trong đứa trẻ một chút hy vọng mong manh. Vâng, cái "hạt mưa mồ côi" ấy đã rơi đúng vào chiếc lon trống, làm vang lên một tiếng động, và đứa trẻ giật mình, chợt nghĩ đã có ai đó bố thí cho nó một đồng xu, đồng hào. Nhưng đứa trẻ chỉ nhận được âm thanh của một hạt mưa mồ côi...

Ôi cái "hạt mưa mồ côi" vô cảm ấy, sao có thể là kẻ đồng lõa với cõi người vô cảm mà hành hạ đứa trẻ khốn khổ đến cùng kiệt!?
Bài thơ khép lại rồi, ta vẫn nhìn thấy nơi "xó chợ" kia, một đứa trẻ gầy gò, ốm yếu xanh xao, áo quần tơi tả ngồi bên "chiếc lon trống" mà trong đó, chỉ có "hạt mưa mồ côi" quái ác đọng lại. Vậy là một đêm nữa, đứa trẻ lại đói rét, lạnh lùng...
Bài thơ chỉ "chín từ" thôi, mà gửi đến cho cõi người một thông điệp đớn đau về sự bần hàn, đói khổ của biết bao đứa trẻ mồ côi không mẹ không cha, nạn nhân của những cuộc ly hôn, vì tình yêu chộp giật của thời hiện đại!
Đọc bài thơ ta mới thấu hiểu tấm lòng nhân ái của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã lớn lao biết chừng nào...

Bài thơ xứng đáng sống mãi trong lòng người đọc, và người yêu thơ bốn phương...

Nguyễn Xuân Dương

...

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh

Lòng nhân từ- Lê Văn Truyền

alt

thương thay

bọ chét lều ta

chúng sẽ gầy thôi

Kyobashi Issa (1763 – 1828)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Bọ chét là một loài ký sinh trùng sống trên da vật chủ là các loài động vật có vú và động vật có lông vũ để hút máu. Thế kỷ XIV, bọ chét nổi tiếng là kẻ đã gieo rắc “cái chết đen” trong lịch sử nhân loại thời trung cổ khi đã làm lan truyền bệnh dịch hạch khắp Châu Á và Châu Âu. Riêng ở Châu Âu, cái chết đen đã cướp đi ba phần tư dân số. Thậm chí, nhiều nhà khoa học còn phân tích lý do tại sao con bọ chét – ký sinh trùng nhỏ bé – có thể làm thay đổi cơ cấu cả nền nông nghiệp và nền kinh tế nước Anh thời đó. Theo các nhà kinh tế, việc mất đi ¾ dân số trong một thời gian ngắn đã làm nước Anh giảm đột ngột nhu cầu lương thực, thực phẩm. Vì vậy, những người nông dân còn sống sót phải chuyển qua chăn nuôi cừu, từ đó nền công nghiệp len dạ của nước Anh đã phát triển và nổi tiếng khắp thế giới từ mấy thế kỷ nay. Có nhà kinh tế học còn hài hước cho rằng thị trường len dạ - một trong những thị trường lớn và nổi tiếng thế giới của nước Anh - được tạo ra do những con bọ chét!

Bọ chét ưa nơi tối tăm, thiếu ánh sáng, phần lớn ẩn náu trong các đám lông tơ, lông vũ của động vật, ở giường ngủ, quần áo của con người ... Bọ chét không phát triển trong môi trường có độ ẩm thấp. Vì vậy, túp thảo am nghèo nàn, dột nát, ẩm ướt, thiếu ánh sáng của Issa chắc chắn là môi trường phát triển lý tưởng của chúng. Và chúng ta nghĩ rằng chủ nhân của túp lều chắc phải chịu đựng bọ chét như những người bạn “bất đắc dĩ”. Nhưng không, với Issa các con bọ chét là những sinh linh gần gũi của ông. Cũng giống như Ryokan nhân từ trong một ngày nắng đẹp đã bắt từng con bọ chét trên người phơi ra ngoài nắng ấm cho chúng được khô ráo. Rồi khi tối đến lại cẩn thận cho chúng bò trở lại sống trên ngực mình. Ryokan viết:

với bọ chét, chấy rận

hay bất cứ côn trùng

của mùa thu ca hát

ngực áo ta chắc là

cánh đồng Musashino

Đinh Nhật Hạnh dịch

Còn hơn cả Ryokan, người dùng cơ thể mình làm nơi trú ngụ cho bọ chét, Kyobashi Issa dù đang sống một cuộc đời nghèo khổ, thiếu thốn, ốm yếu … nhưng ông không thấy tự thương thân mà lại để tâm lo lắng cho đàn bọ chét đáng thương trong túp lều của mình: chúng sẽ không có gì mà ăn và cũng “sẽ gầy” như ông thôi. Đúng rồi, chủ đã gầy yếu thì “vật nuôi” làm sao mà béo tốt được.

Hơn một trăm năm trước, Ryokan và Issa lấy thân mình để nuôi nấng và làm chỗ trú ngụ cho những con bọ chét. Hơn một trăm năm sau thời của Ryokan và Issa, có biết bao người nghèo đang bị hất đổ bát cơm và phải rời khỏi ngôi nhà của mình để dành đất cho những tòa cao ốc, các resort và sân golf. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời đại mà lòng nhân từ đối với kẻ yếu thế đã biến khỏi trái tim của rất nhiều người. Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển như vũ bão hứa hẹn sẽ đến cái thời đại rất gần mà loài người phải sống cộng sinh cùng các thế hệ người máy (robot) với những bộ não nhân tạo và trái tim thép đã được lập trình hàng loạt. Tôi rùng mình, nổi da gà khi nghĩ đến cái ngày định mệnh biết đâu ta phải sống chung với những thế hệ người máy có bộ óc và trái tim được lập trình bởi một “thiên tài vô lương” nào đó. Khi ấy, nhân loại sẽ đi về đâu?

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Cái cuốc đáng thương- Lê Văn Truyền

alt

một cái cuốc

đứng giữa đồng không

nắng thế

Matsuo Shiki

Đinh Nhật Hạnh dịch

Cái cuốc là một trong những nông cụ gắn liền với lịch sử loài người, đặc biệt với lịch sử của các dân tộc Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản … từ niên đại hậu kỳ đá mới (3.500 – 4.000 năm trước C.N.). Với sự xuất hiện các loại cuốc mà thoạt kỳ thủy con người cổ đại chế tác từ đá nham thạch: cuốc đá, nền nông nghiệp dùng cuốc đã ra đời thay cho việc trồng trọt bằng cách chọc lỗ, tra hạt. Đến thời đại kim khí, cái cuốc đá được thay bằng cuốc sắt đem lại năng suất lao động cao hơn nhiều. Ở nước ta, cái cuốc không chỉ là công cụ nông nghiệp phổ biến cho đến thế kỷ XX với hình ảnh người nông dân “vác cuốc ra đồng” mỗi buổi sáng mà còn có thể coi cái cuốc là một trong những thứ “vũ khí” để anh bộ đội cụ Hồ, để các chàng trai cô gái thanh niên xung phong đào ma trận chiến hào trong cuộc chiến Điện Biên Phủ thời kháng chiến chống Pháp và các địa đạo Vĩnh Mốc, Củ Chi và phá núi, bạt rừng để tạo nên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Là công cụ lao động gần như quan trọng nhất trong các công cụ lao động sản xuất nông nghiệp, cái cuốc cùng với cái cày, cái bừa, cái liềm, cái hái ... và con trâu, con bò là “bạn của nhà nông”. Giữa công cụ lao động, gia súc và người nông dân đã hình thành mối quan hệ tình cảm, tinh thần. Người nông dân chăm chút cho cái cuốc, cái cày … những vật vô tri, vô giác và đối xử với chúng như những người bạn có tri giác và tình cảm cũng như họ đã chăm sóc cho con trâu, con bò … cơ nghiệp của nhà nông.

Một buổi trưa hè, thấy người nông dân tạm dừng công việc, nghỉ ngơi trong bóng mát nhưng để quên cái cuốc trên cánh đồng trơ trọi không một bóng cây, dưới cái nắng chang chang, Shiki bỗng thấy động lòng cảm thán, thương cho cho cái cuốc đang phải đứng giữa trời “nắng thế”. Đọc khúc haiku đầy tính nhân văn trên đây của Matsuo Shiki, tôi đồ rằng trước khi trở thành một đại sư haiku nổi tiếng, chắc chắn Shiki đã xuất thân từ một gia đình nông dân truyền thống của Nhật Bản.

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Bông hoa huệ rừng- Lê Văn Truyền

alt

hoa huệ rừng

nhụy tỏa hương

ngấm thơm đôi vú em

Ijima Haruko (1921 – 2000)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Huệ rừng là một loài hoa có nguồn gốc từ Nam Phi (boselie - forest lily) còn có tên là hoa Clivia, mang tên Công nương Clivia, người đã đưa loài hoa hoang dã này về thuần hóa ở nước Anh.

Hàng ngày, trên các trang mạng tràn ngập những lời tiếp thị “có cánh” về các loại nước hoa dành cho phái đẹp. Nào là nước hoa “Happy” của hãng Clinique thể hiện sự tươi vui của một buổi sáng đầy nắng ấm dành cho phái đẹp, được sáng tạo bởi các bậc thầy Jean Claude Delville và Rodrigo Flores Roux. Nào là nước hoa “First” của hãng Van Cleef & Arpels, nước hoa “Salvator Ferragamo pour femme” của hãng mỹ phẩm Salvator Ferragamo được sáng tạo bởi Jacques Cavallier, nước hoa “Chanel No 5” của huyền thoại Mme Coco Chanel … Điều đặc biệt là trong các nhãn hiệu nước hoa hàng đầu thế giới, hương hoa huệ rừng luôn luôn chiếm vị trí chủ đạo ở lớp “hương giữa” trong ba lớp “hương đầu” (top notes), “hương giữa” (heart notes/middle notes) và “hương cuối” (base notes) của thành phần công thức hương liệu một lọ nước hoa. Lọ nước hoa là phụ kiện không thế thiếu trong túi xách của hàng trăm triệu phụ nữ hiện đại trên thế giới. Năm 2016, công nghiệp nước hoa toàn cầu có giá trị khoảng 40 tỷ đô la Mỹ, lớn hơn tổng thu nhập quốc dân một năm của một nước kém phát triển ở Châu Phi. Có những lọ nước hoa giá vài ba ngàn đô la, tương đương thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ vừa qua, ngưỡng thu nhập quốc dân đầu người của một nước đang phát triển. Các hãng mỹ phẩm nổi tiếng thế giới của phương Tây thu lợi nhuận nặng túi mỗi năm nhờ vào một quan niệm ngàn đời của chúng ta, đặc biệt là của cánh đàn ông: “Đã là phụ nữ thì phải đẹp và phải thơm” [sic]. Cũng cần phải nói rằng quan niệm này hiện đang bị các tổ chức nữ quyền trên thế giới phê phán vì mang mầu sắc bất bình đẳng và phân biệt đối xử về giới (gender unequality and discrimination).

Thế nhưng, tất cả những lọ nước hoa sang trọng, đắt tiền, thậm chí còn được vống lên là những “tác phẩm nghệ thuật” (pieces of Art) trên đây đều là sản phẩm nhân tạo.

Ngâm ngợi phiến khúc haiku của Ijima Haruko, ta thấy mặc dù sống trong thế kỷ XX, ông coi thường và không màng đến những hương thơm nhân tạo đó. Đơn giản chỉ cần nhụy bông hoa huệ rừng tỏa hương, vương trên bộ ngực vốn đã thơm tho người đàn bà của riêng mình, ông đã thấy mê ly. Mùi hương tự nhiên của da thịt người yêu hòa trộn với mùi hương tự nhiên của bông hoa huệ rừng sẽ tạo nên thứ hương thơm ngất ngây nhất dành cho riêng ông và thuộc của riêng ông mà không một chuyên gia bậc thầy lão luyện nào của Hãng Clinique, Hãng Salvator Ferragamo, Hãng Chanel hoặc bất cứ một hãng nước hoa nào trên thế giới có thể sáng tạo hoặc “copy” được như họ từng “chém gió” khoe khoang trên những trang quảng cáo bắt mắt về khả năng thâm hậu có thể làm chủ khoa học về mùi hương của họ.

Ở nước ta, tương truyền nhà vua thi sĩ Tự Đức (1829 – 1883) khi vĩnh biệt người cung nữ yêu quý Bằng Phi bạc mệnh đã lặng lẽ “xếp tàn y lại để dành hơi” mà không cho phép những kẻ thuộc quyền chôn y phục của nàng theo thi hài. Vì nhà vua biết rằng: dù là đấng quân vương đầy quyền năng nhưng thi sĩ Tự Đức sẽ không tìm được ai có thể đem lại cho mình mùi hương thân thương ấy của nàng trong suốt quãng đời còn lại của mình. Khi luận bàn về mùi hương, Diane Ackerman trong tác phẩm A Natural History of the Senses (Lịch sử tự nhiên của các giác quan) đã viết, đại ý: Không có gì có thể gợi nhớ ký ức cho ta hơn mùi hương. Mùi hương kích hoạt ký ức của chúng ta giống như đang khơi lên những kho báu đã bị chôn vùi dưới đám cỏ um tùm của thời gian.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Hai giọt nắng tung tăng- Lê Văn Truyền

alt

Sơn nữ gùi nước

bầu ngực trần

giọt nắng tung tăng

Phan Vũ Khánh

Dưới chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò và quyền lực rất lớn trong cộng đồng. Bởi họ là người có chức năng thiêng liêng: sinh ra và nuôi dưỡng các thế hệ tương lai để duy trì và phát triển giống nòi. Trong đời sống xã hội nguyên thủy, lương thực, thực phẩm rất hạn chế, nguồn dinh dưỡng duy nhất cho những đứa bé sơ sinh chỉ là sữa mẹ. Mặt khác, cộng đồng phải đối mặt với nạn “hữu sinh vô dưỡng” do thiếu dinh dưỡng và điều kiện vệ sinh kém nên trong nhận thức của xã hội nguyên thủy, bầu vú của người nữ có giá trị hết sức thiêng liêng. Với nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt ở vùng khí hậu nhiệt đới, tập tục để ngực trần thể hiện sự trân trọng của cộng đồng và sự tự hào của người phụ nữ.

Ở nước ta tập tục đẹp này vẫn được vẫn được một số dân tộc ở Tây Nguyên duy trì cho tới ngày nay. Trong đời sống thường nhật, hình ảnh bầu vú căng tròn xuất hiện khắp mọi nơi, kể cả những nơi linh thiêng nhất (nhà mồ, nhà rông …) một cách tự nhiên như biểu trưng cho nguyện vọng của cộng đồng về sự sinh sôi, nảy nở và phồn thực của con người và giới tự nhiên. Một điển hình là chiếc cầu thang đực - cái đặt trước cửa nhà sàn Tây Nguyên. Bên cạnh cầu thang đực nhỏ bé đơn giản, chiếc cầu thang cái làm từ một thân cây to lớn mang hình một con thuyền đang lướt sóng. Trên bậc cuối cùng của cầu thang có khắc hình hai bầu vú căng tròn thể hiện sự viên mãn, hạnh phúc, phồn thực. Vì vậy, để ngực trần khoe bầu vú của mình là điều tự nhiên, là niềm tự hào của người phụ nữ về thiên chức sinh nở và nuôi dưỡng các thế hệ tương lai cho cộng đồng.

Tự nhiên, tôi lại nghĩ đến nạn dịch “bơm ngực” đang lan tràn trong nhiều cô gái trẻ trong xã hội hôm nay. Các thẩm mỹ viện đang quảng cáo om sòm về các kỹ thuật hiện đại để làm tăng kích thước “vòng một” cho các thanh nữ. Đủ các loại vật liệu được bơm vào ngực của các cô gái trẻ: từ mỡ tự thân, các chất làm đầy tự nhiên và các chất làm đầy nhân tạo (filler) … để các cô có thể “thửa” bầu ngực của mình theo tiêu chuẩn quốc tế của những nữ hoàng nhan sắc hoặc minh tinh điện ảnh một thời như B. B. - Brigitte Bardot, Marylin Monroe … hay các nữ hoàng K-Pop hiện nay đến từ “quê hương của nhân sâm và linh chi” … mà không hề mảy may lo lắng cho thiên chức làm mẹ trong tương lai của mình. Bầu ngực từ hình ảnh biểu trưng linh thiêng cho thiên chức làm mẹ đã trở thành “vật trang trí nhân tạo” trên cơ thể người phụ nữ (đôi khi khá rẻ tiền do các “spa bình dân”, các “spa dạo” cung cấp).

Họa sĩ - Haijin Phan Vũ Khánh, trong một sáng sớm mai Tây Nguyên đã may mắn bắt gặp một sơn nữ đang cõng nước từ suối trở về nhà. Bộ ngực trần sáng lên trong nắng sớm và ánh bình minh đang nhảy múa tung tăng trên bầu ngực khỏe mạnh, phồn thực của nàng. Tôi đoán chắc, có thể trái tim của chàng họa sĩ – nhà thơ lúc ấy cũng nhảy múa không kém những giọt nắng đang nhảy múa kia. Hay là vì trên “điện tâm đồ”, nhịp tim nhà thơ – họa sĩ đang nhảy múa nên chàng thấy ánh nắng cũng như đang nhảy múa?

Nhưng, xin lỗi chàng họa sĩ – haijin tài hoa, bạn của tôi! Nếu tôi được may mắn như bạn trong buổi sớm mai tuyệt trần ấy chắc chắn tôi sẽ thấy trên bầu ngực sơn nữ không phải chỉ hai giọt nắng tung tăng mà là cả hai vầng mặt trời ấm áp, rực rỡ, lung linh.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Tự sự về bài thơ haiku- Lưu Đức Hải

alt

Đêm trăng

tiếng nước

bóng người nhấp nhô.

Khi tôi viết ra mấy câu trên tôi chỉ nghĩ đơn giản là ghi lại những ký ức về những đêm trăng đã đi qua cuộc đời tôi. Đó là các hình ảnh nhấp nhô của bà con nông dân tát nước dưới trăng khuya; là dáng thoăn thoắt của các cô thôn nữ quê tôi gánh nước từ giếng Hung, giếng Kiệt; là dáng chèo nghiêng nghiêng của cô lái đò trên sông; là bóng các bạn nữ cùng trường tắm bên bờ giếng, là cái khỏa chân bên cầu ao của cô hàng xóm đi chơi khuya về... Rồi mỗi âm thanh hay “tiếng nước” gắn với mỗi hình ảnh ở trên cứ từng cặp lần lượt hiện về sao mà thân thương, gần gũi. Tôi rất vui vì hình ảnh đêm trăng của cả vùng nông thôn Việt Nam đã được gói lại trong mấy câu, hay đúng hơn là chỉ trong mấy chữ.

Thế nhưng, khi tôi đọc bài này cho anh Lê Chiêu Phùng, người làng tôi hiện đang sống ở Đồng Hới thì anh cười ầm lên và phán rằng, hai chữ “nhấp nhô” là hình ảnh chàng trai mới lớn thập thò nhìn trộm ai đó tắm dưới ánh trăng, hay cao hơn, sâu hơn là hình ảnh của tình yêu nam nữ... Anh nói khác với những gì tôi nghĩ lúc đầu, nhưng thấy có lý nên tôi gật gù tán thưởng

Tưởng chỉ đến thế là cùng, nào ngờ mới đây trò chuyện với anh Lê Minh Thắng, tác giả tập thơ “Hai mươi bốn chữ cái”, anh cũng là người làng tôi thì tôi rất bất ngời khi nghe anh nói là thích bài này vì 2 từ “Đêm trăng” gợi ra được cái ước mơ có một cuộc sống hòa bình, no đủ, còn mấy từ sau là nỗi khắc khoải, là sự lam lũ, nhấp nhô tìm kiếm từng miếng ăn, nhấp nhô những mái nhà cao, thấp, nhấp nhô trong phân hóa giàu nghèo, nông thôn, thành thị... Thật là thú vị về suy nghĩ và sự liên tưởng của anh.

Và tôi hiểu sâu hơn rằng, thể thơ haiku rất đa nghĩa, có những nghĩa ngoài suy nghĩ của người làm ra nó. Người đọc haiku cũng chính là một nhà thơ haiku.

LĐH

Phẩm hạnh của hoa- Lê Văn Truyền

alt

Sau khi tàn rụng

một đóa mẫu đơn

vẫn giữ dáng hình.

BusonTaraguchi Yosa (1716 – 1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ và cả nhân loại nói chung đều coi hoa là biểu trưng của cái đẹp. Cái đẹp của các loài hoa thường được so sánh với vẻ đẹp của người thiếu nữ nói riêng và phụ nữ nói chung. Hoa, cũng như người đẹp, là đề tài vô tận của văn thơ nhạc họa từ xưa đến nay và mãi mãi sau này. Vẻ đẹp của các loài hoa, dù là loài hoa được chăm sóc vun trồng trong vườn thượng uyển hay là những bông hoa dại chốn đồng hoang, là điều không thể chối cãi. Đã nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp, dù đó là vẻ đẹp thanh tao, rực rỡ hay hoang dã, dữ dội…

Thế nhưng, khúc haiku độc đáo của bậc thầy Buson không như những vần thơ khác nhằm ca ngợi vẻ đẹp hình thức, vẻ đẹp bên ngoài của đóa hoa khi đang hàm tiếu hay lúc mãn khai mà lại biểu đạt một cái nhìn rất thâm trầm, sâu sắc, thấm đẫm tình yêu về vẻ đẹp toát ra từ một đóa mẫu đơn đã tàn rụng. Một đóa mẫu đơn đã tàn rụng vẫn còn đẹp như lúc mãn khai chăng? Không, Buson không mô tả vẻ đẹp bên ngoài của đóa hoa tàn. Nhìn đóa mẫu đơn đã tàn rụng Buson suy ngẫm về dáng hình, cốt cách của đóa mẫu đơn lúc mãn khai rực rỡ nhất. Khúc haiku của Buson gợi người đọc liên tưởng đến hình ảnh người phụ nữ Nhật Bản trong những năm cuối của cuộc đời, tuy nhan sắc đã phôi pha nhưng vẫn còn toát lên cốt cách trang nhã, đẹp đẽ, thanh tao của một thời thiếu nữ. Cảm thụ khúc haiku này, chúng ta không thể không nghĩ về vẻ đẹp tâm hồn không bao giờ tàn phai của những người bà, người mẹ Việt Nam trường tồn qua bao gian khó trong chiều dài lịch sử của dân tộc.

Khúc haiku về đóa mẫu đơn tàn rụng của Buson gửi đến người đọc trong xã hội hiện nay của chúng ta, một xã hội đang “lên đồng” với cái đẹp của các kiều nữ bất kể là cái đẹp mẹ cha ban tặng hay “cái đẹp dao kéo”, một thông điệp quan trọng: nhan sắc chỉ là cái đẹp nhất thời, cốt cách, phẩm hạnh của người phụ nữ mới là cái đẹp vĩnh cửu. Người phụ nữ đẹp nhất là người phụ nữ trong bất cứ nghịch cảnh nào cũng vẫn giữ được phẩm hạnh giống như đóa mẫu đơn kia dù đã tàn, rụng xuống vũng bùn vẫn toát lên dáng vẻ cao quý, thanh tao của mình.

Phẩm hạnh của hoa cũng cao quý như phẩm tiết của người đàn bà và tiết tháo của người quân tử vậy: “Cây chi, cây lan tuy mọc chỗ rừng vắng mà hoa vẫn thơm. Người quân tử theo lẽ phải làm điều hay, tuy gặp cảnh khốn cùng, mà tiết hạnh vẫn không đổi” (Gia Ngữ).

Lê Văn Truyền

CLB Haiku Việt- Hà Nội

Mặt trời độ lượng- Lê Văn Truyền

alt

Chân núi

mặt trời độ lượng

một dãy mồ

Taneda Santoka (1882-1940)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Trong cuộc sống bận rộn hàng ngày, liệu có lúc nào ta để tâm đến một câu hỏi: Trái Đất này, ngôi nhà chung của chúng ta, sẽ như thế nào nếu không có Mặt Trời? Ánh sáng mặt trời - nguồn năng lượng mặt trời - là yếu tố xúc tác cho mọi phản ứng hóa học và quá trình vật lý tạo nên sự sống của vạn vật, của muôn loài và các nền văn minh trên Trái Đất. Không có ánh sáng Mặt Trời, Trái Đất không có sinh vật, không có con người - loài động vật thông minh (Homo sapiens) chúng ta. Khi đó, Trái Đất đẹp đẽ sẽ là một tinh cầu chết, lạnh lẽo, lụi tàn trong bóng tối triền miên, trong một Hố Đen vô biên, vô tận.

Mặt Trời tuy có quyền lực siêu nhiên, quyết định sự sống chết của muôn loài, nhưng sự khác biệt của quyền lực Mặt Trời so với các thứ quyền lực tinh thần và vật chất khác do con người tạo ra dưới ánh Mặt Trời chính là ở chỗ: mặt trời rất công tâm. Từ các bậc vua chúa đến kẻ cùng mạt trong xã hội, sinh ra dưới ánh mặt Trời, đều được hưởng những ân phúc như nhau do mặt trời độ lượng ban phát. Nói theo ngôn ngữ thương mại quốc tế hiện đại, Mặt Trời cấp cho hơn 6 tỷ sinh linh trên Trái Đất cùng một mức “hạn ngạch (quota) ân sủng” như nhau. Anh hùng hay tiểu nhân, vua chúa hay kẻ cùng đinh, người giàu có nứt đố đổ vách sống trong cung điện bằng vàng nguy nga, tráng lệ hay kẻ nghèo hèn cùng cực sống trong túp lều tranh dột nát … chẳng qua là do nhân thế tạo ra chứ không phải do Mặt Trời thiên vị.

Rồi cho đến khi chúng ta từ giã cõi trần, Mặt Trời vẫn mỉm cười công tâm, độ lượng hàng ngày vẫn ấm áp chiếu dọi cho những nấm mồ của mỗi chúng ta nằm cạnh nhau trong bãi nghĩa địa dưới chân núi, dù ta đã từng là người anh hùng vĩ đại hay một kẻ khốn cùng, đã từng là tỷ phú được Forbes xếp hạng là 1 trong 100 người giầu nhất thế giới hay là một kẻ làm thuê thất nghiệp, đã từng là quan tòa thượng thẩm hay là tên tù khổ sai …

Câu nói “dưới ánh mặt trời ai cũng có một chỗ đứng” thật đúng khi ta còn sống và vẫn đúng cả khi ta đã chết. Taneda Santoka đã chuyển hóa ý tưởng minh triết trên đây của dân gian thành một khúc haiku nhẹ nhàng nhưng thật sâu sắc và có phần … dí dỏm. Kính thưa quý vị, chết là … hết chuyện. Vậy nên, xin quý vị đừng tị hiềm nhau sau khi đã chết bằng những thứ hư ảo. Xin hãy đừng nhìn sang bên cạnh mà buồn phiền tại sao nấm mồ của hắn, tấm bia của hắn to hơn của mình. Xin hãy bình tâm, an lạc tận hưởng gió mát, trăng thanh, nắng vàng rực rỡ, tiếng chim lảnh lót mỗi buổi sớm mai, tiếng dế nỉ non trong đêm tối … mà Mặt Trời độ lượng và công bằng đã ban phát cho nấm mồ của ta mỗi ngày.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Hoa bên bàn tiệc- Lê Văn Truyền

alt

Tiệc tan

sót lại trên bàn

bông hoa rũ cánh

Vân Đình

Trong giới quý tộc ngày xưa và trong xã hội phát triển ngày nay, ăn uống không còn đơn thuần là nhu cầu cơ bản để bảo đảm sự sinh tồn, là một trong “tứ khoái” bản năng của con người, mà đã được nâng lên thành nghệ thuật: nghệ thuật ẩm thực. Người ta không chỉ ăn, uống mà nhu cầu tiêu hóa phải đi kèm với nhu cầu nghe (nhạc), nhìn (ngắm hoa) và thưởng thức mùi (khứu giác), vị (vị giác). Nhân danh nghệ thuật, các nhà kinh doanh ẩm thực đã nghĩ ra không biết bao nhiêu tuyệt chiêu để lôi kéo các “thượng đế” đến với nhà hàng của mình không chỉ đơn giản để ăn, uống mà còn để thỏa mãn tất cả các giác quan trời ban cho con người.

Bàn tiệc đương nhiên phải có hoa để thõa mãn thị giác và kích thích vị giác. Các nghệ nhân ẩm thực sắp xếp, trang trí món ăn như những đóa hoa, thậm chí trên đĩa thức ăn còn điểm xuyết những bông hoa thật. Và ở một vài nước Phương Đông, người ta còn nghĩ ra một độc chiêu vô tiền khoáng hậu: bầy biện thức ăn không phải trên bàn tiệc đầy hoa mà trên cả một “tòa thiên nhiên” nõn nà với những bông hoa đặt trên các bộ phận nhậy cảm nhất. Việt Nam ta cũng tỏ ra không kém cạnh, thậm chí còn nổi trội hơn người trong thời đại “hiện đại hóa” và “hội nhập” này. Trong các nhà hàng ở nước ta hiện nay, bên cạnh trang trí các bình hoa, các ông chủ còn tuyển dụng các “bông hoa di động” để phục vụ đám thực khách trọc phú mới nổi nhiều tiền, lắm của.

Rõ ràng, dù chi trả bao nhiêu tiền, dù hoa đẹp đến đâu, thực khách cũng không bao giờ ăn những đóa hoa. Vì vậy, khi tiệc tàn, những bông hoa héo rũ bên những đĩa thức ăn ê hề, vương vãi còn lại. Và, những “bông hoa di động” đáng thương của chúng ta cũng héo rũ không kém sau những trò rững mỡ điên khùng của đám thực khách đã chi bạo cho những cuộc truy hoan. Thông qua hình ảnh những “bông hoa rũ cánh” còn sót lại trên bàn tiệc, khúc haiku của Vân Đình thể hiện một cái nhìn đầy cảm thán đối với bao nhiêu số phận “em gái nhà hàng”, những “bông hoa di động” đáng thương trong xã hội ngày nay của chúng ta.

Lê Văn Truyền

Lòng từ bi- Lê Văn Truyền

alt

"Này bông sen trắng, ta sẽ hái đây

sư ông băn khoăn

nhìn kìa, điệu bộ

Buson Tanaguchi – Yosa (1716 – 1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Lòng từ bi, vị tha, yêu thương và quý trọng sự sống là tinh thần cao đẹp nhất mà hầu hết các tôn giáo thường đề cập trong giáo lý của mình. Tinh thần vị tha theo đạo Phật không dừng lại ở mức độ yêu thương con người mà còn mở rộng ra tất cả muôn loài. Đạo Phật thường được gọi là “Đạo từ bi”, bởi lẽ giáo lý và hành động thiết thực của Phật giáo nhắm mang đến sự an lạc, bình yên cho hết thảy chúng sinh. Theo nhà Phật, chúng sinh được phân chia làm hai loại: chúng sinh hữu tình là tất cả động vật có sinh mạng, bao gồm cả con người, và chúng sinh vô tình là những loài không thuộc các loài chúng sinh hữu tình, ví như cây cỏ. Tuy nhiên, những nghiên cứu khoa học trong mấy chục năm gần đây cho thấy hình như giới thực vật cũng có tri giác, tình cảm dù ở những hình thức rất sơ khai. Ingo Swann, môt nhà sinh học trong quyển sách ‘’The Real Story” (Chuyện Có Thật) xuất bản năm 1998 đã viết rằng: “Những nghiên cứu của Backster bắt đầu vào năm 1996 đã gần như tình cờ khám phá rằng thực vật có khả năng tri giác và đáp ứng tự nhiên những cảm xúc của con người ... Những cây cỏ bạn trồng và chăm sóc có thể biết là bạn đang nghĩ gì”.

Thế nên nhà sư trong khúc haiku trên đây đang đứng trước thế lưỡng nan. Thấy bông hoa sen trắng tinh khiết trong hồ sen, sư ông muốn hái để dâng lên cúng dường Đức Phật. Nhưng nghĩ đến đạo từ bi, nhà sư lại băn khoăn không muốn làm đau hoa và sợ phạm giới “sát sinh”, mặc dù trước đó đã hùng hồn cảnh báo đóa sen trắng “ta sẽ hái đây”. Điệu bộ do dự, băn khoăn, mâu thuẫn giữa lời nói và hành động của nhà sư lúc ấy chắc trông rất buồn cười và khoảnh khắc đáng yêu đã được Buson “ghi hình” trong khúc haiku dễ thương trên đây. Tôi thì cứ nghĩ, nếu Đức Phật thần thông được chứng giám “kịch bản” này chắc hẳn Ngài cũng rất vui lòng khuyên nhà sư hãy để đóa sen trắng được khoe sắc tự nhiên trong hồ sen mà đừng ngắt bông hoa để trưng bày trong đại điện. Đức Phật đã từng dạy rằng sự tôn kính sâu sắc, thành kính nhất là tại tâm chứ không phải bằng sự cúng dường.

Bỗng nhớ lại một sự kiện cách đây vài năm trước ở nước ta. Trong một ngày đẹp trời, quan đầu tỉnh của thành phố nọ hơn 1.000 năm tuổi, vốn được tự hào công bố trước bàn dân thiên hạ là “thành phố hòa bình”, “thành phố xanh”, đã không ngần ngại ra lệnh chặt hạ gần chục ngàn cây xanh, nhiều cây có tuổi đời gần 100 năm, để thực hiện một hợp đồng khủng trồng cây thay thế. Cương quyết đốn hạ gần vạn cây để đổi mới mầu xanh cho thành phố, quan đầu tỉnh được giới “facebooker” cả nước yêu mến tặng cho một “nickname” thật dễ thương “Quan Thay Cây” lưu truyền cho hậu thế.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Như tiếng thở buồn- Hồ An Thạch

alt

"cuối thu gặp lại

sắc vàng tê tái

trận càn heo may"

(Nguyễn Thánh Ngã)

Trong cuộc rong chơi bất tận, Nguyễn Thánh Ngã là nhà thơ bụi bặm nhất. Anh thường làm thơ bằng bất cứ loại giấy gì khi có được, và mau chóng quên đi. Tôi là kẻ "giữ chùa" những bài thơ được ném ra khỏi cuộc chơi, trong đó có nhiều bài thơ hay của kẻ giang hồ thi sĩ họ Nguyễn kia.

Đời người, hưng vượng nhất là mùa xuân. Bao nhiệt huyết đổ dồn vào tuổi xuân, để làm nên sự nghiệp. Khi đến mùa thu của cuộc đời, người ta thường ngồi nhìn lại. Tuy nhiên, dòng chảy cuộc đời mỗi người có khác. Đối với Nguyễn Thánh Ngã thì dòng đời chảy xiết, phải vượt qua bao thác ghềnh, con thuyền không bến lênh đênh. Cho đến cuối thu, do cơ trời đưa đẩy, "người muôn năm cũ" mới bất chợt được gặp lại...

Vâng, "cuối thu gặp lại"...

Thơ haiku chỉ mang tính gợi, nhưng trong lời thơ kín đáo ấy, thầm chứa những tâm sự khó bề sẻ chia.

Định mệnh gì mà cay nghiệt thế?

Ở cái tuổi thu phai, mọi thứ dường như đã an bài, kỷ niệm đã ngủ yên trong tiềm thức. Vậy mà lúc này, bếp tàn tro lạnh lại được khơi dậy! Nói theo Nguyễn Du:"Tu là cội phúc, tình là dây oan", thì chúng ta đã ngầm hiểu rằng, đây là cuộc gặp mà cả hai đều không mong muốn. Vậy mà vẫn xảy ra. Ấy mới là Tạo hóa chơi "khăm" con người!

Không ai khác, người tình xưa đã chôn vùi trong ký ức, bất chợt sống lại bằng xương, bằng thịt giữa "mùa gió heo may đã về". Thật là ảm đạm, thê lương!

Hai mái đầu, ngày xưa là thế, đấng trượng phu "vai năm tấc rộng", "phận gái thuyền quyên "mặt hoa da phấn". Thì nay: "sắc vàng tê tái"!

Một tiếng thở buồn, như cơn gió lắt lay qua cành khô, mà chiếc lá đời người còn dai dẳng, thiết tha đeo bám...

Đã vậy, mà ngọn gió ấy vẫn chưa buông tha lữ khách, " trận càn heo may" một lần nữa, bổ trợ cho cái "tê tái", lại càng "tê tái" thêm, giữa lá cành hoang phế.

Đúng là quy luật "sinh lão bệnh tử" không chừa một ai, và luôn cợt đùa những thân phận nhỏ bé giữa trần ai chua chát này. Nguyễn Thánh Ngã khi làm thơ không nói riêng mình, anh đã nói giùm cho tất cả chúng ta.

Tôi đọc mà rùng mình, bởi cái già đang xồng xộc kéo đến...

Mùa An cư 2018

H.A.T

Ý kiến tại hội ngộ đầu tiên của đại diện các CLB Haiku Việt ở Nha Trang

alt

Cao Ngọc Thắng

CLB Haiku Việt- Hà Nội

BTC phân công tôi trình bày về “Haiku thiếu nhi thế giới” – một đề tài quá sức của tôi và, có lẽ, phạm vi chủ đề chưa mấy phù hợp với cuộc hội ngộ này, một cuộc hội ngộ đầu tiên đại diện những người sáng tác và nghiên cứu haiku ở một số tỉnh thành, tổ chức tại thành phố biển Nha Trang xinh đẹp và mến khách.

Cuộc hội ngộ hôm nay thực sự rất cần thiết và chắc chắn sẽ đọng lại nhiều dấu ấn sâu đậm sau một chặng đường, tuy chưa dài lắm nhưng vừa âm thầm vừa sôi nổi trong các nhóm, các CLB thơ haiku, nhằm cùng nhau thực hiện cuộc tiếp biến thơ thứ ba (thứ nhất là cuộc tiếp biến thơ chữ Hán, đặc biệt là thơ Đường luật, trải dài cả nghìn năm; thứ hai là cuộc tiếp biến thơ phương Tây, nhất là thơ Pháp, từ khi diễn ra sự tiếp xúc văn hóa Đông-Tây, mở ra phong trào Thơ Mới), để đồng thời thỏa mãn cả hai nhu cầu: tiếp thu những tinh hoa của các nền thơ (cũng tức là tiếp thu những tinh hoa của các nền văn hóa) trên thế giới, và không ngừng làm phong phú và đẹp hơn nền thơ của dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống lâu đời.

Thể thơ haiku truyền thống của đất nước Phù Tang được người Việt biết và vận dụng đơn lẻ từ những năm đầu thế kỷ 20. Phải đến đầu thế kỷ 21, việc nghiên cứu, sáng tác, dịch thuật thơ haiku ở Việt Nam mới thực sự được chú ý và lan tỏa nhanh chóng, trở thành trào lưu, đồng thời cũng nhanh chóng hội nhập với sự mở rộng thể thơ haiku ở nhiều nước trên thế giới. Năm nay, CLB Thơ Haiku Việt TP Hồ Chí Minh kỷ niệm 10 năm thành lập. Trong 10 năm vừa qua, CLB thơ haiku đầu tiên này đã có nhiều thành tựu trong sáng tác, đặc biệt là việc đưa thơ haiku vào chương trình giảng dạy ở trường phổ thông và phát triển mạnh phong trào thể hiện thơ haiku bằng thư pháp chữ Việt. Tại cuộc hội ngộ này, chúng ta tưởng nhớ một trong những người có công thúc đẩy trào lưu sáng tác, giảng dạy và sáng lập CLB Thơ Haiku Việt tại TP mang tên Bác Hồ Kính yêu – đó là GS Lưu Đức Trung, một haijin có nhiều bài thơ haiku Việt mẫu mực. Sau đó 2 năm, ở Thủ đô Hà Nội, từ CLB Thơ Hải Thượng, một nhóm nhà thơ, đứng đầu là bác sỹ Đinh Nhật Hạnh, đã nhóm họp thành CLB Thơ Haiku Việt Hà Nội. Mặt mạnh của CLB này, ngoài sáng tác, đã hội tụ đông đảo những người nghiên cứu sâu thể thơ cực ngắn, cụ thể đã tổ chức hai cuộc tọa đàm có tính chuyên nghiệp và đạt kết quả nhất định, có tác dụng thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu thích thơ haiku, trong đó có sự hội tụ của nhóm thơ haiku Khánh Hòa, tiếp đến là nhóm haiku Đất Cảng Hải Phòng, cùng nhiều thành viên khác trong cả nước. Điểm nhấn trong hoạt động của hai CLB Thơ Haiku Việt ở TP Hồ Chí Minh và Hà Nội là việc hằng năm xuất bản Nội san, các tuyển tập sáng tác, các kỷ yếu. Việc làm này không dễ gì có ở hàng trăm CLB Thơ hiện có. Chính đó là động lực để trang web. Haikuviet.com ra đời (từ đầu năm 2017), với số lượng truy cập lớn, tính đến ngày 15-5-2018 lên tới 164.168 lượt người với nhiều mục khác nhau, đặc biệt là sự thu hút hàng trăm tác giả gửi thơ haiku dự thi đợt đầu tiên năm 2017 và tiếp tục cho đợt thi năm 2018. Sự ra đời trang web. haikuviet.com là công lao của nhóm Thơ Haiku Đất Cảng có sự phối hợp, hỗ trợ của CLB Thơ Haiku Việt Hà Nội. Tuy còn khá nhiều điều cần bổ khuyết, song trang web. haikuviet.com, nhất là cuộc thi thơ Haiku Việt lần thứ nhất, cho thấy lượng người quan tâm và yêu thơ haikuviet không ngừng tăng, chứng tỏ lực lượng sáng tác thơ haikuviet là khá lớn, có ý nghĩa không nhỏ trong cuộc tiếp biến thơ thứ ba đang diễn ra sôi nổi. CLB Thơ Haikuviet Khánh Hòa, ngoài một số tuyển tập chung, hầu như các thành viên đã xuất bản những tập thơ haiku cá nhân; về tỷ lệ đây là CLB có tác phẩm riêng cao nhất.

Khái quát tình hình hoạt động của các CLB Thơ Haiku Việt, có thể khẳng định: việc tiếp thu và vận dụng thể thơ cực ngắn từ xứ sở hoa anh đào, những người làm thơ ở Việt Nam rất chủ động, vừa tiếp nhận vừa sáng tạo, đưa tinh thần và hồn Việt vào thơ haiku một cách nhuần nhuyễn, đậm đà, có sắc thái, có nhịp điệu, mang tính cách riêng khi “đứng cạnh” thơ haiku của cộng đồng haijin quốc tế.

Qua đây cũng thấy một thực tế hiển nhiên rằng, trong quá trình tiếp nhận và biến thái, kể cả sáng tác và lý luận-phê bình, một số câu hỏi luôn luôn thường trực: thế nào là một phiến khúc haiku thực thụ?, tiêu chuẩn nào để đánh giá một phiến khúc haiku là hay? Những câu hỏi loại này hiện vẫn đang trên đường ngẫm suy, giống như bất kể thể thơ nào nói riêng và toàn thể nền thơ nói chung. Không dễ gì có câu trả lời tức thì, mà có chăng nữa thì cũng không bao giờ là bất biến. Cái đẹp rất mỏng manh trước sức sáng tạo và thưởng thức

Song, cho dù thế nào chăng nữa, đến thời điểm này, haiku được xác nhận là một thể thơ độc lập ở cấu trúc ngắn (chứ không phải là ở âm tiết), thể hiện ở “tính khoảnh khắc” của sự cảm nhận và biểu hiện, mà ngôn ngữ chỉ là phương tiện cho sự liên tưởng đến cái sâu xa và rộng mở. Cái “khoảnh khắc” của haiku vừa là sự mở đầu vừa là sự kết thúc, để làm nên một phiến khúc hoàn mỹ. Sẽ có ý kiến phản biện, rằng thơ nào mà không có “khoảnh khắc”. Đúng. Nhưng, cái khoảnh khắc ở các thể thơ khác đóng vai trò “khởi đầu” để người thơ triển khai “mạch” thơ cho đến tận cùng cái ý tưởng cần biểu đạt. Cái khác biệt căn bản so với các thể thơ khác là, thơ haiku, (chỉ ba câu hay ba dòng hay ba ý hay ba hình ảnh), rất kiệm lời, tưởng như rất dễ làm, nhưng lại vô cùng khó, càng khó hơn đối với người thưởng lãm nó. Một phiến khúc haiku hiện lên trang giấy, dù chỉ trong chốc lát nhưng thực ra nó đã được nhào luyện không chỉ bằng lao động thực tại mà bằng cả lao động quá khứ, không phải chỉ là kinh nghiệm mà bằng sự thăng hoa của sự “tức thời”. Đọc thơ haiku, kể cả của các nhà thơ truyền thống Nhật Bản cũng như của các nhà thơ hiện đại ngoài Nhật Bản, thấy độ mở của thể thơ haiku là rất lớn. “Độ mở” ấy nằm trên nền “sự tĩnh”, tĩnh từ trong tâm người sáng tạo, đòi hỏi người đọc cũng phải tĩnh. Song, tĩnh mà không tĩnh. Nó nằm ở câu mở đầu và gây bất ngờ ở câu kết, khi “nối” hai câu với nhau. Có được sự logic ấy là do vai trò của câu thứ hai. Ý và hình ảnh của ba câu, nếu tách bạch rất khác nhau, có khi chẳng liên quan gì tới nhau, nhưng đưa chúng vào một cấu trúc nhất định, do tư duy thơ của người thơ, chúng tạo nên một trường cảm nhận hoàn toàn mới mẻ. Cũng biểu tả hạt sương, ở nhiều khoảnh khắc cảm nhận khác nhau, mỗi tác giả lại đem đến cho người đọc “độ rộng” vô cùng tận của vũ trụ không giống nhau. Vì vậy, cũng là những sự vật và hiện tượng, song ở từng thời điểm xác định, ở từng góc nhìn nhất định, ở từng tâm trạng ổn định, ngay cả với một haijin, những sự vật và hiện tượng ấy được biểu cảm hoàn toàn không như chúng vốn có, vì vậy có nhiều phiến khúc haiku liên hoàn trong chuỗi chủ đề, mùa chẳng hạn. Không tuân thủ “tính khoảnh khắc”, người làm thơ haiku rất dễ rơi vào tình thế cạn nguồn sáng tạo.

Người đã từng làm thơ, trải nghiệm nhiều thể thơ khác nhau, thêm một lần thể nghiệm thơ haiku là điều dễ hiểu. Dễ hiểu nhưng không dễ làm. Lại càng không dễ khi làm thơ cho hoặc về con trẻ. Càng khó hơn đối với trẻ em làm thơ haiku. Tôi khâm phục những haijin người lớn làm thơ haiku cho trẻ em, số này chưa nhiều, như anh Lê Đình Công, anh Vũ Tam Huề. Tôi càng khâm phục hơn khi đọc thơ haiku của thiếu nhi, trong nước cũng như quốc tế. Bác Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ rất nhiều thơ của các haijin quốc tế, trong đó không ít thơ haiku của thiếu nhi các nước. Thơ của các em toát ra sự hồn nhiên hết sức trong trẻo, ngây thơ đấy mà không hề đơn giản. Cũng từ đó, chính các em đã phần nào trả lời những câu hỏi: thế nào là một phiến khúc haiku đích thực?, thế nào là một phiến khúc haiku hay? Xuất phát từ tâm hồn trong trẻo và tính chân thực, các em biết chọn thời điểm, góc nhìn thích hợp, tự phát hay tự giác, để thể hiện tâm trạng trong cái “khoảnh khắc” đúng lúc, khiến người đọc phải soi vào đó cho rõ sự vật hay hiện tượng tưởng như đã từng quá biết. Thơ haiku của các em không thấy dấu vết của sự câu nệ bất cứ nguyên tắc nào, cái mà người lớn vẫn thường tranh luận dài dài. Động cơ bên trong của các em duy nhất có một điều – bộc lộ cảm nghĩ của sự quan sát tức thời. Cái tức thời ấy, có thể các em không chuẩn bị cho người đọc sự liên tưởng, nhưng sự tưởng tượng của các em lại dẫn người đọc đến những liên tưởng không ngờ. Nhìn chung là như vậy. Khác với thơ haiku thiếu nhi quốc tế, thơ haiku của thiếu nhi Việt Nam có phần dung dị, chất phác hơn; điều đó nói rằng, tâm hồn của các em rất đằm thắm, rất Việt Nam, bởi các em được “tắm” trong nền thơ truyền thống đậm chất trữ tình của ca dao, của nhịp điệu lục bát, âm-thanh uyển chuyển. Sự hiện diện của thiếu nhi trong trào lưu sáng tác thơ haiku hiện nay ở nước ta là dấu hiệu đáng mừng khi nghĩ tới lực lượng bổ sung sau này trong tiến trình tiếp biến thứ ba của nền thơ đang và sẽ tiếp tục.

Tuy nhiên, không có bất kỳ một thể thơ nào duy nhất độc tôn. Bởi, mỗi thể thơ ra đời (hoặc nhập nội), phát triển đều có vị trí và vai trò độc lập của nó. Vận dụng thể thơ nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh sáng tạo, vào trạng thái tâm lý cụ thể, và nhất là sự triển khai ý-tứ để tạo mạch thơ của mỗi tác giả. Thơ haiku không trực tiếp tải  những ý tưởng lớn, những vấn đề phức tạp. Nếu có sự đúc kết thì thơ haiku cũng chỉ dừng ở chỗ tức thời, thiên về tính chiêm nghiệm, lấy cái tĩnh mà khiến cái động lộ ra (chứ không trực tiếp nói về cái động). Sáng tác hay đọc thơ haiku khó chính là ở điểm này. Cho nên, cảm nhận cái hay của thơ haiku tùy thuộc vào hoàn cảnh, tâm trạng tiếp nhận của từng người thưởng thức cụ thể.

Có một thực tế, thơ Việt Nam, trong đó có cả thơ haiku Việt (mặc dù có thuận lợi hơn về mặt ngôn ngữ), rất khó khăn trong việc chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài. Có lẽ do thơ Việt tính ẩn dụ cao, chữ nhiều nghĩa, nhip-điệu-vần khá phức tạp? Đây là vấn đề cần được người làm thơ haiku Việt chú ý khắc phục. Cho dù đã rất kiệm lời, song không phải không còn sự thừa chữ, hay sử dụng liên từ, giới từ, tính từ chưa thực sự chọn lọc. Những hạt sạn đó thực ra rất dễ khắc phục. Điểm nổi bật trong khoảng mười năm qua là ở sự lớn mạnh nhanh chóng số lượng người quan tâm đến thơ haiku Việt mở rộng ra nhiều địa phương trong cả nước, số lượng thơ haiku Việt sáng tác ngày càng phong phú, đa dạng và có chiều sâu; việc chuyển ngữ, nghiên cứu góp phần không nhỏ cho sự phổ biến thơ haiku rộng rãi.

Ở cuộc hội ngộ đầu tiên này, chúng ta có nhiều hy vọng vào sự phát triển của thơ haiku Việt trong thời gian tới, bởi hướng đi của các CLB rất rõ ràng, nhất quán. Ở Nội san của các CLB, trong các tuyển tập hoặc tập thơ, trong kỷ yếu các tọa đàm về thơ haiku Việt xuất bản những năm qua, đã thể hiện sâu sắc tinh thần đó, cho nên trong trao đổi này tôi không viện dẫn bất cứ một bài thơ, một ý kiến nào để làm minh họa, vì điều đó không cần thiết, mà chỉ bày tỏ mấy ý kiến tản mạn.

Trân trọng cám ơn vì có cuộc hội ngộ này mà tôi có dịp trao đổi. Và, rất mong tiếp tục được hội ngộ ở những địa điểm khác.

Kính chúc các haijin dồi dào sức khỏe !

CNT

Sắc sắc không không- Lê Văn Truyền

alt

yado no haru / nani mo naki koso / nani mo are

Yamaguchi Sodo

in my hut this Spring

there is nothing

there is every thing

mùa xuân này trong lều tôi

không có gì

không thiếu gì

Đinh Nhật Hạnh dịch

Nhà Phật có một khái niệm triết lý sâu sắc là “sắc sắc không không”, nghĩa là “có có không không”. Một cách đơn giản, ý nghĩa của cụm từ “có có không không” diễn tả mối quan hệ biện chứng giữa “không” và “”: có mà không, không mà có. Trong cuộc sống hàng ngày, dưới ánh nắng Mặt Trời, không ai là có tất cả cũng như không ai là không có gì cả. Có hay không chỉ là tương đối. Nhiều khi không có gì tức là có tất cả, và có tất cả lại là không có gì cả. Có hay không và suy rộng ra giàu hay nghèo, sang hay hèn, hạnh phúc hay bất hạnh … phụ thuộc vào cách suy nghĩ của mỗi chúng ta trước cuộc sống.

Nhà triết học Hi Lạp cổ đại Socrate có câu nói nổi tiếng: "Tôi chỉ biết một điều, là tôi không biết gì cả". Người uyên bác chính là người tự nhận mình là người không biết gì cả, để học hỏi, để trau dồi... Khi tự nhận mình là người “không biết gì”, Socrate là người “biết” rất nhiều. Và cả nhân loại cho đến ngày nay không ai dám bảo Socrate là “người không biết gì”. Đó cũng là một phần của ý nghĩa “sắc sắc không không” trong giáo lý nhà Phật.

Khúc haiku của Yamaguchi Sodo là một ví dụ tuyệt vời về cách nhìn nhận nghịch lý (paradox) đời thường và cách giải quyết nghịch lý một cách minh triết theo quan niệm “sắc, không” của nhà Phật. Yamaguchi Sodo không hề buồn phiền về cái nghèo cùng cực trong túp lều của ông, một túp lều tranh nhỏ bé, đơn sơ, ẩm mốc, dột nát … trong đó hoàn toàn “không có gì”. Niềm vui của nhà thơ khi được đón chào mùa xuân của vạn vật, của đất trời làm ông cảm thấy mình là con người quá giàu có. Ông có tất cả và “không thiếu gì” trong túp lều của ông! Khúc haiku của bậc thầy Yamaguchi Sodo há chẳng cho mỗi chúng ta một bài học thế nào là “tri túc” (biết thế nào là đủ) trong xã hội ngày nay, cái xã hội mà rất nhiều người đang “không thiếu gì”: tiền bạc đếmkhông xuể, của cải đầy nhà, quyền lực và danh vọng ngút trời, vợ đẹp, con khôn, đệ tử và thủ túc hầu hạ cúc cung tận tụy… Những người chỉ ở dưới vài người nhưng ngồi trên đầu cả triệu triệu người. Nhưng rồi … chỉ trong một nháy mắt sa cơ lỡ vận, họ bỗng trở thành người tay trắng: “không có gì”, không còn gì.

LVT

Nhìn và thấy- Lê Văn Truyền

alt

Hai người yêu nhau

ngắm nhìn đắm say

mà sao không thấy?

Những người đang yêu nhau thường có chung một ước nguyện cháy bỏng: mong được luôn luôn gần gũi bên nhau để có thể say đắm nhìn thấy người mình yêu. Nhưng nhìn thấy là một hay là hai? Nhìn thấy hay nhìn và thấy? Muốn thấy nhau chắc gì cần phải nhìn nhau và nhiều khi nhìn nhau rồi chắc gì đã thật sự thấy nhau?

Không phải ngẫu nhiên mà người ta thường nói "nhìn" và "thấy" là hai khái niệm đa nghĩa, gần gũi mà xa xôi. Đấy không chỉ là vấn đề triết lý cao xa mà còn là vấn đề nhân sinh gắn bó mật thiết với đời sống và cuộc sống hàng ngày của con người. Có người nhìn và thấy. Có người nhìn mà không thấy. Đôi mắt chúng ta nhìn thế giới bên ngoài, quan sát và biểu đạt nhận thức của chúng ta về mọi sự vật và sự việc nhưng không phải lúc nào ta cũng thấy được hết bản chất của sự vật và sự việc.

Tagore viết về cái nhìn của một cô gái đối với người mình yêu:

Đôi mắt em lo âu

muốn nhìn tâm tưởng anh sâu thẳm

như ánh trăng rọi tìm nơi đáy biển

Trái tim anh bên em

như anh luôn ở bên cuộc đời em

nhưng chẳng bao giờ em hiểu hết nó đâu

Cô gái trong bài thơ của Tagore nhìn rất kỹ, rất sâu vào người mình yêu nhưng tiếc thay cô không thể thấy hết và thấu cảm trọn vẹn tình yêu của anh, trái tim của anh dành cho cô. Có người nói, để nhìn rõ sự vật và sự việc, cạnh bên đôi mắt, chúng ta cần có thêm một “con mắt thứ ba”, con mắt có thể nhìn rõ những gì là phi vật thể bên trong sự vật và sự việc với một tâm thái rộng mở, đón nhận, đầy cảm thông, đầy thương yêu và sự quan tâm đối với đối tượng ta muốn nhìn thấy. Và như vậy, ta không chỉ nhìn, thấy mà còn thấu cảm với sự vật và sự việc chung quanh ta trong cuộc sống thường nhật.

Vì vậy, người ơi! Xin hãy đừng nhìn đời và nhìn mọi người chỉ bằng đôi mắt. Hãy nhìn bằng tất cả tâm hồn, bằng trái tim, bằng sự độ lượng, lòng vị tha. Khi đó ta sẽ nhìn thấy rõ mọi điều.

LVT

Hòa thuận với thiên nhiên- Lê Văn Truyền

alt

Ngày cha tôi mất

cây cối vườn nhà

trắng giải khăn tang

Hồi còn nhỏ mỗi lần Tết sắp đến, vào ngày cúng ông Công ông Táo 23 tháng chạp, tôi sung sướng được bà ngoại sai cầm bát hồ líu tíu theo bà đi dán vàng mã ở thành giếng và cây cối ngoài vườn. Tôi thắc mắc không hiểu bà làm như vậy để làm gì. Bà tôi dạy phải dán giấy vàng cho cây để năm mới cây cối trong vườn tốt tươi, những cây cau cho buồng sai quả, gốc mít nặng trĩu trái từ gốc đến thân, cây bưởi, cây chanh lúc lỉu quả … Cái giếng cổ luôn luôn cho đầy nước ngọt, trong mát ngay cả trong những ngày nắng hạn đủ để nhà dùng và cho láng giềng sang xin mấy gánh nước uống mỗi ngày. Trong suy nghĩ của bà tôi, cây cối cũng như giếng nước trong vườn đều có “cuộc sống” riêng. Chúng biết lặng lẽ quan sát, cảm nhận cách đối xử của chủ nhà với chúng và sẽ không phụ lòng trả ơn nếu ta tử tế với chúng. Thật đúng vậy, thu nhập của bà tôi để trang trải cuộc sống hàng ngày cũng chỉ trông chờ vào sản vật của mảnh vườn bé tẹo. Buổi sáng, bà ra vườn hái mấy xếp trầu, mấy bó lá chè, quả mít, mớ chanh, thi thoảng được một buồng cau … bỏ vào rổ đem bán ở chợ đầu làng để có tiền mua vài con cá, mớ tép, đôi khi một gói “kẹo cau” bọc trong lá chuối khô để làm quà cho mấy đứa cháu … Và như vậy, rõ ràng giữa bà tôi và cây cối trong vườn tự nhiên đã hình thành một mối quan hệ bạn bè, tương hỗ, cộng sinh trong suốt cuộc đời.

Ngày cha tôi mất, sau lễ phát tang, ông anh con bác trưởng cắt những mảnh vải tang còn sót lại thành những giải khăn trắng, sai bọn trẻ mang ra vườn buộc vào cây cối, những cây cau, gốc mít, cây khế, những bụi chuối, bụi tre … Anh tôi bảo cây cối trong vườn là bạn của người quá cố, suốt bao nhiêu năm được người chăm sóc, vun trồng hàng ngày. Giữa con người và cây cối, đặc biệt là những cây lưu niên đôi khi tuổi đời còn dài hơn tuổi của người trong nhà, đã nẩy sinh một mối thâm tình. Vì vậy, phải buộc giải tang cho cây để cây được tỏ lòng biết ơn và tiếc thương người quá cố. Nếu ta quên, cây cối có thể buồn phiền và … tàn tạ theo người đã khuất.

Thiết nghĩ, ông cha ta, dân tộc ta từ hàng ngàn năm đã biết suy nghĩ và sống một cách minh triết, nhân văn, thuận thảo với thiên nhiên mà không phải đợi các nhà khoa học phương Tây mãi đến cuối thế kỷ XX mới rầm rộ cảnh báo loài người về sự tàn phá thiên nhiên và các thảm họa môi trường. Nhưng đau đớn thay, trong thời đại này chúng ta đang chứng kiến thế lực của đồng tiền đang tàn phá, hủy hoại không thương tiếc những gì ông cha ta đã chắt chiu vun đắp, gầy dựng từ thế hệ này qua thế hệ khác trong suốt chiều dài lịch sử sinh tồn của dân tộc.

LVT

Thi pháp Haiku hiện đại- thể thơ thế giới

Toshio Kimura

World Haiku số 13 – WHA, 2017

Một điểm nhìn mới về Haiku hiện đại

Haiku, ở một mức độ nào đó, tiếp nhận các đặc tính truyền thống của thơ “haikai” thời Edo (1603–1868) và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc Cách tân Haiku của Masaoka Shiki (1867–1902) vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, haiku hiện đại như là một thể thơ đương đại thì chỉ tính từ thế kỷ 20 đến thế kỷ 21, và có những đặc thù hiện đại của riêng nó. Ở đây, haiku hiện đại sẽ được xem xét trong so sánh với haiku truyền thống.

alt

Cuộc Cách tân Haiku dưới ánh sáng thời nay

Khác biệt lớn nhất giữa haiku đầu thế kỷ 21 và haiku thời trước nằm ở chỗ, ngày nay haiku không còn là thể thơ riêng của nước Nhật. Haiku trong thế kỷ này đã trở thành một thể thơ thế giới, được thưởng thức ở hàng chục quốc gia: tức là, haiku được đọc và sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ. Từ giữa thế kỷ 20, nhiều loại hình nghệ thuật đã được toàn cầu hóa và tiến trình đó càng được đẩy nhanh với mạng internet. Theo cùng cách ấy, haiku cũng trở nên quốc tế hóa. Dẫu vậy, do thể luật của haiku mang đậm tính Nhật nên một số nhà thơ haiku Nhật theo khuynh hướng bảo thủ cảm thấy những vần thơ của Basho và các thi hào khác khi dịch sang một ngôn ngữ khác thì không còn giống với nguyên tác. Thế nhưng, họ hãy nhớ rằng chính nước Nhật cũng đã tiếp nhận nhiều loại hình văn chương, được dịch sang tiếng Nhật, từ Ấn Độ và Trung Quốc thời xưa, và từ châu Âu những năm gần đây hơn.

Lại cần nói thêm rằng, kỷ nguyên hiện đại của chúng ta không phải thời điểm gặp gỡ đầu tiên giữa haiku và thế giới. Haiku đã được giới thiệu tới châu Âu gần như cùng lúc với thời gian của cuộc Cách tân Haiku do Shiki chủ xướng. Shiki là người khởi dựng cho thể thơ haiku ngày nay. Trong thập niên 1880, ông đã cải cách haikai, thể thơ liên ca hợp tác truyền thống và là tiền thân của haiku, thành thể thơ một dòng hiện đại chỉ do một người soạn tác, và gọi nó là haiku. Shiki cải cách haiku như vậy là bởi ông cho rằng thơ haikai cũ đã trở nên sáo mòn. Tuy nhiên, nếu chỉ thuần túy vì lý do đó, ông có lẽ chỉ cần tái thiết lại haikai về đề tài, chất liệu và kỹ thuật. Nhưng sự cách tân không dừng lại ở đó; ông đã thực hiện một cuộc đại phẫu thay đổi ngay chính hình thức thơ. Dường như lý do thực sự cho việc cách tân về thể thơ nằm ở chỗ thời đại của Shiki chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ cuộc hiện đại hóa theo phương Tây. Chứng kiến xã hội Nhật đang trong đà hiện đại hóa/Tây hóa, có thể ông cảm thấy rằng nếu haikai cứ tiếp tục lối cũ thì sẽ chẳng ai còn hứng thú với nó nữa. Kết quả từ công cuộc cách tân ấy của Shiki, haiku đã nở rộ trên đất Nhật và ngày nay lan tỏa khắp toàn cầu.

Sau khi haiku được giới thiệu ra châu Âu, cho đến giữa thế kỷ 20, chỉ một số ít nhà thơ ở các nước phương Tây, có thể kể đến Ezra Pound (1885–1972), quan tâm tới thể thơ này. Phải đến nửa sau thế kỷ 20, haiku mới bắt đầu mê hoặc nhiều thi sỹ hơn nữa trên thế giới. Giờ đây, haiku đã phổ biến trên toàn cầu, và dễ thấy rằng haiku như một thể “thơ thế giới” sẽ tác động trở lại haiku Nhật gốc trong tương lai, vì mọi thứ đều trở nên toàn cầu hóa ở kỷ nguyên này. Sau tất cả, tình huống toàn cầu hóa của haiku ngày nay gần như đồng cấu với tình huống của thời Shiki; cả hai đều chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố từ bên ngoài nước Nhật. Tuy nhiên, do quá trình phát triển của haiku ôm vào nó nhiều nhân tố nội, ngoại khác nhau, không nên coi sự tiến hóa đó chỉ mang tính thụ động. Ngoài cuộc cách tân của Shiki, trong thời gian chiến tranh, haiku còn chịu tác động do cuộc đàn áp “Phong trào Shinko-Haiku (Tân hưng Haiku)” phản chiến từ phía cảnh sát, và sau Thế chiến, chịu thêm búa rìu từ bài “Luận về Haiku như một Nghệ thuật thứ cấp” của nhà nghiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo. Đây là những áp lực đến từ bên ngoài thế giới haiku, nhưng haiku đã vượt qua những phép thử đó và phát triển càng mạnh mẽ hơn.


Tính ngắn gọn

Đặc điểm của haiku là ngắn gọn. Nó là thể thơ ngắn nhất ở Nhật. Tính ngắn gọn này thường được xem có nguồn gốc từ xa xưa, nhưng trên thực tế, vào thế kỷ 17 – thời của Basho, thể haiku còn chưa tồn tại; “Haikai-no-renga” (bài hài liên ca), tiền thân của haiku, thì dài hơn rất nhiều. Haiku mà chúng ta biết, như đã nói ở trên, xuất hiện vào cuối thế kỷ 19, khoảng hơn 100 năm trước, có nghĩa rằng nó ra đời như một thể thơ hiện đại. Đây là lý do vì sao haiku thường có vẻ rất hiện đại. Basho thực chất không phải một nhà thơ haiku mà là một bậc thầy haikai, ông coi trọng “hokku” (phát cú – cú 17 âm đầu của một bài haikai) cũng như người soạn ra nó, và Basho đã nâng hokku lên tầm nghệ thuật.

Trong lịch sử thơ ca cổ điển thế giới, từ Homer đến thời Trung Cổ, rồi thời kỳ đầu hiện đại, châu Âu có truyền thống sáng tác các sử thi dài, ở đó, nhà thơ nỗ lực miêu tả trạng huống của sự vật một cách kỹ lưỡng sao cho người đọc hiểu được rõ ràng. Haiku ngược lại, nằm ở thái cực kia của bức phổ. Nguyên do haiku quá đỗi ngắn có thể là vì dưới thời chính quyền Kyoto và sau đó là Mạc Phủ Edo ở Nhật, quyền lực chính trị và cùng với đó các kiểu văn hóa được hợp nhất ở kinh đô. Hệ quả là, thị dân đủ học vấn để thưởng thức haikai có thể gợi lên một hình ảnh tương đồng từ quý ngữ trong một bài thơ. Những hình ảnh này được đặt cùng nhau vào “saijiki” (Tuế Thời Ký – từ điển các từ chỉ mùa).

Trong lịch sử văn chương thế giới, thơ ca có xu hướng thay đổi từ dài thành ngắn: từ sử thi đến thơ trữ tình và gần đây là haiku. Trong thời đại của chúng ta, nhờ vào các lực hợp nhất của việc toàn cầu hóa và mạng internet, thi sỹ trên khắp thế giới có thể có chung những ý tưởng tương đồng từ một sự vật, và do đó, haiku có thể là thứ thơ ca thế giới cho nhiều kiểu người khác nhau.

Ở bất cứ ngôn ngữ nào, haiku đều rất ngắn, ít diễn tả, đối lập với truyền thống thơ ca phương Tây. Bản chất ít diễn tả của nó dẫn đến việc quan hệ giữa các từ trong một bài haiku trở nên kém rõ ràng. Người đọc phải lấp vào những khoảng trống ấy bằng trí tưởng tượng của họ. Như thế, với haiku hiện đại, việc đọc là tối quan trọng: người đọc phải tham gia vào mỗi bài haiku mà hoàn thiện nó. Nghịch lý của sự thiếu miêu tả có lẽ là một đặc điểm hấp dẫn giúp cho haiku lan tỏa rộng rãi trên thế giới.


Thể thơ

Thể chính yếu của haiku trong tiếng Nhật là 5-7-5-on (âm). Như vậy, haiku Nhật là loại thơ có thể thức cố định với nhịp điệu từ bên ngoài. Tuy nhiên, haiku trong các ngôn ngữ khác chủ yếu là thơ tự do ba dòng. Cho dù một số nhà thơ bên ngoài nước Nhật thử làm với kiểu 17 âm tiết, nhưng đó chỉ là thiểu số. Và nữa, có những người thử làm với kiểu thơ một dòng theo dạng haiku Nhật gốc, hay số khác thử với thể hai dòng hoặc hơn ba dòng, tất cả những kiểu như thế chỉ là ngoại lệ. Ta có thể nói rằng, về haiku bên ngoài nước Nhật, kiểu thơ nguyên gốc 17-on với ngoại nhịp đã chuyển hóa thành thể thơ ba dòng với nội nhịp. Thể thơ ba dòng này rất dễ nhận biết và dường như là một nhân tố khác cho việc truyền bá rộng rãi của haiku trên thế giới.

I found my / cat – one / Silent star[1]

Tôi tìm thấy

con mèo của mình

tĩnh lặng một vì sao

(Jack Kerouac)

Khi xem xét định nghĩa thế nào là haiku ở các phần lãnh thổ khác của thế giới ngoài nước Nhật, chúng ta phải thừa nhận một điều rằng nó không phụ thuộc vào kiểu thức cố định 17-on. Trên thực tế, kiểu thức của haiku thế giới khác về căn bản so với haiku Nhật gốc. Thế thì đâu là điểm chung của haiku giữa Nhật và thế giới? Có một gợi ý cho vấn đề này khi ta nhìn vào lịch sử haiku Nhật. “Haiku Tự Do” (Jiyuritsu Haiku), khoảng năm 1910, là một phong trào cách tân khác nhằm mục đích giải phóng haiku khỏi niêm luật 17-on cố định và quý ngữ.

片つ方の耳にないしよ話しに来る

Katatsukata no mimi ni naishi yo hanashi ni kuru

To one of my ears, she comes to tell a secret[2]

Nàng đến thì thầm vào một bên tai tôi điều bí mật

(Hosai Ozaki)

Haiku Tự Do đã thành công và vẫn được đọc rộng rãi trong thế kỷ 21. Điều đó cho thấy haiku không nhất thiết phải có thể cách cố định hay quý ngữ ngay cả trong tiếng Nhật. Từ sự thật lịch sử này, ta có thể rút ra một đặc điểm khác của haiku: thể thơ haiku chứa đựng một thi tính với khả năng đổi mới, thậm chí là xa rời chuẩn mẫu. Mặc dù đa số các nhà thơ haiku Nhật ngày nay vẫn sáng tác với thể cố định, dưới đây là một ví dụ về haiku tự do hiện đại viết bởi một thi sỹ cũng làm cả haiku 17-on.

Watch again / Jesus’s despair / made of rocks[3]

Nhìn lại

nỗi thất vọng của Jesus

làm từ đá

(Ban’ya Natsuishi)

Bài haiku trên trong nguyên tác tiếng Nhật được viết theo thể tự do chứ không theo thể cố định 17-on thông thường. Người đọc dễ nhận thấy ở bản dịch, không có khác biệt rõ ràng giữa haiku Nhật thể cố định với thể tự do. Tuy nhiên, thông qua nhịp điệu và chủ đề của nó, bài thơ được sáng tác hướng ra thế giới – cái thế giới vẫn đang đi tìm một tiêu chuẩn cho haiku.

“Cắt” (kire) là một yếu tố kỹ thuật. Đối với những thể thơ ngắn như haiku, kỹ thuật cắt có thể rất hiệu quả. Tại Mỹ, nó được diễn giải thành “phép đặt cạnh nhau” (juxtaposition). Ở hai bài thơ trên, mấy chỗ “nàng đến…” (ni kuru) và “nhìn lại…” (watch again) không sử dụng các lối cắt truyền thống hay đặt cạnh nhau các hình ảnh. Cho dù vậy, ta vẫn không thể kết luận đơn giản là chúng không có sự cắt. Dường như những thảo luận về kỹ thuật cắt cần có đặc điểm gì trong haiku hiện đại cho đến nay là chưa đủ. Nhưng ít nhất, ta có thể khẳng định đã có những khác biệt với phương thức truyền thống của haiku cổ điển.


Chủ đề

Trong thập niên 1910, Kyoshi Takahama, một trong số những môn đệ của Shiki đã chủ trương haiku nên là thể thơ 5-7-5-on và liên quan tới các mùa. Quan niệm đó hàm ý rằng mỗi tác phẩm haiku đều nên chứa đựng một “từ chỉ mùa”, tức quý ngữ (kigo). Hokku vốn có truyền thống sử dụng quý ngữ để gợi mở bốn mùa, và lời khẳng định của Kyoshi đặt cơ sở trên truyền thống ấy. Với nhiều nhà thơ Nhật, các chủ đề về thời tiết bốn mùa thường rất dễ hiểu và kết nối trực tiếp với đời sống của họ. Vì lẽ đó, quan niệm trên được đồng thuận rộng rãi. Tuy nhiên, bên ngoài nước Nhật lại không có từ điển các từ chỉ mùa như ở Nhật. Các nhà thơ haiku ở những nơi khác trên thế giới muốn theo truyền thống Nhật, thay vì sử dụng các quý ngữ, lại có suy nghĩ hơi khác. Họ xem haiku như một kiểu thơ về thiên nhiên. Cách nhìn này khá thông dụng ở nhiều nước. Đồng thời, tại những nước đó, nhiều nhà thơ cũng không quan tâm tới chủ đề thiên nhiên: họ viết haiku theo cảm năng của bản thân và theo các truyền thống thơ ca ở xứ sở của họ.

Hơn nữa, ngay cả ở Nhật, haiku không nhất thiết phải theo truyền thống; nó mở ra những thử nghiệm mới. Chủ đề của haiku hiện đại có thể đa dạng, không cứ về thiên nhiên, mà về toàn thể tạo hóa. Ở Nhật, mặc dù nhiều nhà thơ tiếp cận theo hướng truyền thống bốn mùa, số khác vẫn nỗ lực kế thừa tinh thần cách tân của Shiki, đi tìm những chủ đề mới khác với đề tài thiên nhiên. Vào thập niên 1930, một số thi sỹ dẫu theo thể cố định đã phát động phong trào “Tân Hưng Haiku” nói ở trên với mục đích thể hiện bất cứ đề tài nào họ muốn trong haiku. Phong trào này đã trở thành một đợt sóng mạnh mẽ.

Insist on the hairpin / in the rain / of ash[4]

Nài chiếc cặp tóc

trong làn mưa

tro

(Kakio Tomizawa)

Bài haiku này, làm nổi bật hình ảnh “chiếc cặp tóc”, thể hiện một phong cách mới. Trong khi nhiều người nghĩ haiku chỉ là một thể thơ truyền thống, những hướng tiếp cận như thế này, tiếp nối tinh thần cách tân của Shiki, có thể được xem là tương đối sớm trong lịch sử haiku.

Đa phần các nhà thơ Nhật đều viết haiku trong một dòng, haiku nhiều dòng là một thử nghiệm mới ở nửa cuối thế kỷ 20.

Holding a lyre / a nameless / god / drifted ashore[5]

Cầm cây đàn lia

một vị thần

không tên

trôi giạt vào bờ

(Shigenobu Takayanagi)

Nhà thơ xuất chúng này, trong thập niên 1970, chủ yếu viết haiku bốn dòng thay vì ba dòng; dẫu vậy, dường như ông đã dự báo trước cho sự phong nhiêu của haiku ba dòng ngày nay. Bài haiku trên không phải một phác họa về thế giới tự nhiên trước mắt chúng ta, cũng không miêu tả thời khắc hiện tại – như vẫn gọi “haiku thời khắc”. Nó cố gắng theo dấu những ký ức thơ trở ngược về tinh thần sáng tạo của thi sỹ, gợi lên một vùng đất tưởng tượng và con người nơi đó. Lối tiếp cận này, khởi đầu từ cá thể, chuyển qua những nhóm người, và vươn ra toàn thế giới, tỏ ra hiệu quả thay cho những chủ đề mùa. Thi sỹ ở khắp nơi có thể thử sức với kiểu chủ đề này bằng khả năng tưởng tượng của họ.


Đi tìm Tinh thần Haiku

Định nghĩa chính xác về thể thơ haiku trên thế giới gần như là điều không thể. Dẫu chỉ xét trong nước Nhật, ý niệm “thể thơ cố định về bốn mùa” lấy từ bách khoa toàn thư cũng không thể đem áp dụng cho toàn bộ lịch sử haiku Nhật được. Do đó, định nghĩa về haiku hiện đại ở Nhật cũng như trên thế giới nên là “một thể thơ ngắn mang tinh thần haiku truyền thống, bảo tồn những giá trị đậm chất thơ của nó, và đồng thời truy cầu những tinh thần haiku mới”. Bất cứ bài haiku xuất sắc nào cũng biểu lộ ý niệm này. Bởi thế, haiku cốt ở cái tinh thần, không phải ở hình thức: Điểm mấu chốt không nằm ở phong cách mà ở chính cái tinh thần của haiku. Vậy tinh thần haiku là gì? Quả thực, nhận định chính xác điều này cũng thật khó. Tuy nhiên, ta có thể nói rằng đó là một cảm thức mà thể thơ haiku có được từ khởi nguồn của nó, và các thi sỹ haiku có thể cảm nhận một cách vô thức. Sau tất cả, haiku có thể dung hòa cả tinh thần truyền thống lẫn cách tân.

Đinh Trần Phương dịch


[1] Jack Kerouac, Book of Haikus (Penguin, 2003), tr. 4.

[2] Hosai Ozaki, “The Sky”, Japanese Poets Collection 30 (Shincho-sha, 1969), tr. 133.

[3] Ban’ya Natsuishi, World Haiku 10 (Shichigatsudo, 2014), tr. 40.

[4] Kakio Tomizawa, “Revelation”, The World of Modern Haiku Vol. 16 (Asahi, 1985), tr. 98. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

[5] Shigenobu Takayanagi, “Collection of Mountains and Oceans”, Complete Works of Shigenobu Takayanagi Vol. 1 (Rippu Shobo, 1985), tr. 194. Dịch sang tiếng Anh: Toshio Kimura.

Điều cốt tử của thơ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

ngôi nhà cũ

người bỏ đi

nhện giăng tơ khung cửa

(Lê Văn Truyền)

Từ thuở "ăn lông ở lỗ", con người đã coi trọng nơi cư trú của mình. Nơi cư trú là nơi ta được sinh ra và lớn lên, cất tiếng khóc chào đời. Tất cả đã trở thành những kỷ niệm thân yêu nhất. Ngôi nhà cũ trong bài haiku trên đây, chính là nơi cất giữ những kỷ niệm của tác giả.

Cuộc sống tự nó là một vòng quay, từ mới đến cũ. Và cứ thế, cho đến ngày "người bỏ đi". Chỉ bấy nhiêu thôi, đã nêu bật tính vô thường của cuộc sống, không có gì là mãi mãi, không có gì là tồn tại, bất biến. Nhưng nếu như thế thôi, cũng không có gì mới mẻ, vì nó là quy luật tất yếu, vốn xảy ra không ngừng trong dòng chảy bất tận của vũ trụ mà thôi.

Thơ haiku tạo ra trong nó khoảng trống. Và im lặng. Để cho độc giả tự thâm nhập khoảng trống. Và điều kỳ diệu đã xảy ra:"thơ gợi mở một thế giới nội tâm, một khoảng trống khủng khiếp khi "người bỏ đi", là lúc tâm hồn ta đang thiếu vắng...

Xác thân ta chính là ngôi nhà tâm thức. Khi tâm hồn "người bỏ đi", thì chỉ còn cái xác không hồn! Ta vong thân trong chính thân xác của ta. Đây mới là điều cốt tử của thơ. Dĩ nhiên, khi ngôi nhà không có ai chăm sóc, thì cảnh "nhện giăng tơ khung cửa" diễn ra u ám, điêu tàn; nếu không nói là nơi ma quái, rắn rết kéo nhau đến làm nơi cư trú. Lục phủ ngũ tạng ta cũng thế, bệnh tật kéo đến hành hạ, đau đớn không cùng. Ta thử tưởng tượng, một người điên sống như thế nào, thì ngôi nhà có "nhện giăng tơ khung cửa" cũng như thế ấy.

Thơ haiku nhỏ thật, nhưng chứa trong nó một năng lực phi thường. Khi được khai mở, nó sẽ như dòng nước ngầm tuôn ra tràn ngập tâm trí kẻ hữu duyên.

Vỡ lẽ, ta mới hồn nhiên kêu lên:"Ồ, thơ haiku là thế!", là những gì được giấu kín bên trong, giúp ta tỉnh thức và thực hành.

Chăm sóc ngôi nhà của chính chúng ta, cho thân tâm được an cư, an lạc, trước khi duyên tứ đại tan vỡ. Đó là những gì mà thơ đem lại trong bài haiku tuyệt hay này...

Sài Gòn 11.2017

N.T.N

Tiếng chuông, hạt sương và lẽ vô thường- Lê Văn Truyền

Tiếng chuông Thiên Mụ

gieo màn sương

trên dòng Hương

alt

Cả tuổi thơ của tôi gắn liền với làng Kim Long, vùng đất vào năm 1636 được Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làm thủ phủ đầu tiên của xứ Đàng Trong suốt 60 năm trước khi xây dựng kinh thành Huế và Hoàng cung triều Nguyễn ở Phú Xuân. Kim Long nằm bên tả ngạn Hương Giang thơ mộng và có 2 dòng sông nhỏ, sông Kim Long và sông Bạch Yến, bao quanh làng.

“Nước đầu cầu khúc sâu khúc cạn

Chèo qua Ngọc Trản đến vạn Kim Long

Sương sa gió thổi lạnh lùng

Sóng xao trăng lặn chạnh lòng nhớ nhung”

Ca dao xứ Huế

Kim Long chỉ cách chùa Thiên Mụ, tọa lạc trên một ngọn đồi nhỏ ở làng Hà Khê tách ra từ làng Kim Long, khoảng 2 cây số theo đường chim bay. Vì vậy, tiếng chuông Thiên Mụ hàng ngày vang đến tận làng Kim Long vào cái thủa mà văn minh công nghiệp chưa lan đến những làng quê (không ô tô, không đèn điện, không máy móc…). Mỗi ngày, những hồi chuông 108 tiếng kéo dài trong một giờ đồng hồ từ đại hồng chung Thiên Mụ ngân nga vang vọng khắp vùng bắt đầu vào lúc 7:30 tối (canh 1) và 3:30 sáng (canh 5), giữ nhịp thời gian cho sinh hoạt của những người dân quê hiền hậu, chất phác trong vùng. Một trăm linh tám tiếng chuông thiêng gióng lên như để an ủi cho 108 khổ nạn mà chúng sinh phải trầm luân trong cõi trần gian này.

Khi tôi còn nhỏ, mỗi lần tiếng chuông Thiên Mụ cuối cùng buổi tối dứt, có nghĩa là tôi phải lên giường đi ngủ (trẻ con không được thức khuya, bà ngoại tôi bảo thể). Trước khi đắm mình vào giấc ngủ tôi nằm lằng nghe từng tiếng chuông đĩnh đạc bung ra, trầm bổng ngân nga như trò chuyện cùng tôi rồi từ từ tắt hẳn trong đêm tối để nhường chỗ cho tiếng chuông tiếp theo. Và buổi sớm mai, trong cơn ngủ vùi vô tư của con trẻ, tiếng chuông chùa vọng vào cơn mê ngủ của tôi, và những tiếng chuông cuối cùng của cữ chuông buổi sáng kéo tôi ra khỏi những giấc mơ đẹp đẽ của tuổi ấu thơ. Cả nhà lục tục dậy, bếp củi bắt đầu đỏ lửa chuẩn bị cho bữa ăn sáng và sau đó mọi người ra đồng. Theo thời gian, tôi nhận ra tiếng chuông Thiên Mụ thay đổi theo mùa: thanh trong vào những buổi sáng nắng hanh, trầm buồn trong những ngày mưa dầm gió bấc, ngân nga ai oán trong những buổi sớm mù sương … Vì vậy, tiếng chuông Thiên Mụ đã đi theo suốt cuộc đời tha hương của tôi cho đến tận bây giờ. Có những lần được trở về Kim Long, được nghe tiếng chuông Thiên Mụ, lòng thấy như ấm lại.

Người ta cho rằng tiếng chuông Thiên Mụ vang xa như vậy, ngoài bí quyết đúc đồng vi diệu của những người thợ đúc đồng Phường Đúc ở phía bên kia bờ sông, dòng Hương Giang uốn khúc trải dài trước chùa được coi như một dòng vật chất dẫn truyền tự nhiên cho tiếng chuông. Tôi thì lại nghĩ và tin rằng, tiếng chuông gióng lên mang theo công phu thiền định và hạnh nguyện từ bi của các thiền sư chùa Thiên Mụ chính là một yếu tố xúc tác vật lý, nhờ sóng âm và sóng siêu âm huyền diệu trong tiếng chuông, đã làm cho hơi nước bốc lên từ mặt sông ngưng tụ lại, gieo một màn sương khói huyền ảo trên dòng Hương xinh đẹp.

Mây thiêng đỉnh Yên Tử

thành hạt sương bậu trên mi mắt

hạnh ngộ lẽ Vô Thường

Cách đây mấy năm, một sớm đầu Xuân, tôi hành hương về Yên Tử. Leo qua hàng ngàn bậc đá để lên Chùa Đồng trên đỉnh núi, tôi cùng hàng ngàn khách hành hương đi trong mây. Mây mù làm phong cảnh chung quanh trở nên huyền ảo như một bức tranh thủy mặc, người ta không còn thấy rõ mặt nhau. Và tôi cảm thấy trong mây khuôn mặt mọi người bỗng trở nên hiền hậu hơn, đẹp đẽ hơn.

Thấm mệt, tôi nhắm mắt nằm trên một vạt cỏ ven đường và rồi tự nhiên cảm thấy có những hạt sương nhỏ li ti đang nhẹ nhàng bậu trên mi mắt và dịu dàng đáp xuống làn da mặt, mát rượi. Đột nhiên, mọi mệt mỏi bỗng tan biến, thân mình như bồng bềnh trong mây, tâm hồn bỗng nhẹ nhàng như hạt sương bay. Và chính trong phút giây ngắn ngủi đó dường như tôi đã ngộ ra lẽ Vô Thường. Nước biến thành mây, mây hóa thành sương, sương đọng thành giọt mưa cho hạt nẩy mầm, cho cây cối tươi xanh … Rồi theo vòng tuần hoàn của tự nhiên nước lại thành mây… Dù là một làn mây, một hạt sương, một hạt mưa hay cả một đại dương cũng đều thuận theo vòng tuần hoàn bất diệt này.

Vậy hà cớ gì ta lại không sống tùy duyên. Tùy duyên, ta hãy là mây, là sương, là hạt mưa, là giọt nước … Tùy duyên, đừng vô vọng cưỡng lại mà hãy an nhiên thuận theo lẽ Vô Thường trong cõi thế gian Bất Toàn này.

Thượng Đình, ngày Lập Hạ

LVT

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay11033
mod_vvisit_counterHôm qua42626
mod_vvisit_counterTất cả1588966
Hiện có 1158 khách Trực tuyến