Thiền sư xứ Huế- Lê Văn Truyền

alt

Thiền sư xứ Huế

từ thảo am bước ra nhân thế

song hành cùng Đạt Lai Lạt Ma

*

Vị Bồ Tát đất Việt

hành thiền cùng chánh niệm

gieo đạo từ bi khắp thế gian

*

Đôi chân thiền hành khắp thế gian

cuối đời trên chiếc xe lăn

trở về Tổ Đường Từ Hiếu

Phật tử cả nước cuối tháng 10 năm 2018 hoan hỉ đón mừng Thiền sư Thích Nhất Hạnh trở về chùa Từ Hiếu ở Huế để tĩnh dưỡng. Sau hơn 70 năm bôn ba hành đạo khắp năm châu bốn biển, Thiền sư quyết định trở về Tổ đình Từ Hiếu, nơi nguyên thủy là “Thảo Am An Dưỡng” của Hoà thượng Nhất Ðịnh từng tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già. Thiền sư quyết định ở lại đây cho đến ngày viên tịch. Chùa Từ Hiếu là nơi Thiền sư xuất gia vào năm 16 tuổi, trở thành sư ông năm 23 tuổi và được trao “ấn khả thiền sư” vào năm 40 tuổi. Năm 41 tuổi, Thiền sư được mục sư Martin Luther King Jr., người đoạt giải Nobel Hòa Bình (1964) đề cử nhận giải Nobel Hòa Bình. Trong lá thư đề cử thầy Nhất Hạnh cho giải Nobel Hòa bình năm 1967, Mục sư đã viết: Thích Nhất Hạnh là một con người thánh thiện, vì lòng khiêm cung và đức tin lớn. Ngài là một học giả thông tuệ. Những phát kiến cho hòa bình của Ngài, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người chủ trương và đưa ra khái niệm "Phật giáo dấn thân" (Engaged Buddhism) được trình bày trong tác phẩm "Việt Nam: Hoa sen trong biển lửa" (Vietnam: The lotus in a sea of fire). Ông nói: "Khi bom dội lên đầu chúng sinh, bạn không thể ngồi yên trong thiền viện. Thiền là nhận thức về những gì đang xảy ra, không chỉ bên trong mà còn xung quanh cơ thể và cảm xúc của bạn" và “Phật giáo phải gắn liền với cuộc sống thường nhật, với nỗi đau của bạn và những người xung quanh”.

Là một trong những người lãnh đạo tinh thần Phật giáo ở phương Tây, được coi có vị trí quan trọng và tầm ảnh hưởng chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma (theo New York Times) và được xem là “Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ hai” (London Times, 2010) những lời răn và phương pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh thu hút sự quan tâm của công chúng đến từ các quan điểm tôn giáo, tâm linh và chủng tộc khác nhau. Ông đưa ra cách thực hành chánh niệm (mindfulness) thường được điều chỉnh cho phù hợp với tri giác phương Tây. Chánh niệm là sự tỉnh giác, tỉnh thức, biết rõ những gì phát sinh ngay trong mỗi thời khắc (the moment) của hiện tại, bây giờ và ở đây, là việc ý thức được sự quý báu của giây phút hiện tại.

Trong lời tựa cho cuốn sách “An lạc từng bước chân” của Thiền sư Nhất Hạnh, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết: “Thầy Nhất Hạnh đã chỉ cho chúng ta phương pháp làm thế nào sử dụng những lợi ích của niệm và định để chuyển hóa và trị liệu những vấn đề tâm lý phức tạp. Thầy cũng chỉ ra cho chúng ta mối liên hệ mật thiết giữa bình an trong tự thân với bình an trên Trái đất”. Nữ thi hào Alice Walker, người giới thiệu Thầy thuyết giảng tại Đại học Berkeley California năm 2001 cho rằng: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh thường được đánh giá là vị đạo sư Phật giáo được yêu quý nhất ở phương Tây”.

Elizabeth M. Gilbert, nữ nhà văn, nhà phê bình văn học người Mỹ, đã biểu đạt những cảm xúc và ấn tượng của mình trong lần đầu tiên được tiếp kiến Thiền sư như sau: "Nhà sư vĩ đại người Việt Nam, nhà thơ và sứ giả hòa bình, người đàn ông Việt Nam nhỏ nhắn này đã thu hút chúng tôi từng người một vào tĩnh lặng của ông. Hay có lẽ chính xác hơn nếu nói thầy đã đưa từng người của chúng tôi vào trong yên tĩnh của chính mình, vào trong an tịnh mà mỗi người chúng tôi vốn đã sở đắc nhưng chưa từng khám phá hay khẳng định. Khả năng thầy đã phát khởi trạng thái này trong tất cả chúng tôi, chỉ bằng sự hiện diện của thầy - đây là một năng lực thiêng liêng. Và đấy là lý do ta tìm đến một Sư phụ: Với hy vọng là công đức của thầy sẽ soi rạng cho ta sự cao quý còn khuất lấp của chính mình" (Elizabeth M. Gilbert: Ăn, Cầu Nguyện, Yêu, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2016, tr.207 -208).

LVT

Đạt Ma áo đỏ- Đinh Trần Phương

Một lần nọ, khi chúng tăng đang háo hức chờ đợi Phật Thích Ca thuyết pháp thì Phật chỉ giơ lên một bông hoa không nói gì. Tất cả đều không hiểu, riêng có Ca Diếp mỉm cười. Ca Diếp sau đó trở thành vị Tổ đầu tiên của Thiền tông Ấn Độ.

alt

Tổ thứ 28 và cũng là cuối cùng: Bồ Đề Đạt Ma (thế kỷ 5, 6) – vượt biển sang Trung Quốc để truyền tâm ấn Phật, trở thành vị Sơ Tổ của Thiền tông Trung Hoa. Theo truyền thuyết, Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách tường liên tục đến năm thứ ba thì ngủ lịm lúc nào không hay. Tỉnh dậy, Tổ bực mình cắt luôn mí mắt vứt xuống đất, thế nào mà chỗ ấy mọc lên một cây lạ (chính là cây chè). Tổ đem lá cây nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn và tiếp tục ngồi bích quán cho hết chín năm. Chân dung Đạt Ma là đề tài thường xuất hiện trong tranh của các vị Thiền sư, biểu đạt sự hiểu Đạo của mỗi vị. Dưới đây là bức “Đạt Ma áo đỏ” của Thiền sư tài hoa Hakuin Ekaku (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1686–1768). Xuyên suốt tác phẩm là cái nhìn nhất nguyên của sư. Đạt Ma nhìn vách tường. Vách tường nhìn Đạt Ma. Hay đúng hơn, vượt lên trên vách tường của kiến giải nhị nguyên, Đạt Ma đang nhìn chính cái tâm huyền diệu của mình. Hakuin cũng đã thấy cái tâm ấy. Là tâm kiến tâm, là tâm hát về tâm thế này:

Lấy xuống đây nào

đứa bé nức nở

đòi vầng trăng cao

Issa – Nhật Chiêu dịch

Đứa bé ấy mới ngây ngô làm sao. Nó muốn có được vầng trăng cho riêng mình, dù một chốc thôi cũng được rồi lại thả lên mà! Tâm ấy vừa bản nguyên lại vừa ly tán. Nhưng sao lấy trăng xuống được đây? Nhưng trăng có thực sự xa cách đến vậy?

Trăng treo lên cành thông

rồi tôi lấy trăng xuống

mà ngắm trăng tuyệt trần

Hokushi – Nhật Chiêu dịch

Trong tranh, nếp trán của Đạt Ma biểu hiện cho trí tuệ sâu thẳm mà giản đơn của Ngài. Mắt, mũi, miệng, tai và vạt áo, tất thảy đều tương thông với điểm ấy. Hai con ngươi ở trên đỉnh của tròng mắt mở to tưởng sắp rơi xuống đến nơi, nhưng cái định ở thế chênh vênh mới thực là đại định. Chiếc mũi thẳng, phình to với lỗ mũi tròn đậm nét, thêm phần râu cằm chĩa ra các hướng làm ta cảm nhận được hơi thở của Đạt Ma truyền ra ngoài, là sự chuyển hóa từ tĩnh sang động. Cái động của hơi thở quyện với cái tĩnh của ánh mắt (hay ngược lại). Miệng tuy mím chặt nhưng nhờ phần râu cằm, ta có thể hiểu Đạt Ma đang thuyết pháp trong im lặng.

Qua nét vẽ tương đồng giữa vành tai với hai mí mắt, Đạt Ma hẳn cũng đang lắng nghe tâm mình. Âm thanh ấy là âm thanh của hư không, như trong một công án Thiền do chính Hakuin sáng tạo: tiếng vỗ của một bàn tay – được gợi lại qua chuyển động của vạt áo đậm phất lên, kết nối với phông nền đen của bức họa. Đến đây, ta sẽ tự hỏi liệu vầng trăng trong đêm thiền định của Đạt Ma và vầng trăng giác ngộ trong tâm hồn Ngài có là một? Đường cong của vạt áo ứng hợp với nếp trán, như là trăng với thuyền – một bóng ảnh của trăng? Bức họa là sự hợp nhất giữa tĩnh và động, giữa sắc và không. Sự chuyển biến tế vi giữa tĩnh và động là cái u huyền. Cùng diễn tả cái u huyền siêu việt ấy, Basho viết:

Con sâu lặng yên

ăn mòn hạt dẻ

trong đêm trăng huyền

Basho – Nhật Chiêu dịch

Trong bóng tối của đêm, trong ánh sáng của trăng, con sâu trở nên bất động còn hạt dẻ lại đang chuyển mình. Hình như còn có một con sâu nữa, con sâu của thời gian, con sâu của hư không đang ăn mòn vầng trăng, mà vầng trăng vẫn cứ nguyên vẹn ở đó.

Với đề tài “Đạt Ma áo đỏ”, Hakuin thực chất còn đề cập đến cái Dục. Đạt Ma tọa Thiền chín năm là vậy, nhưng Ngài vẫn khoác trên mình chiếc tăng bào màu đỏ – màu của Tính Dục. Khi con mắt của người xem bừng ngộ ở một chiều kích khác thì cũng là lúc anh ta nhận ra trên khuôn mặt của Đạt Ma khả kính hiện lên hình ảnh đôi gò bồng đào, hiện lên hình ảnh dương vật theo cách tự nhiên như nhiên của chúng. Cái Thiêng và cái Phàm gặp nhau, chưa khi nào gần đến thế, hội tụ về một điểm, cũng như được thể hiện ở bài Haiku hiện đại sau đây:

Chiếc mô-tô lao đi

cặp đùi tôi ép chặt

ánh trăng rằm mùa xuân

Masaki Yuko – Đinh Nhật Hạnh dịch

Khuôn mặt của Đạt Ma, khuôn mặt của mỗi chúng ta, tự bản chất là khuôn mặt của vũ trụ này.

Đ. T. P

Thơ haiku thiếu nhi Nhật Bản & New Zealan: Cảm nhận và biểu hiện từ tâm hồn

Cao Ngọc Thắng

Haikuviet.com, ngày 1 tháng 9 năm 2017, giới thiệu 30 phiến khúc haiku của 15 haijin Nhật Bản và 15 hiajin New Zealand, tất cả đều ở độ tuổi từ 7 đến 15 tuổi.. Ban'ya Natsuishi và Naruhito Luke Takeuchi đã chuyển các bài tiếng Nhật sang tiếng Anh. Đinh Nhật Hạnh chuyển 30 bài từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Đọc những phiến khúc haiku này có cảm giác được trẻ lại tuổi ấu thơ, được bơi trong dòng cảm xúc hồn nhiên mà dâng đầy lãng mạn…

alt

Jiuri Hamamura (7 tuổi) nghe thấy ông mặt trời cười, một tiếng cười sảng khoái bật lên:

Ông mặt trời cười

ihihi, ahaha

haha

(The sun laughing/ ihihi, ahaha/ haha)

Không cần biết vì sao ông mặt trời cười, cười vào lúc nào, chỉ biết rằng có một đứa trẻ 7 tuổi đã nghe thấy tiếng cười đó, cảm nhận được tiếng cười khoái trá đó vọng từ cao xanh.

Hai em bé Nhật Bản khác, cũng có cảm hứng từ mặt trời. Aika Fujimoto, 9 tuổi, ngắm hoa cải thấy ân huệ từ người mẹ thiên nhiên:

Hoa cải dầu

màu vàng chói

mặt trời cho ta

(Rape blossoms/ yellow color/ given by the sun)

Còn Rina Nagumo, cũng 9 tuổi, lại cảm nhận ông mặt trời qua ánh xạ tia nắng trên thân thể người thầy giáo dạy bơi:

Sàn bể bơi

thầy giáo em đứng

phản chiếu ánh trời

(Swimming pool/ in the reflexion of the sky/ our teacher stands)

Ồ, thì ra người thầy giáo đó vừa ở bể bơi bước lên thân thể còn ướt sũng nước.

Một cách trực diện, em Fergus Kil Patrik, 9 tuổi người New Zealand, so sánh:

Mặt ông tôi

khô bởi nắng nôi

như vỏ cây sồi

(My grand father’s face/ dried by the sun/ oak tree winkles)

Thật là hình ảnh sinh động. Vỏ cây sồi khô đanh vì nắng mặt trời như mặt ông tôi giãi dầu phơi nắng. Cái sần sùi ở đây mới đáng yêu làm sao!

Bầu trời này chỉ có một mặt trời thôi, và mẹ em chỉ có một trên đời. Ông mặt trời đem lại cảm hứng cho bao nhiêu người. Đó là sự sống. Là niềm vui. Bởi vậy, ở nơi đô hội, em Oria Mahek, 12 tuổi người New Zealand, buồn bã khi vắng tiếng gà cất tiếng gọi bình minh, thấy thiếu cái gì đó rất trọng đại:

Trong thành phố

còi rú

thay cho tiếng gà gáy

(In the city/ the sound of sirens/ replace roosters)

Cũng tâm trạng như thế, em Rioyuka Simizu, 9 tuổi người Nhật Bản, than rằng:

Dế rung chuông

thức em dậy

buổi chiều hôm

(Bell cricket/ calls me up/ in the evening)

Ở đây, dế rung chuông vừa là tiếng “hót” của con dế thiên nhiên vừa là tiếng báo thức của chiếc điện thoại di động đặt nơi đầu giường. Nghe cái thực mà lòng hướng về vô thức. Thiếu ánh chiều tà làm em giật mình, ngơ ngác.

Và, cả khi ông mặt trời “ngủ đông”, trái tim các em nhỏ vẫn tìm cách lấp đầy sự trống vắng:

Nghỉ đông

trời

đầy sao

(Winter vacation/ the sky/ full of stars)

Em Yuko Miyakawa, 9 tuổi người Nhật Bản, đã biểu cảm như thế. Em ngắm các vì sao chi chít mà lòng không nguôi nhớ ánh nắng mặt trời sưởi ấm cho muôn loài nảy nở.

Trẻ em ngày nay, trong thời đại thông tin bùng nổ, càng sớm hiểu biết những thay đổi trạng thái trong thiên nhiên và biến động của xã hội. Nắng mưa là chuyện của giời. Hết mưa trời hửng nắng lên thôi. Mỗi thay đổi ấy đều đem lại những giá trị nhất định và cả những hậu quả khôn lường, khó tránh. Cảm nhận như em Josie Fraser, 13 tuổi người New Zealand thật là tinh tế:

Mưa lộp độp rơi

từng giọt vang lên như tiếng trống

bài ca của Mẹ thiên nhiên

(Rain pitter-patters/ each drop beats a drum/ mother-nature song)

Tinh tế ở chỗ nghe từng giọt mưa vang lên mà thành tiếng trống, thành bài ca. Lòng hân hoan của em là niềm vui chung của người dân bấy lâu khao khát trận mưa rào cứu thế.

Một sự vi tế khác, muốn cất đi một kỷ niệm (có vẻ) buồn về mùa đông lạnh giá:

Chiếc lá vàng

rơi

vào tim em

(Dried leaf/ blowns/ into my heart)

Nỗi buồn ấy của em Karin Masuda, 9 tuổi người Nhật Bản, đã được bạn đồng hương của mình là Takumi Akashi, 7 tuổi, nhanh chóng khỏa lấp:

Mong mãi cũng đến

thiệp mừng Năm mới

của em đây rồi

(Finally it arrives/ a New-Year card/ for me)

Tuy nhiên, chẳng phải lúc nào con trẻ cũng hồn nhiên, ngây thơ quá đỗi. Các em thấy hết, thấy cả mặt trái do thiên tai hủy hoại đến đau lòng. Các em miêu tả bằng trực giác đầy mẫn cảm. Ở tận đất nước New Zealand xa xôi, nghe tin sóng thần, bão biển giập vùi làng quê, thành phố Nhật Bản, các em chia sẻ sự mất mát, tang thương với các bạn mình bằng những phiến khúc haiku rung động cả người lớn. Ví sóng thần như cây đinh ba của Hải Vương, em Hugo Clement, 10 tuổi viết:

Cây đinh ba của Hải Vương

tung hoành trên biển cả

bầy ngựa của Sóng Thần

(Poseidon’s trident/ slams into the sea/ Tsunami horses)

Em Myfanway Bosley, 7 tuổi, lại ví sóng thần như con rồng quái dị:

Tiếng thét gầm vang

đánh thức làng Nhật Bản dậy

hơi thở của rồng

(A rumbling sound/ wakes a Japanese Village/ dragon breath)

Chắc trong suy nghĩ của em bé này hơi thở của con quái vật chẳng thơm tho gì.

Không giống người lớn, các em đi tìm nguyên nhân sinh ra những thiên tai khủng khiếp đó bằng suy luận của mình. Không hẳn là ngây thơ. Cũng không hề đơn giản. Những suy luận ấy ẩn chứa cái lý của chúng. Em Zoe Nathan, 9 tuổi, viết:

Cát từ dưới biển

đùn lên trên đường

làm tan rã những lâu đài

(Sand from the sea/ emerges through the road/ liquefaction casties).

Cũng từ biển, nhưng là thế giới nghêu sò đồng lõa góp vào trận động đất:

Thế giới nghêu sò

tự phanh tim ra

thành những viên ngọc trai động đất

(The seashell world/ open up its heart/ earthquake peaels)

Không còn ngộ nghĩnh nữa, em Negan Koppen, 10 tuổi, đã nhận thấy: từ chỗ loài nghêu sò làm nên cái đẹp khi tự phanh tim ra chúng hóa thành tội đồ quỷ quái.

Cả con người nữa chứ. Khi ai đó đồng lõa nhúng tay vào tội ác đều mang bộ mặt của Hải Vương. Em Jemes Harper, 10 tuổi, đã nghĩ như thế:

Bộ râu ông già

uốn cong như sóng rong biển

của Hải Vương

(The old man’s beards/ curved in a wave/ Neptune seaweed)

Tư duy của trẻ em thật đa dạng.

Đáp lời sự đồng cảm và sẻ chia của các bạn New Zealand (có thể lắm chứ), em Tomoka Fukuda, 15 tuổi người Nhật Bản, bằng những lời của người trong cuộc:

Em muốn xóa

sự tàn phá của cơn bão

bằng hòn tẩy

(I want to erase/ the vortex of a typhoon/ with an eraser)

Thật dung dị mà cũng lãng mạn làm sao!

Tiếng lòng đồng điệu, em Eleanor Thorpe, 13 tuổi người New Zealand, khảng khái:

Không quản thời tiết

bầy sẻ vẫn bới rác kiếm ăn

để sống sót qua cơn bão

(Despite the weather/ sparrows still scavenge/ surviving the storm)

Một ý nghĩ chín chắn, đầy tính nhân văn, nhân bản.

Một sự đồng điệu khác, một lối suy tư khác, vừa khúc chiết vừa nhi nhiên. Đó là phiến khúc của em Harrier Keith, 13 tuổi cũng người New Zealand:

Một con bồ câu bay lang thang

tách khỏi bầy đàn

tìm một lối riêng

(A pigeon wanders / away from the crowd to find / a path of his own)

Có thể chưa hẳn đúng, nhưng đọc bài haiku này bỗng thấy sự liên tưởng của em bé này khá là thấu đáo. Hòn đảo Nhật Bản nằm trên vòng cung núi lửa lớn trên hành tinh, thường xuyên xảy ra nhiều trận động đất dữ dội. Trong hoàn cảnh đó, người Nhật Bản đã tìm ra cách chống đỡ riêng cho mình rất hiệu quả. Song, sức người chỉ có hạn, khó tránh nổi những cú “vươn mình” đột khởi của thiên nhiên, của đại dương khổng lồ. Sau mỗi trận tàn phá như vậy, họ lại đứng lên, gồng mình khắc phục hậu quả và bước tiếp.

Sự trả thù của thiên nhiên dù ghê gớm đến mấy không khiến con người chùn bước, thì chiến tranh mới là nỗi ghê tởm do chính con người trực tiếp gây nên. Sự ghê tởm ấy đổ xuống đầu không loại trừ ai, trong đó trẻ em là nạn nhân. Các em tự thức nhận được điều đó. Suy nghĩ của em Angela Chen, 13 tuổi người New Zealand, làm người lớn chúng ta chạnh lòng:

Ta ngồi nơi yên ấm

trong khi trên thế giới

nhiều nơi đang chiến tranh

(Sitting in the warmth/ while somewhere in the world/ wars are happening)

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn giới thiệu một cách cảm đi từ thiên nhiên sang loài người của haijin 8 tuổi người New Zealand, em Madison Fortune:

Bầy sẻ hót vang

bằng nhiều thứ tiếng

dàn đồng ca Nam M

(The sparrows sing/ in different languages/ South American choir)

Và, một bài của haijin 11 tuổi người Nhật Bản, em Yui Iwano:

Ngày Hội thể thao

mẹ em chạy

xa hơn tất cả các bạn của em

(Sports day/ my mother ran longer/ than any other children)

Thoáng đọc có thể cho rằng hai bài này mâu thuẫn về bối cảnh và hành động. Một nói về sự quy tụ nhiều người, bài sau nói về một người. Ở bài trên, Fotune có sự liên tưởng về một cộng đồng người nói tiếng latin bao chùm lục địa Nam Mỹ, từ bầy chim sẻ. Dù nói tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay tiếng Pháp, tiếng bản địa, nhưng cộng đồng ấy đã và luôn luôn là sức mạnh, được hun đúc trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dưới ngọn cờ tụ nghĩa của người Anh hùng Hô-xê Mác-ti. Tương lai đang ở phía trước họ. Ivano miêu tả người mẹ cùng chạy với đàn em nhỏ trong ngày hội thể thao. Cái thực này vừa mang nghĩa đen (người đã già chắc chắn chạy không bằng lũ trẻ, bà tụt lại) vừa có nghĩa bóng (đất nước Nhật Bản đang roi vào tình trạng dân số già). Vậy thì, tương lai của nước Phù Tang tất yếu nằm trong tay người trẻ. Hai hình ảnh thơ đều hướng về tương lai cả thôi.

Những phiến khúc haiku của các haijin nhỏ tuổi từ Nhật Bản và New Zealand đã đem lại cho tôi nhiều cảm xúc bởi sự tinh tế trong quan sát, trong suy tư và trong cách biểu hiện. Trân trọng cám ơn các dịch giả Ban'ya Natsuishi và Naruhito Luke Takeuchi, và Đinh Nhật Hạnh.

Láng Hạ, 22-10-2017

C. N. T.

Khao khát vời vời trong một khúc thơ- Lý Viễn Giao

Anh viết thư pháp. Con chữ dưới tay anh có hồn có vía, có hình dáng và màu sắc như một bức tranh nên người đời gọi anh là Nhà thư họa. Còn tác phẩm của anh, người ta bảo đó là Tranh chữ! Anh cũng là người làm thơ Haiku. Thơ anh viết không nhiều nhưng chín chắn vừa độ, sâu và cao đúng tầm. Khi đi làm công việc của một con ong thợ tìm kiếm chất liệu để xây tổ, tôi đã gặp bài thơ anh trên một trang viết. Nó gợi ra trước mắt nhiều điều về hồn cốt của một phiến khúc Haiku.

alt

Cá xuống nước

mây về trời

ta thả ta vào chân không

Về cốt cách, khúc thơ rõ mồn một ba hình ảnh. Đứng riêng rẽ, mỗi hình ảnh đã đủ nói lên một hiện tượng và tự mình gợi mở ý tứ. Ôm lấy nhau trong khúc thơ, chúng tạo nên ý tưởng rộng lớn mà ta phải nhìn thật tinh tế mới nhận chân được. Nếu ai đó còn băn khoăn rằng thơ Haiku là Thơ ba câu có thể viện dẫn bài thơ này. Quả thật ở đây mỗi dòng là một câu hoàn chỉnh nhưng chỉ là sự ngẫu nhiên trùng hợp. Thực chất thơ Haiku không cần đến như vậy. Xin được nói nhiều hơn về phần hồn bài thơ. Với hai hình ảnh cá xuống nước và mây về trời, tác giả đã khẳng định cái tự nhiên tất yếu của sự sống. Không có bầu trời thì mây nhởn nhơ sao đây? Không có nước, cá làm sao vùng vẫy? Trời nước là nơi đích thực tạo nên sự sống. Vậy hãy trả lại sự sống cho mọi thứ mà mây và cá được dùng làm vật chỉ thị tượng trưng. Cũng đâu chỉ có vậy. Trong cuộc sống này thử hỏi thứ gì là cốt lõi, là động lực và vĩnh viễn? Tình yêu đấy! Bỗng nhiên tôi nhớ về một khúc ca dao xưa:

… Cái ngọn sông đào vừa trong vừa chảy

Anh đi kén vợ mười bẩy năm nay

Tình cờ bắt gặp nàng đây

Như cá gặp nước như mây gặp rồng

Mây gặp rồng, phát phong phát vũ

Cá gặp nước con ngược con xuôi …

Thế đấy, cá gặp nước đâu phải chỉ để bơi lội kiếm ăn mà “Con ngược con xuôi” quấn quýt yêu thương nhau, hạnh phúc cùng nhau… Mây gặp rồng là không có thật. Hình ảnh hư cấu về rồng thường ở trên trời nên cứ hiểu mây gặp trời cũng không khác xa nhau là mấy. Mây gặp trời có thể bảng lảng nhẹ nhàng trôi, cũng có thể “Phát vũ” với mưa Ngâu thương nhớ, phát tia sét ái tình đầy cuồng nhiệt. Vậy nên “Cá xuống nước/Mây về trời” là ước vọng tình yêu nữa chứ đâu chỉ đơn thuần là sống thôi. Khi mây đã về trời, mây chẳng ở yên mà được gió đưa đẩy phiêu du, và ấy là tự do, là tình yêu đấy. Khúc dân ca này có phải như thế không thì ai mà chẳng rõ:

Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi

Anh ơi em vẫn đợi, bèo… í… a dạt

Mây í… ì… i trôi…

Đọc những câu sau của Xuân Diệu:

Tôi muốn tắt nắng đi cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi…

Ta thấy khúc tình si được đẩy lên tột độ để hành vi gần như chạm ngưỡng cực đoan. Thế nhưng gió đã buộc lại thì mây làm sao trôi, bèo có dạt không để nỗi nhung nhớ bời bời thốt lên thành lời day dứt? Trong khúc Haiku của Thiện Niệm, anh chỉ cho mây về trời thôi để mây tự do lang thang hay phát phong phát vũ gì tùy ý. Cũng là dùng tương tác với thiên nhiên để giãi tình nhưng mỗi người một vẻ, mỗi cách đeo mang một nét hay riêng!

Với hình ảnh thứ ba “Ta thả ta vào chân không” dường như ý tứ có một bước nhảy nâng tầm. Bây giờ là người rồi. Mà người thì không thể dùng thứ gì cụ thể, thiếu tế nhị để thỏa nỗi khao khát sống và yêu được. Chân không là lựa chọn độc đáo có nội hàm rộng. Nếu khoa học chỉ coi chân không là môi trường không chứa gì nên không có sự cản trở. Ở đó sợi bông rơi giống hệt viên bi. Thì văn chương mở rộng, trừu tượng hóa chân không thành cả một xã hội tự do và yêu thương. Nơi này không có hoài nghi và đố kỵ, không có tham lam và ích kỷ, bất công và áp bức làm vẩn đục. Nó trinh nguyên, trong veo như tự do và tình yêu. Cuộc sống như thế thực vô giá như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy “Không có gì quý hơn độc lập và tự do!”. Nhưng ai mang ta đến “Chân không”? Lời khẳng định đã rõ mồn một ngay trong câu thơ rồi đó. Đến đây, ta không thể không nhắc đến lời bất hủ của Các Mác: “Hạnh phúc là tranh đấu!”. Chỉ có tự ta khổ luyện, vươn lên mới có thể “Thả ta vào chân không” được.

Tính hàm súc của thơ Haiku đã được cho là không phải bàn. Nếu dùng lăng kính thơ mà nhìn sẽ thấy nhiều bài thơ khác cũng óng ánh bảy sắc cầu vồng như khúc thơ ngắn này. Thiện Niệm, người đi bằng hai chân thư họa và sáng tác. Chân nào anh cũng vững trãi. Mong và tin ở những bước đi tiếp của anh.

L. V. G

Haiku… say- Lê Đình Công

Tôi đã đọc không ít các phiến khúc Haiku Việt về rượu, nhưng có hai phiến khúc sau đây cứ làm tôi lâng lâng hạnh phúc cùng tác giả.

alt

Bắt đầu là ông Người Mèo ở nhà sàn lưng chừng núi, có thể là Sa pa, nhà thơ- họa sĩ Phan Vũ Khánh. Một hôm vừa đi nương về, rửa ráy xong, bê hũ rượu ra rót vào bát, định làm một hơi cho đã khát, thì bỗng những đám mây từ ngoài núi ùa vào và ông kêu lên:

Ấy da

mây vào nhà

uống rượu ta!

Thật là hoan hỉ! Thật là hạnh phúc! Đang định độc ẩm thì có bạn tới – mà lại là bạn hiền, thân thuộc cùng núi non trời đất vào chung bát thì còn gì khoan khoái hơn! Và thế là họ nghiêng ngả bên nhau. Mây say, mây ngất ngưởng ra núi. Ông Người Mèo say lăn luôn ra sàn, đánh một giấc dài, ngáy như sấm. Ôi tự do, tự tại! Đó là mối tình muôn thuở của “thiên nhân hợp nhất” vốn được trân quí đời đời.

Rõ ràng tứ thơ trên là rất mới. Bài thơ kiệm lời và lời thơ thì mộc mạc, hồn nhiên mà vẫn gây được xúc động nơi người đọc bởi âm điệu, hình ảnh và sức gợi sâu xa của nó.

Cũng như vậy, câu thơ sau đây của nhà thơ- nhà giáo Lý Viễn Giao:

Rượu đầy

lời bay

dạ cạn!

Cực ngắn và đầy âm điệu. Nhưng mỗi cặp từ trong bài là một hình ảnh sinh động và đầy năng lượng bởi tính gợi thật kỳ diệu. Tiếp bạn quý đến nhà, mời nhau từng li rượu đầy. Rồi thi nhau “lời bay”, thi nhau dốc hết bầu tâm sự  sâu kín của mình cho đến khi “dạ cạn“ thì còn gì hạnh phúc hơn! Bởi vì trên đời này không phải ai, không phải lúc nào cũng có được một người bạn như thế, những giờ phút “thả phanh” vô tư  như thế!

Tứ thơ trong bài này không mới vì người xưa đã có câu “rượu vào lời ra”. Nhưng nhà thơ Lý Viễn Giao đã “làm mới” nó và “nâng” nó lên một tầm mới, sâu sắc hơn, mạnh mẽ và “thơ” hơn.

Haiku Việt là thế: hai phiến khúc trên đều súc tích, giản dị, nhưng đều chứa đầy năng lượng, không những thể hiện cảm xúc mà còn thể hiện cả khát vọng của con người về một thế giới an bình, hạnh phúc, thấm đẫm Tự do và Tình yêu giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với con người.

Quả đúng như nhà thơ Bằng Việt đã nhận xét về Haiku Việt là “Thơ hơn một lần Thơ”. Xin chân thành chúc mừng, ngưỡng mộ và chia sẻ cùng hai nhà thơ Phan Vũ Khánh và Lý Viễn Giao!

L. Đ. C

Sự tử tế của... chú chó- Lê Văn Truyền

alt

Kìa, chó mà tử tế

lối mòn né chỗ

cho khách qua đường

Kobayashi Issa (1763-1828)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Đọc phiến khúc haiku trên đây của Issa tôi bỗng tưởng tượng ra một hình ảnh thật thú vị. Có thể trong một buổi sáng nào đó, sau khi đến thăm một người bạn già đàm đạo về thế sự, Issa từ giã ra về. Trên con ngõ trúc nhỏ hẹp, đại sư gặp một con chó giữa đường. Như một phản xạ tự nhiên, Issa dừng lại tránh đường cho chú chó đi qua, giống như ông cha ta từng dạy: tránh voi (và cả … chó) chẳng xấu mặt nào! Nhưng, ngạc nhiên chưa chú chó trông thấy khách lạ bỗng “lịch sự” né chỗ cho khách có lối đi qua ngõ hẹp.

Chó nhà là con vật nuôi gần gũi với mọi gia đình, nhưng tôi không hiểu tại sao con người lại vẫn coi chó là con vật để đem ra so sánh với những kẻ xấu xa. Người ta chửi mắng nhau là “đồ chó”, “đồ chó má”, “đồ chó săn” và thậm tệ hơn “đồ chó đẻ” … Rồi “chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng” … Thật ra, tôi nghĩ loài chó là vật nuôi trung thành lâu đời và có ích nhất của con người kể từ thời tiền sử, khi loài người đang còn sống trong nền “kinh tế hái lượm và săn bắt”.

Chó nổi tiếng về lòng trung thành. Nếu có lúc nào đó nó có làm điều gì không phải với chủ chắc chắn là do con người đã làm điều gì đó không phải với nó. Về sự trung thành và tử tế của loài chó, người ta đã kể lại câu chuyện về những con chó nổi tiếng khắp thế giới như chú chó nằm ở mộ chủ nhịn ăn để chết theo chủ, chú chó khóc khi tìm lại được chủ sau nhiều năm lưu lạc, chú chó Bobby 14 năm nằm canh mộ chủ và đã được dựng tượng ở vùng Edinburg, chú chó Fido ở Italia chờ chủ suốt 15 năm ở bến xe bus như thường lệ mặc dù ông chủ đã chết …

Nhưng có lẽ làm cho cả thế giới xúc động nhất là câu chuyện của chú chó Hachiko đã trở thành một “báu vật quốc gia” của Nhật Bản nhờ vào lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân. Chủ của Hachiko là một giáo sư độc thân tại Đại học Tokyo, người mỗi ngày đều đón tàu đi làm. Cứ mỗi tối, Hachiko lại đến ga tàu đón chủ nhân trở về. Một ngày nọ, vị giáo sư bất ngờ bị xuất huyết não trên giảng đường và không bao giờ trở về nữa. Nhưng Hachiko vẫn ngày ngày đều đặn tới ga tàu để chờ đón ông. Bảy năm sau, câu chuyện về chú chó trung thành ngày ngày ngóng đợi chủ ở ga tàu suốt những năm tháng qua đã được kể lại trong bài báo tưởng niệm vị giáo sư đáng kính. Hachiko trở nên nổi tiếng khắp Nhật Bản và được tôn vinh là “báu vật quốc gia”. Người dân xứ sở hoa anh đào ca ngợi Hachiko như một biểu tượng của lòng trung thành đối với gia đình và Tổ quốc. Năm 1934, khi Hachiko qua đời, tin tức về cái chết của chú được lan truyền khắp Nhật Bản. Và tới tận bây giờ, vẫn có hàng triệu người dân Nhật xếp hàng chỉ để được nghe một đoạn băng ghi âm tiếng sủa của chú chó “báu vật quốc gia” này.

Phải chăng những đức tính của người Nhật: sự tử tế, khiêm tốn, tôn trọng đồng loại, tôn trọng muôn loài, tôn trọng thiên nhiên là yếu tố góp phần quyết định để nước Nhật sửa chữa những sai lầm trong quá khứ và sống lại từ đống tro tàn trong lúc nhiều dân tộc thắng trận đang lụi tàn vì đã kiêu ngạo trong hào quang chiến thắng.

Phiến khúc haiku của Issa như một lời cảm thán ngợi khen về loài chó bằng một cấu trúc tu từ “tuy là … nhưng …” mà dân gian vẫn hay dùng với hai cụm từ đối lập: tuy là chó nhưng biết lễ độ nhường đường cho khách. Câu ngợi khen đôi chút nhuốm màu hài hước nhẹ nhàng nhưng thật ra rất thâm trầm khi ta làm một phép so sánh. Nó nhắc ta về hiện tượng “sống chụp giật”, “đạp lên đầu nhau mà sống”, về sự “sự phản trắc”, “vô lương” đang lan tràn như dịch bệnh trong thế giới loài người hiện đại ở thế kỷ XXI này.

LVT

Bốn khúc haiku- Nguyễn Thánh Ngã

alt

TỄU

Hội làng rối nước

ô hay chú Tễu

nghìn năm không già

(Vũ Tam Huề)

Không phải ngẫu nhiên mà haijin Vũ Tam Huề đưa rối nước vào thơ Haiku. Có thể tác giả là người đầu tiên chăng? Người nông dân vùng lúa nước suốt ngày bì bõm trên đồng sâu, ruộng cạn chẳng khác nào cái xã hội khốn khó mà họ đang lặn lội kiếm sống. Thế là chợt nghĩ ra cách thư giãn, tức môn nghệ thuật này! Rối nước...

Thơ Haiku rất kiệm lời. Dùng thủ pháp giấu chữ là thâm ý của người viết. Tác giả mượn cái hội làng để chỉ xã hội - sân khấu lớn của cuộc đời! Đọc câu “Hội làng rối nước”, liền xuất hiện trong ta sân khấu của ao làng. Sân khấu là nơi tiếng cười và tiếng khóc xen lẫn. Chất bi hài được đẩy lên cao trào khi tiếng trống giục, tiếng nhị, tiếng bầu, tiếng mõ đan xen vọng lên từ ký ức. Đó là tiết tấu, là nhịp điệu thăng trầm của cuộc sống... Thơ Haiku chỉ giới thiệu sân khấu ấy, rồi để cho nhân vật chính diễn trò. Chú Tễu nghe đã buồn cười, huống chi được thấy. Tễu nghĩa là cười. Vậy thôi. Tiếng cười đã làm nên kiệt tác: Rối nước! Đó là sáng tạo độc đáo của người Việt ở Đồng bằng Bắc bộ.

Nhà thơ dùng tán thán từ ô hay, để diễn tả trạng thái vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Ngạc nhiên, vì chú Tễu đóng khố, được sơn phết, và miệng cười toe toét, bao giờ cũng là lần đầu đem lại không khí mới cho đêm hội. Mừng, vì chú Tễu, kẻ đại diện cho quần chúng nhân dân, nói tiếng nói sâu thẳm tận đáy lòng họ. Bao nhiêu khúc mắc, oan ức, liền mượn miệng Tễu mà thổ lộ. Lòng Tễu và lòng ta không khác. Chú Tễu, kẻ bị giật dây hề trên sân khấu, khác chi sân khấu cuộc đời! Các nghệ nhân đang thể hiện tài “múa rối”, như quyền năng của Tạo hóa. Ở đây, trong môn nghệ thuật này, Tạo hóa lại là lòng dân đấy!

Và chú Tễu ấy nghìn năm không già! Vì sao? Từ chú là thông điệp muôn đời cho ta biết, chỉ là một đứa trẻ, ngô nghê, lém lỉnh, muốn nói gì thì nói. Miệng trẻ mà. Không ai chấp nhặt. Thế đấy. Bởi chú biết đem tiếng cười dân gian pha lẫn chất đạo lý mà răn đời. Tác dụng nghệ thuật đem lại là không nhỏ. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng viết: “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Nhờ ý thơ mạnh mẽ, kẻ ác không dám quấy nhiễu. Nhân dân yên ổn làm ăn.

Đó là đạo lý mà thơ gởi gắm. Nhà thơ Vũ Tam Huề bắt được cái khoảnh khắc ấy. Một bài haiku ra đời như một chú Tễu hạnh phúc. Ta cũng hạnh phúc theo chú Tễu. Cười chơi...

*

MẦM

Xuân mới

đang lên

từ hạt cũ

(Lê Đình Công)

Xuân của Lê Đình Công không hẳn là quý ngữ. Tuyệt nhiên, nó chỉ là từ chỉ cái đang nhú lên giữa thời tiết ấy mà thôi. Sự vận động trong thơ Haiku chợt mang ý nghĩa mới khi ta ngắt dòng. Không cần biết cái gì đang lên, tứ thơ cứ phơi phới như luồng gió, mà chỉ có hai từ thôi! Đó là một điều thú vị khi tác giả lập tứ cho ý bung lên. Khá giỏi, nếu không phải là tay thơ có nội lực, chưa chắc đã dám hạ bút dòng này!

Nhưng, điều bàng hoàng hơn cả là cái kết đầy hàm ngôn. Một hạt cũ đang nẩy mầm trên cái nền mùa xuân mới. Chất liệu thơ đang hiện lên ba thời: quá khứ, hiện tạitương lai. Thơ Haiku như chiếc kính chiếu yêu, có thể soi cho chúng ta thấy cái mầm non của cuộc sống đang bắt đầu. Hạt cũ mang tính di truyền, gợi chúng ta không quên nguồn cội. Cái gì mới cũng bắt đầu từ cái cũ xa xăm. Mặc dù có đôi lúc, đôi nơi, con người sống vội, quên đi tình xưa nghĩa cũ, quên đi gốc gác của mình...

Có phải chăng thơ là đạo lý? Một cái mầm thôi mà chở cả đạo lý muôn đời. Ấy là thơ của loài người, không còn là thơ của một quốc gia nữa. Thơ Haiku không những “tránh sang một bên”, mà còn cùng độc giả sáng tạo, thưởng lãm là vậy. Độc đáo và kỳ diệu vô song!

Đọc xong bài thơ nhỏ, có một câu hỏi được đặt ra. Chúng ta đang gieo hạt gì trong đời sống này? “Gieo gì gặt nấy”, cha ông ta đã nói vậy. Thơ cũng đang nói vậy. “Gieo gió gặt bão”, bài thơ bảo chúng ta hãy gieo những hạt tốt lành, nhân ái. Đừng bao giờ quên, và nhất là đừng coi thường những hạt cũ! Hạt cũ sẽ nẩy mầm trong tương lai. Hạt nhân quả. Mầm nhân quả... Nghe. Sợ...

*

NGỠ

Cành đào soi bóng xuân

ngỡ mồi

con cá đớp

(Đỗ Tuyết Loan)

Nếu Lão thi Đinh Nhật Hạnh viết về cái bóng hoa đào trên không: “một bóng hoa đào/ thắp bừng ngõ nhỏ”, thì haijin Đỗ Tuyết Loan viết về cái bóng hoa đào dưới nước. Trên không cũng khó mà dưới nước cũng khó.

Vâng, nếu không khó không thành vấn đề. Vấn đề đặt ra chủ đề. Nhưng thơ Haiku là bất chợt. Vì vậy mà không có đề. Ba câu là ba ý tưởng khác nhau. Con cá ngỡ hay ta ngỡ? Cả hai chăng?

Cả hai.

Ngỡ tức Tưởng, là một tri giác ghê gớm. Theo Phật giáo, tưởng là một trong ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tưởng là một tri giác bao gồm mọi nhận thức về thế giới vật lý và tâm lý. Thế giới vật lý trong thơ đã được ký hiệu hóa là “mồi”. Còn thế giới tâm lý lại là một cái bóng. Bóng hoa đào. Bởi thế, cá đớp bóng mà cứ ngỡ ấy là “mồi”. Thế đấy, tri giác luôn bị đánh lừa, do thực tại quá sinh động. Cuộc đời cũng vậy, con người luôn bị đánh lừa bởi những ảo tưởng. Ta có nghĩ rằng, ta đang chạy theo một cái bóng phù du không?

Có đấy!

Những danh lợi phồn hoa luôn là bả mồi cám dỗ, quyến dụ ta, hụt hơi mà không bao giờ tới đích.

Bài thơ cho ta một cú dừng. Thơ không hề đả động gì tới một mặt hồ, hay mặt ao nào cả, mà dòng đời là cả một mặt hồ, mặt ao long lanh. Những thứ in dưới đáy nước là ảo tưởng long lanh đó. Hành động của con cá “đớp” là hành động của con người. Những cú “đớp” làm đau đời sống!

Đẹp thật đấy, mà cũng ảo tưởng thật đấy.

Không biết có ai tỉnh ra không, chứ thơ có công năng thức tỉnh. Tiếng cá đớp mồi vô thanh, mà sao vang lên trong thơ Đỗ Tuyết Loan tiếng vang không dứt?

Phải rồi. Con cá đớp bóng hoa đào, mà lòng ta cứ ngỡ...

*

Ừ... XUÂN

Xuân ừ

bên nhau

không biết vì sao

(Như Trang)

- Thơ ư? Ừ thơ!

- Hay ư? Ừ hay!

Biết thơ hay, mà không biết hay chỗ nào. Vì sao? Đó là chỗ mà thơ Haiku giấu lời. Lời ẩn tàng trong ý tại. Hỏi xuân ư? Ừ xuân, là lẽ tất nhiên. Kiệm lời đến mức nhà thơ là một "Lãng nhân". Lão lười, biếng nói, biếng viết. Mà viết rất sâu.

Nhà Phật đề ra thuyết: “sinh, trụ, dị, diệt, tức thành, trụ, hoại, không”, là bốn quy luật chi phối mọi hiện tượng trong vũ trụ. Mùa xuân sinh khí tụ cho cây cối nẩy mầm. Con người tụ bên nhau mới ra lễ nghĩa, nẩy lộc đâm chồi các niềm tin, thuần phong mỹ tục mới được giữ gìn. Mùa xuân ấm áp, lá hoa đua nở. Con người về bên nhau để chúc tụng, ca mừng sự sum họp. Vì thế mà bao ý thơ, nhạc, họa ra đời. Tự cổ chí kim, con người luôn ra đi và luôn trở về, là một nghĩa cử hồi hương rất đẹp trong hành trình đi tìm đất sống. Con cá hồi trở về khi đẻ trứng. “Cóc chết ba năm quay đầu về núi”. Con người thì ngày trở lại cúng viếng tổ tiên là ngày Tết. Ý nghĩa nguồn cội của người Á Đông rất được đề cao, và được xem như là bài học để hoàn thiện nhân cách. Nhà thơ Đỗ Trung Quân có bài thơ Quê Hương nổi tiếng (Giáp Văn Thạch phổ nhạc) như sau: “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người...”. Vâng, thế đấy, nếu không có những ngày nhớ về bên nhau ấy, tức là sự trở về nơi bản quán, quê hương xứ sở, chất con sẽ không lớn nổi thành chất người, để làm một Con Người hoàn thiện được.

Nhưng kết luận: “không biết vì sao”, làm hoang mang tâm lý độc giả không ít. Nếu theo mạch, người ta có thể viết câu thứ ba: “giữa ngày nguyên đán”. Nghe nó trơn tru, liền lạc. Nhưng như vậy thì bài thơ mất hết chủ ý. Sẽ không còn cái chất bất chợt và gợi nữa. Không biết vì sao bởi chính lúc bên nhau đã quá đủ ý nghĩa rồi; không còn gì để nói chứ không phải là không biết.

Thơ cần gì phải biết.

Chỉ gợi thôi rồi “né sang một bên” cho độc giả thưởng ngoạn. Đó là sự chia sẻ và coi trọng độc giả!

Thật không? Ừ thật...

Ta cũng thật tình như haijin Như Trang. Cảm xúc là bất chợt, có sao nói vậy. Ừ... xuân!

NTN

Tình yêu lứa đôi trong thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Hình như trong đời sống văn hóa xã hội Nhật Bản người ta trọng Đạo hơn là Tình. Võ sĩ đạo với những samurai chứ không phải là:

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

alt

Và Trà đạo với tiêu chí Hòa, Kính, Thanh, Tịch chứ không là:

“Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Hay:

“Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh

Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau”

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)

Người Việt Nam trọng tình nên khi làm thơ haiku đã mang cái tình ấy từ ca dao dân ca, từ các thể loại thơ khác và cuộc sống thường nhật vào như một lẽ đương nhiên. Ấy là tình yêu cuộc sống, yêu con người và thiên nhiên. Trong mọi thứ tình thì tình yêu lứa đôi, khi nói đến bao giờ cũng đau đáu hơn, da diết hơn cả.

Chỉ mới gặp nhau lần đầu thôi, mà lại gặp ở chốn tôn nghiêm thiền tự. Chỉ một nụ cười bẽn lẽn thôi, có là gì đâu mà đã vận vào mình mối lương duyên cho cả cuộc đời:

Vãn cảnh chùa

gặp nụ cười bẽn lẽn

ngỡ duyên bén trăm năm

(Cao Ngọc Thắng)

Hơi bị ngộ nhận đấy nhưng biết làm sao khi mà niềm yêu đã nổ bùng như một phản ứng nhiệt hạch. Còn như mối tình đầu này thì lời tỏ tình lại long lanh êm đềm biết nhường nào:

Giếng nước đầu làng

lời tỏ tình

trong veo

(Lục Đình Thìn)

Đọc phiến khúc sau của Phan Vũ Khánh tự nhiên ta nhớ đến hình ảnh một đôi chim lạ trong rừng xanh với anh chàng đẹp mã mang đến cho nàng món quà ưa thích rồi cùng nhau chuyền cành, đuổi bắt, trao nhau hơi thở trên tàng cây nhuộm vàng nắng sớm:

Núp cây rơm

chia thơm củ ấu

nụ hôn đầu

Cuộc tình này có lẽ hơi non trẻ nhưng rất dung dị, tươi tắn, diễn ra với cây rơm củ ấu ở một làng xanh yên bình đến là yêu. Trong những biểu hiện yêu đương, có lẽ ánh mắt là phương tiện giao tình nhẹ nhàng, tế nhị và đằm thắm nhất. Chỉ từ một khóe mắt đắm đuối mà nó là trời xanh cho chim sải cánh ngày xuân chao liệng, là biển biếc cho cánh buồm tình yêu giong khơi hay là tia chớp lửa thiêu cháy trái tim nồng nàn yêu.

Mắt em xanh

lăn dài giọt lệ

thăm thẳm chiều xuân

(Lục Đình Thìn)

Hay:

Nắng xuân lung linh

ánh mắt em cười

tôi lạc giữa trời mơ

(Vũ Tam Huề)

Người Việt Nam chúng ta tự hào về nét đẹp văn hóa hội hè. Trong những ngày ấy, người trẩy hội thỏa lòng khát khao nhiều bề. Được tôn vinh truyền thống, được thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, nghệ thuật và được mở lòng với nhau bằng lời ca, bằng ánh mắt. Nhưng ẩn sâu trong tất cả vẫn là tình lứa đôi:

Câu quan họ chòng chành

mắt liền chị lúng liếng

lòng người chông chênh

(Lê Văn Truyền)

Chẳng phải chỉ với các lễ hội truyền thống mà cả những ngày lễ mới nhập từ bên ngoài cũng thế thôi:

Mười bốn tháng Hai

nhịp tim rộn rã

mắt nai chờ!

(Kiều Lam)

Ca dao xưa chẳng đã từng khẳng định “yêu nhau củ ấu cũng tròn” hay “yêu nhau yêu cả nết đi” đó sao. Đó là “quy luật” của tình yêu rồi chẳng bao giờ thay đổi đâu. Khi đã yêu, chỉ một nét cười cũng đủ sưởi ấm con tim ngày đông giá:

Trời buốt lạnh

nét cười nhí nhảnh

bếp hồng trong tim

(Vân Đình)

Chỉ một thoáng dáng dung dị của người mình yêu cũng đủ lòng say ngây ngất:

Gió chiều hương say

lụa châu óng ả

nương đầy bóng em

(Phùng Gia Viên)

Vậy nên có nói quá lên như người xưa rằng cái nhìn của người yêu đẹp có thể làm nghiêng thành, nghiêng nước cũng chẳng lấy gì làm ngoa ngoắt lắm (Nhất cố ngưỡng khuynh thành, tái cố ngưỡng khuynh quốc).

Tình cảm lứa đôi trong cuộc chia ly khó có bút nào nói được hết. Nó day dứt đến độ, nó tan hoang tột cùng. Chỉ có thể mượn một hình ảnh tự nhiên để cài vào cho mặc sức mường tượng mà thôi:

Ngày em đi

nâng ly

uống sóng

(Lý Viễn Giao)

Hay thế này:

Trời tháng Năm mưa đám

em đã về phố biển chiều nay

mây cô đơn lặng lẽ

(Sơn Thủy – Đất Cảng)

Khi mà cuộc chia ly là ly biệt thì nỗi day dứt sẽ trở nên khôn nguôi:

Người ấy sang ngang

bến nước cuối làng

chênh chao sóng mãi

(Lý Viễn Giao)

Tình yêu lứa đôi của con người trong nhiều trường hợp đã được khéo léo nhân cách hóa cho sự vật. Khi ấy, sự ầm ào được làm mềm đi một cách tế nhị nhưng vẫn không ảnh hưởng đến độ thẩm của người thưởng thức thơ:

Biển kéo tấm chăn sao

đắp lên mặt đất

thủy triều dâng cao

(Mai Liên)

Hay:

Đêm valentine

lũ mèo

chẳng ngồi yên

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Tình yêu là thứ kỳ diệu nhất trong đời sống tình cảm con người. Có những cuộc tình bởi nhiều yếu tố bất thuận mà không kết trái. Lại có cuộc tình tự nó cắp nón ra đi. Vết đau trong lòng đã kết sẹo, vậy mà trong một lúc ngẫu cảm nó lại hiện về mồn một gọi thức nhớ nhung:

Ngõ sâu

ti-gôn nở thắm

tình yêu xưa

(Thanh Vân)

Ai mà biết được Lão haijin Đinh Nhật Hạnh đã chín mươi cái xuân xanh trọn vẫn ấp ủ những giấc mơ trẻ trung, xanh mướt như thế này:

Giấc mơ xuân

nhúng nhẳng

cứ đeo đẳng nhau hoài

Có phải trong sâu thẳm lòng ông vẫn có một mầm yêu, một ngọn lửa yêu mơn mởn, lung liêng?

Thế đấy, cây Haiku đang bầm rễ sâu uống nước nguồn trên đất Việt đã nở rộ hoa. Hoa suốt bốn mùa và lựng ngát. Hoa mang hương sắc Việt. Ta vừa ngắt vài dăm đóa trong ngàn ngàn bông để thưởng thức hương thơm tình yêu đôi lứa, để tự hào về vườn hoa của mình.

L. V. G

Bức ảnh hay khung hình- Lê Văn Truyền

alt

“IT’S THE PHOTO, NOT THE FRAME”

trong góc tường

chiếc khung ảnh chơ vơ

đợi chờ bức ảnh

Lê Văn Truyền

Ngạn ngữ phương Tây thường có câu: “It’s the photo, not the frame” có thể tạm dịch là “bức ảnh chứ không phải khung hình”. Cũng có thể hiểu, tầm quan trọng là ở bức ảnh chứ không phải ở khung hình.

Nhưng có ai đó lại bảo “Ảnh càng cũ càng có giá trị, khung càng mới càng được ngắm nghía”. Hình như có lúc người ta không biết giữa bức ảnh và khung hình cái nào quan trọng hơn, cũng như bộ quần áo đắt tiền có khi lên đến hàng chục ngàn đô la và người mặc nó cái nào đáng quý hơn. Thật ra quý hay không cần phải có sự thử thách của thời gian: chỉ có những thứ gì quý giá mới trường tồn được với thời gian để trở thành báu vật. Vì ai cũng biết rằng có thể dễ dàng thay được một cái khung ảnh nhưng không ai thay được bóng hình cũ, cũng như “bộ cánh” có thể dễ dàng thay được (khi có tiền, hoặc có … rất nhiều tiền) nhưng bản chất và giá trị của người mặc nó không thể thay đổi trong một sớm một chiều.

Chiếc áo chẳng bao giờ làm nên ông thầy tu” như một câu ngạn ngữ Phương Tây đã nói.

Các nhà nhiếp ảnh thường quy định “tỷ lệ vàng” giữa ảnh và khung. Điều đấy cho thấy sự gắn bó mật thiết của bức ảnh và khung hình. Một cái khung, dù đẹp đến đâu cũng không bao giờ phù hợp với tất cả các loại ảnh. Cũng như trong cuộc sống, mỗi người phải tự tìm lấy một “cái khung” cho mình. Trong thời đại công nghệ thông tin, chỉ với một cái “click” chuột ta có thể xóa một bức ảnh hoặc thậm chí cả một “file” ảnh trong bộ nhớ máy tính. Nhưng máy tính không thể nào xóa được những hình ảnh đã in đậm trong tâm trí ta qua bao năm tháng. May thay công nghệ hiện đại không làm được điều đó. Nếu không cuộc sống tinh thần và tình cảm của chúng ta sẽ ra sao trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 này?

Thế nhưng, có phải trong cuộc sống hiện đại nhiều khi người ta lại chỉ quan tâm đến cái khung hơn tấm ảnh? Đúng vậy, trào lưu “sống gấp và sống ảo” hiện nay làm người ta không có thì giờ dừng lại để chiêm ngưỡng một bức ảnh và chiêm nghiệm về những gì chứa đựng trong bức ảnh đó. Thật là hiếm có hiện tượng như một Viện Bảo Tàng kia đã từng để một cái khung hình trống trong 86 năm, chờ tìm ra đúng tấm ảnh của người cần được treo vào đó. Trong xã hội hiện đại, liệu người ta có đủ kiên nhẫn và tấm lòng để làm được điều đó hay không?

Có người hỏi tôi: Vậy, điều quan trọng nhất của bức ảnh là gì? Thiển nghĩ: Đó là cái thần của bức ảnh. Ngày xưa, các cụ vẽ “truyền thần”, ngày nay chúng ta “chụp ảnh”. Biết cái nào hay hơn đây vì rất nhiều khi chúng ta có thể “chụp được ảnh” nhưng chưa chắc bức ảnh đó đã “truyền được thần” của nhân vật, đặc biệt trong thời đại “máy ảnh kỹ thuật số”. Một nhà thơ xưa có hai câu thơ tuyệt đẹp về nỗi nhớ người yêu đã mất: “Đập vỡ gương ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hơi”. Cứ như bây giờ thì làm một cái ảnh màu, đóng khung, lúc buồn nhớ thì ngồi mà ngắm. Các chuyên gia về “công nghệ số” đã phát minh ra kỹ thuật “photoshop” để có thể giúp ta biến một cô Thị Nở thành nàng Tây Thi. Chắc chắn rằng những bài thơ hay về nỗi nhớ nhung của nhân loại đã giảm đi rất nhiều từ khi có máy ảnh. Nỗi nhớ của con người không còn cháy bỏng, thiêu đốt tâm can như trước đó. Trong thời đại của chúng ta sự lãng mạn của tình yêu đã phai nhạt đi rất nhiều. Điều đó tốt hay xấu?

Có người bảo tôi: Nói gì đi nữa thì khi muốn treo một bức ảnh vẫn cần phải có một cái khung. Vâng, đúng vậy. Nhưng, tôi nghĩ: Cái khung chỉ “đóng khung” được bức ảnh, chắc chắn cái khung không thể “đóng khung” được những suy nghĩ của chúng ta về chân dung của người trong bức ảnh đó.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Thiên nhiên trong Haiku Việt- Cao Ngọc Thắng

Theo haikuviet.com CLB Haiku Việt- Hà Nội có 10 thành viên gửi thơ, mỗi người một chùm 5 bài, gia nhập WHA. Đây là những hội viên đã có “thâm niên” sáng tác thơ haiku và một số đã từng có thơ đăng trên tạp chí của WHA những số trước đây, như Đinh Nhật Hạnh, Lý Viễn Giao, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Hoàng Lâm, Lê Văn Truyền, Nguyễn Thị Mai Liên. Năm nay, các haijin Việt chọn trong số những sáng tác mới nhất của mình, thể hiện chiều sâu trong cách chọn đề tài, cách cảm nhận và biểu hiện sự khoáng đạt một cách nhuần nhị, tinh tế và đậm sắc thái, tâm hồn Việt có sức lan tỏa rộng và hội nhập sâu vào haiku thế giới.

alt

Đã ở cái tuổi tám mươi, haijin Phan Hữu Cường vẫn có tâm hồn rất trẻ trung, dụ được bướm theo chân mình:

Nước hoa tóc anh / cảm mùi hương lạ / bướm theo về nhà

Cả khúc thơ là một ẩn dụ về sức hút của tình yêu. Người ta nói: gái yêu bằng tai, trai yêu bằng mắt, chứ nào ai lại cảm nhau bằng vị, bằng mùi (?). Nếu loài bướm thật sự như trong thơ Phan Hữu Cường, thì chúng đã bỏ đồng quê đầy hoa thơm cỏ lạ để kéo vào những đô thị cơ man những loại nước hoa đắt tiền của các hãng nổi tiếng trên thế giới (!). Vả lại, nam giới ít dùng nước hoa hơn phái đẹp. Chính cái “nghịch” này khiến bài thơ lộ ra tình ý của thi sĩ, rằng: không phải nước hoa đâu, mà là sự “mới” ở mỗi con người làm nên hương lạ khiến đồng loại khác giới phải chú ý, phải theo bước anh ta, chưa hẳn là về nhà… Chữ thơ có vẻ làm điệu một chút, cố tình giấu đi ý thơ hàm ẩn nội dung khác, từ đó bật ra tứ thơ lạ!

Ngược lại, haijin Minh Trí, ở tuổi còn nhiều sức bật, hướng tới “địa phận” của sự đúc rút những chặng đường đã trải qua:

Đông về / thuyền neo bến / ngẫm ngợi hành trình qua

Sự neo bến của con thuyền là hình ảnh chấm dứt một chuyến đi đầy sóng gió. Hơn nữa, lại vào mùa đông – mùa cuối trong một năm, cũng là bước vào đoạn cuối của đời người. Việc ngẫm ngợi, theo trình tự, là điều tự nhiên dù là người vô tâm vô tính đến đâu. Đó là sự lo xa cho những chặng đường tiếp theo. Cái được và chưa được ở mỗi hành trình đều là những bài học kinh nghiệm có ích, cũng đều là động lực thúc đẩy những phẩm chất tốt đẹp ngày tốt đẹp hơn, điều chỉnh sự nghĩ suy và hành động chưa thật sự phù hợp đi vào quỹ đạo. Nhà thơ không chỉ nói cho riêng mình là vậy.

Thiêu thân là loài côn trùng, hễ thấy ánh sáng là lao vào một cách mù quáng, bất chấp cả cái chết. Người ta ví thiêu thân là xác chết. Haijin Nguyễn Thánh Ngã có cách nhìn khá độc đáo về con thiêu thân:

Sau cái chết / con thiêu thân sống lại / trước ánh đèn

Một xác chết sống lại trước ánh đèn! Cái chết thực của con thiêu thân chỉ khi nó lao đầu vào cái đèn đang tỏa sáng. Ánh sáng của cây đèn đã rọi chiếu vào hình ảnh rẫy chết của con thiêu thân, trước khi nó gục xuống. Sự sống ấy thật ngắn ngủi và điêu tàn, chỉ có ánh đèn mới tỏ tường được. Trong cuộc sống vị vật chất, ham hố tiền, địa vị, không ít kẻ có cuộc sống như con thiêu thân. Đức Phật khuyên con người buông bỏ tham-sân-si, nhưng lòng tham khiến không ít kẻ mù quáng, lao đầu vào những dục vọng để gánh lấy những món nợ đời liên miên, không còn khả năng thanh toán. Rõ ràng, giáo lý nhà Phật luôn luôn đem lại chân-thiện-mỹ, song việc thực hành ở con người khó đi đến nơi, đến chốn cũng chỉ vì không tự thân thoát khỏi sự tung hoành quấy đảo, phỉnh lừa của bọn lục súc.

Nữ haijin Nguyễn Thị Kim biểu cảm sự quan sát rất thật mà cũng rất tinh tế:

Bông sen rời cuống / tơ vương / ánh chiều

Bông sen rời cuống mà để lại những sợi tơ là có sự tác động bên ngoài, có thể do người bẻ/ngắt. Hình ảnh tơ vương rõ ràng là ngược sáng. Ánh chiều tà hắt ngược mới tạo nên vẻ đẹp ngời sáng, lung linh lên những sợi tơ óng mượt, chứ buổi sáng hay buổi trưa không tạo được hiệu quả ánh sáng như vậy.

Hãy đọc phiến khúc haiku dưới đây của haijin Phùng Gia Viên một cách ngẫm ngợi:

Chiếc lá rơi / thời gian / thành góa bụa

Ba hình ảnh rất xa cách mà lại cụm vào thành tứ thơ. Sự góa bụa này dành cho chiếc lá hay dành cho thời gian? Không, không dành cho cái cụ thể nào cả, mà dành cho mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên, trong xã hội, vừa thực vừa ảo, vừa có vừa không, vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chiếc lá thuộc cây, rơi khỏi cây, mà cây chẳng đoái hoài. Thời gian là ngày-đêm, là bốn mùa, là năm tháng. Lá lìa cành cũng thể hiện thời gian, thời gian của sự luân chuyển có sinh có diệt. Vậy, thời gian là nguyên cớ của sự rụng lá. Cô đơn chẳng dính vào cây, cũng chẳng dính vào thời gian. Chỉ có lòng người trở nên góa bụa (!). Người cùng thời gian đi trong không gian, đau đáu tìm sự thanh nhàn cho đầu óc thảnh thơi, cho thân thể bớt giày vò. Con đường ấy là vô tận, càng đi càng thấy chân trời ở phía trước. Mỗi khi nhìn thấy lá rơi, lòng người quặn thắt, vận vào cuộc đời. Lá lìa cành tựa như chiếc đồng hồ đếm ngược, đưa con người vào chu trình luân chuyển của trời đất. Vậy, không góa bụa làm sao, dù cho thân xác vẫn còn, vẫn ở trong vòng quay thời cuộc, nhưng nhiều trắc ẩn biết tỏ cùng ai…

Đây nữa, cùng đồng hành trạng thái góa bụa:

Ngàn trang sách / mỏi mắt tìm / một trái tim

Làm bạn tri kỷ với sách cốt tìm thấy một trái tim để yêu, mà không được. Cuộc đời là vậy. Haijin Lý Viễn Giao thổ lộ cái cô đơn của người mải miết đi tìm. Nếu như những bài học lịch sử được con người tiếp nhận một cách thật tâm, thấu đáo, thì cuộc đời sau phải tất nhiên tốt, đẹp, bớt đau khổ, bớt bùng nhùng hơn những cuộc đời trước. Nhưng, thế giới loài người không bao giờ chấp nhận hai chữ “nếu như”, do vậy chiến tranh vẫn liên miên, tội ác không giàm mà còn ở quy mô lớn hơn, kỹ xảo hơn, tỷ lệ người nghèo ngày càng gia tăng, thiên nhiên ngày càng kiệt quệ, thảm họa ngày càng mở rộng… Lý Viễn Giao mỏi mắt tìm trái tim nào đây? Đó là trái tim người nhân hậu! Mặt bằng xã hội cả thế giới này đang bị xáo trộn, đang bị tha hóa bởi những lực lượng vật chất đồ sộ, con người trở nên lãnh đạm, thờ ơ, xa rời, tách biệt khỏi chân-thiện-mỹ, mọi giáo lý đẹp đẽ đều bị lãng quên, coi thường. Bản thân sách chứa đựng biết bao điều cần thiết cho cuộc sống, nay cũng là đối tượng của sự lùi tàn trước cơn lốc bùng nổ internete. Bao nhiêu nỗ lực của loài người chẳng qua là nhanh đến đích diệt vong…

Phiến khúc haiku sau đây của haijin Lê Văn Truyền làm rõ thêm sự lệ thuộc của con người vào công nghệ thông tin:

Trên xe buýt / đám đông lặng im / dán mắt vào màn hình điện thoại

Có lẽ thói quen lệ thuộc, ỷ lại và chuộng lạ, chuộng ngoại đã đưa con người đi từ cái lười lười này đến cái lười khác. Số đông bây giờ không ngại ngần thể hiện lòng ích kỷ, chẳng quan tâm đến nhau, đến cộng đồng, cho thấy sự băng hoại tâm hồn, tự làm nghèo đi tính linh hoạt, sôi nổi, tiếp cận cái tốt đẹp, sự đổi thay theo chiều hướng tích cực. Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng vừa đem lại những điều hay, giúp con người, giúp xã hội tiến nhanh, gạt bỏ những rào cản, xóa đi mặc cảm để đi sâu vào các lĩnh vực tiên tiến, nhưng nó cũng đem lại những hậu quả, trực tiếp hay gián tiếp, vô cùng không có lợi cho sức khỏe, cho túi tiền, cho những mối quan hệ gia đình, xã hội… Dán mắt vào màn hình điện thoại chỉ là một hình ảnh cụ thể trong muôn vàn tiêu cực mà internete đưa lại. Phải chăng con người đang tự trói buộc mình để rồi gỡ ra không nổi?

Nữ haijin Nguyễn Hoàng Lâm đặt vấn đề:

Hỏi nguồn / dòng suối / ngước lên trời

Một vấn đề có tính quy luật tự nhiên. Dòng suối chỉ là một hình ảnh cụ thể, đại diện cho tất cả các sự vật khác tồn tại trong thiên nhiên, bởi cái gì chẳng có nguồn, có gốc, cái gì chẳng có thể ngước lên trời để hỏi – trời là nguồn sống của vạn vật. Nhưng, trời cao và xa lắm, “ông” còn phải điều khiển, điều tiết nhiều thứ lắm, nên mỗi cá thể phải tự mình tìm lấy câu trả lời.

Thì câu trả lời là đây:

Đời như dòng sông / phải vượt thác ghềnh / mới về biển cả

Haijin Đinh Nhật Hạnh nói về một quy luật khác – quy luật tự vận động, phổ biến trong cả tự nhiên cả trong xã hội. Vạn vật sinh ra vốn dĩ đã mang trong mình sự tự vận động. Có vận động mới tồn tại. Sự vận động tất yếu không bằng phẳng. “Sông có khúc, người có lúc”. Thăng trầm là không thể tránh được. Không nghich lý khi nói rằng: đường quanh co là lối đi ngắn nhất để đến đích. Mở đầu bài thơ, tác giả ví đời người như dòng sông là muốn nhấn mạnh sự tự vận động của mỗi người, là con người sinh ra có nghĩa vụ phải đấu tranh, đấu tranh với sự cám dỗ, đấu tranh với chính bản thân mình. Cuộc đấu tranh ấy tất yếu phải phù hợp với quy luật thì mới mong chinh phục được thiên nhiên phục vụ lợi ích chung của loài người, mới mong đương đầu với những lực lượng luôn kéo văn minh thụt lùi, để vươn lên những điều tốt đẹp.

Nữ haijin Nguyễn Thị Mai Liên biểu cảm cũng quy luật ấy bằng cách tư duy khác:

Sóng gió / đẩy thuyền ra khơi / về phía mặt trời

Vị trí địa lý của Việt Nam cho hay rằng, mỗi khi bình minh lên gió từ đất liền thổi ra phía biển (quy luật gió thổi từ vùng áp cao tới vùng áp thấp – sáng sớm nhiệt độ trong đất liền hạ thấp hơn so với ngoài biển, nơi nước biển giữ được độ ấm), nên người dân chài tận dụng lợi thế đó going buồm ra khơi, hướng về phía mặt trời đang mọc. Đấy là nguyên lý phổ biến. Nhưng, ngụ ý của tác giả còn ở chỗ: ra khơi, các con thuyền cùng chung sức để cùng hướng tới mục đích chung, hướng tới lợi ích chung. Mặt trời là trung tâm, hội tụ những mục tiêu chung để cùng tới đích.

*

Qua sự lựa chọn những phiến khúc haiku để bình phẩm như trên, tôi muốn bày tỏ rằng, từ thực tế đất nước mình, bằng những cảm nhận và thể hiện khác nhau, các tác giả đã đưa vào thể thơ haiku một thiên nhiên đặc trưng với tâm hồn Việt khó trộn lẫn. Thiên nhiên Việt Nam và con người Việt Nam luôn luôn hòa nhập trong mối quan hệ gắn bó từ lâu đời, là nền tảng cho tính cách Việt, cho nền văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển, tạo nên những truyền thống quý báu và bền vững, vừa hướng vào nội tâm vừa rộng mở ra thế giới. Đặc trưng của thiên nhiên Việt Nam không đơn phương, trái lại luôn là sự ẩn dụ tinh tế, nói lên tâm tư, nguyện vọng và cả sự kín đáo về nhiều mặt của con người Việt Nam trong hoạt động văn học nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca. Vì thế, việc tiếp nhận và sáng tạo thể thơ haiku đối với người Việt Nam khá nhanh chóng, và cũng nhanh chóng khẳng định hướng đi của haiku Việt trong cộng đồng haiku thế giới.

Láng Hạ vào đông

C. N. T

Trà hoa nhài- Lưu Đức Hải

alt

Trà hoa nhài

xuân đang độ

vắng cành mai.

Lê Văn Viên (nhóm thơ haiku làng Cao Lao Hạ)

Chỉ có 9 chữ thôi mà vẽ ra được một bức tranh tuyệt đẹp về một mùa xuân, một mùa “xuân đang độ” chín. Trong bức tranh đó, ta nhìn thấy có trà, có hoa, có sương, có gió,... và có người vừa thưởng trà vừa thả hồn lần theo từng nhịp thở của mùa xuân.

“Vắng cành mai” để ngắm hay vắng người yêu thương để cùng tâm sự, hàn huyên đã làm cho bức tranh xuân đẹp hơn, mang tính triết lý nhiều hơn, bởi thế gian này chẳng có cái gì là tuyệt đối, là hoàn mỹ cả.

Tác giả của bài thơ là bác Lê Văn Viên, người làng Cao Lao Hạ, năm nay 82 tuổi, vợ bác đã mất từ nhiều năm trước. 82 tuổi mà vẫn chỉ mới là "xuân đang độ". Thật là lạc quan, yêu đời, biết bác, hiểu bác, càng khâm phục bác nhiều hơn.

LĐH

Nỗi cô đơn- Lê Văn Truyền

alt

có người đàn bà nào

lưu luyến ta không

màn đêm thu buông

Buson Taganuchi

Đinh Nhật Hạnh dịch

Tôi không biết phiến khúc haiku này được viết vào năm nào, trong giai đoạn nào của cuộc đời Đại sư Buson. Nhưng theo tiểu sử của Buson, ta biết Đại sư lập gia đình rất muộn, vào năm 48 tuổi, khi đã trải qua hai phần ba của cuộc đời. Ông mất năm 1883, hưởng dương 67 tuổi. Có thể nói, là một nhà thơ đương thời nổi tiếng tài hoa cả Thi và Họa, chắc chắn trong suốt cuộc đời mình Buson không thiếu những trang “sắc nước, hương trời” quý trọng, ngưỡng mộ và yêu thương.

Thế nhưng cuộc đời xô đẩy, mãi đến năm 48 tuổi ông mới lập gia đình. Phải chăng trong suốt khoảng thời gian trước đó, bao nhiêu người đàn bà tài sắc đã đến với ông rồi … đi. Vì vậy, trong một đêm thu lạnh lẽo, thấm thía nỗi cô đơn, Buson bỗng tự đặt cho mình một câu hỏi: Trong rất nhiều người đàn bà đã đi qua cuộc đời mình, còn có ai lưu luyến ta không?

Có ai đó nói rằng: “Ở đâu đó có người đang mơ về nụ cười của bạn, ở đâu đó có người cảm thấy sự có mặt của bạn là đáng giá. Vì vậy mỗi khi bạn đang cô đơn, buồn rầu và ủ rũ, hãy nhớ rằng có ai đó, ở đâu đó đang nghĩ về bạn”. Nhưng lúc này đây, trong khi đang cô đơn, buồn rầu, ủ rũ, bi kịch của Buson là ông không thể biết được liệu có ai trong những người đàn bà thân thiết từng đi qua đời mình còn lưu luyến mình chăng, có ai đang nghĩ đến mình trong khoảnh khắc này không?

Cảm xúc cô đơn nổi bùng của Buson càng thêm da diết trong một đêm Thu lạnh lẽo vì như Ernest Hemingway đã từng chia sẻ: “Tôi biết đêm không giống như ngày: mọi thứ đều khác, có những điều trong đêm không thể giải thích được ban ngày, bởi vì lúc đó chúng không còn tồn tại nữa. Và buổi đêm có thể là thời gian đáng sợ cho những người cô đơn một khi sự cô đơn đã bùng lên”. Có lẽ đây không chỉ là kinh nghiệm sống của Buson hay Ernest Hemingway.

Đa số chúng ta là những người bình thường, không phải là những con người nổi tiếng, nhưng chắc chắn ít nhất một lần trong cuộc đời chúng ta đã tự đặt cho mình câu hỏi như của Buson trong phiến khúc haiku này và chắc chắn chúng ta cũng đã từng trải qua những “thời khắc đáng sợ” mà tác giả của “Ông già và biển cả” đã nhắc tới trong câu nói trên đây của ông.

Lê Văn Truyền

Câu lạc bộ Haiku Việt – Hà Nội

Phụ từ trong thơ Haiku do người Việt sáng tác

Xin được gọi tính từ và trạng từ bằng một tên chung là phụ từ cho gọn. Trong thơ Haiku Nhật Bản, nhất là thơ cổ điển, có những yêu cầu rất chặt chẽ về số lượng âm tiết, tính vô sai biệt, quý ngữ… trong đó có quy tắc không sử dụng phụ từ. Đến thời kỳ cận đại, nhiều trường phái giảm dần mức độ trong các yêu cầu. Thơ haiku Nhật hiện đại dường như rất thông thoáng với những tiêu chí này.

alt

Người Việt mang thơ Haiku về gieo trên đất nước mình bằng thái độ dè dặt với các quy tắc nhưng hồ hởi với tính ngắn gọn và súc tích của nó. Thế rồi bằng cách nhìn thế giới tự nhiên, cuộc sống xã hội, nếp văn hóa và tâm hồn phong lưu truyền thống của dân tộc, các tác giả đã mạnh tay cho ra đời những khúc Haiku mang màu sắc Việt mà vẫn giữ nguyên tiêu chí nguyên thủy của thể loại thơ này. Bài nhàn đàm ngắn chỉ xin đưa ra cách nhìn về một quy tắc nhỏ - phụ từ trong thơ Haiku.

Hãy đọc phiến khúc thơ này của haijin Vũ Tam Huề để cùng lắng hơi thở mùa hè qua tiếng hoa phượng nở:

Nắng trưa hè

Im nghe… im nghe

Lao xao phượng nở

Nếu bỏ tính từ “lao xao” đi thì khúc thơ vẫn là thơ Haiku và vẫn gợi. Ta chỉ nhìn thấy hoa nở chứ ít ai nghe thấy trừ những người mang tâm hồn thơ. Hoa phượng nở khẽ lắm cho nên phải im nghe và dẫu đã thế thì cái âm thanh hoa nở cũng chỉ lao xao thầm thào với một tâm hồn lãng mạn.

Việc dùng phụ từ để làm đẹp hơn, bóng bẩy hơn cho một danh từ hay động từ hiện đã khá phổ biến có thể bắt gặp ở rất nhiều bài thơ. Điều đáng ngạc nhiên là đã xuất hiện nhiều khúc Haiku mà tính từ giữ vai trò một ngắt ý (hay hình ảnh) như danh từ hay động từ mà vẫn cứ mang nổi sứ mệnh như một thành phần tạo nên bài thơ.

Bến nước đầu làng

Lời tỏ tình

Trong veo (An Hải)

Tính từ “trong veo” không chỉ là phụ ngữ cho danh từ “Bến nước đầu làng” hay “Lời tỏ tình”. Nó nói lên cái tinh khôi của cuộc tình lứa đôi, của cả câu chuyện dài nơi bến nước đầu làng, nơi mà đôi trai gái mở lời, trao phận .

Lam Hồng đã nằm nghe mưa đêm và nhận về một tâm trạng:

Đêm

Giọt mưa rơi

Chơi vơi

Danh từ “đêm” và một câu ngắn “giọt mưa rơi” là hai ngắt ý tạo dựng thời gian, không gian và tình huống cho khúc thơ. Tính từ chơi vơi chễm chệ ngồi vào vị trí của ngắt ý thứ ba. Có sao đâu, khi người ta nằm thao thức đếm từng giọt mưa đêm, ai chẳng thấy mình nhỏ nhoi, cô đơn giữa không gian đêm thăm thẳm và trầm mặc bên ngoài để rồi liên tưởng mình với giọt mưa. Và chơi vơi là tính từ phù hợp nhất nói giùm tâm trạng chông chênh, lạc lõng của cái cảm giác không biết bám víu vào đâu của người đắm trong tiếng mưa đêm.

Nếu hỏi hình ảnh nào của Hội Lim là đẹp nhất, mang dấu ấn sâu nặng nhất còn đọng lại trong tâm thức cho đến tận lúc đã giã bạn ra về. Có lẽ câu trả lời của không ít người là Chị Hai. Chị duyên dáng trong từng bước đi cùng dải áo mớ bẩy mớ ba quấn gió và chiếc nón quai thao đong đưa nhịp nhàng. Chị xinh tươi khi cất tiếng giao duyên mời trầu, khi trèo lên Quán Dốc, khi ngồi tựa mạn thuyền và cả khi đứng một mình. Khúc thơ này chỉ vỏn vẹn tám âm tiết mà đã khắc họa được hình ảnh Chị Hai trẻ trung, tươi tắn và duyên dáng ấy:

Mớ bẩy mớ ba

Nõn nà

Lúng liếng (Lý Viễn Giao)

Ngắt ý đầu là một danh từ, ngắt ý thứ ba là động từ, còn “nõn nà” chỉ là một tính từ. Ba ngắt ý này hợp lại nâng nhau lên thành hình ảnh một Chị Hai như đã nói. Hình ảnh này còn khiến người đọc tự hình dung ra một hội xuân, một sức sống non tươi, khỏe khoắn đang mơn mởn trong dòng đời dẫu còn nhiều bề bộn.

Thi huynh Đinh Nhật Hạnh có một bài thơ rất trẻ:

Đôi sẻ mùa yêu

Nhấp nhô

Nhấp nhổm

Trẻ ngay từ hình ảnh đầu tiên. Sẻ ít khi chỉ bay đôi, chúng bay thành từng bầy rồi bất chừng sà xuống một bãi cỏ hay ruộng lúa. Nhà thơ đã chộp được đúng lúc chỉ có một đôi đang tình tự. “Mùa yêu” là quý ngữ gián tiếp nhưng rất độc đáo đã làm tăng thêm sức trẻ của tứ thơ. Lần đầu tiên ta bắt gặp trong một khúc thơ có hai tính từ sắm vai ngắt ý. Nhấp nhô nói lên hình ảnh lặp đi lặp lại, lên xuống của một thực thể như sóng hay con thuyền…Nhấp nhổm cũng vậy nhưng có thêm một chút dịch chuyền nhỏ. Toàn cảnh mà khúc thơ vẽ lên là hình ảnh của sự yêu đương, của quy luật sống và đấy là mùa xuân. Bất giác bài thơ làm ta nhớ lại ca từ trong một bài hát, “Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau…”

Thế đấy, thơ Haiku đã được người Việt sáng tác theo ngôn ngữ Việt thật tuyệt vời. Có điều khi đưa phụ từ vào thơ vẫn không làm mất đi cốt cách của Haiku là gồm ba ngắt ý nên không thể cho rằng nó là một thể loại khác. Lại nữa, nếu tính từ (hay trạng từ) mà ta đưa vào thay cho danh từ (hay động từ) được dùng mặc định chỉ cho danh từ (động từ) ấy thì giá trị của việc thay thế càng cao. Trong các ví dụ đã nêu, “nhấp nhô”, “nhấp nhổm” chỉ dùng cho hiện tượng lên xuống nhịp nhàng. “Nõn nà” chỉ mặc định chỉ sự non tơ. Xin mạo muội làm một việc “khập khiễng” chẳng hay có đúng. Đó là thơ Haiku cổ phong của Nhật bản coi như một bức tranh thủy mặc thì thơ này do người Việt Nam sáng tác lại như một bức vẽ màu nước lung linh, tươi tắn và lộng lẫy nhờ sử dụng phụ từ một cách khéo léo.

Lý Viễn Giao

Ám ảnh thơ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Em đi

Gió quấn

Đường gầy

(Lý Viễn Giao)

Đọc chùm thơ của nhà thơ nổi tiếng Lý Viễn Giao, bài nào cũng có độ hay nhất định của nó. Tôi chọn bài thơ sáu chữ này, vì đối với tôi nó có độ hay khó diễn tả.

Tôi rất thích cách dùng từ của ông, khi ông viết "gió quấn" trong động tác "em đi". Chỉ bằng hai câu thơ bốn chữ, người đọc đã hình dung ra một dáng nữ nhi đi trong cơn gió thốc giữa "đường gầy"...

Câu thơ nghe rất buồn, rất hoàn cảnh. Và nỗi niềm của gió quấn là một tự sự không đề, chỉ để hiểu chứ không để diễn giải. Vì thế, có thể hiểu thân phận người con gái (hay đàn bà nói chung), và chút tình trắc trở trong bước đường trần đầy giông bão này.

Gió quấn lấy thân phận đàn bà không tha, nó giằng xé, nó xô đẩy để cuối cùng chính con đường ấy đã gầy đi theo nhiều nghĩa. Nghĩa đen là con đường hẹp, gập ghềnh đá sỏi, khó đi. Nghĩa bóng là số phận người con gái ấy, phải gánh chịu nỗi gian truân vất vả vì tình. Bởi câu "hồng nhan đa truân" chăng?

Có thể lắm chứ! Biết đâu nhà thơ Lý Viễn Giao đã nhìn thấy một nàng Kiều ở thời hiện đại mà ngòi bút ông đang hướng tới?

Đúng thế, chỉ với sáu từ đơn giản, nhà thơ đã làm được một tác phẩm có độ thẩm thấu hay, nó cuốn hút, và ám ảnh người đọc...

N.T.N

Bóng người xưa- Hồ An Thạch

alt

Bèo trôi bập bềnh

sương thu mông mênh

đâu bến cũ?

(Nghiêm Xuân Đức)

Chưa đọc sâu, thơ đã phảng phất không khí mùa thu trầm buồn. Nhà thơ Nghiêm Xuân Đức đã làm được tứ thơ hay, nó bao bọc và trùm lên câu chữ ít ỏi kia, khiến độc giả liền cảm thấy bóng mình hiển hiện trong thơ. Đó là một thành công không phải bài nào cũng có.

Trước mặt ta dòng sông thu chậm nguồn, đầy ắp những cánh bèo nổi trôi theo sóng nước. Cái nhịp "bập bềnh" ấy, đã làm sống động câu thơ, chính nó kéo dòng nước chảy, một mạch ngầm liên tưởng chảy qua thơ...

Và phía trên sông là sương thu...mông mênh?

Đây là cách đảo từ rất hợp cảnh, hợp lý, hợp tình. Thay vì mênh mông xuôi câu thì tác giả dùng thủ pháp đảo ngược để làm bật lên chiều kích câu thơ. Mênh mông đã rộng lớn, mông mênh tạo ra cảm giác vừa rộng lớn vừa bềnh bồng biến thiên của sương thu trong từng khoảng khắc thời gian...

Câu hỏi đâu bến cũ, xảy ra như một tỉnh thức giữa cái choáng ngợp của hiện cảnh, làm ta trở về từ cõi mơ hồ nào vậy. Thật tài tình như có, như không...

Từ đó, làn sương len vào hoài niệm. Nó làm mờ đi bao cảnh cũ, khiến người xưa lạc vào mộng mị. Đó là toàn cảnh bài thơ thu truyền cảm hứng lan tỏa từ trái tim mông mênh của trời đất đến trái tim đa cảm của con người.

Bóng người xưa cứ thế, ẩn hiện trong từng khoảnh khắc đời sống. Điều đó nói lên một bài thơ hay khó cưỡng nổi của ngôn từ...

H.A.T

Phẩm hạnh của Hoa (II)- Lê Văn Truyền

alt

Oh, fallen camellias,
if I were you,
I'd leap into the torrent!

Takaha Shugyo

Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi đóa trà mi rụng

nếu là ngươi

ta đã gieo mình vào giòng nước

Lê Văn Truyền dịch

Hoa Trà (còn gọi là Trà Mi) có tên khoa học là Camellia, là tên gọi để tưởng nhớ thầy tu dòng Tên đồng thời là nhà thực vật học George Joseph Kamel đã có công du nhập hoa Trà từ vùng Viễn Đông sang Châu Âu. Hoa Trà nổi tiếng ở các nước Viễn Đông như ở Trung Quốc (茶花, “tea flower”), Nhật Bản (椿, tsubaki), Hàn Quốc (동백꽃, dongbaek-kkot) và Việt Nam …

Không tỏa hương thơm ngát hay màu sắc rực rỡ như hoa Hồng, hoa Trà mang một vẻ đẹp nhẹ nhàng mà kiêu sa. Trong ngôn ngữ của các loài hoa, hoa Trà tượng trưng cho nét đẹp duyên dáng và kiêu hãnh của người phụ nữ. Chính vì vậy, từ hàng ngàn năm hoa Trà đã đi vào văn chương, nghệ thuật. Tuy xuất xứ từ Phương Đông, nhưng khi được di thực vào Phương Tây, vẻ đẹp kiêu sa của hoa Trà cũng đã mê hoặc nhiều văn nhân, thi sỹ và nghệ sỹ … Alexandre Dumas con (1824-1895) đặt tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông “La dame aux camélias” năm 1848 (bản dịch tiếng Việt: Trà hoa nữ) theo ý nghĩa của loài hoa này đối với nhân vật nữ chính trong tiểu thuyết: Marguerite Gautier. Ca sĩ quá cố Ralph Peer (1892-1960) được coi là Cha đẻ của nhạc đồng quê, sinh thời là Chủ tịch của American Camellia Society (Hiệp Hội Trà Hoa Hoa Kỳ). Lady Coco Chanel (1883-1971) đã nổi tiếng vì mặc y phục màu trắng hoa trà và nụ hoa Trà được coi là biểu tượng của thương hiệu mỹ phẩm và thời trang Coco Chanel nổi tiếng. Hoa Trà cũng được chọn làm hình ảnh biểu trưng cho thành phố Sacramento và cho Temple City (bang Califonia – USA) và cũng được chọn làm loài hoa đại diện cho bang Alabama (USA).

Khi nhìn thấy đóa hoa Trà kiêu sa rụng xuống gốc cây, nhuốm đầy bùn đất, Shugyo liên tưởng đến biểu tượng cho lòng kiêu hãnh của người con gái của đóa hoa Trà. Nhà thơ cảm thấy xót thương cho thân phận của hoa cũng như người phụ nữ trong nghịch cảnh đáng thương. Shugyo tự liên hệ đến thân phận của mình và tự dặn lòng phải “chết trong còn hơn sống đục”, thà tự gieo mình vào “giòng nước trong” còn hơn để bị người đời đọa đầy trong bùn đất theo tinh thần câu phương ngôn phương Đông của người quân tử “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục”.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Một cảnh báo đáng nhớ- Hồ An Thạch

alt

Đàn ông chúng ta

-Trong tim, ít ra

hai nữ hoàng ngự trị

(Đinh Nhật Hạnh)

Đọc bài haiku này của nhà thơ Đinh Nhật Hạnh, tôi không khỏi bật cười. Chuyện này nếu tính luôn các nhà tu hành thì rõ ràng là không đúng rồi. Tuy nhiên, tôi lại hiểu rằng, khi nhà thơ đã viết ra ắt có cái lý của nó. Thời phong kiến người ta quan niệm "trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng", là bất bình đẵng đối với phụ nữ.

Câu thơ chỉ rằng "ít ra..." tức là mặc định sự thu hút của giới tính là cực mạnh, khó cưỡng nổi của con người...

Thật ra, trời sinh đàn ông là để chinh phục phụ nữ, người nam rất tham lam, nhất là vấn đề nữ sắc là điều bình thường từ cổ chí kim. Các đấng quân vương thời phong kiến Trung Quốc và Việt Nam đều nổi tiếng có hàng ngàn cung tần mỹ nữ. Và chiếc xe dê, kéo họ đến với cuộc tranh dành quyền lực thảm khốc trong nội cung.

Điều đó khẳng định nhà thơ đã nói không sai. Trong trái tim đàn ông, ít nhất cũng có hai "nữ hoàng ngự trị", là một cảnh báo cho chúng ta hãy coi chừng tệ nạn nữ sắc xảy ra bất kỳ thời buổi nào.

Vì sao vậy? Vì nữ sắc thường kéo theo nhiều hệ lụy, làm vua thì mất nước, làm dân thì tan nhà nát cửa vv... Người ham nữ sắc dễ đánh mất tư cách, tiền bạc, chức vụ, sự nghiệp bởi sự "ngự trị" của các nữ hoàng...

Câu thơ muốn nhắc ta tỉnh táo hơn, bởi bất cứ ai cũng dễ rơi vào cạm bẫy. Đặc biệt, theo Phật đạo người còn vướng bận vào nữ sắc không thể tu hành đạt đạo.

Và đạo Phật dạy người Phật tử giới cấm tà dâm, là cách tốt nhất để có một gia đình hạnh phúc!

Xem ra, cái lý của thơ nêu ra là rất lớn, nó chạm đến cuộc sống của con người, nhất là phần tu dưỡng nhân cách, nếu không sẽ bị sắc đẹp làm cho thân bại danh liệt!

Đọc thơ để cảnh giác chính mình và người khác, là thông điệp của thơ Đinh Nhật Hạnh muốn gởi gắm...

H.A.T

Khúc haiku về chú chó hoang- Lê Văn Truyền

alt

Cîine părăsit / căutînd un stăpîn / să aibă după cine plînge

An abandoned dog

is looking for a master

just to bark for him

Con chó hoang

chạy tìm một ông chủ

chỉ để được sủa theo

Vasile Smărăndescu (România)

Lê văn Truyền dịch từ nguyên bản tiếng România

Cách đây hơn hai mươi năm, vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, tình cờ tôi đọc được trên mạng internet bài phát biểu của Luật sư George Graham Vest (Hoa Kỳ) tại phiên tòa xử vụ kiện hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire báo New York Times bình chọn là một trong 100 bài diễn văn hay nhất trên thế giới trong thiên niên kỷ thứ hai sau khi Chúa Jesus ra đời. Sau khi nói về sự phản trắc của con người, từ bạn bè, con cái… cho đến những kẻ cộng sự hay thuộc quyền… vị luật sư nhấn mạnh:

“Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta. Nó luôn ở bên cạnh ta trong những khi phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết dập vùi, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, cho dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như vầng thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù... Rồi khi tấn trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng, quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì  vẫn còn bên nấm mồ của ta - chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô”.

Đó là những lời thấm đẫm nhân văn của một vị luật sư khi ca ngợi đức tính của loài chó. Nhưng tôi nghĩ chắc ngài luật sư đang nói về những con chó có chủ và chắc chắn trong cuộc đời của chúng, chúng đã được người chủ thương yêu. Và dù là loài vật, chúng vẫn cảm nhận được niềm hạnh phúc với lòng trung thành và lòng biết ơn vô hạn. Điều đó cũng giải thích cho tôi hiểu tại sao những người vô gia cư ở Washington, NewYork hay Paris… mà tôi thấy trên đường phố trong những chuyến công tác, trong những đêm Đông lạnh buốt ngập tràn tuyết trắng ai cũng nằm trong những chiếc thùng giấy với con chó thân yêu của mình dưới chân những tòa nhà cao ngất.

Paris, những đêm buốt giá

Còn bao nhiêu kẻ không nhà?

Thùng giấy thay chăn nệm ấm

Bên mình, chú chó ngẩn ngơ…

(Paris, ánh sáng và bóng tối – Lê Văn Truyền, 2007)

Ở nước ta, trong dân gian, khi nói về nỗi khốn cùng của một phận người hoặc khi tự than vãn về cuộc đời mình, người ta vẫn thường ví von: “khổ như chó”. Có lúc, để đáp trả cái liếm chân thể hiện lòng trung thành và tình yêu, những con chó phải chịu nhiều cú đá vô cớ khi chủ nhà đang bực bội. Nó là nơi để chủ nhà, từ trẻ em cho đến người lớn, trút những trận đòn cho hả cơn “giận cá chém thớt” mà nguyên nhân không phải do nó gây ra. Rồi đến một ngày nào đó, người ta làm thịt chúng, quay chúng vàng rộm trong lửa rơm và xào nấu chúng thành những món ăn khoái khẩu, mua vui cho mọi người trên bàn nhậu để sau đó tấm tắc bảo nhau rằng “sống trên đời không được ăn một miếng dồi chó, khi chết không nhắm được mắt!”… Thế nhưng dù sao, khi còn sống chúng vẫn may mắn là còn có chủ, có con người làm bầu bạn.

Tôi nghĩ, những con chó khốn khổ nhất trên thế gian này chắc chắn là những con chó vô chủ – những con chó hoang. Chúng chẳng có một nền đất lạnh trong góc nhà để lim dim khi mệt rũ. Chúng chẳng có chút thức ăn thừa đã ôi thiu bỏ đi dành cho chúng khi dạ dày chúng rỗng tuếch. Chúng chỉ có một mình, cô đơn, không bạn bè, bị con người săn đuổi để giết thịt (như ở nước ta và một vài nước khác). Để sống sót, chúng phải cắn xé nhau, đôi khi đến đổ máu để tranh giành thức ăn và chỗ ngủ với đồng loại, những con chó hoang khác cũng vô chủ như chúng. Và trong cuộc sống “khổ hơn chó” của những con chó hoang, chúng thiếu tình người dành cho chúng. Con chó hoang thấy cần có một ông chủ biết bao. Dù không hy vọng được ấm áp trong tình thương yêu loài vật, nó chỉ cần có một ông chủ, để thi thoảng được nghe lời quát mắng, để cảm nhận được rằng nó vẫn còn được một ai đó quan tâm, để thấy sự tồn tại trên cõi đời này của nó có ý nghĩa, để bù đắp cho sự cô đơn vô tận trong cuộc sống hoang dã của mình. Đến đây, tôi bỗng lại nhớ đến những con chó hoang ở Thủ đô Bucarest trong chuyến công tác của tôi đến România vào năm 2001, hơn 10 năm sau khi chế độ của Tổng thống Nicolae Ceausescu sụp đổ. Lúc đó nền kinh tế của România đã tụt đến tận đáy. Người dân thủ đô không còn khả năng nuôi những con thú cưng. Hàng ngàn con chó cưng của một thành phố gần 10 triệu dân bị đẩy ra khỏi nhà, lang thang kiếm ăn trên khắp các đường phố và cả dưới mạng lưới tàu điện ngầm đẹp đẽ, hiện đại vốn từng là niềm tự hào của đất nước. Một buổi tối, khi tôi đi bộ từ một ga tàu điện ngầm trên đại lộ Magheru trở về Đại Sứ Quán Việt Nam trong một con phố nhỏ yên tĩnh, một con chó bông nhỏ xíu, xơ xác, bẩn thỉu quấn lấy chân tôi để làm quen và lẫm chẫm, tội nghiệp chạy theo về đến tận cổng Tòa Đại Sứ. Tôi đành phải nhẫn tâm gạt nó ra, đóng hai cánh cửa sắt của Tòa Đại Sứ để nó đứng bên ngoài trong đêm tối lạnh lẽo, thất vọng dõi theo tôi với ánh mắt cầu khẩn… Thế cho nên, một con chó dù có bị đuổi ra khỏi nhà trở thành con chó hoang vẫn vô vọng rong ruổi, lang thang hết ngày này sang ngày khác để “chạy tìm một ông chủ” khác với niềm hy vọng cháy bỏng trong một ngày đẹp trời nào đó có một ai đó đem mình về nuôi. Để mình được có một ông chủ, để dù không được thương yêu đi nữa, nhưng có một người để có thể chạy theo sau mà sủa, dù đôi khi có thể bị một cú đá, nhưng đó cũng đã là niềm an ủi lớn vì mình đã thoát khỏi thân phận một con chó hoang vô chủ còn “khổ hơn chó” của mình.

Khúc haiku với nhận xét hết sức tinh tế và độc đáo của Vasile Smărăndescu (România) về con chó hoang giúp tôi nhận ra một khía cạnh khác đầy “nhân tính” của loài chó mà Luật sư George Graham Vest đã tổng kết trong bài phát biểu của mình. Và tự nhiên tôi tin rằng, không thể khác được, chắc chắn nhà thơ đã viết khúc haiku này trong bối cảnh của thời kỳ chuyển đổi đầy đau đớn của đất nước và xã hội România vào thập kỷ 90’ của thế kỷ trước, nơi tôi từng có một khoảng đời thanh xuân trải qua ở đó trong thập kỷ 60’.

L. V. T

Cái quạt của Ryokan

手もたゆくあふぐ扇のおきどころ
te mota yuku / ōgu ōgi no / okidokoro

alt

my tired hand
seeks to find a place
for the fan

Gabor Terebess dịch

tay ta mỏi rồi

muốn tìm một chỗ

cho quạt nghỉ ngơi

Lê Văn Truyền dịch

Khi điện lực chưa thành nguồn năng lượng phổ biến của nền văn minh vật chất, khắp nơi trên thế giới, đặc biệt ở nông thôn Châu Á mỗi khi cần một làn gió mát ta chỉ có thể nhờ cậy vào cái quạt tay. Vẫn còn nhớ vào những năm thập kỷ 50’ của thế kỷ trước, khi tôi được đi xem tuồng ở Rạp hát Đồng Xuân Lâu hoặc xem chiếu bóng ở Rạp Tân Tân (Huế) thì những rạp hát, rạp chiếu bóng này vẫn chưa được mắc quạt điện (chứ đừng nói đến điều hòa nhiệt độ trung tâm công suất lớn như bây giờ). Trên trần rạp hát, rạp chiếu bóng, người ta treo những tấm mành vải rộng khoảng 2-3 m, dài khoảng 1-2 m được nối với những sợi dây thừng dài chạy qua một hệ thống ròng rọc. Các cậu bé nghèo được chủ rạp thuê kéo các sợi dây thừng để hệ thống “quạt trần” này hoạt động suốt trong buổi diễn, lưu thông không khí và tạo làn gió mát cho khán giả. Hiệu quả của những “động cơ sống” này như thế nào, tất cả chúng ta ngày nay đều có thể đoán được.

Thời đó, với mỗi người chiếc quạt tay là vật dụng không thể thiếu. Đối với các bậc vương giả hoặc mệnh phụ phu nhân, chiếc quạt tay là một tác phẩm nghệ thuật, một phụ kiện sang trọng để chứng minh đẳng cấp của người sở hữu nó (cũng như những chiếc túi xách Louis Vuitton giá vài trăm ngàn đôla của các “hotgirl” sang chảnh ngày nay hay chiếc đồng hồ Rolex giá vài triệu đôla của “tay chơi lừng danh” Trịnh Xuân Thanh và của mấy ông tướng đang bị truy tố về tội bảo kê đánh bạc mới đây). Với người bình dân, chiếc quạt tay có thể là một chiếc quạt giấy, chiếc quạt nan tre, chiếc quạt bằng lá cọ hoặc đơn giản là một chiếc quạt mo cau tự tạo. Thế nhưng, những chiếc quạt đơn giản, rẻ tiền này được những người bình dân coi là những “người bạn thân thiết” cùng “chia ngọt sẻ bùi” giúp họ xoa dịu cái nóng, xua tan mệt mỏi trong những ngày hè oi nồng. Vì vậy, khi Ryokan đã mỏi tay quạt cho mình, ông cũng nghĩ đến phải tìm một chỗ “xứng đáng” cho cái quạt tay của ông được nghỉ ngơi chứ không phải tiện tay quẳng nó vào bất cứ chỗ nào.

Mối quan hệ vật dụng – con người thời xưa ấm áp và nhân văn làm sao so với mối quan hệ người – người lạnh lùng, vô nhân trong cái xã hội tiêu thụ được gọi là hiện đại và văn minh của thế kỷ XXI này.

Lê Văn Truyền

(Câu lạc bộ Haiku Việt – Hà Nội)

Thiện và ác- Lê Văn Truyền

alt

mỗi ngày

ta gặp quỷ

và gặp Phật

Santoka (Taneda Shoichi, 1882 – 1940)

Đinh Nhật Hạnh Đinh Trần Phương dịch

Nhận ấn thiền sư vào năm 42 tuổi, chỉ một năm sau Santoka bắt đầu cuộc sống của một người khất thực. “Khất thực với tấm lòng hàm ơn chân thành, tôi hy vọng có thể nhập vào thế giới hiện hữu trong ánh sáng vô ngần. Cuộc hành hương này thực chất là đi vào thế giới sâu thẳm của lòng người”, Santoka chia sẻ. Và trong cuộc hành hương này, trong thế giới hiện hữu này, mỗi ngày Santoka gặp bao điều thiện và cái ác, bao nhiêu điều tốt đẹp và cái xấu xa. Trong tác phẩm cuối cùng của đời mình “Minh triết của hiền nhân” (The Thoughts of Wise Man), đại văn hào Nga Lev Tolstoi đã viết: “Nếu không có bóng tối, chúng ta sẽ không biết màu sắc hay ánh sáng. Tương tự như vậy, nếu không có cái xấu ác, chúng ta sẽ không biết đức hạnh hay sự chính trực”.

Nhưng Phật không chỉ ở trên trời, Quỷ không chỉ ở dưới địa ngục. Phật và Quỷ, Thiện và Ác hiện hữu mọi lúc, mọi nơi. Phật và Quỷ cũng không ở ngoại thân ta mà hiện hữu trong ta, trong tất cả chúng ta. Trong cuộc sống, ta phải chấp nhận thực tế ấy.

Một lần, tôi từ TP Hồ Chí Minh về Hà Nội trong một chuyến bay khuya, lên một xe taxi vào lúc nửa đêm. Trên đường, anh lái xe tỏ ra rất thân thiện khi thấy một người lớn tuổi đêm hôm khuya khoắt vẫn còn phải bôn ba mà chưa được nghỉ ngơi. Về đến nhà, khi vội vã lấy hành lý xuống xe, tôi để quên cái cặp trong đó có máy vi tính, máy ảnh, giấy tờ và một số tiền. Tôi mất ngủ suốt đêm vì tiếc cái máy vi tính cũ chứa rất nhiều dữ liệu suốt trong 10 năm làm việc. Sáng hôm sau, một lái xe taxi khác, trẻ tuổi mang một hộp carton được niêm phong đựng chiếc cặp và nói có người nhờ chuyển cho tôi. Khi mở chiếc cặp ra, chiếc máy tính cũ và giấy tờ vẫn còn nhưng chiếc máy ảnh và tiền … đã biến mất. Tôi đành tự an ủi: trong cái rủi vẫn còn cái may và người lái xe taxi đêm qua bên cạnh lòng tham vẫn còn chút thiện tâm. Đến bây giờ tôi vẫn còn thầm cảm ơn anh ta vì đã trả lại cho tôi chiếc máy tính.

Sinh thời, khi làm việc với một số cán bộ phụ trách xuất bản sách “Người tốt việc tốt”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắn nhủ: "Mỗi người đều có cái Thiện và Ác ở trong lòng. Ta phải biết sao cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu mất dần đi". Lời nhắc nhở của Chủ tịch Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới - không chỉ là lời dạy của một lãnh tụ cách mạng mà đồng thời cũng là lời răn dạy của một bậc hiền nhân vậy.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

...

SANTOKA TANEDA (1882-1940). Là một trong những nhà thơ haiku hiện đại nổi tiếng nhất và lập dị nhất của Nhật Bản. Ông được cứu khỏi một vụ tự tử khi còn trẻ và sau này trở thành một trong những Thiền Sư Hành Hương thật sự cuối cùng của thế kỷ XX. Thơ haiku của ông thuộc thể tự do cũng như cuộc đời của ông vậy; Ông sử dụng tinh thần của haiku, nhưng không tuân theo số âm tiết và quý ngữ (kigo) của haiku. Có thể đọc haiku của ông bằng tiếng Anh trong tác phẩm “Mountain Tasting: Zen Haiku by Santoka Taneda”, được John Stevens dịch. (Theo Patricia Donegan).

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4730
mod_vvisit_counterHôm qua40888
mod_vvisit_counterTất cả2464737
Hiện có 1302 khách Trực tuyến

Quảng Cáo