Một cảnh báo đáng nhớ- Hồ An Thạch

alt

Đàn ông chúng ta

-Trong tim, ít ra

hai nữ hoàng ngự trị

(Đinh Nhật Hạnh)

Đọc bài haiku này của nhà thơ Đinh Nhật Hạnh, tôi không khỏi bật cười. Chuyện này nếu tính luôn các nhà tu hành thì rõ ràng là không đúng rồi. Tuy nhiên, tôi lại hiểu rằng, khi nhà thơ đã viết ra ắt có cái lý của nó. Thời phong kiến người ta quan niệm "trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng", là bất bình đẵng đối với phụ nữ.

Câu thơ chỉ rằng "ít ra..." tức là mặc định sự thu hút của giới tính là cực mạnh, khó cưỡng nổi của con người...

Thật ra, trời sinh đàn ông là để chinh phục phụ nữ, người nam rất tham lam, nhất là vấn đề nữ sắc là điều bình thường từ cổ chí kim. Các đấng quân vương thời phong kiến Trung Quốc và Việt Nam đều nổi tiếng có hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Và chiếc xe dê, kéo họ đến với cuộc tranh dành quyền lực thảm khốc trong nội cung.

Điều đó khẳng định nhà thơ đã nói không sai. Trong trái tim đàn ông, ít nhất cũng có hai "nữ hoàng ngự trị", là một cảnh báo cho chúng ta hãy coi chừng tệ nạn nữ sắc xảy ra bất kỳ thời buổi nào.

Vì sao vậy? Vì nữ sắc thường kéo theo nhiều hệ lụy, làm vua thì mất nước, làm dân thì tan nhà nát cửa vv... Người ham nữ sắc dễ đánh mất tư cách, tiền bạc, chức vụ, sự nghiệp bởi sự "ngự trị" của các nữ hoàng...

Câu thơ muốn nhắc ta tỉnh táo hơn, bởi bất cứ ai cũng dễ rơi vào cạm bẫy. Đặc biệt, theo Phật đạo người còn vướng bận vào nữ sắc không thể tu hành đạt đạo.

Và đạo Phật dạy người Phật tử giới cấm tà dâm, là cách tốt nhất để có một gia đình hạnh phúc!

Xem ra, cái lý của thơ nêu ra là rất lớn, nó chạm đến cuộc sống của con người, nhất là phần tu dưỡng nhân cách, nếu không sẽ bị sắc đẹp làm cho thân bại danh liệt!

Đọc thơ để cảnh giác chính mình và người khác, là thông điệp của thơ Đinh Nhật Hạnh muốn gởi gắm...

H.A.T

Khúc haiku về chú chó hoang- Lê Văn Truyền

alt

Cîine părăsit / căutînd un stăpîn / să aibă după cine plînge

An abandoned dog

is looking for a master

just to bark for him

Con chó hoang

chạy tìm một ông chủ

chỉ để được sủa theo

Vasile Smărăndescu (România)

Lê văn Truyền dịch từ nguyên bản tiếng România

Cách đây hơn hai mươi năm, vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, tình cờ tôi đọc được trên mạng internet bài phát biểu của Luật sư George Graham Vest (Hoa Kỳ) tại phiên tòa xử vụ kiện hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire báo New York Times bình chọn là một trong 100 bài diễn văn hay nhất trên thế giới trong thiên niên kỷ thứ hai sau khi Chúa Jesus ra đời. Sau khi nói về sự phản trắc của con người, từ bạn bè, con cái… cho đến những kẻ cộng sự hay thuộc quyền… vị luật sư nhấn mạnh:

“Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta. Nó luôn ở bên cạnh ta trong những khi phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết dập vùi, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, cho dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như vầng thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù... Rồi khi tấn trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng, quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì  vẫn còn bên nấm mồ của ta - chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô”.

Đó là những lời thấm đẫm nhân văn của một vị luật sư khi ca ngợi đức tính của loài chó. Nhưng tôi nghĩ chắc ngài luật sư đang nói về những con chó có chủ và chắc chắn trong cuộc đời của chúng, chúng đã được người chủ thương yêu. Và dù là loài vật, chúng vẫn cảm nhận được niềm hạnh phúc với lòng trung thành và lòng biết ơn vô hạn. Điều đó cũng giải thích cho tôi hiểu tại sao những người vô gia cư ở Washington, NewYork hay Paris… mà tôi thấy trên đường phố trong những chuyến công tác, trong những đêm Đông lạnh buốt ngập tràn tuyết trắng ai cũng nằm trong những chiếc thùng giấy với con chó thân yêu của mình dưới chân những tòa nhà cao ngất.

Paris, những đêm buốt giá

Còn bao nhiêu kẻ không nhà?

Thùng giấy thay chăn nệm ấm

Bên mình, chú chó ngẩn ngơ…

(Paris, ánh sáng và bóng tối – Lê Văn Truyền, 2007)

Ở nước ta, trong dân gian, khi nói về nỗi khốn cùng của một phận người hoặc khi tự than vãn về cuộc đời mình, người ta vẫn thường ví von: “khổ như chó”. Có lúc, để đáp trả cái liếm chân thể hiện lòng trung thành và tình yêu, những con chó phải chịu nhiều cú đá vô cớ khi chủ nhà đang bực bội. Nó là nơi để chủ nhà, từ trẻ em cho đến người lớn, trút những trận đòn cho hả cơn “giận cá chém thớt” mà nguyên nhân không phải do nó gây ra. Rồi đến một ngày nào đó, người ta làm thịt chúng, quay chúng vàng rộm trong lửa rơm và xào nấu chúng thành những món ăn khoái khẩu, mua vui cho mọi người trên bàn nhậu để sau đó tấm tắc bảo nhau rằng “sống trên đời không được ăn một miếng dồi chó, khi chết không nhắm được mắt!”… Thế nhưng dù sao, khi còn sống chúng vẫn may mắn là còn có chủ, có con người làm bầu bạn.

Tôi nghĩ, những con chó khốn khổ nhất trên thế gian này chắc chắn là những con chó vô chủ – những con chó hoang. Chúng chẳng có một nền đất lạnh trong góc nhà để lim dim khi mệt rũ. Chúng chẳng có chút thức ăn thừa đã ôi thiu bỏ đi dành cho chúng khi dạ dày chúng rỗng tuếch. Chúng chỉ có một mình, cô đơn, không bạn bè, bị con người săn đuổi để giết thịt (như ở nước ta và một vài nước khác). Để sống sót, chúng phải cắn xé nhau, đôi khi đến đổ máu để tranh giành thức ăn và chỗ ngủ với đồng loại, những con chó hoang khác cũng vô chủ như chúng. Và trong cuộc sống “khổ hơn chó” của những con chó hoang, chúng thiếu tình người dành cho chúng. Con chó hoang thấy cần có một ông chủ biết bao. Dù không hy vọng được ấm áp trong tình thương yêu loài vật, nó chỉ cần có một ông chủ, để thi thoảng được nghe lời quát mắng, để cảm nhận được rằng nó vẫn còn được một ai đó quan tâm, để thấy sự tồn tại trên cõi đời này của nó có ý nghĩa, để bù đắp cho sự cô đơn vô tận trong cuộc sống hoang dã của mình. Đến đây, tôi bỗng lại nhớ đến những con chó hoang ở Thủ đô Bucarest trong chuyến công tác của tôi đến România vào năm 2001, hơn 10 năm sau khi chế độ của Tổng thống Nicolae Ceausescu sụp đổ. Lúc đó nền kinh tế của România đã tụt đến tận đáy. Người dân thủ đô không còn khả năng nuôi những con thú cưng. Hàng ngàn con chó cưng của một thành phố gần 10 triệu dân bị đẩy ra khỏi nhà, lang thang kiếm ăn trên khắp các đường phố và cả dưới mạng lưới tàu điện ngầm đẹp đẽ, hiện đại vốn từng là niềm tự hào của đất nước. Một buổi tối, khi tôi đi bộ từ một ga tàu điện ngầm trên đại lộ Magheru trở về Đại Sứ Quán Việt Nam trong một con phố nhỏ yên tĩnh, một con chó bông nhỏ xíu, xơ xác, bẩn thỉu quấn lấy chân tôi để làm quen và lẫm chẫm, tội nghiệp chạy theo về đến tận cổng Tòa Đại Sứ. Tôi đành phải nhẫn tâm gạt nó ra, đóng hai cánh cửa sắt của Tòa Đại Sứ để nó đứng bên ngoài trong đêm tối lạnh lẽo, thất vọng dõi theo tôi với ánh mắt cầu khẩn… Thế cho nên, một con chó dù có bị đuổi ra khỏi nhà trở thành con chó hoang vẫn vô vọng rong ruổi, lang thang hết ngày này sang ngày khác để “chạy tìm một ông chủ” khác với niềm hy vọng cháy bỏng trong một ngày đẹp trời nào đó có một ai đó đem mình về nuôi. Để mình được có một ông chủ, để dù không được thương yêu đi nữa, nhưng có một người để có thể chạy theo sau mà sủa, dù đôi khi có thể bị một cú đá, nhưng đó cũng đã là niềm an ủi lớn vì mình đã thoát khỏi thân phận một con chó hoang vô chủ còn “khổ hơn chó” của mình.

Khúc haiku với nhận xét hết sức tinh tế và độc đáo của Vasile Smărăndescu (România) về con chó hoang giúp tôi nhận ra một khía cạnh khác đầy “nhân tính” của loài chó mà Luật sư George Graham Vest đã tổng kết trong bài phát biểu của mình. Và tự nhiên tôi tin rằng, không thể khác được, chắc chắn nhà thơ đã viết khúc haiku này trong bối cảnh của thời kỳ chuyển đổi đầy đau đớn của đất nước và xã hội România vào thập kỷ 90’ của thế kỷ trước, nơi tôi từng có một khoảng đời thanh xuân trải qua ở đó trong thập kỷ 60’.

L. V. T

Cái quạt của Ryokan

手もたゆくあふぐ扇のおきどころ
te mota yuku / ōgu ōgi no / okidokoro

alt

my tired hand
seeks to find a place
for the fan

Gabor Terebess dịch

tay ta mỏi rồi

muốn tìm một chỗ

cho quạt nghỉ ngơi

Lê Văn Truyền dịch

Khi điện lực chưa thành nguồn năng lượng phổ biến của nền văn minh vật chất, khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở nông thôn Châu Á mỗi khi cần một làn gió mát ta chỉ có thể nhờ cậy vào cái quạt tay. Vẫn còn nhớ vào những năm thập kỷ 50’ của thế kỷ trước, khi tôi được đi xem tuồng ở Rạp hát Đồng Xuân Lâu hoặc xem chiếu bóng ở Rạp Tân Tân (Huế) thì những rạp hát, rạp chiếu bóng này vẫn chưa được mắc quạt điện (chứ đừng nói đến điều hòa nhiệt độ trung tâm công suất lớn như bây giờ). Trên trần rạp hát, rạp chiếu bóng, người ta treo những tấm mành vải rộng khoảng 2-3 m, dài khoảng 1-2 m được nối với những sợi dây thừng dài chạy qua một hệ thống ròng rọc. Các cậu bé nghèo được chủ rạp thuê kéo các sợi dây thừng để hệ thống “quạt trần” này hoạt động suốt trong buổi diễn, lưu thông không khí và tạo làn gió mát cho khán giả. Hiệu quả của những “động cơ sống” này như thế nào, tất cả chúng ta ngày nay đều có thể đoán được.

Thời đó, với mỗi người chiếc quạt tay là vật dụng không thể thiếu. Đối với các bậc vương giả hoặc mệnh phụ phu nhân, chiếc quạt tay là một tác phẩm nghệ thuật, một phụ kiện sang trọng để chứng minh đẳng cấp của người sở hữu nó (cũng như những chiếc túi xách Louis Vuitton giá vài trăm ngàn đôla của các “hotgirl” sang chảnh ngày nay hay chiếc đồng hồ Rolex giá vài triệu đôla của “tay chơi lừng danh” Trịnh Xuân Thanh và của mấy ông tướng đang bị truy tố về tội bảo kê đánh bạc mới đây). Với người bình dân, chiếc quạt tay có thể là một chiếc quạt giấy, chiếc quạt nan tre, chiếc quạt bằng lá cọ hoặc đơn giản là một chiếc quạt mo cau tự tạo. Thế nhưng, những chiếc quạt đơn giản, rẻ tiền này được những người bình dân coi là những “người bạn thân thiết” cùng “chia ngọt sẻ bùi” giúp họ xoa dịu cái nóng, xua tan mệt mỏi trong những ngày hè oi nồng. Vì vậy, khi Ryokan đã mỏi tay quạt cho mình, ông cũng nghĩ đến phải tìm một chỗ “xứng đáng” cho cái quạt tay của ông được nghỉ ngơi chứ không phải tiện tay quẳng nó vào bất cứ chỗ nào.

Mối quan hệ vật dụng – con người thời xưa ấm áp và nhân văn làm sao so với mối quan hệ người – người lạnh lùng, vô nhân trong cái xã hội tiêu thụ được gọi là hiện đại và văn minh của thế kỷ XXI này.

Lê Văn Truyền

(Câu lạc bộ Haiku Việt – Hà Nội)

Thiện và ác- Lê Văn Truyền

alt

mỗi ngày

ta gặp quỷ

và gặp Phật

Santoka (Taneda Shoichi, 1882 – 1940)

Đinh Nhật Hạnh Đinh Trần Phương dịch

Nhận ấn thiền sư vào năm 42 tuổi, chỉ một năm sau Santoka bắt đầu cuộc sống của một người khất thực. “Khất thực với tấm lòng hàm ơn chân thành, tôi hy vọng có thể nhập vào thế giới hiện hữu trong ánh sáng vô ngần. Cuộc hành hương này thực chất là đi vào thế giới sâu thẳm của lòng người”, Santoka chia sẻ. Và trong cuộc hành hương này, trong thế giới hiện hữu này, mỗi ngày Santoka gặp bao điều thiện và cái ác, bao nhiêu điều tốt đẹp và cái xấu xa. Trong tác phẩm cuối cùng của đời mình “Minh triết của hiền nhân” (The Thoughts of Wise Man), đại văn hào Nga Lev Tolstoi đã viết: “Nếu không có bóng tối, chúng ta sẽ không biết màu sắc hay ánh sáng. Tương tự như vậy, nếu không có cái xấu ác, chúng ta sẽ không biết đức hạnh hay sự chính trực”.

Nhưng Phật không chỉ ở trên trời, Quỷ không chỉ ở dưới địa ngục. Phật và Quỷ, Thiện và Ác hiện hữu mọi lúc, mọi nơi. Phật và Quỷ cũng không ở ngoại thân ta mà hiện hữu trong ta, trong tất cả chúng ta. Trong cuộc sống, ta phải chấp nhận thực tế ấy.

Một lần, tôi từ TP Hồ Chí Minh về Hà Nội trong một chuyến bay khuya, lên một xe taxi vào lúc nửa đêm. Trên đường, anh lái xe tỏ ra rất thân thiện khi thấy một người lớn tuổi đêm hôm khuya khoắt vẫn còn phải bôn ba mà chưa được nghỉ ngơi. Về đến nhà, khi vội vã lấy hành lý xuống xe, tôi để quên cái cặp trong đó có máy vi tính, máy ảnh, giấy tờ và một số tiền. Tôi mất ngủ suốt đêm vì tiếc cái máy vi tính cũ chứa rất nhiều dữ liệu suốt trong 10 năm làm việc. Sáng hôm sau, một lái xe taxi khác, trẻ tuổi mang một hộp carton được niêm phong đựng chiếc cặp và nói có người nhờ chuyển cho tôi. Khi mở chiếc cặp ra, chiếc máy tính cũ và giấy tờ vẫn còn nhưng chiếc máy ảnh và tiền … đã biến mất. Tôi đành tự an ủi: trong cái rủi vẫn còn cái may và người lái xe taxi đêm qua bên cạnh lòng tham vẫn còn chút thiện tâm. Đến bây giờ tôi vẫn còn thầm cảm ơn anh ta vì đã trả lại cho tôi chiếc máy tính.

Sinh thời, khi làm việc với một số cán bộ phụ trách xuất bản sách “Người tốt việc tốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ: "Mỗi người đều có cái Thiện và Ác ở trong lòng. Ta phải biết sao cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu mất dần đi". Lời nhắc nhở của Chủ tịch Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới - không chỉ là lời dạy của một lãnh tụ cách mạng mà đồng thời cũng là lời răn dạy của một bậc hiền nhân vậy.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

...

SANTOKA TANEDA (1882-1940). Là một trong những nhà thơ haiku hiện đại nổi tiếng nhất và lập dị nhất của Nhật Bản. Ông được cứu khỏi một vụ tự tử khi còn trẻ và sau này trở thành một trong những Thiền Sư Hành Hương thật sự cuối cùng của thế kỷ XX. Thơ haiku của ông thuộc thể tự do cũng như cuộc đời của ông vậy; Ông sử dụng tinh thần của haiku, nhưng không tuân theo số âm tiết và quý ngữ (kigo) của haiku. Có thể đọc haiku của ông bằng tiếng Anh trong tác phẩm “Mountain Tasting: Zen Haiku by Santoka Taneda”, được John Stevens dịch. (Theo Patricia Donegan).

Bay lên- Hồ An Thạch

alt

"chuồn chuồn

đôi cánh

chuồn chuồn"

(Nguyễn Thánh Ngã)

Thơ haiku tinh gọn, sự tinh gọn nói lên cái thâm hậu cao tay của người sáng tác. Đọc bài haiku này của Nguyễn Thánh Ngã, ta càng thấy sự tinh gọn hồn nhiên quá đỗi cao tay. Không phải cây bút cao tay, không ai dám viết tinh gọn như vậy. Bài thơ có sáu chữ hồn nhiên, thì cái tên "chuồn chuồn" đã chiếm bốn chữ, nghĩa là lặp lại và lặp lại.

Đây là một điệp từ tinh ý của người viết, diễn tả trực tiếp hai đôi cánh chuồn chuồn đang bay, khiến cho bài thơ nhỏ bé như con chuồn chuồn kia cũng đang bay vào mắt người đọc...

Và dĩ nhiên sau khi bay, nó ở lại miên viễn trong hồn người thưởng ngoạn...

Không phải sao, con chuồn chuồn có hai đôi cánh, bài thơ có hai đôi cánh, và thân mình con chuồn chuồn lại là hai từ "đôi cánh". Tất cả nói lên vũ điệu bay mềm mại, uyển chuyển của cơ thể vật lý và của ngôn từ.

Bài thơ thật cô đọng và cao sang. Con chuồn chuồn tuyệt đẹp kia, nếu không có hai đôi cánh thì không phải. Vì vậy, bài thơ là cái chộp bắt bất chợt trong khoảnh khắc bay, chỉ có thể nói về hai đôi cánh.

Ngoài ra không nói gì khác...

Thế mà nói rất nhiều về tự lực. Hãy bay bằng đôi cánh của chính mình. Đó là thông điệp tinh gọn, mãnh liệt mà bất cứ người đọc nào cũng cần thấu thị.

Phải chăng nghệ thuật của haiku là đây, là ngắn nhất thế giới, là không thể ngắn hơn. Chính vì vậy mà thâm viễn, tinh kiệt, và không có gì để so sánh nữa...

Tôi không dám nói bài haiku này hay hay không, bởi nó đã ra ngoài mọi kiềm chế, mọi giới hạn.

Để bay lên!

H.A.T

Những bông hoa dại- Lê Văn Truyền

alt

lối mòn nghĩa trang

hoa dại vô danh

kiêu hãnh vươn mình

Lê Văn Truyền

Trong bài tùy bút của Nhà văn TS Chu Văn Sơn “Phận hoa bên lề” viết về hoa lau, một trong những loài hoa dại, tác giả đã rất tinh tế nhận xét:

“Đợi khi hầu hết các loài hoa trong năm đã khoe sắc phô hương cả rồi, bông hoa dại mới nở. Nếu xem mỗi niên hoa như một dãy dằng dặc, xếp hàng đợi đến lượt nở, thì nó đứng ở cuối hàng. Kiên nhẫn, nhún nhường, hay biết phận biết thân? Thật khó nói. Chỉ biết khi năm hầu tàn, mùa hầu cạn, chẳng còn loài hoa nào tranh chỏi nữa, nó mới dâng hoa. Nó nở trong gió bấc mưa phùn, dưới màu mây xám bạc và trong cái giá buốt của ngày đông tận. Nhưng không ai đợi nó dịp tất niên. Càng không ai chờ nó cho tân niên”.

Nhận xét về thân phận của những loài hoa dại, nhà văn viết:

“Nó là loài hoa không biết đến hội hè. Nó không có chỗ trong các bình hoa bày trang trọng tại những chốn cao sang. Cũng không có chỗ trong những vựa hoa, quầy hoa, sạp hoa bày trên phố xá. Không ai đầu tư, không ai khuyến mãi. Nó không bao giờ có mặt trong danh sách những thứ hoa cần mua sắm để trang hoàng khánh tiết cho bất kỳ cuộc vui nào. Và nó cũng chẳng dám mơ được nằm trên đôi tay tình nhân trao tặng nhau những dịp lễ lạc. Bàn tay chăm thôi còn chả dám mong, nói gì đến bàn tay tình. Có phải bàn tay duy nhất được biết đến trong đời là bàn tay cầm nắm nó khi triệt bỏ nó? Vương quốc thực sự của nó là những miền đất hoang, là núi đồi gò bãi. Nó là cư dân của những miền đời quên lãng. Nó tự sinh ra để tự khuây khỏa. Khoảng trống của hoang vu có bớt đi được phần nào không, mà giữa chốn hoang vắng, có bóng nó chập chờn, thấy lòng hoang dại bỗng dâng lên một niềm ấm áp”.

Nhà văn hào hoa đã nói thay những gì người đời thường nghĩ về thân phận của những loài hoa dại.

Thế nhưng …

… Do công việc, đôi khi tôi được trú chân trong những khách sạn sang trọng ở nhiều thành phố lớn trên thế giới. Và, tôi thật sự ngạc nhiên thậm chí hứng khởi khi thấy nhiều loài dã hoa đồng nội quê nhà được ngự trị ở những vị trí trang trọng nhất và được những nghệ nhân hàng đầu với cả tâm hồn nghệ sỹ và bàn tay tài hoa đã biến chúng thành những bông hoa đẹp một cách lạ kỳ, còn đặc sắc hơn những bông hoa được chăm chút đêm ngày trong những vườn ươm hiện đại, trong những nhà kính mênh mông, lớn lên dưới ánh sáng nhân tạo, tưới nước và điều hòa nhiệt độ được lập trình 24/24 giờ.

Những bông hoa dại sống an nhiên thuận với lẽ tự nhiên của trời đất, không cần ánh sáng nhân tạo, không cần giàn phun sương tự động, không cần các loại phân bón tổng hợp, không cần vô số các thuốc bảo vệ thực vật (mà thực chất là những độc dược) và cũng không cần bàn tay chăm chút của người trồng hoa vì chúng biết rồi sẽ bị họ cắt và đem bán khi đến thì. An nhiên vì trước tiên nó được sống cho nó, để đòi hỏi sự công bằng và chứng minh nó phải có một chỗ đứng nhất định trên mặt đất, giữa muôn loài, dưới ánh mặt trời. Nó khoe sắc trên đồng nội tươi xanh, trên bờ ruộng, bờ rào, trên gò đồi lộng gió, ven những khúc đường quê thanh bình, trong những mảnh vườn nhà thân thương, trong những nghĩa trang u mặc … An nhiên vì nó tự tin về vẻ đẹp thuần khiết, tự nhiên, về sức sống mãnh liệt của mình, không lai tạp bằng nền công nghệ sinh học tiên tiến. Nó không thèm so mình với các loài hoa cảnh được chọn giống và lai giống, õng ẹo, sang chảnh, kiêu kỳ nhưng yếu ớt, sớm nở tối tàn. Nó lại và càng không hạ mình sánh với hoa giấy, hoa nhựa, hoa lụa ..., nói chung là các loại “hoa giả” lòe loẹt, vô hồn đang hiện diện khắp nơi kể cả ở những nơi cao sang, tôn nghiêm nhất góp thêm phần vào sự giả dối đang tràn lan trong cuộc sống hiện nay.

Các loài dã hoa đang tồn tại một cách hồn nhiên, ung dung, tự tại chờ giây phút được xòe cánh khoe sắc, mở lòng tỏa hương cho những ai biết dừng chân nâng niu nó trong tay, biết nghiêng mình chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang dã, khỏe khoắn của những cánh hoa và hít sâu vào lồng ngực mùi hương dịu dàng, mộc mạc nhưng nồng ấm lan tỏa tràn trề từ nhụy hoa.

Vì vậy, tôi ước gì trên ngôi mộ của mình mai sau, luôn luôn nở những bông hoa dại bốn mùa của quê nhà …

Quê nội, Tháng ba Đinh Dậu Những ngày tìm về nguồn cội

LVT

Ngôi nhà thùng giấy- Lê Văn Truyền

the homeless man

takes off his shoes before

his cardboard house

Penny Harter

alt

người đàn ông vô gia cư

cởi đôi giày

trước “ngôi nhà thùng giấy”

Lê văn Truyền dịch

Trong những chuyến công tác đến Châu Âu … tôi thường bắt gặp rất nhiều người vô gia cư phải sống trên hè phố. Cả tài sản nghèo nàn của họ chỉ để gọn trong một vali kéo nhỏ hoặc một chiếc xe đẩy. Họ làm những việc vặt, nhặt rác …, một số khá hơn và có chút tài lẻ như đàn hát, ảo thuật thì biểu diễn trên đường phố để kiếm chút thu nhập qua ngày. Mùa Đông họ thường ngồi bên những cửa cống rãnh trên hè phố để sưởi nhờ hơi nóng bốc lên từ nước thải xả ra từ các tòa cao ốc, khách sạn hoặc nhà hàng … Nhiều người luôn luôn có một con chó bên mình để làm bạn, để chia ngọt sẻ bùi. Các bà già thường ôm trong lòng, chăm chút, cưng nựng con mèo của họ. Giữa rừng người sang trọng vội vã qua lại trước mắt, họ lặng lẽ như những cái bóng, thậm chí như những người câm, chờ đợi và cảm ơn lòng hảo tâm của khách qua đường chỉ bằng cử chỉ, hoàn toàn không gây phiền hà cho mọi người. Buổi tối, đặc biệt về mùa Đông, họ thường ngủ trong những thùng giấy carton lớn, sáng dậy họ gấp thùng giấy lại và để gọn “ngôi nhà lắp ghép di động” của mình vào một xó xỉnh nào đấy.

Ở các thành phố lớn của Hoa Kỳ cũng thế thôi. Ở đất nước giầu nhất thế giới, đất nước của hàng triệu triệu phú, tỷ phú vẫn còn bao kẻ không nhà. Tôi đoán chắc, nữ haijin Penny Harter trong một đêm khuya đã bắt gặp một người vô gia cư trên hè phố, khi đi ngủ đã cởi đôi giày rách nát để sang một bên trước khi bước vào “ngôi nhà thùng giấy” của mình cũng như trước đây, là một người có giáo dục, ông ta đã vẫn làm như vậy trong ngôi nhà một thời của mình mà vì một lý do nào đó ông phải từ bỏ nó để gia nhập đội quân vô gia cư.

Đây có phải là biểu hiện rõ ràng nhất “mối quan hệ mâu thuẫn” giữa hình thức và nội dung như các nhà triết học từng đề cập đến? Hãy đừng nhìn vẻ ngoài bình thường, thậm chí tầm thường để đánh giá con người. Một người tử tế có nền tảng giáo dục tốt, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng thực hành những gì họ đã được dạy dỗ từ tấm bé một cách hoàn toàn tự giác, tự nhiên. Hãy xem cách các “fan” của đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản, nước mắt lưng tròng, nén nỗi buồn thua trận dọn rác trên sân vận động sau những trận cầu của đội tuyển trên đấu trường khốc liệt “FIFA World Cup, Russia 2018”.

Tôi bỗng liên tưởng đến cảnh chen lấn tranh giành đồ ăn trong nhiều bữa tiệc buffet mà gần đây nhất là trong một nhà hàng ở Cần Thơ, cảnh các nhà hàng, khách sạn ở Singapore, Bangkok, Hong Kong, Kuala Lumpur … dán tờ cảnh báo bằng tiếng Việt (!!!) rằng sẽ phạt tiền những thực khách nào lấy đồ ăn mà không dùng hết, cảnh các quý khách hạng “VIP” (Very Important Person: Các Yếu Nhân), hạng Business” (Thương Gia) của chúng ta chen hàng ở các sân bay quốc tế, ngay ở các cửa lên máy bay đã đặc biệt dành riêng cho “hành khách hạng ưu tiên”, mặc dù họ biết rằng máy bay có chỗ ngồi cho từng hành khách, không để ai phải đứng như khi bắt “xe đò lục tỉnh” ở Nam Bộ trước đây … Ta cũng bắt gặp ở nhiều chốn công cộng những bà mẹ, ông bố thúc giục con cái phải “ăn thua đủ” với các bạn cùng trang lứa mỗi khi xẩy ra một “sự cố” nào đấy. Lỡ có cháu nào nhường nhịn bạn bè thì ngay lập tức được bố mẹ tặng ngay nickname “Đồ ngu” hoặc được ân cần, âu yếm hỏi: “Sao con ngu thế hở con?”.

Đến đây, tôi bỗng muốn hô to: Muôn năm các nhà triết học thiên tài marxism đã phát hiện ra quy luật phổ biến “mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung” để chúng ta tự tìm ra lời giải, tự an ủi cho mình và đỡ phải đau đầu vì sốc khi gặp những cảnh trớ trêu trên đây.

LVT

PENNY HARTER (sinh 1940). Harter là một trong những nhà thơ kaiku Hoa Kỳ lỗi lạc nhất, mặc dù bà vẫn sáng tác các bài thơ dài. Đã nhiều năm, bà là giáo viên và người cổ súy cho thơ haiku trong các nhà trường. Bà là đồng tác giả (cùng với William J. Higginson) tác phẩm “The Haiku: How to Write, Share and Teach haiku” (Haiku: Làm thế nào để Sáng Tác, Phổ Biến và Giảng Dạy Haiku). Bà đồng thời là Nguyên Chủ Tịch Hội Haiku Hoa Kỳ. Các tác phẩm thơ của bà gồm có: “Turtle Blessing: Poems” (Con Rùa Cầu Nguyện: Thơ), “Lizard Light: Poems from the Earth” (Ánh Mắt con Thằn Lằn: Thơ từ Trái Đất); “Buried in the Sky” (Chìm trong Bầu Trời); và gần đây “The Beastie Book” (Sách về Dã Thú), sách viết cho thiếu nhi, và một tuyển tập thơ “The Night Marsh” (Đầm Lầy Ban Đêm).

Thơ Haiku gợi cảm và nghĩ từ những hình ảnh- Nghiêm Xuân Đức

Thể thơ Haiku của Nhật Bản đã du nhập vào nước ta, số người làm thơ Haiku (người Nhật gọi là các Haijin) ngày càng nhiều. Nhiều tập thơ Haiku bằng tiếng Việt đã được xuất bản, và đã có các Câu lạc bộ thơ Haiku được thành lập ở Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh để liên kết các Haijin Việt. Trong quá trình ấy, các tài liệu viết hoặc dịch để giới thiệu về thể thơ này ngày càng phong phú hơn.

alt

Trong bài viết này, chúng tôi muốn giới thiệu một “quan niệm” hoặc một “nhận định” về thi pháp hoặc cách cấu trúc các tứ thơ Haiku. Tất nhiên cấu trúc tứ thơ Haiku rất đa dạng, không thể đơn giản hóa và nói võ đoán về nó được. Đây chỉ là một bước trên đường đi tìm đặc điểm cấu tứ của thơ Haiku, nhằm cung cấp các nhận xét ban đầu cho các Haijin Việt để chinh phục thể thơ này và đưa nó phục vụ cho tâm hồn Việt. Cách làm này đã được các nhà Nho và nhà thơ Việt sử dụng từ lâu khi họ chinh phục và sử dụng các thể thơ Đường, thơ Hán, thơ cổ phong…Về sau, các nhà Tây học và các thi sĩ thời Thơ Mới cũng đã phải làm như vậy với các thể thơ đến từ Phương Tây.

Thi pháp cấu tứ hoặc nói đơn giản hơn là cách sử dụng các ý thơ trong thơ Haiku liên quan nhiều với các hình ảnh. Nói đến tứ thơ Haiku là nói đến các hình ảnh và các ý thơ được đặt cạnh nhau. Có thể nói rằng làm thơ Haiku là chọn các hình ảnh , các sự kiện, các tứ thơ rồi đặt chúng cạnh nhau. Mối quan hệ giữa các hình ảnh tự nó tạo nên ý thơ hoặc nhờ một cách “kết dính/ liên hệ” nào đó, ta sẽ tìm hiểu sau. Bài này cũng không đề cập đến đặc điểm các hình ảnh đặc trưng của Haiku ( Thơ Haikư cổ điển thường nói về thiên nhiên và mùa, các sự vật và sinh vật nhỏ nhoi, xu hướng Thiền…Thơ Haikư hiện đại đề cập đa dạng mọi vấn đề của đời sống nhân sinh)

Sử dụng hình ảnh đâu phải là cách làm riêng của thơ Haiku, thậm chí có thể khái quát hóa mà không sợ sai rằng làm thơ là “ tức cảnh sinh tình” hoặc dùng hình ảnh để nói về tình cảm hoặc sự vật. Thơ Đường, thơ lục bát, thơ mới, thơ trẻ… đều làm thế cả. Vậy đâu là đặc điểm trong việc sử dụng hình ảnh của thơ Haiku?

Các thể thơ khác có thể không dùng hoặc dùng một hình ảnh hoặc nhiều hình ảnh, có thể đặt chúng độc lập hoặc cạnh nhau, có quan hệ hoặc không có quan hệ gì cả, trong thời gian dài hay ngắn. Hình ảnh đó thường được tác giả bình luận hoặc tạo mối quan hệ theo ý mình, thường  kèm việc sử dụng tính từ, trạng từ hoặc các hư từ khác để làm rõ thêm ( các loại từ này được dùng phổ biến trong thơ trữ tình). Hình ảnh chỉ là một trong các cấu trúc của tứ thơ, lẫn lộn trong các kiểu cấu tứ khác và có khi cấu tứ kiểu hình ảnh không có vai trò chủ đạo (thí dụ trong thơ trí tuệ của Chế Lan Viên có nhiều tư tưởng/ quan điểm, trong thơ trữ tình của Xuân Diệu có nhiều cảm xúc/ tình cảm…)

Còn đối với thơ Haiku, hình ảnh là tứ thơ cốt lõi, nổi bật và có khi duy nhất ( chỉ có các hình ảnh đặt kề nhau) và diễn ra trong khoảnh khắc.

Đặc điểm này được chỉ ra rất rõ ràng trong nhiều giới thiệu ngắn gọn hoặc “ định nghĩa” về thơ Haiku :

-Viện Hàn lâm các nhà thơ Mỹ - (POETS.org) nói :

“…Thơ Haiku Nhật bản truyền thống là bài thơ ba dòng với muời bảy âm tiết, viết theo cách xếp 5/7/5.Thường hướng về các hình ảnh thiên nhiên, thơ Haiku nhấn mạnh sự giản dị, xúc tích và sự diễn đạt trực tiếp.

Thể thơ đã tiến triển, nhiều luật lệ của nó – cả cách làm 5/7/5 – thường đã bị phá vỡ. nhưng triết lý của Haiku vẫn được giữ vững: Tập trung vào một quãng thời gian ngắn; xử dụng hình ảnh gợi cảm giàu màu sắc; …

….Triết lý này ảnh hưởng đến nhà thơ Ezra Pound , người đã ghi nhận sức mạnh cúa sự ngắn gọn Haiku và các hình ảnh kề nhau. Ông viết : “ Bản thân hình ảnh là ngôn ngữ. Hình ảnh là từ ngữ nằm bên ngoài cấu trúc ngôn ngữ”.

Thơ Haiku theo truyền thống được viết ở thì hiện tại và tập trung vào sự kết hợp giữa các hình ảnh.

- Từ điển mở Wikipedia nói về thơ Haiku

-http://en.wikipedia.org/wiki/Haiku

“Haiku ( tiếng Nhật: số nhiều của Haikai) là một thể rất ngắn của thơ Nhật bản với ba đặc điểm điển hình:

  • Tinh thần của Haiku là “ cắt” (kiru). Điều này thường thể hiện bằng cách đặt kề nhau hai hình ảnh hoặc ý tưởng và giữa chúng là một kireji (từ cắt), một loại dấu ngắt hơi khi đọc để chỉ lúc phải ngắt và tạo sắc thái cho các yếu tố đặt cạnh nhau

Thơ Haiku hiện đại ngày càng không tuân theo truyền thống 17 âm hoặc lấy thiên nhiên làm chủ đề, nhưng cách đặt kề nhau vẫn tiếp tục được trân trọng cả trong Hai ku truyền thống và hiện đại. Có một nhận thức chung, mà khá mới, rằng các hình ảnh đặt kề nhau phải là các sự vật  hoặc sự kiện trực tiếp quan sát được thường ngày ….”

- Tổng lãnh sự /Sứ quán Nhật giới thiệu tóm tắt thơ Haiku ( cuộc thi thơ Haiku năm 2011 ở Việt Nam), không dùng từ hình ảnh mà gọi là sự vật/sự việc :

“Thơ haiku là thể thơ ngắn độc đáo của Nhật Bản gồm 17 âm tiết 5 – 7 – 5, ngắt nhịp thành 3 câu có lịch sử hơn 400 năm. Thơ haiku ghi lại sự vật / sự việc một cách hiện thực, đơn giản nhưng truyền tải cảm nhận sâu sắc cho người đọc. Đề tài của thơ haiku thường là thiên nhiên và các mùa trong năm vì thế thơ haiku có luật cơ  bản là phải có từ chỉ mùa, tiếng Nhật gọi là kigo (季語) dấu hiệu cho biết bài thơ đang miêu tả mùa nào….”

-Các nhà thơ phương Tây sắp xếp khái quát thơ Haiku vào trường phái thơ Hình ảnh (Imagism). Các hiểu biết đơn giản hóa về trường phái thơ Hình ảnh có thể tóm tắt như sau:

(Imagism - http://faculty.gvsu.edu/websterm/imagism.htm) :

 …Kết luận, thơ Hình ảnh chịu ảnh hưởng của Thơ Haiku Nhật, những bài thơ có 17 âm thường chỉ trình bày hai - ba hình ảnh đặt kề nhau. Thể thơ này cố gắng gợi ý hơn là nêu nêu ý nghĩa tầm thường, tránh các công cụ bóng bảy như lối nói ví von bóng gió và thậm chí, cả cách ẩn dụ….

Nhà thơ người Mỹ Ezra Pound cùng vợ chồng Richard Aldington và Hilda Doolitle đã lần đầu- 1915- ghi nhận ( note) về thơ Imagism với ba tiêu chuẩn (standard) như sau:

-1. Đề cập trực tiếp sự vật, có thể chủ quan hoặc khách quan

- 2. Tuyệt đối không dùng các từ không đóng góp gì vào việc trình bày.

- 3. Về tiết điệu: viết trong chuỗi liên tiếp của câu nhạc, không trong chuỗi rời rạc của máy gõ nhịp

Pound cho rằng “ Hình ảnh là cái gì trình bày một phức hợp về trí não và cảm xúc trong một khoảnh khắc thời gian” , thơ Imagism “ chưng cất câu thơ thành một hình ảnh hơn là sử dụng các công cụ thi ca để trang trí và làm phức tạp câu thơ”

Trong một lớp tập huấn về thơ ông khuyên : “ …cắt các bài thơ chỉ còn bộ xương và loại bỏ mọi từ không cần thiết, mọi từ dư thừa, không dùng tính từ chẳng nói lên điều gì – không dùng từ trang trí, kể cả những từ trang trí tốt…”

Các nhà thơ Imagism nổi tiếng là : Ezra Pound, Aldington, F.S. Flint, Skipwith Cannell, Amy Lowell, William Carlos Williams, James Joyce, Ford Madox Ford, Allen Upward, John Cournos….

Như vậy có một nhận định phổ biến rằng thơ Haiku sử dụng cách đặt các hình ảnh bên nhau để tạo ý thơ.

Chúng ta hãy xem các nhà thơ Haijin danh tiếng của Nhật đã sử dụng đặc điểm thi pháp này thế nào. Các trích dẫn sau đây là lấy từ các công bố của các người dịch hoặc sưu tầm trong nước. Chung quy ta thấy có hai cách làm chính :

- Đặt các hình ảnh kề nhau ( thường là 2 hoặc 3, nhưng có lúc chỉ là 1 hình ảnh duy nhất), hình ảnh là hiện thực, trong khoảnh khắc và không nói gì thêm, hoặc chỉ nói rất it, rất kín đáo :

Basho:

Ao cũ

Ếch nhảy vào

Tiếng nước


Trên cành trụi lá

Bóng quạ

Hoàng hôn thu


Issa:

Trong vườn

Em bé bò theo

Cánh bướm bay


Trên nương trà

Một bày se sẻ

Trốn tìm trong hoa


Buson:

Cơn gió nhẹ ban mai

Những lông tơ rung động

Trên thân con ngài


Hoàng hôn

Tiếng bắn chim trĩ vang dội

Trên triền núi Xuân


Shiki:

Con sông mùa đông

Xác một con chó chết

Giữa dòng


Côn trùng nỉ non

Trăng hiện ra

Khu vườn thêm tối

-Đặt các hình ảnh kề nhau và có nói thêm, có tạo ra mối quan hệ giữa chúng hoặc nói lên ý nghĩa của chúng bằng các từ/cụm từ ngắn gọn, lúc này có thể dùng tính từ, trạng từ hoặc hư từ ( nhưng thường rất hạn chế và vẫn rất kín đáo) :

Basho:

Tôi vỗ bàn tay

Dưới trăng mùa hạ

Tiếng dội về ban mai

( mối quan hệ giữa bàn tay vỗ và trăng mùa hạ là tiếng dội về ban mai ; cũng có thể nói ý nghĩa của hai hình ảnh này chính là hình ảnh thứ ba. Hình ảnh thứ ba tạo ra hàm nghĩa cho hai hình ảnh kia, đây là cách làm khá phổ biến của cách cấu tứ kiểu Haiku. Chỉ có một hư từ là “mùa hạ” để bổ nghĩa cho từ “trăng”, các từ khác đều không kèm tính từ hoặc trạng từ )

Issa:

Con ếch cứ đi

Qua thềm tôi đó

Mà đâu biết gì

( con ếch và cái thềm là hai hình ảnh cạnh nhau, tác giả đã nói thêm rằng “đâu biết gì” để liên hệ giữa hai hình ảnh, nhưng vẫn đủ mơ hồ : tôi đâu biết hay con ếch đâu biết, và biết cái gì. Tuy có bình luận thêm như vậy nhưng Issa vẫn không dùng tính từ nào để làm rõ con ếch và bậc thềm, không dùng trạng từ nào để nói rõ hơn về động tác “đi” )

Buson:

Đêm xuân

Tâm tư ai cũng thế

Bay xa khỏi mái nhà

( Đêm xuân và mái nhà là hai hình ảnh, Buson đã bình luận thêm rằng tâm tư ai trong đêm xuân cũng bay khỏi mái nhà. Lưu ý rằng kiểu khẳng định áp đặt “ai cũng thế” rất hiếm gặp trong thơ Haiku.)

Shiki:

Cánh sen chiều

Nở bên ga xép

Một niềm quạnh hiu

( Cánh xen và ga xép được đặt bên nhau, Shiki nói hộ rằng nó tạo nên “niềm quạnh hiu”. Lưu ý rằng Thơ Haiku thường không nghĩ giúp hoặc cảm giúp cho độc giả, nó chỉ khơi gợi và để cảm nghĩ của người đọc bay bổng tự do)

Các nhà thơ Haiku Nhật hiện đại giữ gìn nghiêm chỉnh cách cấu tứ đặc biệt bằng các hình ảnh thực đặt bên nhau, trong khoảnh khắc thời gian này.

Natsuishi Banya (sinh năm 1955) Chủ tịch Hiệp Hội Haiku thế giới:

Mưa Hà nội

Ngọn cỏ tỏa sáng

Cất lời ca

Goto Shoson ( Liên minh những người sáng tác Haiku mới Nhật bản):

Rừng bảy vạn cây

Một cây sống sót

Cây thông hy vọng là đây

(2 bài thơ trên bằng tiếng Nhật, người dịch: Lê thị Bình)

Các nhà thơ Haiku phương Tây cũng sử dụng thi pháp hình ảnh rất khéo léo và sáng tạo. Các bài thơ sau đây bẳng tiếng Anh và tiếng Pháp do Nghiêm Xuân Đức sưu tầm và dịch .

Richard Wright (1908-1960) trong tập “ Haiku, một thế giới khác”

In năm 1998

Ôc sên ơi, hãy dựng xong ý tưởng !

Bạn đang một nửa ở trong nhà

Và một nửa đi ra !

Make up you mind, Snail!
You are half inside your house,
And halfway out!

Ezra Pound (in 1913 trong tạp chí Poetry, bài thơ điển hình của phái Imagism):

Trong một ga xe điện ngầm

Sự xuất hiện của các khuôn mặt trong đám đông

Những cánh hoa trên cành cây đen, ướt

In a Station of the Metro
The apparition of these faces in the crowd;
Petals on a wet, black bough.

Amy Lowell (1874 - 1925) - Terebess Asia Online

Mắt em mệt mỏi

Theo dõi anh khắp nơi

Ôi ngày ngắn, quá ngắn

My eyes are weary

Following you everywhere

Short, oh short, the days

Paul Muldoon (sinh ngày 20 Tháng 6/1951, Chủ tịch Hội thơ Anh quốc, in trong tập thơ Hopewell, năm 1998 ) :

Má kề má thân thương

Ngồi kề bên cái ấm đun nước

Ông bà tôi giận hờn

Cheek-to-cheek-by-jowl,
from the side of the kettle
my ancestors scowl.

Jackie Hardy (? Haiku- Poetry ancient and modern – Hachette 2008)

Ngôi đền đá quý

Dưới tảng đá lớn

Có một đàn kiến

Neolithic temple

Under the massive stone

A column of ants

Philippe Caquant– Des Haikus en francais- http://www.tempslibres.org/tl/en/textes/essai13.html

Chiếc lá lưỡng lự

Lướt giữa những cây hoa súng

Rồi đứng yên

La feuille indécise
glisse entre les nénuphars
et s'immobilise

Bây giờ ta sẽ xem cách sử dụng thi pháp này của các Haijin Việt. Cách sử dụng phổ biến vẫn là đặt các hình ảnh thực cạnh nhau trong thời khoảng ngắn, có nhiều Haijin Việt không bình luận thêm, người khác lại thích nói thêm điều gì đó. Nói thêm càng nhiều và dùng càng nhiều “hư từ” thì càng không giống thơ Haiku.

Lưu Đức Trung :

Cánh bèo

Tìm bóng mây xa

Chậu nước trong nhà

(Thơ Haiku Việt tuyển chọn- NXB Văn học- 2010)

Đinh Nhật Hạnh:

Ngõ trúc

Hoàng hôn

Lan vườn ai hương trăng

(Thơ Haiku Việt – NXB Hội Nhà Văn)

Hoàng Long:

Cây thông

Lặng nhìn mây xám

Trên nền trời hư không

(Thơ Haiku Việt tuyển chọn- NXB Văn học- 2010)

Vũ Tam Huề:

Chén trà thơm

Mùa hoa

Quê cũ

Nghiêm Xuân Đức:

Sương rơi

Lá trầu

Nước mắt mẹ tôi

Đông Tùng:

Vườn hoang

Nở hoa cúc vàng

Bướm bay, bướm bay

(Cúc rộ mùa hoa – NXB Tôn giáo - 2009)

Nguyễn thị Kim:

Cây rơm

Lũ cuốn

Hạt vương nảy mầm

( Thơ Haiku Việt – 6/2011)

Nguyễn Bao:

Nến bàng

Sáng nền mây xám

Tín hiệu xuân sang

( Thơ Haiku Việt – 6/2011)

Nguyễn Đăng Minh:

Cây đa sần sùi

Rễ râu rậm rạp

Tíêng chim gọi mẹ

(Nội san Haiku Việt – Hà nội 9/2012)

Thanh Tùng:

Ô cửa sổ này

Khi tôi còn bé

Đứng tè ra sân

(Nội san Haiku Việt – Hà nội 9/2012)

Lê văn Truyền:

Vũng bùn

Lấp lánh

Những tia mặt trời

(Nội san Haiku Việt – Hà nội 9/2012)

Hoàng Xuân Họa:

Chiếc lá rời cành

Kéo cả trời xanh

Cắm đầu xuống đất

(Nội san Haiku Việt – Hà nội 9/2012)

Lý Viễn Giao:

Chiếu giải sân đình

Sáo ghẹo trúc xinh

Tay mềm uốn gió

(Nội san Haiku Việt Hà nội 1/2013)

Và rất nhiều tác giả Haiku Việt khác mà tôi không thể trích dẫn hết được…

Như vậy , ngay trong bước đầu chinh phục thơ Haiku, nhiều tác giả Việt nam đã sử dụng nhuần nhuyễn kiểu thi pháp hình ảnh của thể thơ Nhật bản này. Lưu ý rằng 2-3 hình ảnh hoặc tứ thơ không có nghĩa là 3 câu hoặc 3 dòng. Vấn đề trình bày thơ Haikư thành 1 dòng hay 3 dòng sẽ được đề cập trong một chủ đề khác.

NXĐ

Thơ Haiku Việt ba dòng hay một dòng- Nghiêm Xuân Đức

Khi thơ Haiku bắt đầu được sáng tác ở Việt Nam, các tác giả Việt thường viết thành các khổ thơ ba dòng, có lúc lại viết thành một dòng.

alt

Ngay từ đầu, những người làm thơ Haiku Việt đã không công nhận mọi bài thơ ba dòng đều là thơ Haiku. Rõ ràng nó còn có những đặc thù khác, ta đã bàn rồi, nên sẽ không bàn ở đây nữa. Trong kỳ thi “thơ ba câu” của Hải Phòng, ban giám khảo đã trao giải cho câu thơ sau, nhưng không nói đó là thơ Haiku:

Vườn quê (Lương Liêm)

Nhớ cỏ nội vườn nhà gội tóc dài hương nhu, lá sả

Chàng trai làng sang đầu ngõ đón ngọn gió thơm

Chú chim khách bay về Đông sơn mách vườn nhà có chủ

Nhưng vì sao mọi người lại thống nhất rất nhanh rằng thơ Haiku Việt được trình bày thành ba dòng? Trong bài này, ta sẽ thử đi tìm lý do cho việc ấy.

Lý do đầu tiên và là lý do chính xuất phát từ bản thân thơ Haiku Nhật và tiếng Nhật: họ có những từ ngắt gọi là kireji. Tiếng Nhật vốn được viết thành các dòng dọc, từ phải sang trái. Thơ Haiku dù theo cấu trúc 5-7-5 hay không theo cầu trúc này (ở Nhật, cả hai xu thế đều vẫn đang tồn tại và tiếp tục còn nhiều tranh luận) đều được viết thành một dòng dọc như vậy. Tiếng Nhật là tiếng đa âm, để ngăn cách các yếu tố ngôn ngữ, họ dùng các từ ngắt kireji. Vì rất ngắn, tất cả chỉ có 17 âm tiết, nên người Nhật nói “đọc trong một hơi thở”, nhưng vẫn cần có sự ngăn cách như vậy. Kết thúc đoạn 5 âm và 7 âm đều có dấu ngắt. Như vậy có từ 2 đến 3 dấu ngắt. Khi tiếp xúc với phương Tây, thơ Haiku Nhật được viết theo kiểu các dòng ngang từ trái sang phải giữ nguyên các kireji và xuống dòng; hoặc nếu viết liên tục trên dòng ngang thì họ dùng các dấu gạch chéo. Ví dụ câu của ông Ban’ya Natsuishi (Chủ tịch Hiệp Hội thơ Haiku quốc tế WHA):

「 未来より滝を吹き割る風来たる」

(mirai yori / taku wo hukiwaru / kazekitaru)

Gió tương lai / thổi tới / chia dòng thác

Hay câu của Kamakura Sayumi:

「水仙をとりまく青は歌ういろ」

(suisen wo / torimaku ao wa / utau iro)

Màu xanh / vây quanh thủy tiên / màu ca hát

(Kỷ yếu II – Tọa đàm Haiku Việt)

Các tác giả Haiku Nhật hiện đại khác cũng làm như thế:

Dưới trời âm u / rừng hoa anh đào / muôn phần tráng lệ

(Shintoku)

Rừng núi phủ hoa / chẳng biết từ phía nào / để ta chiêm ngưỡng

(Shinfu, Chuyên san Haiku 7 – 2017, tr. 123)

Thơ Haiku Nhật hiện đại không nhất thiết phải có từ ngắt, vì vậy xu thế viết thành một dòng ngang ngày càng phổ biến, kèm theo dấu gạch chéo, nhất là khi trích dẫn, khi phiên âm và khi dịch ra tiếng nước ngoài.

Khi xâm nhập vào châu Âu, châu Mỹ và lan tỏa ra thế giới, các tác giả quốc tế đều phải giải quyết vấn đề cách trình bày thơ Haiku: ngôn ngữ của họ không có từ ngắt, mà thơ thì không thể viết liên tục như văn xuôi, vậy tốt nhất là ngăn cách bằng xuống dòng và viết các khổ thơ thành ba dòng. Xu thế này rất phổ biến trên thế giới, hầu như mọi ngôn ngữ đều chấp nhận. Gần đây, khi dấu gạch chéo được sử dụng để ngăn cách thì cũng được dùng cho thơ Haiku, khi viết liên tục thành một dòng, nhất là khi trích dẫn. Hai cách trình bày trên đang đan xen nhau: Khi trình bày thơ sáng tác thì thường viết thành ba dòng với kiểu chữ in đứng thẳng, khi trích dẫn thì viết liên tục trên một dòng với các dấu gạch chéo và kiểu chữ in nghiêng.

I am nobody:

a red sinking autumn sun

took my name away

Tôi chẳng là ai:

mặt trời Thu đỏ hồng chìm xuống

mang tên tôi đi rồi

(Richard Wright – "Haiku: This Other World", 1998 –

Nghiêm Xuân Đức sưu tầm và dịch)

Jour de grand vent –

oiseaux, feuilles se confondent

flif, flop mon coeur bat

Ngày cả gió –

lá và chim lẫn lộn

tim tôi đập phập phồng

(Jean Antonini – Đinh Nhật Hạnh dịch)

Fluturi se-aleargă

pe uliţa prăfuită

cad flori de cireş


Butterflies run

in the dusty street

flowers of cherry tree get down

Đàn bướm bay

trên con đường bụi bặm

đầy cánh anh đào rụng

(Aurica Văceanu – Chủ tịch Hội Haiku Constantza, Roumanie –

Đinh Nhật Hạnh dịch)

Các haijin Việt cũng áp dụng cách làm trên (với thơ sáng tác thì trình bày thành ba dòng, khi trích dẫn, khi dịch thì viết liền trên một dòng với các dấu gạch chéo và cũng có lúc dùng lối chữ in nghiêng). Như vậy, một lý do khác là: làm theo cách trình bày thơ Haiku của thế giới. (Cách trình bày thơ theo lối xuống dòng của thế giới và của thơ Việt vẫn được coi là cách làm phổ biến, mặc dù gần đây nó bị lạm dụng hoặc bị rối loạn do lối xuống dòng lung tung và kiểu thơ văn xuôi không xuống dòng). Đã có những người cắt thơ Lục Bát (vốn được trình bày thành hai dòng) thành ba dòng và bảo đó là thơ Haiku!

Như vậy, ba dòng chỉ là hình thức trình bày của thể thơ, nó không đồng nghĩa với ba câu (ba mệnh đề) hoặc ba ý thơ (thi tứ) hoặc ba hình ảnh, ba sự kiện: ba dòng chỉ là cái vỏ ngoài, không phải là thi pháp. Ba dòng có thể đề cập một hay nhiều thi tứ hoặc hình tượng.

Chồng hái dừa cao tít

vợ hứng dưới váy căng

hàng xóm dòm mắt típ

(Nguyễn Văn Đồng)

Vỏ ốc trưa hè

ta ghé tai nghe

m ào sóng vỗ

(Nghiêm Xuân Đức)

A sunflower / lowing its head / like a remorse

Có bông hoa hướng dương

cúi đầu

như sám hối

(Chiaki Nagamine, 1954, Nhật Bản –

Đinh Nhật Hạnh sưu tầm và dịch)

Chúng ta ngày nay không còn quen với khái niệm về các từ ngắt. Các bậc tìền nhân Nho học của chúng ta khi học chữ Hán đã phải sử dụng các từ ngắt rất phổ biến của chữ Hán, vì họ cũng phải giải quyết khó khăn là phải viết liên tục trên các dòng dọc, mà lại không có các dấu chấm, phảy như chữ Quốc ngữ sau này. Bốn từ ngắt chính của chữ Hán là: Chi, Hồ, Gỉả, Dã (池,湖,假,野), thường được nhắc đến để chế diễu những kẻ hủ Nho nói năng máy móc thích trích dẫn sách vở và hay dùng thứ ngôn ngữ biền ngẫu trúc trắc. Về sau trong xu thế viết văn theo kiểu Bạch thoại, người Trung Quốc cũng không dùng các từ ngắt đó nữa. Thí dụ điển hình cho các từ ngắt là câu nói nổi tiếng của Khổng tử trong sách Luận Ngữ: “Học nhi thời tập chi bất lạc diệc hồ” (Học mà thường luyện tâp thì chẳng vui hay sao). Cũng có thể gặp các từ ngắt khác như Chừ, Hề trong thi ca..., thí dụ trong câu thơ của Kinh Kha khi đứng trên bờ sông Dịch, chuẩn bị đi ám sát Tần Thủy Hoàng: “Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn; Tráng sĩ hề, nhất khứ bất phục hoàn...” (Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh lùng ghê; Tráng sĩ chừ, một đi không trở về...). Chúng ta đã không tiếp nối cách dùng từ ngắt theo kiểu chữ Hán đó. Chúng ta đã chọn cách xuống dòng, đó là cách trình bày thông thường của các câu thơ Việt.

Tóm lại, có thể ba lý do chính của cách trình bày thơ Haiku Việt thành ba dòng (và có lúc lại trình bày thành một dòng) là:

-Để thể hiện sự ngắt trong ngôn ngữ, tương đương với khái niệm từ ngắt kireji trong tiếng Nhật.

-Để thống nhất quốc tế với các ngôn ngữ sử dụng mẫu tự La-tinh, không có từ ngắt và thay thế từ ngắt bằng cách xuống dòng cho các câu thơ.

-Để thể hiện truyền thống Việt cho các câu thơ, cách làm thông thường của thơ Việt là xuống dòng, phân biệt với văn xuôi là viết liên tục. Khi trích dẫn và khi dịch, người ta có thể viết liên tục, không xuống dòng, có các dấu gạch chéo và thường in chữ nghiêng.

Phải chăng các tác giả thơ Haiku Việt đã chọn cách trình bày thơ Haiku Việt thành ba dòng hoặc một dòng vì những lý do trên?

N. X. Đ

Tuế thời ký Bách khoa toàn thư thơ Haiku- Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Tại Nhật Bản, người mới học làm thơ haiku được các bậc thơ haiku tiền bối khuyến khích đọc và tìm hiểu thơ haiku từ các sách liên quan đến bốn mùa như Nihon saijiki (Tuế thời ký Nhật Bản), Kotoba no saijiki (Thuật ngữ Tuế thời ký)… và xem đó như là cẩm nang khi đến với thơ haiku.

alt

Saijiki (歳時記) là gì? Nói đến saijiki, không ít người liền liên tưởng ngay đến thơ haiku, cho rằng đó là tuyển tập quý ngữ để dùng khi sáng tác thơ haiku. Thật ra, saijiki đã được ra đời từ trước khi thơ haiku xuất hiện. Được du nhập vào Nhật Bản, lưu truyền từ thời kỳ tiền thơ haiku, saijiki tập hợp những thuật ngữ liên quan đến đời sống văn hóa gắn liền với thiên nhiên.

Khi nhà thơ Basho và thơ haikai ra đời, bộ sách Nihon saijiki được biên soạn. Hình ảnh cuộc sống trong dân gian, phong tục tập quán, đời sống dân dã… hòa quyện với thiên nhiên bốn mùa được khắc họa bằng những bài thơ haiku xuất hiện trong các bộ sách saijiki này. Từ đó các thuật ngữ trong saijiki trở thành kigo (quý ngữ) – một trong các quy ước không thể thiếu trong thơ haiku. Với vai trò quan trọng về nội dung lẫn hình thức, kigo còn được gọi là sinh mệnh của thơ haiku:

Theo thơ haiku truyền thống, kigo là cần thiết và chất liệu này phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên. Nét quyến rũ của thơ haiku là thông qua kigo luôn nắm bắt được hình ảnh thiên nhiên, cô đọng sự vĩnh hằng của thiên nhiên vào một thể thơ cực ngắn. Kigo phản ánh sự chuyển động của thiên nhiên, nhờ vay mượn sự rộng lớn của thiên nhiên được thể hiện thông qua quý ngữ, thơ haiku đã khắc phục được tính bé nhỏ vốn có của riêng mình[1].

Đời sống văn hóa phong phú hòa mình với thiên nhiên đã ban tặng cho ngôn ngữ tiếng Nhật một kho tàng đồ sộ các thuật ngữ nói về kigo. Từ thế kỷ XVII, các bộ sưu tập kigo đã được tập hợp và soạn thảo, cho đến nay nhiều từ điển kigo được xuất bản, tiêu biểu nhất là bộ sưu tập saijiki tập hợp các kigo được phân loại theo địa lý, động vật, thực vật… qua sự thay đổi bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Theo lời Fuji Kunihito, “Nhật Bản có thể hãnh diện với tự điển saijiki duy nhất trên thế giới này”[2].

Ngày nay, các nhà thơ haiku Nhật dù từ nhiều trường phái khác nhau, từ thơ haiku truyền thống đến hiện đại, từ nội địa đến hải ngoại, từ giới trẻ đến tiền bối... vẫn luôn mang theo mình các cẩm nang về Tuế thời ký (saijiki), hoặc tuyển tập kigo – quý ngữ khi sáng tác và bình luận thơ haiku. Gần đây, bộ Tuế Thời ký Haiku mới nhất (Saishin Haiku Saijiki) được biên soạn, phân loại chi tiết các đời sống văn hóa xã hội qua các mùa như Thiên nhiên, Đời sống, Văn hóa, Địa lý, Lễ hội, Trang phục, Ẩm thực, Ăn- Ở- Mặc... khá chi tiết và xem đó như là cẩm nang khi đến với thơ haiku”[3]. Nhiều người còn ví von rằng các bộ Tuế Thời ký haiku (Haiku saijiki) có thể được xem là Bộ Bách khoa toàn thư thơ haiku.

Ví dụ, nói đến ánh trăng chẳng hạn. Trăng thì lúc nào cũng có thể nhìn thấy được cơ mà. Có gì lạ đâu. Nhưng với Nhật Bản, “trăng” quý ngữ của mùa thu bởi vì đêm trăng thu là đêm đẹp nhất. Hoặc nói đến “Hana” (hoa), có thể liên tưởng đến biết bao nhiêu là hoa, nhưng với Nhật Bản, mùa hoa đẹp nhất là mùa hoa anh đào.

監視カメラ映像に花降りしきる[4](Sugiura Keisuke)

kanshi kamera / eizo ni hana / ori shikiru

Camera giám sát

ghi hình

những cánh hoa rơi

(Quỳnh Như dịch)

Bài thơ mang đậm phong cách hiện đại với cấu trúc 6–7–6, sử dụng hình ảnh rất thời đại “camera giám sát” trong bối cảnh đông người chen chúc ngắm hoa mùa hoa anh đào. Dù vậy, bài thơ vẫn không quên đưa vào quý ngữ “hana”. Trao đổi với tác giả của bài thơ nói trên thì biết chắc rằng “hana” (hoa) trong bài thơ nghĩa là hoa anh đào (sakura). Tác giả bài thơ còn nhấn mạnh rằng khi nói đến “Lễ hội hoa” thì hầu như người Nhật Bản nào dù không phải dân chơi thi ca đều ý thức rằng đó là đi ngắm hoa anh đào. Thơ haiku Nhật Bản ngày nay dù hiện đại đến đâu đi nữa nhưng vẫn luôn chú trọng cái “chất” như thế. Nhờ vậy dù thơ haiku đang được lan tỏa ra khắp mọi miền trên thế giới, nhưng haiku vẫn là haiku và luôn được bảo tồn.

Khi Nhật Bản bước vào thời kỳ hiện đại, các bộ thuật ngữ saijiki cũng được biến đổi. Nếu trước kia, các thuật ngữ được phân loại dựa theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thì nay đã thành năm mùa: Năm mới, Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nếu trước kia, bộ saijiki chỉ là Nihon sakiji (Tuế thời ký Nhật Bản), thì nay đã xuất hiện Sekai saijiki (Tuế thời kỳ Thế giới). Tất nhiên thôi vì thơ haiku ngày nay đã được lan truyền rộng rãi hơn 70 quốc gia trong đó có Việt Nam.

Lật xem thử bộ Sekai saijiki, với những hình ảnh đời sống văn hóa trên thế giới của các quốc gia từ Đông Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, đến Trung Đông, châu Mỹ, Châu Âu... thật ngỡ ngàng đã bắt gặp những bài thơ haiku của các nhà thơ haiku Nhật Bản viết về Việt Nam. Đây là những bài thơ có thể là ký ức, hoài niệm về một thời đã từng đặt chân hoặc từng được biết đến Việt Nam. Đọc đi đọc lại, kìa là thành phố Hồ Chí Minh dưới những cơn mưa dông cùng hình ảnh thiếu nữ áo dài với chiếc nón lá, Huế yên bình bên cầu Nhật Bản, lễ hội bên Bờ Hồ Hà Nội, và hình ảnh miền quê thân thương của cánh đồng cỏ, vi vu gió tại các tỉnh miền Nam như Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long...

スコールに自転車洗ふ待の子ら[5] (Takahashi Kenichi)

Cơn mưa dông

lũ trẻ

rửa xe đạp

(Quỳnh Như dịch)

Rõ là hình ảnh của thiên nhiên, của đời sống văn hóa quen thuộc của thành phố Hồ Chí Minh vào mùa mưa được các tác giả khắc họa thật là sinh động. Các thi sĩ thơ haiku người Nhật thật tinh tế khi đã làm giàu Bộ Bách khoa toàn thư Saijiki của họ bằng những thuật ngữ kigo mới bằng hình ảnh của một nơi vượt ngoài biên giới.

Thơ haiku Việt đã trải qua chặng đường khoảng hơn mười năm kể từ khi cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật- Việt lần đầu tiên được tổ chức vào hè năm 2007. Từ những bước đi bỡ ngỡ ban đầu, chưa quen thuộc với các quy luật, nguyên tắc... nay thơ haiku đã nở rộ khắp mọi miền đất nước. Nên chăng, thơ haiku Việt cũng cần xây dựng bộ chuẩn Tuế thời ký Việt. Nhờ có saijiki Việt, các nhà thơ haiku Việt sẽ có thêm nguồn tư liệu thuật ngữ để làm giàu đề tài sáng tác.

Và biết đâu, đến một lúc nào đó, các nhà thơ haiku Nhật phải vay mượn các thuật ngữ quý ngữ Việt để sáng tác thơ haiku Nhật từ chính bộ saijiki Việt. Bởi khi đó, saijiki Việt sẽ trở thành nguồn tài liệu quý báu cho các thi sĩ haiku Nhật tham khảo vô vàn những tinh túy về đời sống văn hóa từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam qua những từ khóa, quý ngữ được minh họa bằng chính những bài thơ haiku Việt của thi sĩ Việt.

Mưa Rước Cá[6]

mãi rơi trên cánh đồng

biệt tăm bóng cá

(Hồ Trường –

Giải ba Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật- Việt lần 3 năm 2011)

Chuồn chuồn kim

kết đôi trên cánh đồng

lúa trĩu bông

(Nguyễn Xuân Tấn, Đồng Nai –

Giải nhì Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật- Việt lần 5 năm 2015)

Chuồn chuồn kim là hình ảnh quen thuộc trong đời sống và của nền nông nghiệp Việt Nam, mà ngay từ thuở nhỏ chắc hẳn ai cũng nhớ đến. “Chuồn chuồn kim kết đôi trên cánh đồng trĩu hạt phải chăng còn là thể hiện niềm tin có tính phồn thực giáo từ ngàn xưa của cư dân trồng lúa nước của cư dân chúng ta?[7]

Khi tham gia sáng tác thơ haiku tại Nhật, tôi đã thử đóng góp bằng một bài thơ nói về những cánh hoa phượng khô được ép vào từng trang nhật ký thưở học trò.

火炎樹を飽きずに拾い押し花に (Quỳnh Như)

kaenju wo / akizu ni hiroi / oshi hana ni

Chùm phượng vĩ

lượm ép mãi không thôi

những cánh hoa

Bài thơ sau đó được tờ báo “The Kumano Shimpun” đánh giá: “Với những đặc trưng gắn với đời sống mùa hè, phượng vĩ có thể trở thành một quý ngữ của thơ haiku Việt lắm chứ. Vì thế những bài thơ haiku về phượng vĩ hoàn toàn có khả năng trở thành bài thơ haiku sáng giá[8].

Với tham vọng đó, ao ước sao một hành trình mới nghiên cứu thơ haiku: đi tìm saijiki Việt (Tuế Thời ký thơ haiku Việt). Và cũng chính nhờ từ tuyển tập các bài thơ haiku dự thi các Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật- Việt, từ các tuyển tập thơ haiku của các nhà sáng tác thơ haiku Việt có thể xây dựng được Bộ Saijiki Việt này chứ. Được chứ tại sao không

N. V. Q. N


[1] Yamashita Kazumi (1998), 『俳句への招待』 (Xin mời đến với thơ haiku), Shogakukan, Japan, tr. 15.

[2] Fuji Kunihito (1998), 「俳句の授業・俳句の技法 どう教え どう作るか」 (Giờ dạy thơ haiku – thi pháp thơ haiku – cách dạy và cách làm thơ), Meiji Tosho Co, Japan, tr. 201.

[3] Yamamoto Kenkichi (2016), 「ことばの歳時記 」 (Từ vựng của Saijiki), NXB Kadokawa, tr. 318.

[4] 「草樹」 Tạp chí Soju, Số 70 tháng 6 năm 2017, tr. 60.

[5] Kaneko Tota (Chủ biên)「世界大歳時記」(Sekai Dai Saijiki - Đại Tuế Thời ký Thế giới, NXB Kadokawa Shoten, Năm 1995, tr. 273)

[6] Tên gọi những cơn mưa cuối mùa ở miền Nam, thường gọi Tiết Mang Chủng, tháng 10 âm lịch, cũng là lúc cá trên đồng tìm đường ra sông. (Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật- Việt lần thứ 3 năm 2011, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP. HCM, tr. 17).

[7] Đoàn Lê Giang「Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP. HCM, tr. 45

[8] Sugiura Keisuke, Báo Kumano Shimpun, ngày 14/5/2017, tr. 3

Khai ngộ với thiên nhiên Bashô và Octavio Paz- Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu. Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world)(1), nói theo Patrick H. Dust.

alt

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế(3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình”(4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Đó là khi thơ ca học cách sáng tạo và chuyển hóa của bốn mùa, của tứ đại (đất, nước, gió, lửa) trong tĩnh lặng cũng như trong khi đối diện với sự tàn phá thiên nhiên:

“Phản chiếu cái tương thân vũ trụ, thơ ca là biểu tượng của những gì xã hội con người cần hướng tới. Trong khi đối mặt với tàn phá thiên nhiên, thơ ca cống hiến bằng chứng sống động về cái tương thân của các vì sao và các phân tử, của hóa học và ý thức… mỗi bài thơ là một bài học thực tiễn trong hài hòa và tương hợp… Bài thơ hình thành qua cái tương thân của các yếu tố, hình thức và tạo vật của vũ trụ là biểu tượng cho sự tồn sinh trên đời…

Sinh ra từ tưởng tượng của con người, thơ ca có thể chết đi nếu tưởng tượng chết đi hay tàn bại. Nếu con người quên lãng thơ ca, họ lãng quên chính mình, niềm lãng quên con người. Và quay về với hỗn mang nguyên thủy”(5). Paz đã nói như thế.

Và như thế, Paz từ cái nhìn hiện đại, Paz đã vô hình trung kế tục và phóng mở tư tưởng Bashô. Chống lại sự lãng quên thơ ca và lãng quên thiên nhiên, thi hào Nhật Bản kêu gọi “làm bạn với bốn mùa” và “đón nhận thiên nhiên, quay về với tạo hóa”.

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Bashô tự thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ tấm lụa tả tơi phiêu lãng. Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga: phong nhã, hồn thơ, bản thân nghệ thuật thơ ca) như Saigyô của thơ tanka, Sesshu của hội ca, Rikyu của trà đạo và Sôgi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Bashô ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập chi tiểu văn: Ghi chép nhỏ trong túi hành hương):

“Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là tâm hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi loài thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa.”

Đoạn văn lộng lẫy mà uyên áo này cho thấy cái nhìn hiền minh của Bashô về thiên nhiên. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa, có nghệ thuật, có hồn thơ (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Bashô còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Cái tưởng tượng thơ ca của Paz có khác gì với tâm hồn phong nhã của Bashô. Tưởng tượng ấy chết đi thì cũng là phong nhã chết đi.

Kẻ man rợ của Bashô thì khác gì niềm quên lãng con người của Paz.

Cái tương thân vũ trụ của Paz cũng rất gần với bạn bốn mùa của Bashô.

Khỏi phải nói, cả hai nhà thơ lớn đều ca ngợi cái thiên nhân tương cảm, cái sáng tạo và chuyển hóa thể hiện trong con người và thiên nhiên.

Cả hai đều hướng tới sự tồn sinh của con người trong nhịp điệu thiên nhiên, cái không khác với nhịp điệu thơ ca.

Để nói về tính sáng tạo của thiên nhiên, Bashô thường dùng từ zôka (tạo hóa). Cho nên ông nói “quay về với tạo hóa”, tức là quay về với cái huyền diệu của vũ trụ.

Trong kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi), đến thăm Matsushima (Tùng Đảo) tuyệt đẹp, Bashô đã viết: “Tạo hóa thiên công, có bút mực nào, lời thơ nào vẽ nổi và tả xiết đây?”(6).

“Tạo hóa thiên công” (zôka no tenkô) chính là tính sáng tạo huyền diệu mà Bashô muốn bắt chước trong thơ, muốn quay về với cái đó, chơi với nó (zôka zuijun: tạo hóa tùy thuận).

Cũng như thế, Octavio Paz cho rằng thiên nhiên là ngôn ngữ, là thơ ca. Mở ra ngôn ngữ chính là trở về với thiên nhiên (es volver a la naturaleza). Nhưng thiên nhiên ở đây không phải là vật chất hay tâm linh mà là năng lượng, là từ trường, rất gần ý nghĩa sinh thái. “Chúng ta ra khỏi thiên nhiên và trở về với nó” là điều ông nhận thấy khi đọc Lévi-Strauss.

Paz cho rằng vũ trụ có từ tính, là từ trường hóa. Vũ trụ là “một loại nhịp điệu đan dệt thời gian và không gian”.

Đứng trước thiên nhiên và vũ trụ mê diệu như thế, hơn ai hết các nhà thơ muốn cuộc tồn sinh của con người yêu thương nó, kết một khối tình với nó. Như Hồ Xuân Hương cho thấy trong bài thơ tuyệt diệu Đá Ông Chồng Bà Chồng:

Khéo khéo bày trò tạo hóa công

Ông Chồng đã vậy lại Bà Chống

Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt

Khối tình cọ mãi với non sông.

Trò chơi của Tạo hóa thiên công, trò chơi của từ trường mà các nhà thơ nói ở đây là cái kỳ diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa, ẩn tú trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên.

Trở về ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Bashô và các nhà thơ chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức đã nói: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên”.

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên. Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

“Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên phong phú, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.”

Đối với Bashô, Paz cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa, phải là thơ ca nghệ thuật mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái đương nhiên đồng tình với những nghệ sĩ thượng thặng ấy và dị ứng với loại tư tưởng “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người.

Trong thiên nhiên, vai trò của con người không phải là chủ nhân. Đó phải là người bạn như Bashô đòi hỏi, “bạn của bốn mùa”. Đó phải là người tình, như Paz gợi ý.

Tương quan với thiên nhiên như thế có thể là một tương quan mật thiết, sắc dục hay từ tính (a magnetic relationship) nghĩa là thu hút nhau, mơn trớn nhau và có thể xuyên thấm nhau.

Như bài haiku của Bashô về đầm Kisagata:

Đầm Kisagata

Nàng Tây Thi nằm ngủ

Hoa buồn ngủ trong mưa.

(Kisagata ya

ame ni Seishi ga

nebu no hana).

Dưới mưa, đầm Kisagata, nàng Tây Thi và hoa buồn ngủ (hoa hợp hoan) như cùng nhau thiếp ngủ. Cảnh ấy “ngập đầy đôi mắt” nhà thơ, mơn trớn nhà thơ.

Và khổ thơ về quẻ Hằng của Paz:

Như rừng nằm trong giường lá

Em nằm ngủ trong giường mưa

Em hát ca trong giường gió

Em hôn trong giường những tia lửa ngời.

(Como el bosque en su lecho de hojas

tú duermes en tu lecho de lluvia

tú cantas en tu lecho de viento

tú besas en tu lecho de chispas)

Nhà thơ Paz muốn “sờ nắn bằng tư tưởng và suy tư bằng thân xác” và vần thơ trên cho thấy điều đó. Nằm ngủ, hát ca và hôn trong mưa, trong gió, trong lửa. Tư tưởng thật sự biết sờ nắn và thân xác thật sự biết suy tư.

Với Bashô, tiếp xúc và hiểu biết thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận: “Muốn biết cây tùng, hãy đi tới cây tùng”. Đi tới là tiếp xúc, là mơn trớn, là thâm nhập vào sự vật, vào thiên nhiên. Và cảm nghiệm Nước, Đất, Gió, Lửa bên ngoài ta cũng như bên trong ta.

Nước, cổ mẫu đầu tiên, trải nghiệm đầu đời của ta. Lòng mẹ, máu, sữa, mưa, sông, biển, nước mắt…

Haiku mùa thu của Bashô:

Chén trăng đầy

sóng thơm mùi rượu

biển xanh say.

(Sokai no

nami sake kusashi

kyo no tsuki)

Trăng có thể được dùng làm chén mà múc rượu từ biển mùa thu ngát hương: rượu tình.

Với Paz, thơ ca là nước, nước chảy tràn.

Cuối cùng hãy là một Lời…

một giọt nước trên khao khát môi.

nước, nước cuối cùng trôi,

lời của người dành cho người.

(Ser al fin una Palabra…

un poco de agua en unos labios ávidos.

Agua, agua al fin

palabra del hombre para el hombre).

Nước kết nối con người với cội nguồn, con người với con người. Nước là thơ ca, là tình yêu cuộc sống.

Đất thì phong nhiêu, là mẹ đất. Theo Paz, mẹ đất luôn luôn trinh nguyên. Nhưng sinh sản vô tận hoa trái trần gian.

Một bài haiku của Bashô trình bày một cuộc chơi: hoa rụng về cội.

Xuống đất ư

cánh hoa về cội rễ

dường như giã từ.

(chi ni taore

ne ni yori hana no

wakare kana)

Bài thơ thuộc mùa xuân cho dù nói về giã từ và cái chết. Vì hoa lại tan mình vào đất, một lúc nào đó lại tái sinh thành hoa mới trên cây. Cây đã nhập hoa trở lại vào thân mình. Vòng luân hồi của sinh thái là thế.

Đất thì lặng lẽ và cây cũng thế. Paz nói lên cái vô ngôn đó trong một bài haiku của mình:

Cây tần bì

đêm qua dường sắp nói

nhưng rồi không nói ra.

(Anoche un fresno

a punto de decirme

algo -callóse)

Có nhiều cách nói. Và không nói cũng là một cách nói. Do đó ta có thể nghe đất và nghe cây. Không thể nghe bài ca im lặng của đất và cây có thể là một cách mất gốc, không còn là hoa của đất.

Đất có thể kết hợp với trời trong mưa và lúc ấy mọi sinh linh trông khác đi, như một bài haiku của Bashô cho thấy:

Mưa mùa hạ trôi

kìa chân chim hạc

ngắn lên lần hồi.

(Samidare ni

tsuru no ashi

mijikaku nareri).

Chân chim hạc ngắn đi khi nước dâng nhưng nói thế mà không phải. Chim hạc biết rõ chân mình, biết bầu trời và nước, biết mùa hạ và mưa theo cách của nó, theo bản năng sinh thái. Chim hạc đứng một mình nhưng đâu phải một mình. Hiện thời, đất, nước và bầu trời làm ra nó.

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng có mặt trong cái khác trong nguyên lý tương tức (interbeing) không có chi ngoại lệ.

Tư tưởng Phật giáo cũng như hiền minh sinh thái nhìn thấy không có gì là biệt lập, một mình.

Một mình không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Con hạc không bất động. Đứng yên là một cách khác, bay với mưa mùa hạ. Cái đứng yên đó là kết tụ ngàn lần đã bay và ngàn lần sẽ bay.

Trước Bashô, Nguyễn Trãi cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

Lẻ có chim bay cùng cá nhảy

Mới hay kìa nước nọ hư không.

Nhiều thế kỷ trước, thiền sư Nhật Bản Dôgen cũng đã nói trong Chánh Pháp Nhãn Tạng (Shobogenzo):

“Từ nước, cá làm nên đời sống của mình, và từ trời, chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau”.

Và hình ảnh cánh hạc biển của Nguyễn Du:

Hải hạc diệc hội vũ

Bất dữ thế nhân tri.

(Biển xanh cánh hạc múa chơi

Cần chi hạc múa cho người đời hay.)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và nước, đất và trời tương phản mà tương hợp.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên tạo hóa thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, nước, chim, cá… và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức…

Đất tự nó là một sinh thể. Con người không chỉ sống trên đất mà còn là đất. Thế nên Paz viết:

Chỉ có đất

mà tôi biết và biết tôi.

(Única tierra

que conozco y me conoce).

Với Octavio Paz, gió được xem là “hơi thở sáng tạo của đời sống. Gió có thể ném ta ra khỏi chính mình hay ném ta vào chính mình”.

Lang thang trong gió thu gió đông, Bashô cảm thấy:

Xơ xác dãi dầu

gió xuyên thân xác

vào tận hồn sâu.

(Nozarashi o

kokoro ni kaze no

shimu mi kana).

Cùng diễn tả hơi thở dữ dội của gió, đến giữa thế kỷ hai mươi, nữ sĩ Setsuko viết:

Đất trời

rung chuyển cùng hơi thở

bày trận tuyết rơi.

(ame-tsuchi no

iki aite hagheshi

yuki furasu).

Gió vừa sáng tạo vừa tàn phá, vừa là sắc vừa là không, vừa đến vừa đi đồng chơi, vừa chơi vừa chết đồng thời.

Gió thổi mây bay. Nhưng chính là gió bay. Yếu tính của gió là bay và bay và nó có thể giải thoát từ đã đến thơ ca ra khỏi trọng lực, như những vần thơ của Paz cho thấy:

Thế giới cũ của đá

cất mình lên và bay

(El viejo mundo de las piedras

se levanta y vuela).

Ngày mở bàn tay

bay ra ba áng mây

và những vần thơ này.

(El día abre la mano

tres nubes

y estas pocas palabras).

Mây bay gió thổi. Nhưng ngày thật sự mở ra với lửa. Với Paz, thơ ca là “ngôn ngữ của lửa” (lenguaje de incendios) và lửa cũng là tâm linh, như có thể thấy qua vần thơ sau đây của ông:

linh hồn không sống trong hình thể nào,

nhưng làm cho mọi hình sắc cháy

với một ngọn lửa bất diệt huyền linh.

(espíritu que no vive en ninguna forma,

mas hace arder todas las formas

con un secreto fuego indestructible).

Lời thơ của Bashô trong một đêm mùa xuân ẩn giấu một ánh lửa vô hình của nến, của hương và của u huyền:

Một đêm mùa xuân

trong góc Phật đường

bóng ai quỳ mông lung.

(Haru no yo ya

komoribito yukashi

dô no sumi).

Một hình ảnh lửa có thể nhìn thấy trong nước qua bài haiku khác của Bashô:

Dòng Mogami ấy

dìm mặt trời đang cháy

vào trong biển xanh.

(Atsuki hi o

umi ni iretari

Mogamigawa).

Lửa mặt trời vẫn cháy trong dòng sông ấy, trong biển cả ấy và vẫn cháy trong thơ ca, trong đá, trong cỏ, trong gió, trong đất và trong con người.

Thơ ca đã kết buộc thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, ôm ấp đất, nước, gió, lửa bằng tình yêu nồng nàn.

Mỗi ngày của chúng ta được kết dệt bằng vũ điệu của các nguyên tố ấy như lời thơ của Paz:

Những nguyên tố quấn quít nhau

đan dệt y trang của một ngày chưa biết.

(Los elementos enlazados tejen

la vestidura de un día desconocido).

Cái ngày chưa biết đó, cái ẩn giấu đó chính là cái mê diệu mà thiên nhiên mặc khải cho thơ ca, sự mặc khải mà Bashô và Paz lắng nghe không ngừng. Lắng nghe hình sắc và lắng nghe cả hư không. Thơ Bashô:

Từ cành cao

hư không rơi xuống

trong vỏ ve sầu(7).

(Kozue yori

adani ochi keri

semi no kara).

Chú thích

(1) Patrick H. Dust, Editor: Ortega y Gasset and the Question of Modernity, The Prisma Institute, Minneapolis, 1989, p.51

(2) Octavio Paz: Covergences, Trans. Helen Lane. HBJ, New York, 1987, p.248

(3) Octavio Paz: Children of the Mire, Trans. Rachel Phillips, Harvard University Press, Cambridge, 1974, p.63.

(4) Octavio Paz: The Bow and the Lyre, Trans. Ruth Simns, McGraw-Hill, New York, 1975, p.121

(5) Octavio Paz: The other voice, Trans. Helen Lane, HBJ, New York, 1992, p.159,160.

(6) Matsuo Bashô: Oku no hosomichi/ The Narrow Road to Oku, Song ngữ Nhật Anh, Trans. Donald Keene, Kodansha, Tokyo, 1996, p.78,79.

(7) Những trích dịch không đánh số trong bài viết chúng tôi thực hiện khi dựa vào các tài liệu sau đây:

- Jason Wilson: Octavio Paz, A study of his poetics, Cambridge University Press, London, 1979

- The Poems of Octavio Paz, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. E. Weinberger, New Directions, 1998

- Octavio Paz, Selected Poem, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. Tomlinson, Penguin Books, 1979

- Bashô The Complete Haiku, Sách song ngữ Nhật – Anh, Trans. Jane Reichhold.

N.C

Hạnh phúc đơn sơ- Lê Văn Truyền

alt

鉄鉢に明日の米あり夕涼み
tetsubachi ni / asu no kome ari / yūsuzumi
in the iron bowl

rice for tomorrow
the cool evening


trong bát sắt khất thực

có nhúm gạo ngày mai

chiều buông mát lành

Ryokan Taigu (1758 – 1831)

Lê văn Truyền dịch

Hạnh phúc là điều mà mọi người đều theo đuổi, dù bằng cách thật chính đáng hay bằng cách đáng ngờ. Sống trong cái “xã hội tiêu thụ” này đôi khi ta tự hỏi: thế nào là hạnh phúc, những gì và những ai sẽ đem hạnh phúc đến cho chúng ta. Có người coi thành công là hạnh phúc, có người chọn sự giàu sang, danh vọng là hạnh phúc nhưng cũng có người đơn giản chỉ tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn để được hạnh phúc.

Aristotle (Hy Lạp, 384 - 322 trước C.N.) đã nói: “Hạnh phúc phụ thuộc vào chính bạn”. Như vậy, hạnh phúc không phải là món quà mà người khác đem đến cho ta. Đó là thứ ta phải tự tạo ra bằng chính đôi tay và sự nỗ lực của bản thân một cách trung thực. Socrates (Hy Lạp, 469 – 399 trước C.N.) thì cho rằng: Bí mật của hạnh phúc không nằm ở việc bạn tìm kiếm nó, mà là ở việc bạn hưởng thụ hạnh phúc như thế nào”? Như vậy, hạnh phúc không đến từ những yếu tố ngoại thân như các phương tiện vật chất mà chúng ta sở đắc hay những danh vọng mà ta được tưởng thưởng. Hạnh phúc đến từ chính bản thân mỗi người bằng sự cố gắng, nỗ lực và hưởng thụ những thành quả tự mình tạo ra. John Stuart Mill (Anh, 1806 - 1873) lại nói rằng: “Hãy học tìm kiếm hạnh phúc bằng cách giảm bớt nhu cầu chứ không phải tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu”. Điều quan trọng nhất của hạnh phúc là thay vì mê đắm đuổi theo sự đầy đủ về vật chất hãy giảm bớt những nhu cầu không cần thiết và sử dụng mọi thứ đúng mục đích.

Khúc haiku của Ryokan dường như đã kết tinh được những gì mà các nhà triết học trên đây đã phát biểu về hạnh phúc. Mặc dù là con trưởng trong một gia đình khá giả, được trọng vọng, Ryokan đã sống một cuộc sống đơn giản, vô cùng bình dị, không vương vấn bụi trần như một thiền sư. Một buổi chiều nào đó, Ryokan cảm thấy hạnh phúc khi trong cái bát khất thực nhỏ nhoi của mình đã có được nắm gạo cho ngày mai:

có nhúm gạo ngày mai

Nhúm gạo ngày mai” có trong chiếc bát sắt con con đã làm cho tâm hồn thiền sư bỗng trở nên nhẹ nhàng, không bợn chút lo toan để hạnh phúc thấy “chiều buông mát lành”. Ngày mai Ryokan đã có bát cơm ăn, để tiếp tục tồn tại, để mở lòng tận hưởng niềm hạnh phúc mà thiên nhiên ban tặng.

Mục sư Robert Waldinger - giáo sư tâm lý học của Đại Học Havard- đã nghiên cứu trên 724 người trưởng thành trong suốt 75 năm nhằm tìm hiểu quan niệm về hạnh phúc trong cuộc sống con người. Thông qua kết quả nghiên cứu dài hạn này, Mục sư Robert Waldinger khẳng định: Khoa học và Phật giáo có cùng quan điểm cơ bản về giá trị hạnh phúc: “Thoát khỏi cái tôi nhỏ bé là nguồn gốc của sự mãn nguyện và ý nghĩa hạnh phúc”.

Dù người đương thời đã tặng Ryokan biệt hiệu “Taigu” (Đại Ngu) nhưng cuộc đời và khúc haiku cách đây hơn 200 năm cho thấy Ryokan có cái nhìn thật minh triết về hạnh phúc, rất trùng hợp và không thua kém các kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại của Đại Học Havard trong cái “xã hội tiêu thụ” ngày nay của chúng ta.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Thượng Đình, Hà Thành

...

RYOKAN TAIGU: (1758 - 1831), tên thật Yamamoto Eizo sinh ở làng Izumozaki, tỉnh Echigo (Nhật Bản). Ông rời bỏ gia đình rất sớm và tu tập tại ngôi đền Koshô-ji với thiền sư Kokusen. Khi sư phụ Kokusen mất ông bắt đầu sống cuộc đời khất thực. Ông dành cả cuộc đời để làm thơ, viết thư pháp và đàm thoại với thiên nhiên. Thơ ông rất đơn giản và thường lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Ông rất yêu trẻ con và đôi khi say sưa chơi đùa với trẻ con mà quên cả việc khất thực.  Ông không bao giờ tự nhận mình là “nhà sư” hoặc “nhà thơ”. Thơ ông đầy tính thiền và hài hước. Ryokan sống cuộc đời cực kỳ đơn giản và có rất nhiều giai thoại về lòng nhân từ, lòng vị tha của ông. Ông mất ngày 6 tháng giâng năm 1831. Teshin, người bạn thân của ông cho biết Ryokan từ trần trong tư thế thiền định, từ giã cõi đời như đang trong một giấc ngủ quên. (Nguồn: Wikipedia)

Hương thơm, liều thuốc tâm hồn- Lê Văn Truyền

alt

Đầu thu

úp mặt vào hoa cúc

cho buồn thành hương bay

Nguyễn Thánh Ngã

Trong thiên nhiên quanh ta luôn luôn hiện hữu mùi hương. Một cách vô hình, mùi hương hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng đến hoạt động thể chất và tâm lý của chúng ta, thậm chí có thể nói không quá rằng: hương thơm có thể kiểm soát khả năng hoạt động thể chất và tâm lý của con người. Ở đâu đang tỏa ngát hương thơm, ở đó có một loại ngôn ngữ – ngôn ngữ vô hình – để con người giao tiếp với con người và giao tiếp với thiên nhiên. Người Hy Lạp cổ đại còn tin rằng con người có thể giao tiếp với thần linh thông qua mùi hương: “Ở đâu có hương thơm ngọt ngào, ở đó hiện diện các Thần linh”.

Tác động của mùi hương đến thể xác, tinh thần và tâm hồn chúng ta là cơ sở khoa học của một phép chữa bệnh được gọi là “Hương trị liệu” (Aromatherapy) có lịch sử hơn 6.000 năm và đã được ghi vào các sách cổ trên giấy papirus của người Hy Lạp vào khoảng 1.500 năm trước Công nguyên. Trị liệu bằng hương thơm là nghệ thuật và khoa học sử dụng tinh dầu thơm tự nhiên để cân bằng, hài hòa và thúc đẩy sức khoẻ thể xác, tinh thần và tâm hồn chúng ta. Phép “Hương trị liệu” tìm con đường để thống nhất các quá trình sinh lý, tâm lý và tinh thần nhằm hỗ trợ cho việc chữa trị một số bệnh, đặc biệt là những bệnh tâm căn. Các nhà khoa học hiện đại đã lập được một “Từ điển hương trị liệu” xác định tác dụng điều trị của từng loại hương thơm. Tinh dầu hoa Cúc, đặc biệt là Cúc La Mã (Matricaria chamomilla), được coi là có tác dụng như một thuốc an thần, làm vợi đi những căng thẳng, xoa dịu lo âu trong tâm hồn người.

Khi mùa Thu đến, không gian bàng bạc, khí trời man mác, những mùi hương mơ hồ trong thiên nhiên chung quanh thường mang lại cho ta những nỗi u sầu vô cớ (melancholy). Đôi khi, những ký ức gợi sầu đã bị chôn vùi trong thời gian bỗng dưng hồi sinh mạnh mẽ, da diết vì một mùi hương thân thương, quen thuộc nào đó trong quá khứ thẳm sâu. Và khi tác giả phiến khúc haiku trên đây cảm thấy tâm hồn tràn ngập muộn phiền, không có gì tốt hơn là mượn mùi hương của hoa Cúc để gửi nỗi buồn theo gió bay đi.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Những khúc Haiku về con ếch- Lê Văn Truyền

Khi nói đến những động vật bé nhỏ được dùng làm “quý ngữ” cho những khúc haiku, người ta thường nhắc đến con ếch trong phiến khúc haiku sau đây của Bashô, một trong bốn đại sư của Haiku Nhật Bản:

古池や
蛙飛び込む
水の音

furuikeya /kawazu tobikomu / mizu no oto

ao cũ

con ếch nhảy vào

vang tiếng nước xao

Nhật Chiêu dịch

alt

Trên thế giới đã có hàng ngàn bản dịch phiến khúc haiku này và thầy Nhật Chiêu tài hoa đã cũng đã dịch ra tiếng Việt như trên. Cũng về con ếch, Ryokan, một đại sư haikư khác của Nhật Bản, đã viết khúc haikư sau đây, được người đời tương truyền là để đùa giễu Basho:

新いけやかはずとびこむ音もなし
新池や蛙飛びこむ音もなし

araike ya / kawazu tobikomu / oto mo nashi

the new pond

a frog jumps in

no splashing

ao mới

con ếch nhảy vào

không tiếng nước xao

Lê văn Truyền dịch

Hai phiến khúc haiku của hai đại sư đều kiệm từ nhưng đối nhau chan chát: “ao xưa (cũ) / ao mới”, “vang tiếng nước xao / không tiếng nước xao”. Thế mới biết thành ngữ “văn ta, vợ người” phản ảnh một cách suy nghĩ phổ biến không chỉ trong giới văn nhân, nghệ sĩ nước ta.

Ở đất nước Việt Nam xa xôi, nơi chỉ gần đây thôi mới biết đến nền thơ haiku Nhật Bản, tôi đồ rằng chú bé Đặng Nhật Minh 11 tuổi, học sinh trường Trung học phổ thông cơ sở Nguyễn Du (Hà Nội), có thể chưa được biết hai đại sư Basho và Ryokan đã có những khúc haiku để đời về con ếch được coi là kinh điển trong kho tàng haiku Nhật Bản. Chính vì vậy, khi tham gia cuộc thi “Sáng tác haiku trên tranh vẽ” về chủ đề “Sinh vật sống” (2017-2018) do Japan Airlines Foundation tổ chức, cậu bé mới hồn nhiên, không run tay “dám” sáng tác khúc haiku của riêng mình về chú ếch con, bạn của cậu:

chú ếch ngồi đáy giếng

chú ta thường hay hỏi tại sao

bầu trời lại bé thế

Đặng Nhật Minh, 11 tuổi

Khúc haiku độc đáo trùng với ý tưởng của một thành ngữ Việt Nam “ếch ngồi đáy giếng”. Chú bé trai hiếu động, tinh nghịch Đặng Nhật Minh hàng ngày sau giờ học, chắc vẫn bầu bạn, tâm tình với những người bạn nhỏ: chú ếch dưới đáy giếng, con cóc cụ trong góc vườn, chú ve sầu ca hát suốt mùa hè, con dế trũi đen thui trốn sâu trong hang đất … Chỉ có chú bé Đặng Nhật Minh mới có khả năng “trò chuyện” và hiểu được “tâm sự” của những động vật bé tí này. Em đã coi chú ếch là một động vật biết tư duy, biết thắc mắc về bầu trời quá nhỏ bé và biết trăn trở ngày đêm tìm câu trả lời. Khúc haiku thể hiện cách nhìn hồn nhiên, đầy cảm thông của trẻ thơ đối với thân phận con vật bé nhỏ đáng yêu đang bị “cầm tù” dưới đáy giếng với câu hỏi khắc khoải chưa được giải đáp của nó: tại sao bầu trời lại bé thế? Hoàn cảnh sống làm chú ếch không hiểu tại sao bầu trời chỉ bằng cái miệng giếng.

Trong phiến khúc haiku trên đây của Đặng Nhật Minh, chú ếch không còn là một con vật bé nhỏ chỉ biết “nhảy vào” và “nhảy ra” khỏi cái ao. Chú ếch của Đặng Nhật Minh là động vật “biết tư duy” khi quanh quẩn dưới đáy giếng đã dám đặt một câu hỏi lớn: Sao bầu trời bé thế?

Thế mới biết, có nhiều cách khác nhau để tìm đường lên một đỉnh núi.

LVT

Tưởng nhớ thảm họa bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki

alt

a sparrows’ nest

perhaps

inside the A-bom dome

Kinichi Sawaki ((1919-2001)

Patricia Donegan dịch

có thể

có một tổ chim sẻ

trong mái vòm bom nguyên tử

Lê Văn Truyền dịch

KHÔNG MỘT HIROSHIMA NỮA

Patricia Donegan

Nhớ lại Hiroshima ngày 6 tháng 8 gần 60 năm trước, tôi nhận ra rằng không có tin tức gì hôm nay về thành phố này trên phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, một ngày là “Ngày Hòa Bình Thế Giới” với lời nguyền của Nhân Loại không thể để lặp lại một lần nữa sự hủy diệt như thế. Tôi chỉ hy vọng những độc giả tương lai được sống trong một thế giới phi hạt nhân. Tôi nhớ lại lần hành hương đầu tiên về Hiroshima nhiều năm trước đây, tôi đã khóc và nghĩ rằng, mỗi nhà lãnh đạo trên thế giới cần phải đến thăm chốn linh thiêng này - vì rằng kinh nghiệm đau thương của chốn này sâu sắc nhường bao và họ - các nhà lãnh đạo cần phải kêu gọi một thế giới không bom hạt nhân. Có thể đây là một ảo tưởng hay là một ảo tưởng ngăn chặn vũ khí hạt nhân vì một ngày nào đó, một trong hàng ngàn quả bom hạt nhân (mà mỗi quả bom có sức mạnh gấp hàng ngàn lần quả bom nguyên tử ở Hiroshima) sẽ gây ra một vụ nổ. Hình ảnh gây ấn tượng thật mạnh mà tôi còn nhớ là hình ảnh cái bóng cháy đen của một người đàn ông vô danh in lên các bậc thềm đá của một tòa nhà ngân hàng mà ông ta đang sắp bước vào khi luồng ánh sáng chói chang của quả bom nguyên tử bùng lên vào lúc 8:15 sáng, và ông ta bỗng biến mất khỏi cõi trần. Một hình ảnh khác cũng ám ảnh tôi không kém là hình ảnh được nhắc đến trong khúc haiku này: các mái vòm đen của tòa nhà, tòa nhà duy nhất còn sót lại sau vụ nổ của quả bom nguyên tử, đang được UNESCO bảo tồn như là một biểu tượng của Hòa Bình để hồi tưởng đến Hiroshima. Ở đây, trong khúc haiku này, hình ảnh của mái vòm bị bom trở nên thật thấm thía với hình ảnh của sức sống mới đang nẩy nở từ mái vòm này, từ trong cái tổ bé nhỏ của con chim sẻ … Có lẽ, ta có thể mơ đến điều đó. (Patricia Donegan: Haiku Mind, 108 Poems to Cultivate Awareness & Open Your Heart, Shambhala. 2010).

PHƯỢNG HOÀNG TÁI SINH

Lê văn Truyền

Vào giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, ngày 6 tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ đã ném quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên "Little Boy" xuống thành phố Hiroshima (Nhật Bản). Và sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki.

Ở Hiroshima vào lúc 8 giờ 15 phút sáng, quả bom nổ ở độ cao 610 m, giải phóng nguồn năng lượng hủy diệt khổng lồ tương đương 15.000 tấn thuốc nổ TNT, san phẳng 13 km vuông thành phố chỉ trong trong vài giây. Hơn 60 phần trăm nhà cửa bị phá hủy hoàn toàn. Ước tính, khoảng 80.000 người dân Hiroshima đã chết ngay lập tức bởi vụ nổ và cũng khoảng 80.000 chết sau đó bởi hậu quả của vụ nổ. Một trong những bức ảnh kinh điển của nhiếp ảnh gia O'Donnell đã ghi lại khoảnh khắc một cậu bé đưa tiễn đứa em nhỏ về nơi an nghỉ cuối cùng tại khu hỏa táng. Cậu bé cõng đứa em nhỏ đã chết trên lưng, cố gắng không bật khóc. Tác giả bức ảnh viết: “Tôi thấy một cậu bé khoảng 10 tuổi, đi chân đất cõng em trên lưng. Trong những ngày này ở Nhật Bản, người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh trẻ em được anh chị trông nom. Tuy nhiên, đứa trẻ này không phải như vậy. Tôi thấy cậu bé đi đến khu vực hỏa táng nạn nhân vụ nổ bom nguyên tử vì một lý do gì đó rất nghiêm trọng. Khuôn mặt cậu bé nghiêm nghị trong khi đứa em trên lưng nghiêng đầu như đang ngủ say. Cậu bé đứng đó chừng 5 hoặc 10 phút. Những người đàn ông mang khẩu trang trắng bước về phía cậu bé, lặng lẽ cởi sợi dây buộc đứa trẻ ở phía sau. Đó là lúc tôi nhận ra đứa em ở trên lưng cậu bé đã chết. Những người đàn ông đưa bé em tới nơi hỏa táng. Anh của bé vẫn đứng tại chỗ, mắt không rời ngọn lửa. Cậu bé cắn chặt môi dưới đến rướm máu, đứng đó tới khi ngọn lửa tắt dần và mặt trời bắt đầu lặn. Rồi cậu bé quay lưng và lặng lẽ bước đi".

Tuy vậy, do nằm trong vành đai núi lửa và động đất Thái Bình Dương, các công trình xây dựng ở Nhật Bản nói chung và ở Hiroshima nói riêng khá vững chắc. Một trong số những công trình còn tồn tại là “Genbaku” được xây dựng từ năm 1915, sau vụ nổ được gọi là “A-bomb Dome” (Vòm Bom Nguyên Tử). Ngày nay, quanh phế tích “A-bomb Dome” là Khu Tưởng Niệm Hòa Bình Hiroshima được UNESCO đưa vào danh sách Di Sản Thế Giới (1996), bất chấp sự phản đối của Mỹ và Trung Quốc.

Chịu hai quả bom A, nước Nhật đầu hàng Phe Đồng Minh và kẻ bại trận phải bắt đầu tái thiết đất nước từ đống tro tàn.

Trong phiến khúc haiku trên đây, Kinichi Sawaki, một haijin Mỹ gốc Nhật đã mượn hình ảnh những con chim sẻ làm tổ trong “A-bomb Dome” để biểu trưng cho dấu hiệu hồi sinh của một vùng đất chết, cho sự hồi sinh một đất nước bại trận, hoàn toàn bị tàn phá đang quyết tâm xây dựng lại. Nhưng liệu Nhật Bản - đất nước của những chiến binh samurai - có cam chịu chỉ phục hồi lại những gì đã bị hủy diệt hay chính nỗi nhục bại trận đau đớn lại là động lực mạnh mẽ để Nhật Bản quyết tâm thực hiện những kỳ tích?

Là một dân tộc được cả thế giới ngưỡng mộ tinh thần trách nhiệm trong công việc, sự khiêm nhường, ý thức tự giác và kỷ luật, đức tính ham học hỏi, cần cù, chăm chỉ, nhẫn nại, tính cách luôn luôn muốn vươn lên đạt đến sự hoàn thiện, toàn mỹ … người Nhật đã chứng minh trước toàn thế giới: nước Nhật không phải là chú chim sẻ. Nhật Bản hiện đại là con chim Phượng Hoàng Lửa (Phoenix) trong thần thoại Hy Lạp tái sinh từ đống tro tàn, tung cánh vươn lên những đỉnh cao, bất chấp thảm họa nguyên tử trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và cả thảm họa nguyên tử nhà máy điện hạt nhân Fukushima bị tàn phá bởi sóng thần trong thời bình.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

KINICHI SAWAKI (1919-2001). Là một nhà thơ haiku hiện đại lỗi lạc của Hoa Kỳ. Vợ ông, Ayako Hosomi cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Sawaki đã từng là người lãnh đạo của nhóm thi sỹ “Kaze” (Wind: Gió) trong nhiều năm. Ông đồng thời là Chủ Tịch của Hội Haiku Nhật Bản. Trong số các tác phẩm của ông, có chuyên khảo về Basho có tên “Oku no Hosomichi Wo Aruku” (Walking the Narrow Road to the Deep North: Đi trên Con Đường Hẹp về Phương Bắc Bí Hiểm”. Hai tuyển tập haiku của ông là: “Yukishiro” (Tuyết Trắng) và “Enden” (Salt Farm: Đồng Muối). (Theo Patricia Donegan).

PATRICIA DONEGAN (1953 - …): Thành viên Hiệp Hội Giáo Sư Hoa Kỳ, nhà thơ, nhà biên dịch đồng thời là người đề xướng việc coi haiku như là một phương tiện để “thực hành nhận thức”. Bà là thành viên của Hội Nhà Thơ Đông – Tây (Đại Học Naropa) của Allen Ginsberg và Chogyam Trungpa; Bà cũng là môn đệ của bậc thầy haiku Seishi Yamaguchi và là nghiên cứu viên của quỹ Fulbright ở Nhật Bản. Các tác phẩm haiku của Bà gồm có: “Love Haiku” (Haiku Tình Yêu), “Chiyo-ni: Woman Haiku Master” (Chiyo-ni: Nữ Sỹ Haiku Bậc Thầy) đồng tác giả với Yoshie Ishibashi và tác phẩm “Haiku: Asian Art for Creative Kids” (Haiku: Nghệ thuật Á Đông cho Trẻ Em Sáng Tạo). Các tuyển tập Haiku của Patricia Donegan gồm có: “Without Warning”, “Bone Poems” và “Hot Haiku”.

Thơ Haiku đeo nặng suy tư- Lý Viễn Giao

Thơ Haiku ngày càng được nhiều người tìm đến có lẽ bởi đặc điểm ngắn gọn của nó. Trong thời đại mà mọi lĩnh vực đời sống đều vận hành với tốc độ cao, ít ai có điều kiện và nghị lực để thưởng thức những tác phẩm dài, dẫu cho đó là văn chương. Ngắn gọn nhưng không gây nhàm chán, nhạt nhèo thì hẳn nhiên phải hàm súc rồi. Những con chữ tích hợp trong một khúc thơ càng gợi nhiều, gợi đa chiều, sẽ nâng tầm giá trị của thơ lên càng cao. Với một số lượng từ rất hạn chế, người làm thơ tài ba có thể gửi vào đấy ý tưởng lớn mang tính định hướng cho đời sống xã hội và tình cảm con người trong mọi ngõ ngách của suy tư. Là thế, nhưng thơ Haiku không răn dậy, rao giảng mà chỉ nêu lên thông qua ý tứ hay hình ảnh để người đọc chiêm nghiệm. Bài thơ không đề xuất triết lý nhưng độc giả có thể rút ra từ đó, nhào nặn nên châm ngôn cho riêng mình.

alt

Hãy đọc khúc thơ này của tác giả Lê Đình Công :

“Tôi đi về phía hoàng hôn

Ráng chiều rực rỡ

Bình minh đợi phía bên kia”

Ta có thấy anh nói gì đâu. Chỉ là ba ngắt ý dưới dạng hình ảnh để tạo nên bức tranh toàn cảnh về một người hướng bước phía trời tây tràn đầy ánh sáng , cả ánh sáng hiển hiện và ánh sáng còn đang ẩn mình đợi phía bên kia. Ấy vậy mà anh nói với ta nhiều đấy. Nói về sự tự tin, tự tại đón nhận cái quy luật chắng của riêng ai, chẳng của thứ gì, Vô Thường. Nhưng không chỉ thế mà còn vẽ lên cái bản lĩnh của con người đã đủ nhận chân được quy luật sinh tồn này. Đoạn cuối của con đường không u ám mà sáng đến diệu kỳ cho cả hiện tại và tương lai.

Lại cũng có thể hiểu khúc thơ này gợi mở cho ta nhớ ra những điều tất yếu khác. Nó như tìm ra ánh sáng cuối đường hầm. Nó như niềm vui của Bĩ cực thái lai hay Khổ tận cam lai…

Cùng sử dụng hình ảnh buổi cuối ngày để nói về cuộc đời. Cùng thể hiện sự bình thản, tự tin dẫu đã trải nhiều dâu bể. Thạch Lựu lại viết:

“Đường đời

Chân mỏi

Nắng hoàng hôn”

Cái nắng của hoàng hôn dẫu chẳng chói chang gì, nó không được như cái nắng quái chiều hôm nhưng nhiều khi lại tạo nên vẻ đẹp say lòng.

Đọc khúc Haiku này :

“Tiếng mưa

Rơi trên chiếc lá

Xuyên thủng màu xanh”

(Nguyễn Thánh Ngã)

Tôi sực nhớ tới hai câu luận trong bài thơ Sơn Trà của nhà thơ Nguyễn Khuyến :

穿

Người tự dịch nghĩa :

“Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà” và dịch thơ :

“Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi già”

Dân gian có câu “Mưa dầm ra nước” với hàm ý cả tốt lẫn xấu cho mưa. Mưa đem nước về tưới nhuần để vạn vật sinh sôi nhưng nếu mưa dầm dài dài nước lại biến thành thủy họa. Nguyễn Ngã không trực ngôn như cụ Tam Nguyên nhưng “xuyên thủng màu xanh” thì khác gì “xuyên diệp”. Cách nói này làm ý tứ mềm đi, hình ảnh thơ hơn, nhưng cũng vẫn là cái e ngại về sự đời đen bạc, tình người trắc ẩn mà thôi .

Hai jin Lương Thị Đậm mượn hình ảnh con thuyền thúng để nói về phận người. Chị không gán cho phận con người bằng một từ mặc định nào cả mà chỉ đưa ra hai ngắt ý bằng hình ảnh Thuyền thúng và Phận người. Ngắt ý thứ ba là một hình ảnh động chung cho cả hai ý trên,Tròng trành ! Người quen lái, ngồi thuyền thúng đã ngắc ngư, chao đảo cùng con sóng và bước chèo. Người non tay, sự tròng trành ấy lại càng là những thử thách không nhỏ, khôn lường. Ấy cũng chính là phận người trước sóng gió cuộc đới đấy “Thuyền thúng xoay xoay/ Phận người/ Tròng trành”

Khi nói về bài học đường đời, dân gian có những câu “Chim sợ cành cong” hay “Sợ như gà phải cáo”. Con chim đã một lần gặp bẫy sẽ cứ thấy cành cây có dạng cong cong là dè chừng. Còn chú gà nào một lần được giáp mặt cáo thì chỉ thấp thoáng một cái gì đó cũng đủ giật mình. Người xưa mượn hiện tượng về con vật để nói thay mình như thế. Giản dị thôi nhưng cũng sâu sắc đấy. Khúc Haiku sau đã khiến ta liên tưởng đến tiền nhân :

“Em sợ ngọt

Vì đã say

Bởi mật”

(Kiều Lam)

Cũng là bài học đường đời nhưng óng ả hơn, văn chương hơn và cũng uyên thâm hơn. Không phải chỉ vì nó nói về người. Cái làm ta sợ không khô cứng như cành cây, không dữ dằn như loài cáo. Cái bẫy gài lại là mật để ta đã không phải chỉ thích , mà say. Dân gian có nói một câu răn na ná : “Mật ngọt thì ruồi chét tươi / Những nơi cay đắng là nơi thật thà”, có phải hơi lộ quá không ? Kiều Lam tự sự thôi, cứ như chẳng bảo ai cái gì thế mà như nói với tất cả. Nhẹ nhàng, tế nhị mà sâu sắc.

Đạo Phât dậy con người biết buông, biết xả. Nhủ nhau về điều này người làm thơ lại viết :

“Buông câu

Vẩy chuyện đời

Vào quên”

(Thiện Niệm)

Chỉ cần buông câu đã nói lên động thái của người tìm sự quên lãng bằng một thú vui thanh thản. Ai đã từng một lần tựa gối ôm cần hẳn biết động tác trước lúc buông câu là hất nhẹ đầu cần để mồi rơi đúng vào nơi bỏ thính. Động tác nhẹ ấy mà tác giả so với việc vẩy chuyện đời thì quả là tinh tế. Mồi câu vẩy vào ổ thính còn chuyện đời anh vẩy vào quên. Mượn việc nhỏ gửi gắm ý lớn quả là tài tình. Điều này cũng không lạ lắm bởi anh vốn là một điếu ngư thủ mà.

Người ta tìm đến cửa hàng gỗ để mua sắm, để tìm tòi những nét trạm trổ tinh tế của nghệ nhân làng mộc. Ngọc Căn thì khác, qua khúc thơ :

“Cửa hàng gỗ

Nghĩa địa

Rừng”

Ta thấy anh không phải thế. Thay vì bị thu hút bởi vẻ đẹp của các sản phẩm để vui, anh lại đau lòng nhìn mỗi đồ vật như một nấm mồ của cây, cửa hàng là nghĩa địa của rừng. Nỗi niềm đau đáu này là cách phản ứng tế nhị nạn phá rừng, là hình thức gián tiếp truyền cảm ứng bảo vệ môi trường cho mọi người bằng thơ.

Có hay không hiện tượng hiền tài chịu đìu hiu ẩn giật? Có hay không chuyện ếch nhái nhẩy lên làm người? Nhiều đấy! Suy tư về những chuyện này của cả xưa và nay, Lê Đăng Hoan chỉ nhẹ nhàng :

“Lúa hết thời

Cỏ lên ngôi

Đời lộn ngược”

đủ cho ta chiêm nghiệm về ta, về đời trong cuộc người.

Đọc đến ngắt ý thứ ba trong khúc Haiku này :

“Đau khổ về đây

Ta sẽ trả thù

Bằng nụ cười độ lượng”

(Lê Vũ)

chắc nhiều người phải ngạc nhiên về cách trả thù của tác giả. Nó nâng ý nghĩa của lòng khoan dung lên tới tầm, nâng tính nhân văn đạt đủ độ. Đức Phật nêu tình huống cho các đồ đệ rằng nếu có người làm điều không tốt với mình thì nên chọn động thái dừng lại, tiến tới hay bước qua? Dừng lại là để tìm cách đối phó. Tiến tới là để hành động đáp trả. Còn bước qua là coi như không có gì. Và Phật khuyên nên hành sử theo cách thứ ba ! Khúc thơ trên cho thấy chẳng phải chỉ bước qua mà còn vui vẻ bước qua nữa kia. Quả là một cách hóa giải sự việc thật cao thượng phải không ?

Những uẩn khúc, những nỗi niềm hàm súc trong một bài thơ đôi khi không bình nổi thành lời mà chỉ biết nó rồi để suy ngẫm mà thôi. Một vài phiến khúc Haiku sau đây là những bài thơ như thế :

“Giọt thời gian

Những vì sao cũ

Rưng rưng con người”

(Đinh Trần Phương)

“Tự nguồn

Đáy mắt

Mùa xuân”

(Phùng Gia Viên)

Người viết gieo suy tư vào thơ. Người đọc cảm nhận thơ để suy tư. Thường hai luồng đó là đồng nhất nhưng đôi khi cũng có sự vênh lệch. Hay gặp nhất là suy tư của độc giả rộng hơn hay hẹp hơn tác giả. Mức độ rộng hẹp, nông sâu của suy tư lệ thuộc nhiều yếu tố, trong đó bao gồm nhân sinh quan, thế giới quan … và cả cá tính, năng lực nữa. Với thơ Haiku, đặc tính súc tích của nó lại càng dễ tạo ra khả năng thiếu đồng nhất giữa đôi bên. Với cách hiểu này, xin các tác giả có trong bài viết hãy bước qua nếu có chuyện đó xẩy ra.

LVG

Một thế giới bất trắc- Lê Văn Truyền

alt

the new calendar!

as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko

Michael R. Burch phỏng dịch

quyển lịch mới

như nói cùng ta

liệu ngày mai có chắc …
Lê Văn Truyền dịch

Mỗi khi đón chào năm mới, ta thường háo hức bóc tờ lịch đầu tiên với bao niềm hy vọng vào một năm sẽ đem lại cho ta những niềm vui mới, hạnh phúc mới như lời chúc “Happy New Year” vẫn thường nổi bật trên bìa quyển lịch. Thế nhưng tại sao phiến khúc haiku của Inahata Teiko lại thể hiện một tâm trạng khắc khoải, bất an … khi bà bóc tờ lịch đầu tiên của năm mới?

Ngày mai có chắc …?” là câu hỏi lửng lơ không lời đáp về một tương lai không chắc chắn, bất định … không chỉ thể hiện tâm trạng của bà mà phần nào là tâm trạng của cả nhân loại trong thời đại này.

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI nền sản xuất công nghiệp toàn cầu phát triển như vũ bão đã để lại những hậu quả kinh hoàng và khó lường cho nhân loại (trái đất nóng lên vì khí thải hiệu ứng nhà kính, tốc độ diệt vong của sinh giới tăng nhanh, môi trường suy thoái khủng khiếp …). Nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội đã phải trăn trở đặt câu hỏi: Với cái đà này, đâu là tương lai của nền văn minh công nghiệp?

Ulrich Beck (1944-2015), nhà xã hội học đương đại người Đức, cho rằng: Trước đây con người là nạn nhân của nền “kinh tế khan hiếm” với ý nghĩa khan hiếm của cải vật chất, trong đó các rủi ro và nguy cơ chủ yếu đến từ các thảm hoạ tự nhiên. Ngày nay, chúng ta đang trở thành nạn nhân của những nguy cơ do chính mình gây ra. Nhân loại đang chứng kiến bước ngoặt của xã hội hiện đại từ một xã hội công nghiệp cổ điển chuyển sang một hình thái mới “xã hội công nghiệp nguy cơ” (risk industrial society) trong đó nhân loại phải đối mặt với cả nhân tai và thiên tai, và ngay cả thiên tai cũng có phần không nhỏ do con người gây ra. Gắn liền với “xã hội công nghiệp nguy cơ” là sự chuyển đổi từ phương thức phân phối sự giàu có và phúc lợi sang phương thức phân phối nguy cơ và rủi ro. Sự giàu có, phúc lợi do nền công nghiệp hiện đại tạo ra được phân phối cho một thiểu số người giàu, quốc gia giàu có trong khi đa số người nghèo, những người yếu thế và các nước nghèo phải gánh chịu phần lớn các nguy cơ và rủi ro như là một thứ “phụ phẩm” (by-products) của nền công nghiệp hiện đại.

Không phải là nhà xã hội học cũng không phải là nhà kinh tế học, với tư cách là thường dân của một nước đang phát triển, tôi thì lại muốn đặt tên cho cái “nền công nghiệp nguy cơ” của Ulrich Beck là “nền công nghiệp tham lam”. Tham lam vì nó chiếm hầu hết phần phúc lợi, sự giàu có trong khi trút hết mọi nguy cơ và rủi ro lên đầu người khác. Hãy nhìn các nước thượng nguồn sông Mekong đã xây 15 nhà máy thủy điện và còn dọa sau 2020 sẽ xây thêm 30 đập thủy điện nữa để khai thác tiềm năng 250.000 MW điện năng phục vụ cho nền công nghiệp của họ, biến đất nước họ thành “cái bình điện khổng lồ” của Đông Nam Á, đẩy nước ta vào thế phải hứng chịu rủi ro nhãn tiền về “những quả bom nước” treo lơ lửng trên đầu và đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa, thủy hải sản, trái cây … nuôi sống hàng chục triệu người sẽ trở thành những “cánh đồng chết” như thế nào! Và đêm 23 tháng 7 năm 2018 mới đây, đập thủy điện Setien Senamnoi trên sông Mekong công suất 410 MW, một “quả bom nước” chứa 5 tỷ mét khối nước, đã nổ ở Attapeu (Nam Lào) chắc chắn không những gieo tai họa nhãn tiền cho người dân địa phương mà nhân dân vùng hạ lưu sông Mekong cũng phải hứng chịu những ảnh hưởng khôn lường.

Ấy thế mà, việc phân bổ nguy cơ và rủi ro cho các nước kém phát triển đôi khi còn được ngụy trang bằng một thuật ngữ kinh tế mỹ miều “đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI: Lưu Foreign Direct Investment) để chuyển những ngành “công nghiệp rủi ro” sang các nước chậm phát triển.

Thế giới hiện đại đang bất ổn vì cũng như sự bất công trong phân phối của cải, phân phối nguy cơ, rủi ro cũng không công bằng. Nói cho ngay, theo suy nghĩ của kẻ viết những dòng này, nạn khủng bố dã man không thể tưởng tượng nổi đang lan tràn như dịch bệnh nhắm vào những nước giàu, ngoài những nguyên nhân về tôn giáo, phần nào còn phản ánh sự bất mãn về thực trạng mất công bằng trong khai thác tài nguyên, trong phân phối của cải, phúc lợi và rủi ro. Hơn thế nữa, chúng ta đang chứng kiến nạn dịch “hội chứng sùng bái giá trị vật chất” ngày càng lấn át các giá trị tinh thần cao đẹp của con người. Lòng trắc ẩn, tâm từ bi đã trở nên khan hiếm, nhường chỗ cho bạo lực và sự dã man trong khi “lòng trắc ẩn chính là nền tảng của mọi đạo đức” (Arthur Schopenhauer, 1788 – 1860, Đức). “Một người từ bi không bao giờ giàu. Nhưng một người giàu, lại không có chút từ bi” (Tục ngữ Trung Quốc).

Câu hỏi lửng lơ trong phiến khúc haiku của Inahata Teiko tuy ngắn gọn nhưng đã phản ánh sâu sắc tâm trạng khắc khoải, bất an thường trực của cá nhân bà với tư cách là một công dân Nhật, một trong những nước có nền công nghiệp phát triển nhất thế giới, nhưng đồng thời cũng là tâm trạng của nhân loại về một tương lai bất định với những bất trắc, nguy cơ và rủi ro không lường trước được.

Trước thực trạng xã hội đáng buồn của nhân loại, Đạt Lai Lạt Ma đã phải lên tiếng thiết tha kêu gọi: “Lòng trắc ẩn không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề của con người. Nó không xa xỉ nhưng rất thiết yếu đối với sự bình an, sự ổn định tinh thần của chúng ta và đối với sự sống còn của nhân loại.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Khi ta lìa đời- Lê Văn Truyền

alt

rồi đến một ngày trong cỏ dại

ta lìa đời

đám mới nở hoa, đám nhú mầm

Santoka (Taneda Shoichi) (1882-1933) Đinh Nhật Hạnh dịch

Sống trên đời ai ai cũng tự hỏi, cuộc sống quanh ta sẽ như thế nào sau khi ta từ trần. Có người sống cuộc đời quá bất công, bất hạnh, cực khổ, nhiều khi phải ngửa mặt lên trời mà kêu than: Sao ông Trời không cho ta chết quách cho rồi để nhẹ nợ trần gian? Nhưng có người lại muốn sống để lưu danh muôn thuở:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858)

Vấn đề là để lại cái gì? Và đời có công nhận và ghi nhận không? Có người muốn lưu danh với bất cứ giá nào mà kẻ đốt đền Herostratos là một trường hợp điển hình. Trong hy vọng sẽ được nổi tiếng, năm 356 trước C.N. Herostratos đã phóng hỏa đốt Đền thờ thần Artemis ở Ephesus, ngôi đền đẹp nhất trong số khoảng ba mươi ngôi đền của người Hy Lạp đương thời và là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Trong tiếng Đức hiện đại, tên riêng của kẻ đốt đền đã biến thành danh từ chung “herostrat” dùng để chỉ những kẻ điên cuồng tìm kiếm danh vọng bằng bất cứ giá nào. Đáng buồn là trong cuộc sống quanh ta hiện nay không hiếm những tên đốt đền như Herostratos. Ngược lại, có rất nhiều người sống cuộc đời hết sức giản đơn mà chỉ sau khi họ từ trần nhân loại mới nhận chân được tất thảy giá trị họ để lại cho đời. Những nhà hiền triết, những nhà tư tưởng lớn, những nhà bác học kiệt xuất là những người như thế.

Bậc thầy haiku Ryokan đã sống một cuộc đời cực kỳ đơn giản. Và ông thấy cái chết của mình chẳng có gì quan trọng để đáng nói, đáng sợ. Hãy sống thuận theo quy luật của Đấng Tạo Hóa: sinh, lão, bệnh, tử. Khi giờ của ta đã điểm, hãy nhẹ nhàng lìa đời, siêu thoát vào cõi hư vô. Hãy nhớ rằng, sau khi ta – dù là một kẻ thứ dân bần hàn, vô danh hay là một đấng thiên tài lừng lẫy, kiệt xuất – từ giã cõi đời, cuộc sống bất diệt quanh ta vẫn tiếp diễn. Tài năng, thiện tâm của con người vẫn sẽ như đám cỏ dại đầy sức sống trong khúc haiku trên đây:

đám mới nở hoa, đám nhú mầm

Ryokan luôn bình tĩnh đón nhận cái chết. Ông luôn điềm đạm tự hỏi:

khi nào thì mình chết?

rắc gieo

những hạt mầm

Đừng sợ cái chết. Trái lại, cái chết sẽ là niềm vui sướng đối với kẻ nào đã sống một cuộc đời chân thật” (Marcus Aurelius). Người khất thực Ryokan, bằng cuộc đời chân thật của mình với con người, với muôn loài và thiên nhiên, bằng những khúc haiku đầy tính thiền như những hạt mầm vẫn nẩy nở, đâm chồi, hai trăm năm sau được tôn vinh là một đại thụ trong dòng thơ haiku đang phát triển tại quê hương ông và trên toàn thế giới. Đêm trước hôm từ trần Ryokan đã từng chia sẻ tâm sự với một người bạn: “Mình cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa. Sẽ thật thích nếu được như lũ chim sẻ hay lũ voi, chết lặng lẽ một mình giữa đồng hoang”.

Khi thầy Lưu Đức Trung tạ thế, kẻ viết bài này đã viếng thầy bức thư pháp do Dương Minh Hoàng thủ bút, khúc haiku sau đây để tiễn thầy về với cõi Vô Ưu:

đời là cõi tạm

nhẹ bước thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt –Hà Nội

SANTOKA TANEDA (1882-1940). Là một trong những nhà thơ haiku hiện đại nổi tiếng nhất và lập dị nhất của Nhật Bản. Ông được cứu khỏi một vụ tự tử khi còn trẻ và sau này trở thành một trong những Thiền Sư Hành Hương đích thật cuối cùng của thế kỷ XX. Thơ haiku của ông thuộc thể tự do cũng như cuộc đời của ông vậy; Ông sử dụng tinh thần của haiku, nhưng không tuân theo số âm tiết và quý ngữ (kigo) của haiku. Có thể đọc haiku của ông bằng tiếng Anh trong tác phẩm “Mountain Tasting: Zen Haiku by Santoka Taneda”, được John Stevens dịch. (Theo Patricia Donegan).

Khiếu hài hước- Lê Văn Truyền

alt

nusubito ni / tori nokosareshi / mado no tsuki

chàng trộm lỉnh rồi

chỉ quên một việc

cửa số còn trăng

Ryokan Taigu (1758 – 1831)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Chúng ta thường có hai thái độ khi phải đối mặt với rủi ro: xem xét sự việc với cái nhìn hài hước, lạc quan hay với cái nhìn bi quan, bi lụy. Robert A Heinlein khuyên: “Hãy đừng là người bi quan; người bi quan thường đúng hơn người lạc quan nhưng người lạc quan vui vẻ hơn – và quan trọng hơn là cả hai đều không thể ngăn được dòng sự kiện đang ập tới”.Bi quan hay lạc quan đều không thể ngăn chặn được những rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của ta.

Tác giả của khúc haiku đầy hài hước trên đây là Ryokan, một haijin - thiền sư sống cuộc đời lãng du cực kỳ đơn giản. Sống một cuộc đời lý tưởng về sự hòa hợp của con người với thiên nhiên, tâm của Ryokan trở nên vô phân biệt. Ông kết bạn với trẻ con cũng như kết bạn với côn trùng, cây cỏ. Ông ngây thơ đến cảm động và tràn đầy lòng từ bi. Một lần, thương mấy cây tre bị kẹt trong túp lều, ông cố tạo một chỗ trống trên mái tranh để cây tre có thể vươn lên đón ánh sáng mặt trời. Thế rồi, chẳng may Ryokan tự đốt cháy chính mái lều của mình. Có giai thoại kể rằng, một buổi tối có tên trộm lẻn vào túp lều của ông dưới chân núi nhưng chẳng tìm thấy gì đáng giá để cuỗm đi. Khi Ryokan quay về, gặp tên trộm ông nói: “Anh đã đi đường xa đến đây thăm tôi, nên tôi chẳng nỡ để anh về tay không. Tôi tặng anh bộ quần áo này”. Nói rồi, ông cởi bộ quần áo đang mặc trên người cho tên trộm. Tên trộm ngẩn người ra nhưng cũng cầm bộ quần áo và biến mất. Đêm hôm ấy, Ryokan trần truồng ngắm trăng.

Nhưng lần này, một đạo chích khác đã lẻn vào túp lều của Ryokan, khoắng đi tất cả những vật dụng nghèo nàn tối cần thiết của ông. Khi phát hiện chàng trộm đã lỉnh rồi và túp lều của mình trống rỗng, thiền sư đành hài hước tự an ủi rằng: may mà trong lúc vội vàng, chàng trộm đã không để ý còn có vầng trăng treo bên cửa sổ túp lều. Ryokan cảm thấy mình thật may mắn vì nếu hắn ta để ý đến vầng trăng thì đêm nay chắc ông không còn ai để bầu bạn.

Hài hước là liều thuốc an thần, giảm đau hiệu nghiệm cho tâm hồn chúng ta trước những tai ương không thể tránh khỏi trong cuộc sống thường nhật. Hài hước đem cho ta cách nhìn sáng suốt và lòng khoan dung trong hoạn nạn. “Khiếu hài hước là vật liệu để ta lấp đầy những ổ gà trên con đường đời gập ghềnh mà ta phải dấn thân mỗi ngày” (Frank Tyger).

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

RYOKAN TAIGU: (1758 - 1831), tên thật Yamamoto Eizo sinh ở làng Izumozaki, tỉnh Echigo (Nhật Bản). Ông rời bỏ gia đình rất sớm và tu tập tại ngôi đền Koshô-ji với thiền sư Kokusen. Khi sư phụ Kokusen mất ông bắt đầu sống cuộc đời khất thực. Ông dành cả cuộc đời để làm thơ, viết thư pháp và đàm thoại với thiên nhiên. Thơ ông rất đơn giản và thường lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Ông rất yêu trẻ con và đôi khi say sưa chơi đùa với trẻ con mà quên cả việc khất thực.  Ông không bao giờ tự nhận mình là “nhà sư” hoặc “nhà thơ”. Thơ ông đầy tính thiền và hài hước. Ryokan sống cuộc đời cực kỳ đơn giản và có rất nhiều giai thoại về lòng nhân từ, lòng vị tha của ông. Ông mất ngày 6 tháng giâng năm 1831. Teshin, người bạn thân của ông cho biết Ryokan từ trần trong tư thế thiền định, từ giã cõi đời như đang trong một giấc ngủ quên. (Nguồn: Wikipedia)

Hạt bụi trần- Lê Văn Truyền

alt

này, bướm đang đập cánh

ta cũng như cậu

chỉ là hạt bụi thôi

Issa Kobayashi

Đinh Nhật Hạnh dịch

Thân phận con người luôn luôn là câu hỏi chúng ta thường đau đáu tìm câu trả lời. Ta từ đâu đến? Và ta sẽ về đâu sau khi chết. Có lên được thiên đường để hưởng thụ những gì ta đã cống hiến (hoặc … hưởng thụ tiếp những gì ta chưa kịp hưởng thụ trên cõi trần thế này) hay về cõi địa ngục để bị đọa đày, trả nợ cho những tội lỗi ta đã gây ra.

Trong Ngày thứ tư Lễ Tro của Kitô giáo bắt đầu cho Mùa Chay trước Lễ Phục Sinh, tín đồ được làm phép xức tro trên trán. Trong Kinh Thánh, sách Sáng thế ký viết: "... Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được sinh ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất". Phật giáo ở Phương Đông, cho rằng nguồn gốc của vạn vật là từ tứ đại: đất, nước, gió, lửa do nhân duyên kết hợp mà thành. Nhà Phật hay dùng cụm từ "thân tứ đại" để chỉ nhục thân của chúng ta. Cả Phật giáo và Kitô giáo đều cho rằng: “Con người sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về với cát bụi”.

Trịnh Công Sơn, chàng nhạc sĩ tài hoa xứ Huế đã thể hiện quy luật sinh diệt này của hai tôn giáo lớn trên thế giới thành một đoạn ca từ rất hay trong bài hát “Cát Bụi”:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

để một mai tôi về làm cát bụi

Cát Bụi – Trịnh Công Sơn

Hai trăm năm trước Trịnh Công Sơn, haijin – thiền sư Issa Kobayashi thì lại thể hiện quan niệm về sinh diệt của Nhà Phật và Kitô giáo trong khúc haiku đầy tinh thần nhân văn trên đây. Ngắm nhìn chú bướm đang đập cánh bay lượn trên những đóa hoa, Issa thì thầm với bướm để gửi đi một thông điệp: dù là một sinh vật nhỏ nhoi, mong manh hay là một thiền sư, ta và ngươi đều như nhau trước Đấng Tạo Hóa. Tất cả chúng ta đều sinh ra từ cát bụi và đều trở về với cát bụi mà thôi.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt –Hà Nội


Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay10803
mod_vvisit_counterHôm qua42626
mod_vvisit_counterTất cả1588736
Hiện có 1179 khách Trực tuyến