Vẻ đẹp thơ Haiku Việt- Cao Ngọc Thắng

Gần chục năm trở lại đây, thể thơ haiku Nhật Bản du nhập vào Việt Nam đã có sự tiếp biến ở cả nội dung và cách thể hiện, mang màu sắc và tâm hồn Việt khá rõ nét.

alt

Có rất nhiều lý do để quá trình tiếp biến thơ haiku ở Việt Nam giai đoạn này diễn ra nhanh chóng.

Điều căn bản nhất là người làm thơ Việt Nam nhận biết sự tương đồng về một thể thơ có dung lượng câu-chữ giới hạn, nhưng ở đó thể hiện một khoảnh khắc tâm lý và tư duy thơ đầy đặn, nói lên tâm trạng đột khởi trước đối tượng bằng sự quan sát tinh tế, vừa duy cảm vừa duy lý mà ẩn sâu cái duy mỹ tổng hòa.

Người làm thơ Việt Nam cũng “nghe” thấy hơi thở chuyển mình cùng thời đại của các nhà thơ haiku Nhật Bản. Họ đang tự làm mới thơ haiku truyền thống của mình, không còn câu nệ vào những quy tắc trước đây, cởi mở hơn, vì vậy tung hoành và sảng khoái hơn. Cộng đồng người làm thơ haiku thế giới đang có xu hướng sáng tác loại thơ haiku mở để trình diễn cách nhìn, cách cảm về một thế giới luôn luôn biến động và đầy rẫy thảm họa do chiến tranh và thiên tai gây ra, đầy rẫy những bất an do chính cách ứng xử của con người trong thời đại văn minh vật chất bao trùm.

Cả hai sự tương đồng trên đây – khuôn khổ của thể thơ và tính mở của nó, đều không nằm ngoài xu hướng thơ Việt Nam đương đại. Trên nền tảng tư duy của mình, người làm thơ haiku Việt Nam vẫn giữ cấu trúc thể (ba câu) nhưng có xu hướng giảm số từ tối đa (dưới con số mười bảy), không dùng quý ngữ một cách cứng nhắc; và, một điều rất đặc biệt là sử dụng các loại từ (danh từ, tính từ) ở dạng động từ, nâng cao tính ẩn dụ (trong cả bài, ở từng câu, thậm chí từng từ), sử dụng cách gieo vần linh hoạt, phù hợp, hay tạo nhịp uyển chuyển, cho dù nội dung phản ánh dưới dạng chủ đề hoặc đề tài nào. Phương thức vận động trong sáng tác như vậy đã thực sự gửi gắm tâm hồn của các tác giả vào nhiều bài haiku với độ sâu lắng khác nhau, tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ haiku Việt.

Cái hay, cái đẹp ở mỗi khúc haiku trước hết xuất phát từ cái đúng trong cấu trúc.

Trong thời gian chưa lâu nghiên cứu và sáng tác thơ haiku, chúng tôi thức nhận một cách đọc thể thơ này, nay muốn cùng trao đổi để rộng đường bàn bạc.

[Xin mở ngoặc: dẫn ra những bài thơ trong bài viết này (đều từ Tuyển tập “HOA BỐN MÙA”, Nxb Văn học, 2015), một cách ngẫu nhiên, bất kỳ không có ý phê phán, mà chỉ nhằm phân tích và trao đổi; nếu có sự hiểu nhầm xin thông cảm và lượng thứ.]

Trong ba câu của một bài haiku sẽ lần lượt đọc: toàn bài, sau đó đọc từng cặp – câu 1 và câu 2, câu 2 và câu 3, câu 1 và câu 3, cuối cùng đọc lại toàn bài.

Thơ - / giấc mơ hoa ngát / mạch đời chắt chiu (Đinh Nhật Hạnh): Thoạt đọc có vẻ như một định nghĩa hay sự tổng kết về đời thơ của tác giả, nhưng không phải. Đây vẫn là một khoảnh khắc của sự nhận thức về đời thơ mà tác giả như bất chợt “bắt” được qua giấc mơ hoa [có lẽ bớt từ ngát thì “chặt” hơn], giấc mơ ấy được người thơ chắt chiu mà hiện, mà thành, dù trong chốc lát, để thêm biết rằng thơ ấy là do mạch đời vun đắp. Ở khúc thơ này, giấc mơ hoa trở thành chiếc cầu nối giữa thơmạch đời, trở thành thơ là mạch đời do người thơ chắt chiu mới có. Giấc mơ hoa là giấc mơ không bình thường, là hiện thân cái đẹp của thơ, nên từ hoa gợi sức liên tưởng. Chắt chiu là cái đẹp của người, của sự lao động sáng tạo, có tính ẩn dụ: “người ta là hoa của đất” thì thơ là hoa của người. Thơ-hoa-chắt chiu gắn kết với nhau từ ba hình ảnh, ba ý thành hình ảnh ngoài thơ.

Bến mới / thuyền con ngái ngủ / đuôi màu bình minh (Như Trang): Một hình ảnh được “chớp” rất đúng lúc, vào phút tâm trạng cởi mở, sảng khoái trước ngày mới. Ba hình ảnh: bến nước-con thuyền-bình minh nương tựa vào nhau có tính tạo hình. Bến ấy chưa chắc là mới mở, nó mới trên nền cũ đã có từ trước bởi chiếc thuyền con và ánh bình minh. Chiếc thuyền con có thể là đứa trẻ. Bến mới-thuyền con đã là một hình ảnh đẹp, thì ngái ngủ thêm ấn tượng về sự tinh tế. Ở câu thứ ba: đuôi màu bình minh đọc thoáng có vẻ ngỡ ngàng, song câu thứ hai đã nâng đỡ và tạo thành cặp – thuyền con ngái ngủ-đuôi màu bình minh, cho thấy một hình ảnh khác; và khác hơn nữa, ý vị hơn nữa khi đọc câu thứ nhất liền câu thứ ba: Bến mới-đuôi màu bình minh. Toàn bài là một bức tranh có bố cục, đường nét và màu sắc hài hòa, gợi tâm trạng bình thản, an nhiên và tươi tắn giữa không gian sống động, con người muốn vươn lên ngay từ tấm bé bởi màu bình minh xua đuổi cái ngái ngủ của thời đang lớn đã làm nên sự mới lung linh từ cái cũ, có hình, có khối.

Tôi đứng giữa / tiếng ve / bông cúc (Mai Văn Phấn): là thế đứng chênh vênh buổi giao mùa. Tôi – là bản thể đồng thời là nhân vật trữ tình. Đứng giữa tiếng vebông cúc là sự lựa chọn, chưa biết nghiêng về phía nào: một phía là rỉ rả, nuối tiếc nhưng không thật, không đằm, phía kia đi vào cõi khác của nhân sinh, thẳm sâu suy tư của nỗi lòng – quá khứ ấy có chiều rộng và bề dày. Tiếng ve và bông cúc là hai hình ảnh không cùng “loại” tương ứng, nhưng logic thơ là thế. Nếu đứng giữa tiếng ve e còn sốc nổi, thì đứng giữa bông cúc đã là trải nghiệm cuộc đời. Vì vậy, đứng giữa bông cúc mới thể hiện “vai” con người. Song, dù là cách nói ngoa dụ trong một khoảnh khắc, tác giả đã rơi vào một “thế chênh” tự làm khó mình, làm mất đi cái khoảnh khắc an nhiên, tự tại.

Khác với tâm tư ấy, Văn Bắc thổ lộ nỗi niềm có thật: Mâm cỗ gia tiên / Tất niên / ai chưa về. Cặp câu Mâm cỗ gia tiên-Tất niên là bối cảnh ngày cuối năm thường diễn ra trong mỗi gia đình, họ mạc, những người có mặt nhớ những người thân thuộc không có điều kiện sum vầy, nên “thả” câu ai chưa về, không hề có ý trách móc mà “thương cảm”. Đọc hai câu (1 và 3) Mâm cố gia tiên-ai chưa về thấy lòng xót xa, mến cảm cái tình-nghĩa nhớ nhung vời vợi của người ở và người xa.

Nhìn ra, Ban’ya Natsuishi tuy nói về một khía cạnh rộng hơn, nhân tình thế thái hơn, cũng vẫn đề cập cái khoảnh khắc của sự nhận biết hậu quả của sự đổi thay mà chẳng đổi mới của thế giới này: Gió từ tương lai / thổi tới / chia dòng thác. Vấn đề thật to tát, nhưng vẫn nằm trong vòng cương tỏa của quy luật bấy lâu. Mọi chủ nghĩa sinh ra đều chưa giải đáp được câu hỏi: chủ nghĩa ấy đem lại lợi ích gì cho số đông nhân loại? Cái sự thổi tới may ra mới chỉ tác động đến bề mặt chứ chưa hề “sục” xuống đáy nhân gian, làm cho thế giới này thay đổi thực sự.

Những ví dụ trên nói về chiều thuận. Dưới đây, chúng tôi muốn đưa ra bàn luận cái chưa thuận trong cấu trúc khiến một bài haiku chưa hoàn bích.

Từ chợ về nhà / những người đàn bà / nét mặt ưu tư (Cao Ngọc Thắng): Đây là suy tư liền mạch, chưa nói rõ cái chủ thể ưu tư mà anh ta bắt gặp. Từ chợ về nhà-những người đàn bà - rất tầm thường trong diễn giải; rồi những người đàn bà-nét mặt ưu tư – một cách mô tả lười suy nghĩ; vậy Từ chợ về nhà-nét mặt ưu tư nhằm nói điều gì ngoài những hình ảnh đã trình ra? Đọc lại nhiều lần bài này, tôi thấy không ổn, cần phải “đảo” câu để rõ nét cái ý mình muốn thổ lộ: Những người đàn bà / từ chợ về nhà / nét mặt ưu tư, để nói rằng nét ưu tư trên mặt người đàn bà xuất hiện sau buổi chợ phải đắn đo, phải nhọc lòng suy xét trước bấp bênh giá cả, trước thực phẩm không an toàn, trước những dối gian do đồng tiền lũng đoạn, rộng hơn là sự ưu tư về nhiều mặt, phải tính toán thế nào cho cuộc sống gia đình ổn thỏa trong khi thu nhập còn thấp, không ổn định.

Đinh Trần Phương viết: Mành cửa mùa xuân / gió làm đung đưa / ánh sáng, ý thì rõ mà tứ còn lộ, nên tình chưa thấu. Phải chăng vừa đảo câu vừa bớt chữ cho đạt ý , đạt tình: Gió đung đưa / mành cửa / ánh sáng mùa xuân. Câu thứ hai mành cửa sẽ làm sáng rõ và huyền diệu ánh sáng của mùa xuân khi nhìn qua tấm mành (từ trong ra) đung đưa bởi gió.

Hay khúc haiku sau đây: Về thôi / bờ sông níu gió /chân trời níu mây (Lương Thị Đậm), đọc xuôi đã thấy man mác, nhưng đọc lại thấy cần phải đảo câu để có mối lương duyên và tình-tứ giữa các cặp – Bờ sông níu gió / về thôi / chân trời níu mây. Sự níu của bờ sông và của chân mây khiến người lưỡng lự, chân muốn về mà lòng khắc khoải. Về thôi đặt ở câu một không có sự dùng dằng, níu kéo nữa.

Khúc haiku của Thanh Tùng gợi nên nét đẹp của nỗi buồn khắc khoải: Đường quê / lang thang bướm trắng/ hoa nắng tan rồi. Nhưng, đường quêhoa nắng tan rồi không có cái cớ để đẩy lên sự liên tưởng có tính ẩn dụ xa xăm. Nếu có thể đảo thành: Lang thang bướm trắng / đường quê / hoa nắng tan rồi, thì đường quê sẽ là “nốt” nhấn cho sự tan rồi ấy bởi đàn bướm trắng lang thang kia.

Những ví dụ dẫn trên đây, [xin lần nữa mong các tác giả và người đọc thông cảm và lượng thứ], cho thấy cấu trúc đúng, theo quan niệm của người viết bài này, của thể thơ ngắn haiku. Cấu trúc ấy phân biệt rành mạch ba hình ảnh, đồng thời là ba ý khác nhau mà gắn bó với nhau rất chặt chẽ theo từng cặp câu, trong đó hình-ý câu thứ hai là gạch nối cho hình-ý của câu thứ nhất và câu thứ ba liền mạch của một tứ thơ phát xuất. Cái đẹp của một khúc haiku lộ ra từ cái cấu trúc “phi logic” mà lại thực logic là vậy.

CNT

Thơ Haiku Việt sáng tác cho thiếu nhi- Vũ Tam Huề

Tại nước ta hiện nay đang có những triển khai bước đầu nhằm đưa việc dạy thơ Haiku Việt tại các trường tiểu học, cổ động cho trào lưu cảm thụ và sáng tác thơ Haiku Việt của các em học sinh. Để đóng góp cho việc giáo dục thẩm mỹ thi ca này, tác giả bài viết đã sáng tác Khúc Đồng Dao theo thể thơ Haiku Việt và cũng theo chủ đề thiên nhiên Xuân – Hạ – Thu – Đông ở nước ta. Sách thơ đang được NXB Kim Đồng in ấn và phát hành trong tương lai. Tác giả cuốn thơ nhỏ bé này xin trích dẫn một phần của cuốn Khúc Đồng Dao (8 trong số 20 bài thơ) để gửi đăng trong cuốn kỷ yếu của CLB Haiku Hà Nội. Rất mong được tiếp nhận của các độc giả yêu mến thơ Haiku Việt và yêu mến tuổi thơ.

alt

Con cóc chơi xuân

gặp đóa lan rừng

ngỡ là cánh bướm

Các cháu ơi! Chú biết chắc rằng nhiều bạn nhỏ ở thành phố chưa bao giờ nhìn tận mắt thấy con cóc. Còn các bạn ở quê chắc chắn phải biết rõ về loài vật nhỏ bé này. Ở quê nhiều cóc lắm. Cóc ở vườn, ở bờ ao, gốc cây và cóc chui cả vào trong nhà tranh vách nứa… Hình dáng cóc chẳng ưa nhìn, nhưng cóc là loài vật rất có ích cho nhà nông. Cóc ăn những loài sâu bọ làm hại lúa và hoa màu, góp phần bảo vệ đồng ruộng mùa màng. Con cóc trong bài thơ này cũng dạo chơi xuân đấy. Có điều đôi mắt của cóc kém lắm, lại không… đeo kính nên nhìn gà hóa cáo, nhìn đóa hoa ra cánh bướm. Chút nữa nhảy chồm tới… để đớp mồi! Buồn cười quá phải không… hi hi hi…

Chiếc kén ngủ đông

một sớm xuân hồng

hóa thành cánh bướm

Một sớm mùa xuân ấm áp, trên cành cây, một cái kén nhỏ đã ngủ suốt mùa đông lạnh giá. Đố các cháu biết trong kén có cái gì nào? Có con nhộng ạ! Đúng rồi! Thế con nhộng sinh ra từ đâu nào? Con nhộng là do con sâu biến thành đấy. Con sâu ăn lá cây, lớn rất nhanh, rồi nhả tơ làm kén. Trong cái kén sâu hóa thành nhộng, rồi tới ngày nhộng hóa thành bướm, thoát khỏi cái kén, bay khắp nơi hút nhụy hoa. Ngạc nhiên chưa! Bướm đẻ trứng, trứng nở ra sâu, sâu hóa nhộng rồi nhộng hóa bướm. Cứ thế đời này qua đời khác… Đó là vòng đời của loài bướm đó. Thật tuyệt vời phải không các cháu?

Quả nhót chín hồng

như chiếc đèn lồng

đón chào mùa hạ

Vào đầu mùa hạ là mùa nhót chín. Quả nhót to cỡ ngón tay cái của người lớn, hình bầu dục, còn non thì xanh lúc chín đỏ hồng. Nhót chín treo lúc lỉu trong tán lá xanh, bởi vậy tác giả bài thơ ví nó như chiếc đèn lồng nhỏ xíu chào mừng mùa hạ đã sang. Đặc biệt bên ngoài quả nhót có một lớp phấn trắng. Muốn ăn nhót ta phải loại bỏ phấn bằng cách xát nhẹ nhót vào tay áo. Xong rồi bóp nhẹ cho nhót thật mềm. Sau đó nhớ rửa lại cho sạch rồi mới ăn đấy! Nhót có vị chua chua ngọt ngọt, chấm với chút muối ớt, ngon ơi là ngon! Nhót là loại trái cây mà em bé nào cũng thích nhé! Nhưng coi chừng… ăn nhiều đồ chua bị sún răng đó!

Kiến nối đuôi nhau

bò lên ngọn cau

dưới vầng trăng tán

Ông bà ta từ xa xưa đã có câu “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”. Còn bài thơ nhỏ này tả cảnh một bầy kiến đang cùng nhau bò lên ngọn cau dưới ánh trăng tán (trăng mờ, không thành quầng sáng). Chúng đang chuyển nhà chạy mưa gió và lũ lụt đó. Vì sao loài kiến biết sắp có mưa to, lụt lội vậy? Đó là nhờ khả năng đặc biệt của loài côn trùng này. Một số động vật khác cũng như kiến có thể dự đoán nắng mưa, bão lũ, động đất và sóng thần… Thật ngạc nhiên và đáng khâm phục! Đừng có coi thường loài vật bé nhỏ như kiến nhé!

Chót vót ngọn tre

tiếng chim chích chòe

gọi em tới lớp

Tác giả làm bài thơ này nhớ lại thuở nhỏ, khi còn là chú bé quê, ngày đầu cắp sách tới trường. Bữa đó sáng sớm đã nghe tiếng chòe… chòe… chòe lảnh lót trên không. Ngước nhìn lên đã thấy con chích chòe đậu vắt vẻo ngọn tre đầu ngõ và hót vang khắp xóm.

Các bà, các mẹ thường kể rằng, kiếp trước của chim chích chòe là một anh học trò trường làng. Những vệt lông trắng trên cánh chim là sách học của anh ta đấy. Hèn chi, chích chòe thích dậy thật sớm, hót vang xóm làng, đánh thức lũ trẻ vùng quê, mau thức dậy, cắp sách tới trường….

Chúng em múa lân

kìa mặt ông Địa

tươi như trăng rằm

Trong mùa thu có cái Tết của tuổi thơ, còn gọi là Tết trăng rằm tháng 8 hay Tết trung thu. Không một trẻ em nào không yêu thích Tết trung thu vì được họp bạn, vui chơi ca hát, bầy cỗ trông trăng, rước đèn ông sao. Tuyệt vời nhất là được hòa mình vào những đám múa rồng, múa lân rộn rã với tiếng trống, tiếng chiêng náo nức, với muôn ánh đèn màu rực rỡ…

Các cháu ngó lên trời cao nhé. Có mặt trăng sáng tròn vành vạnh. Còn nhìn quanh đám rước đèn múa lân sẽ thấy có ông Địa mặt tròn sáng loáng chẳng khác gì mặt trăng… Vui quá là vui nè!

Ổ rơm thật ấm

bếp lửa thêm hồng

đêm đông cổ tích

Thuở xưa, ở vùng quê nước mình còn nghèo, về mùa đông người ta thường trải ổ rơm để ngủ cho ấm. Hồi còn nhỏ chú cũng đã từng được nằm ngủ ổ rơm. Nằm ổ rơm cũng thú vị lắm, như con nhộng cuộn mình trong cái kén. Rơm vàng tươi như tơ tằm. Rơm còn rất thơm nữa, mùi thơm của lúa chín. Rơm cũng ấm lắm nhé! Đêm đông, nằm trong ổ rơm, bên bếp lửa hồng, quây quần bầy trẻ nhỏ, nghe bà, nghe mẹ kể chuyện ngày xửa… ngày xưa… thì không có gì ấm cúng và thú vị cho bằng…

Chú rất nhớ tiếc chiếc ổ rơm thời thơ ấu của mình, nhưng giờ đây biết tìm ở đâu?… Cha… cha… tiếc quá là tiếc…

Nắng hanh mùa đông

hoa cải vàng đồng

lũ bướm trẩy hội

Mùa đông thường mưa phùn gió bấc và giá rét, nhưng cũng có những ngày hanh khô với nắng vàng như tơ. Đó là mùa hoa cải nở. Cánh đồng trồng rau cải rộng thênh thang, hoa cải nở vàng rực rỡ. Chẳng biết nắng vàng hay hoa cải vàng hơn, chỉ thấy một sắc vàng ong óng, nhìn lâu hoa cả mắt đấy nhé!… Hương hoa cải rất ngọt, bay thật xa, quyến gọi về từng bầy bươm bướm màu sắc sặc sỡ, rợp rờn bay, trông thật là đẹp mắt. Bướm họp bầy trên đồng hoa cải để hút mật hoa, phấn hoa, đông vui như người ta rủ nhau đi trẩy hội mùa xuân vậy.

VTH

Hướng tới khúc Haiku hay- Lý Viễn Giao

Câu lạc bộ Haiku Hà Nội sinh sau đẻ muộn trong làng thơ Việt. Đến nay nó vẫn được coi là đang lớn. Tuy vậy cái cơ thể non trẻ này tiềm tàng một sức sống đáng nể từ chính những tế bào nội sinh của nó. Cùng với những bàn tay chìa ra nâng đỡ, chắc chắn nó sẽ có những bước đi dài vững chắc để hình thành một sức vóc vạm vỡ, xứng tầm mong đợi. Để có những khúc thơ như ý, các haijin đã chắt ra từ những tài liệu nghiên cứu được viết, được dịch công phu đó đây trên các nội san cũng như sách báo trong nước và nước ngoài. Những bài thơ dịch từ đủ mọi thứ tiếng cũng là nguồn tham bác quan trọng. Đặc biệt bằng những chiêm nghiệm qua cuộc sống, cảm hứng thơ và kho kiến thức kết đọng trong những cái đầu minh mẫn mà những khúc haiku được đẻ ra. Đến nay số lượng bài thơ đã không thể đếm xuể. Số lượng tập thơ đã phải dùng đến hai chữ số mà ghi. Ấn phẩm chung cũng đã có đến sáu nội san và hai tập thơ dầy dặn rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức.

alt

Những khúc haiku được viết đã ngày càng ra dáng một bài thơ hoàn chỉnh, được chấp nhận, trong đó có nhiều bài hay. Không phải đã hết những băn khoăn về tiêu chí của một bài thơ haiku và bài thơ hay. Ai đó cho rằng hãy cứ viết đi, viết nhiều rồi sẽ thành thơ haiku và sẽ hay. Nói vậy liệu có phải là logic ngược không? Phải định hình cho một khúc thơ haiku đã chứ, và phải khẳng định thế nào là hay đã chứ! Có thể vào lúc nào đó và ở đâu đó, chúng ta đã ít nhiều chạm mặt với những nội dung này rồi. Nhưng nay, đứng trước thềm cuộc tọa đàm về thơ Haiku lần thứ hai sắp diễn ra tại Hà Nội xin trao đổi thêm đôi lời may ra sáng tỏ được điều gì bổ ích chăng.

Một khúc haiku phải bao gồm ba thành phần có lẽ đã là đương nhiên. Điều này không phải ta tự bịa mà được rút ra từ trong chính những bài thơ haiku Nhật từ xưa tới nay mà chúng ta được đọc. Gần đây nhất, khi đến dự cuộc tọa đàm thơ Haiku lần thứ nhất cũng tại Hà Nội, chủ tịch hiệp hội Haiku thế giới WHA, ông Ban’ya Natsuishi, trong bài phát biểu của mình đã nhận xét khúc thơ của Lý Viễn Giao:

Trăng lạnh

nghĩa trang

đồng đội xếp hàng

là chỉ có hai hình ảnh! (Do dịch thuật mà dẫn tới điều này chứ thực ra ở đây là ba hình ảnh rất rõ!) Ta lấy ra từ nhận xét này để khẳng định chắc chắn rằng khúc haiku phải hội đủ ba hình ảnh. Ba thành phần trong khúc thơ gọi tên như thế nào là đúng nhất?

Nếu bảo ba dòng sẽ là vô lý. Dòng chưa nói lên điều gì rõ ràng về cấu trúc từ vựng cũng như nội dung. Nó mới chỉ là nhiều chữ viết liền nhau đặt trên một hàng ngang. Vì vậy dẫu có ba dòng chữ nhưng các dòng này chưa có ý, chưa gợi, chưa liên kết để tạo một ý tưởng tổng thể cũng chưa coi là thơ haiku được. Bài thơ “Con ếch”, một khúc haiku được coi là mẫu mực trong nền thơ cổ điển Nhật Bản của Basho có thể viết trên ba dòng:

古池や (Furuike ya)

蛙飛び込む (kawazu tobikomu)

水の音 (mizu no oto)

Hay viết liền một dòng: 古池や蛙飛込む水の音 (Furuike ya mizu no oto tobikomu kawazu) đều được vì bản thân nó đã chứa ba ngắt ý rất rõ ràng: Cái ao cổ / con ếch nhảy vào / nước xao động.

Còn ba câu ư? Điều này cũng không cần thiết bởi đã là câu sẽ phải hội đủ các thành phần chủ ngữ, vị ngữ… của cấu trúc câu. Trong thực tế, một khúc haiku không cần đến thế:

Mê nón úp vại cà

mồ hôi tóc mẹ ta

thâm dấu

(Lê Đình Công)

Đó! Ý thứ nhất coi là một câu đi nhưng hai ý sau chỉ là hai hình ảnh. Đâu cần đến ba câu mới làm nên khúc haiku. Ta bắt gặp rất nhiều bài thơ mà cả ba ý đều chưa phải là câu. Nhưng đó đây ta cũng gặp một khúc thơ có ba câu thật:

Cá xuống nước

mây về trời

ta thả ta vào chân không

(Thiện Niệm)

Vậy nếu nói ba thành phần trong khúc haiku là ba câu thật không chính xác.

Vậy ba ý hay ba hình ảnh? Điều này tế nhị hơn hai tên gọi nói trên. Hình ảnh thường là một ý rồi nhưng ý đâu có nhất thiết là hình ảnh. Bài thơ này của tác giả Lương Thị Đậm:

Dây điện bắc qua

đôi chim ríu rít

tình ca

ý thứ ba không phải là hình ảnh! Còn bài thơ sau của Vũ Tam Huề:

Gió từ đâu lại

mang hương cỏ dại

đường cày mùa xuân

lại chỉ có một hình ảnh ở ý thứ ba thôi. Vậy nên, cho rằng ba thành phần của khúc haiku là ba hình ảnh cũng không chính xác. Suy ngẫm qua nhiều bài thơ, thấy rằng nếu gọi đó là ba ý là đúng hơn cả. Ba ý này không phụ thuộc nhau trong một thể cấu trúc nào; mỗi ý đều trọn vẹn đủ sức tự mình mang ý nghĩa nên thường được nhấn mạnh bằng tên gọi là ngắt ý!

Làm thơ hay đọc thơ, ai cũng muốn hướng đến bài thơ hay. Vẻ hay dở thực ra cũng nhiều chiều bàn luận. Nó phụ thuộc vào cảm quan, tâm trạng, độ trải nghiệm và tầm nhìn, cách nhìn của người viết, người thẩm. Nhưng không phải không có tiêu chí chung về bài thơ hay để dùng làm thước đo cho thơ. Thơ hay trước hết phải hướng con người, cuộc sống đến chân, thiện, mỹ. Phải mang tính nhân văn cao. Phải có nghệ thuật sử dụng ngôn từ, ý tưởng một cách khéo léo để đi vào lòng người theo con đường ngắn nhất và trụ lại một cách bền vững nhất.

Với thơ haiku, do những đặc thù riêng của nó, khúc thơ hay còn cần thêm một số yếu tố mà haijin và độc giả không nên bỏ qua. Trước hết, bài thơ phải có cấu trúc của thơ haiku với ba ngắt ý rõ ràng. Ba ngắt ý này như ba chân của bếp kiềng hay ba Ông vua bếp trong bộ bếp đất cổ để tạo nên một dụng cụ hữu ích hoàn chỉnh. Nói một cách thơ hơn, ba ngắt ý phải ướp hương cho nhau, nghĩa là thấm vào nhau cùng tạo nên ý tưởng chung của toàn bài thơ. Với thể loại thơ cực ngắn này, việc tránh dùng hư từ là điều tối cần thiết. Sử dụng tính từ, trạng từ một cách vừa phài và hợp lý cũng góp phần làm cho hình ảnh bóng bẩy, long lanh hơn. Vần và nhịp điệu trong thơ không có quy định nào bắt buộc nhưng nếu sử dụng khéo léo cũng làm cho các ngắt ý liên kết với nhau mềm mại tạo không khí cho câu thơ bước vào tiềm thức người đọc, người nghe một cách ý nhị. Tính thiền và vô sai biệt không nhất thiết tồn tại trong thơ haiku hiện đại, nhất là thơ do người Việt chúng ta viết hôm nay. Nhưng nếu trong một bài thơ có phảng phất ít nhiều điều này âu cũng coi là một thứ gia vị phụ thêm cho một món ăn ngon khi ta thưởng thức.

Xin mời cùng dạo gót qua vườn hoa Haiku Hà Nội ngắt đôi ba đóa một cách vô tình để coi thử độ mỏng dày của hương sắc mà ngẫm về những gì đã sinh kết dưới bàn tay người gieo trồng.

Viết về mùa xuân, tác giả Nguyễn Thị Kim đã khéo đan cài ba hình ảnh tượng trưng với ba ngắt ý Hoa, Bướm và Người trên một bức tranh thêu đầy sức sống:

Dã quỳ ngõ quê

rập rờn cánh bướm

vàng lối em về

Và cảnh đêm Hồ Tây thơ mộng cũng được haijin Đinh Nhật Hạnh dùng khúc haiku gõ vào hồn thơ người đọc để vang lên ngân nga, lãng mạn:

Sương khuya Hồ Tây

sâm cầm vụt cánh

trăng lay

Nỗi nhớ đồng quê, nhớ mùa màng rơm rạ của người mẹ chân tre còn da diết nào hơn như trong khúc thơ này:

Ra phố ở với con

nhớ đồng mùa gặt hái

mẹ nhìn theo người bán chổi rơm

(Vương Trọng)

Còn gì nữa đâu khi mà người phụ nữ không có bạn đời bên cạnh để mà kề vai nghe hơi thở ấm áp, nghe tiếng thầm thào của hai con tim sẻ chia, để nương tựa:

Vắng anh

trăng lu

mảnh đêm vỡ nát

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Con người ta khi đã trưởng thành, mỗi khi nhìn về quá vãng, hình ảnh mẹ vẫn là trước nhất và đậm nhất:

Tiếng võng đưa

ngày xưa

tay mẹ

(Nguyễn Duy Quý)

Khúc thơ sau chỉ vỏn vẹn với bảy âm tiết nằm gọn trong ba ngắt ý mà làm lòng người xao xuyến với nỗi chia xa của lứa đôi:

Ngày em đi

nâng ly

uống sóng

(Lý Viễn Giao)

Nói về chủ quyền biển đảo mà chẳng gào thét, chẳng lên gân hô khẩu hiệu. Chỉ bằng những ngắt ý rành mạch chứa đựng hình ảnh không cầu kỳ mà rất đỗi thôi thúc:

Đảo chìm

lồng ngực anh

sóng vỗ

(Hà Bàng)

Nhiều người cho rằng thơ haiku mang tính triết lý cao. Nó dắt tư duy đi theo mạch ngầm để chiếm lĩnh chốn sâu thẳm của nỗi người, nỗi đời. Nhưng nó cũng rất tế nhị, không răn dạy, không rao giảng. Đọc những phiến khúc này ta có thấy gì không?

Lấp lóa trời cao

có những ngôi sao

thực ra đã tắt

(Lê Đình Công)

Bay cao mười ngàn mét

càng gần mặt trời

càng lạnh

(Lê Văn Truyền)

Đau khổ hãy về đây

ta sẽ trả thù

bằng nụ cười độ lượng

(Lê Vũ)

Mới chừng ấy tuổi đầu mà Câu lạc bộ Haiku Hà Nội đã gieo hạt để gặt hái được nhiều mùa hoa rực rỡ. Những bông hoa vừa ngắt để ngắm trên đây chỉ là ngẫu nhiên trong ngàn bông hoa đẹp. Chúng ta có đủ độ tin cậy cho những vườn hoa, mùa hoa rạng rỡ hơn đang nằm phía trước.

LVG

Bóng- Nguyễn Thánh Ngã

alt

BÓNG

Một bóng hoa đào

thắp bừng ngõ nhỏ

ấm chiều ba mươi

(Đinh Nhật Hạnh)

Câu thơ:"mỗi năm hoa đào nở" của Vũ Đình Liên, đã ăn sâu vào máu của mỗi người dân Việt trong bài thơ Ông đồ.

Thời nay có một ông đồ Haiku Việt, cao tuổi nhất trong Hiệp hội Haiku Thế giới, cũng làm thơ "thấp thoáng bóng hoa đào ngõ nhỏ" đậm sắc hương Hà Nội....cái bóng mơ hồ ấy....khiến ta không khỏi bâng khuâng về bao nỗi niềm tiềm ẩn.

Chỉ có thơ Haiku và người viết. Phải tài tình lắm mới đặt được vấn đề. Cái bóng của hoa đào thì có điều gì để nói? Vậy mà cái bóng ấy, đã khiến chúng ta có niềm tin yêu và hy vọng.

Nếu bóng hoa đào nghiêng soi trên mặt hồ, lại là một tư duy khác. Đằng này, một bóng hoa đào lẻ loi trong con ngõ nhỏ thật là cô liêu, cho ta thấy sự cô đơn đến tuyệt cùng! Cũng chính cái cô đơn làm nên điều kỳ diệu cho thơ.

Ai cũng biết cuối đông sang xuân xứ Bắc mình rét mướt...lòng người xa xứ cũng như người đang hun hút chờ ai - xa lắm, nhớ lắm trở về...Ôi chiều ba mươi người Việt Nam nào không bâng khuâng, thắc thỏm...Và trên ngõ nhỏ thân thương ấy giữa lòng Hà Nội, một bóng Hoa đào bâng quơ ấy có thể là cành đào Nhật Tân nổi tiếng, hoặc một tà áo dài màu hoa ấy bay bay, hay chính là màu xuân trên má ai ửng hồng hò hen, vừa cụ thể, vừa mơ màng , đã qua hay hiện tiền khiến người đọc không khỏi xốn xang một chiều ba mươi hoài niệm, mơ đoàn tụ lứa đôi ..Cảm giác ấm áp từ một bóng hoa đào giữa khung trời mưa phùn lành lạnh ấy, hạnh phúc và hy vọng cứ lâng lâng...thấp thỏm đợi chờ...

Ngõ nhỏ ấy -Bằng Lăng , vốn tím nhiều nỗi nhớ, rất đỗi mơ màng, nơi hội tụ bạn thơ Haiku bốn phương trời tri ngộ...Dẫu chỉ bâng khuâng một bóng hoa đào...ngõ nhỏ cuối năm:

Ngõ ấy

cánh bằng lăng rơi

trang thơ Đinh Nhật Hạnh

(Nguyễn Thánh Ngã)

Thế đấy. Nhà thơ sưởi ấm cho đời. Dù chỉ là một cái bóng...

Đà Lạt tháng 3/2017

N.T.N

Chao- Nguyễn Thánh Ngã

alt

1. HÒA ÂM

Trải qua những bước chập chửng, Haiku Việt đã đi khắp ba miền. Nhờ cố gắng của tất cả những người yêu thơ, CLB Haiku Việt Hà Nội đã nên hình nên vóc. Điều quan trọng không phải là kết nối được với tổ chức Haiku thế giới WHA, mà theo tôi, điều quan trọng là chúng ta đã tạo được một không gian hòa âm. Từ điệu hồn lục bát, tứ tuyệt ngũ ngôn, thất ngôn cho đến dềnh dàng tự do, phá cách... Tiếng Việt là tiếng đơn âm, nhưng thơ Haiku đã được bắt nhịp trong một hòa âm mới. Hòa âm cùng cung bậc đa thanh...

Người có công bắt nhịp cho những hòa âm mới, là nhà thơ Đinh Nhật Hạnh- cánh chim đầu đàn đã chao liệng trên bầu trời thơ Việt suốt mấy mươi năm. Ông đã đem sức xuân 90, lật mở kho tàng ca dao, tục ngữ, tìm những tinh hoa của cổ nhân để lại, chợt thấy thơ Haiku nằm trong đó. Dĩ nhiên, một cánh én không làm nên mùa xuân, mà cùng với nhiều cánh én tên tuổi khác, đã làm nên mùa xuân Haiku Việt. Ông viết :

Xin chao cùng cánh én

Haiku Việt

Vào xuân

(Đinh Nhật Hạnh)

Thật vậy, phải biết cái "chao" nào không làm gãy cánh; cái "chao" nào tạo nên nét đẹp dịu dàng trên đường bay để nhìn ngắm mùa xuân, nhìn ngắm thế giới. Một cú "chao" đầy hồn vía ấy, đã đẩy bài thơ bay lên một cách hồn nhiên và thấu thị.


2. LUÂN VŨ

Cùng tâm thế ấy, nhưng nhà thơ Đinh Trần Phương lại có cách nhìn khác. Đứng trên đất nước hình mũi tàu, sóng gió gập ghềnh. Thơ cũng không ngoại lệ, xã hội phát triển kinh tế đa chiều, thơ đang thời khủng hoảng, nó chấp nhận nhiều phong cách, kể cả ngoại nhập. Trong dòng chảy văn học thời này, thơ phải chấp nhận một điệu múa. Điệu múa của hội nhập. Bằng linh cảm của một Haijin, ông viết :

Ngày xuân đầu tiên

Trên trần tàu

Bảy ngón chân mặt trời nhảy múa

(Đinh Trần Phương)

Bảy ngón chân là gì? Bảy sắc cầu vồng. Và trên trần tàu Việt Nam, ngôn ngữ thơ Haiku đã và đang bắt đầu nhảy múa. Khi bất lực trước khúc ca, người ta có thể nhảy múa. Ngôn ngữ cơ thể bộc lộ. Cơ thể Haiku nhỏ nhắn, nhưng sức mạnh tinh thần vô cùng lớn lao. Những làn sóng ngầm chứa trong cái thân hình kiệt ngắn, đã có cơ hội bung ra. Nhưng thơ Haiku có cái duyên của một chiếc răng khểnh. Vừa múa. Vừa hát.

Vâng, đó là điệu luân vũ trong hòa ca.


3. PHONG CÁCH

Những Haijin thời nay đang khoác trên mình những bộ cánh mới. Bộ trang phục "5-7-5", "quý ngữ", "sabi, wabi", "yêu thiên nhiên", "mang tính thiền" vv... không còn đồng điệu với phong cách hội nhập. Vận hội thơ đang được mở ra với tư thế mạnh mẽ nhất. Khoác vai cuộc sống là những bộ cánh tân thời!

Chúng ta hãy nghe nhà thơ Lê Văn Truyền viết về ngôi nhà cũ, nơi mà con nhện vẫn âm thầm dệt tơ trên khung cửa:

Ngôi nhà cũ

Người bỏ đi

Nhện giăng tơ khung cửa

Không mùa của Phan Vũ Khánh:

Ghé vườn em
Mai Tứ quý
Nở không mùa

Đặc sản Việt của nhà thơ Nghiêm Xuân Đức:

Bánh đa Kế

Theo giọng kể

Giòn tiếng cười

Haijin Lương Thị Đậm với truyện Kiều:

Mẹ đọc câu Kiều

hằn sâu ký ức

tháng ngày xanh rêu

Nhà thơ Mai Văn Phấn lạ hóa thơ:

Chim sẻ mùa xuân

tắm

không cần nước

Nhà thơ Lý Viễn Giao với thế thái:

Viết không nên chữ

Nói chẳng thành lời

Gieo quẻ dạy đời

Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh với nhân tình:

Đã như chim chích

ngày càng

bé hơn

Nhà thơ Dương Phương Toại đậm chất ẩn dụ trong cõi vô thường:

Đạp đất mà đứng lên

Cứ ngỡ bầu trời an nhiên lắm

Đâu ngờ bão kề bên

(.....................)

Còn rất nhiều những phong cách khác, những trích dẫn hẳn là chưa đủ. Để định dạng, cần có nhiều thời gian. Những cú nghiêng chao, bay liệng của Haiku Việt trên nền trời xanh thẳm, đủ nói lên khả năng tiềm tàng và sức khai phá độc đáo. Trong sự lan tỏa của Haiku, chúng ta đã khẳng định với thế giới rằng, Haiku Việt có sức sống mãnh liệt, và hòa nhập theo cách tự nhiên của nó.

Vâng, "hòa nhập chứ không hòa tan", thơ Haiku vẫn là Haiku Nhật Bản. Không thể khác. Người Việt chúng ta có câu "đến dây thì phải ở đây". Thơ Tàu, thơ Pháp, thơ Mỹ vv...đến đất Việt đã "hóa tâm hồn" rồi. Chúng ta luôn trân quý cái đẹp với niềm gọi mời thiết tha.

Thế đấy. Những cánh én. Chao...

Đà Lạt mùa xuân 2017

N.T.N

Haiku là gì- Lê Thị Bình biên soạn

alt

I. Thơ haiku ở Nhật Bản xưa và nay

Cũng như người Việt Nam, người Nhật Bản rất yêu thơ, thích làm thơ để trải lòng mình. Cho đến nay ở Nhật Bản có mấy thể loại thơ như: 1. Waka (thơ Nhật) là thể thơ có cấu trúc định hình có từ thời xa xưa ở Nhật, thường có cấu trúc 5-7-7 hoặc 5-7-5-7-7 rồi lặp lại gồm có choka (trường ca), tanka (đoản ca), renga (liên ca), sedoka, katauta, haikai (haiku)… 2. Kanshi (Hán thi – thơ chữ Hán, thơ Trung Quốc) và 3. Thơ tự do theo kiểu phương Tây.

Haikai (bài hài) hay theo cách gọi hiện đại là haiku (bài cú) thuộc dòng thơ bản địa, là thể thơ định hình, được coi là thể thơ ngắn nhất thế giới, với 17 âm tiết, theo nhịp 5-7-5. Đây là một loại thơ cận đại, vốn loại thơ giải trí, khôi hài, phát triển từ cuối thời đại Muromachi (cuối thế kỷ 14).Người xây dựng nền tảng cho haikai cận đại là Matsunaga Teikoku (1571-1653).Nhưng người có công đưa haikai trở thành nghệ thuật, được coi như “quốc hồn, quốc túy” của Nhật Bản, chính là Matsuo Basho, một nhà văn hóa lớn của nước Nhật.

Có ba nguồn tư tưởng lớn ảnh hưởng đến haikai là Phật giáo (đặc biệt Thiền tông), Đạo Lão và Khổng giáo.Ngoài ra, hội hoạ và thi ca Trung Quốc, Nhật Bản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nghệ thuật haikai.

Đến thời Minh Trị, hòa chung với không khí cải cách đất nước, văn thơ Nhật Bản cũng nhận được luồng gió Âu hóa và nhóm cải cách haikai do Masaoka Shiki đứng đầu đã dùng tên gọi haiku thay thế cho tên gọi haikai của thời Edo.

Trải qua nhiều thăng trầm cho đến nay, haiku vẫn phát triển mạnh mẽ và vẫn là thể loại thơ được nhiều người Nhật yêu thích và sáng tác, thậm chí nó đã lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới với sự hấp dẫn bởi sự ngắn gọn mà sâu sắc của nó. Mấy năm trở lại đây, ở Việt nam phong trào sáng tác haiku tiếng Việt phát triển âm thầm nhưng khá mạnh mẽ, lượng người yêu thích thể thơ này đang tăng dần. Chúng tôi xin sơ lược giới thiệu quá trình phát triển của thể thơ này qua các thời đại lịch sử ở Nhật để bạn yêu thơ hiểu thêm về tình hình phát triển thơ haiku ở đất nước quê hưong của nó là Nhật Bản.

Haikai thời Edo (1603-1868)

Trước Basho, vào thời tiền kỳ Edo có Matsunaga Teitoku (1571-1654) đã lập nền móng cho haikai gọi là trường phái Teimon, ảnh hưởng của Teitoku rộng khắp nước Nhật. Teitoku làm cho haikai phổ cập trong dân chúng nhưng chưa tìm ra cách đưa giá trị của haikai vượt lên renga, do đó phong cách sáng tác của phái này bảo thủ, thiếu sức sống, sau đó rơi vào bế tắc. Tuy vậy, phái này đã có công trong việc sinh ra nhiều nhà haijin (người sáng tác haikai)

Từ 1673 ở Osaka xuất hiện phái Danrin (Đàm Lâm) với nhân vật trung tâm là Nishiyama Soin (1605-1682), ông dạy kỹ thuật làm thơ haikai. Phái Danrin tìm cách thoát ra khỏi sự ràng buộc truyền thống. Môn hạ của Soin có những tên tuổi lớn như Ihara Saikaku (1642-1693), Suganoya Takamasa… Đặc biệt Saikaku có lối làm thơ phóng túng, nhanh, nhiều như tên bắn, mục đích để giải trí, mua vui. Họ còn tổ chức thi sáng tác haikai nhanh. Tương truyền năm 1684, trong một cuộc thi Saikaku đã lập kỷ lục làm được 23.500 câu trong vòng một ngày đêm!

Matsuo Basho (1644-1694) tên thật là Munefusa, sinh ra ở vùng Iga- Ueno thuộc tỉnh Mie ngày nay. Ông là con trai út của một Samurai cấp thấp được cha đưa vào phục vụ cho con trai lãnh chúa Ueno, anh này là người yêu thích haikai. Munefusa trở thành bạn thơ của ông chủ, qua đó ông biết đến phái Teitoku. Sau khi ông chủ trẻ đột ngột qua đời, Munefusa rời lên Edô (Tokyo ngày nay) rèn rũa thêm việc sáng tác haikai và chịu ảnh hưởng của phái Danrin (Đàm Lâm). Về sau ông say mê tư tưởng Lão – Trang và Thiền tông. Nhận thấy giới hạn của phái Danrin, ông quyết tâm tìm hướng đi mới và đổi bút danh là Basho (Ba Tiêu). Ở thời Basho, người ta chưa gọi thể thơ này là haiku (bài cú) mà gọi là haikai(bài hài). Đến thời Meiji, Shiki mới cải cách lấy tên gọi haiku thay cho haikai cho đến nay.

Noi gương các nhà thơ lớn của Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lý Bạch, và của Nhật Bản như Saigyo, Noin, Sogi… Basho lên đường đi du ngoạn khắp đất nước để tìm nguồn cảm hứng và tạo phong cách mới cho thơ. Cuộc đời ông là những cuộc lữ hành không ngừng nghỉ, ông ngã bệnh và trút hơi thở cuối cùng trên đường lữ thứ trong tay các học trò tại Osaka khi 51 tuổi.

Sự nghiệp sáng tác của Basho khá phong phú, thơ ông đạt đến độ thành thục cao. Ngoài những tác phẩm haikai nổi tiếng như Thất bộ tập, tập hợp những bài xướng hoạ của ông trong bảy bộ gồm: Ngày Đông (Fuyu no hi – 1684), Ngày Xuân (Haru no hi – 1686), Cánh đồng hoang (Arano – 1689), Quả bầu (Hisago – 1690), Áo tơi cho khỉ (Sarumino – 1691), Bao than (Sumiđawara – 1694). Đặc biệt có kiệt tác Oku no hosomichi (Con đường nhỏ vùng Michinoku), sáng tác trong quá trình du ngoạn dài ngày lên phía Bắc Honshu trên đoạn đường bộ dài tới 2.340 km trong 151 ngày đầy gian khổ. Sau nhiều lần sửa đổi, tác phẩm bất hủ này được hoàn tất trước khi ông mất khoảng sáu tháng. Tập thơ đã được giáo sư Vĩnh Sính dày công nghiên cứu và chuyển thể sang tiếng Việt theo thể lục bát dưới tiêu đề Lối lên miền Oku, với hy vọng làm cho nó gần gũi với tình cảm người Việt Nam và để người Việt Nam dễ cảm nhận cái hồn của thơ Basho. Tuy vậy, cách dịch đó cũng làm mất đi nhiều về hình thức cũng như cái hay cái đẹp của thơ haikai – haiku của Nhật.

Basho là nhà thơ của thiên nhiên Nhật Bản. Công lớn của ông là đã đưa haikai lên hàng nghệ thuật, đời sau tôn ông là Thánh thi Haiku (Haisei).Haikai của ông tao nhã, u tịch, tạo nên phong cách riêng gọi là Bashofu (phong cách Basho). Quan niệm thẩm mĩ của ông về haiku có thể nói vắn tắt trong mấy từ sau: wabi (u tịch), sabi (buồn man mác), shiori (dư vị), hosomi (tinh tế), karumi (nhẹ nhàng, thanh thoát). Tính phong nhã (fuga) là đặc điểm tiêu biểu của trường phái Bashofu.

Từ khoảng thế kỷ 15, ở Nhật các nhà thơ lỗi lạc có thể sống bằng nghề dạy sáng tác thơ. Học trò của Basho có đến hàng ngàn người nhưng người Nhật chọn ra 10 người coi là giỏi nhất gọi là “Tiêu môn thập triết”.Điều này cho thấy người Nhật yêu thơ đến mức nào.

Vào trung kì Edo có một số haijin nổi tiếng như nữ sĩ Kagano Chiyojo (1703-1775) để lại cho đời trên 1.700 câu haikai bất hủ; Yosa Buson (1716-1783) vừa là họa sĩ vừa sáng tác haikai có tính tả thực và mang tính hội họa; gần cuối thời Edo có Kobayashi Issa (1763-1827) là một haijin nổi tiếng theo trường phái dân dã, thôn quê… Ba haijin lớn Basho, Buson, Issa ở thế kỷ 18-19 cùng với Shiki thời Minh Trị sau này luôn là niềm tự hào là những nhà văn hóa lớn của nhân dân Nhật Bản.

Thời Meiji (Minh Trị – 1868-1912)

Thời Meiji có Masaoka Shiki (1867-1902), nổi tiếng là nhà cải cách haikai và tanka. Nhóm Shiki theo trường phái tả thực (shasei) sinh động, phê phán lối làm thơ khuôn sáo. Nổi tiếng cùng Shiki có Kawahigashi Hekigoto và Takahama Kyoshi. Năm 1897, Masaoka Shiki lập ra tạp chí Hotogisu nổi tiếng chuyên về haiku, đến nay vẫn là một tạp chí lớn trong hàng chục tạp chí chuyên về haiku ở Nhật. Nhóm cải cách của Shiki đã dùng từ haiku (bài cú) để thay thế cho haikai (bài hài) của thời Basho.

Haiku hiện đại Nhật Bản

Hiện nay haiku ở Nhật có một số trường phái, phần đông vẫn thích giữ qui tắc sáng tác haiku truyền thống là có cấu trúc 5-7-5 âm tiết, có quí ngữ (kigo) hoặc quí đề (kidai) và có từ ngắt (kireji). Tuy vậy cũng có nhiều người thích trường phái sáng tác haiku tự do không theo các qui ước truyền thống, cơ bản chỉ giữ cấu trúc 5-7-5 thôi hoặc thậm chí không cần giữ đúng cấu trúc này mà lại ưa dùng khẩu ngữ hiện đại…

Người Nhật với văn hóa ưa sự giản dị và xúc tích đượm màu thiền nên thơ haiku luôn được ưa chuộng và người tham gia sáng tác thời nào cũng đông đảo.

Ở Nhật Bản, hoạt động sáng tác haiku rất rầm rộ trong toàn quốc. Những người sáng tác haiku thường liên kết với nhau thành các tổ chức sáng tác haiku. Các tổ chức này có tên gọi, trụ sở và ban lãnh đạo điều hành rõ ràng, các hội viên tham gia đều đóng tiền hội phí để xây dựng tổ chức của mình và triển khai các hoạt động. Hiện ở Nhật có mấy tổ chức haiku lớn như sau:

1- Hiệp hội Haiku truyền thống Nhật Bản

2- Hiệp hội Haiku hiện đại Nhật Bản

3- Hiệp hội các Haijin Nhật Bản

4- Liên minh những người sáng tác Haiku mới

5- Hiệp hội Haiku quốc tế

6- Hiệp hội Haiku thế giới

7- Đại hội các tuyển thủ Haiku của các trường Trung học phổ thông toàn quốc (thường gọi là Haiku koshi en).

Sau đây xin giới thiệu qua về các tổ chức này:

1) Hiệp hội Haiku truyền thống Nhật Bản

Đây là một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân (shađan houjin) được thành lập năm 1987 (Chiêu Hòa năm thứ 62), Chủ tịch hiện nay của Hiệp hội là bà Inahata Teiko (sinh năm 1931).Năm 1994 Hiệp hội này đã có trên 6.500 hội viên chính thức, ngoài ra còn có nhiều hội viên không chính thức.

Mục tiêu của Hiệp hội là hoạt động sáng tác haiku truyền thống của Nhật Bản, gìn giữ giai điệu haiku truyền thống, ngâm vịnh haiku gắn kết con người với thiên nhiên của Nhật Bản (tức là trường phái “Hoa điểu phong vịnh” do Takahama Kyoshi đề xướng, có quí đề, quí ngữ và nhịp điệu 5-7-5 truyền thống).

Tạp chí của Hiệp hội là Hototogisu, một tạp chí haiku lâu đời và có uy tín nhất về haiku ở Nhật Bản.

2) Hiệp hội Haiku hiện đại Nhật Bản

Đây là một hiệp hội haiku lớn thứ hai ở Nhật có qui mô toàn quốc, thành lập năm 1947 (Chiêu Hòa năm 22) do Ishida Hakyou thành lập.Thực chất Hiệp hội này gồm 2 Hiệp hội lớn ở 2 vùng là Tokyo và Kansai.Năm 2006 có khoảng 9.000 hội viên.Chủ tịch Hiệp hội hiện nay là bà Uda Kiyoko (SN 1935). Hiệp hội chủ trương sáng tác haiku theo hướng tự do hơn, không nhất thiết phải có quí ngữ. Tạp chí của Hiệp hội là Haiku hiện đại.

Trụ sở của Hiệp hội đóng tại phường Sotokanda ở quận Chiyoda, Tokyo. Hiệp hội Haiku hiện đại có tổ chức 4 giải thưởng lớn là Giải thưởng Haiku hiện đại, giải thưởng Hiệp hội, Giải thưởng cho những người sáng tác Haiku trẻ(50 tuổi trở xuống) và Giải thưởng Bình luận Haiku.

Hiệp hội Haiku hiện đại Kansai ra mắt năm 1962, đến năm 2010 có trên 1.000 hội viên.Hiệp hội này hoạt động chủ yếu ở 6 tỉnh thành thuộc vùng Kansai phía Tây nước Nhật.

3) Hiệp hội các Haijin Nhật Bản

Đây là một hiệp hội có tư cách pháp nhân hoạt động công ích của các haijin trên toàn nước Nhật, thành lập năm 1961 (Chiêu Hòa năm 36) trên cơ sở tách ra từ Hiệp hội Haiku hiện đại. Tính đến năm 2012, Hiệp hội có 15.150 hội viên. Mục đích của Hiệp hội là phát triển sáng tạo và phổ cập văn nghệ haiku góp phần nâng cao văn hóa Nhật Bản. Hiệp hội có nhiều hoạt động rộng lớn như tổ chức Đại hội toàn quốc, tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, phát hành tạp chí, giao lưu đối ngoại…

Chủ tịch Hiệp hội hiện nay là ông Takaha Shugyo (sinh năm 1930).Hiệp hội có ban trị sự khoảng 20 người và có 40 Chi hội trực thuộc ở các tỉnh trên toàn quốc.

Người gia nhập hiệp hội chính thức phải đóng tiền gia nhập là 20.000 yên (khoảng 5 triệu đồng tiền Việt), hội phí hàng năm của hội viên chính thức là 8.000 yên (khoảng 2 triệu đồng), hội viên tán trợ là 5.000 yên (khoảng 1,25 triệu đồng). Người muốn gia nhập Hiệp hội phải do người phụ trách các chi hội giới thiệu lên.

Trụ sở của Hiệp hội đóng tại Quận Shinjuku, Tokyo.

4) Liên minh những người sáng tác Haiku mới

Hiệp hội này được thành lập năm 1946 (Chiêu Hòa năm 21), ngay sau khi Thế chiến II kết thúc. Phương châm của Hiệp hội là tiếp thu haiku truyền thống, hướng tới sáng tạo và phổ cập sự tự do của haiku, mọi nguời cùng nhau bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển hòa bình và dân chủ, phát triển sáng tác, phê bình và nghiên cứu haiku một cách tự do và đa dạng. Hiệp hội tổ chức nhiều hoạt động phong phú. Hiệp hội xuất bản tạp chí Haiku jin (Haiku nhân). Đến năm 2008 Hiệp hội đã thu hút trên 1.000 hội viên và thành lập 35 chi hội ở các tỉnh trên toàn quốc. Hiệp hội chú trong kêu gọi phi hạt nhân và chống chiến tranh, bảo vệ môi trường…

5) Hiệp hội Haiku quốc tế (Haiku International Association – HIA)

Hiệp hội này được thành lập năm 1989 với sự trợ giúp của 3 Hiệp hội trên.Hiệp hội này đóng vai trò đầu mối giao lưu Haiku trong và ngoài nước Nhật thông qua nhiều hoạt động của Hội.Tạp chí của Hiệp hội là Haiku International (HI).Tạp chí này thường được gửi ra nước ngoài thông qua con đường ngoại giao, ĐSQ các nước ở Nhật và ĐSQ Nhật ở các nước.Chủ tịch Hiệp hội hiện nay là Arima Akito. Hiện Hiệp hội có trên 500 hội viên trong nước và trên 120 hội viên ở nước ngoài như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức, Bỉ, Ý, Trung Quốc, Hàn quốc, Đài Loan, Ấn Độ… Hiệp hội thúc đẩy nhiều hoạt động trong đó có việc triển khai lập các hội kết nghĩa với hải ngoại, hiện có 16 Hội kết nghĩa trong đó có Anh, Mỹ, Đài Loan, Bỉ, Albani, Croattia, Đức, Ý, Clombia… Hiệp hội đã ra được các Tập Haiku quốc tế vào các năm 1992, 1995 và 2000…

6) Hiệp hội Haiku thế giới (World Haiku Association – WHA)

Thành lập năm 2000 tại Croatia, chủ tịch hiện tại là ông Natsuishi Banya (sinh năm 1955), là người đồng sáng lập Hiệp hội (hai người khác là James Michael Kacian, chủ nhiệm Hội Haiku Mỹ, và Dimitar Anakiev, người Slovenia). Hiện Hiệp hội có hội viên thuộc 42 nước tham gia, trong đó có Việt Nam.Số hội viên hiện nay khoảng 150 người.Hiệp hội tổ chức đại hội 2 năm một lần, lần lượt tại các nước thành viên. Năm 2011 tổ chức Đại hội lần thứ 6 tại Tokyo, dự kiến 2013 tổ chức tại Nam Mỹ. Tạp chí của Hiệp hội là Ginyu (ngâm du) ra hàng quí.

Trụ sở của Hiệp hội đóng tại tỉnh Saitama, Nhật Bản.

Hàng năm Hiệp hội ra một số tạp chí Haiku thế giới (World Haiku) để đăng tải các bài Haiku sáng tác bằng nhiều thứ tiếng của hội viên thuộc các quốc tịch khác nhau trên thế giới kèm bản dịch ra tiếng Anh, có cả một phần riêng đăng các câu haiku do các em nhỏ từ tiểu học đến phổ thông trung học Nhật Bản và các nước khác sáng tác. Ngoài ra còn có các bài bình luận, giới thiệu các bức haiga (tranh và ảnh kèm thơ haiku) được giải trong các kỳ đại hội… Tạp chí có khoảng một nửa số trang in tiếng Nhật giành cho độc giả Nhật và những người biết tiếng Nhật. Năm 2012 Tạp chí Haiku thế giới ra số 8; năm 2013 sẽ ra số 9 và trong số này sẽ có các bài Haiku của các hội viên Việt Nam.

Vốn là giáo sư tiếng Pháp và biết cả tiếng Anh, nên ông Banya Natsuishi cũng đồng thời là biên tập viên chính của tạp chí Haiku thế giới.

7) Đại hội các tuyển thủ Haiku của các trường Trung học phổ thông toàn quốc (thường gọi là Haiku koshi en).

Đại hội này tổ chức thi haiku giữa các đội học sinh các trường Kokou (tương đương PTTH ở VN) trên toàn nước Nhật. Cuộc thi được tổ chức hàng năm tại quê hương của các haijin nổi tiếng Nhật Bản là thành phố Matsuyama tỉnh Ehime.Haiku kosi en thường được tổ chức vào dịp nghỉ hè trong tháng 8, vì ngày 19-8 được gọi là “Ngày Haiku” ở Nhật.

Mỗi đội tham gia thi có 5 người.Đại hội lần thứ nhất tổ chức vào năm 1998. Đại hội thường diễn ra trong 2-3 ngày, mùa hè 2010 trong Đại hội lần thứ 13 đã có 29 tỉnh thành tham gia với 71 trường và 103 đội thi đấu.

Nhìn vào số lượng tạp chi chuyên về haiku (haishi) đang phát hành đều đặn ở Nhật hiện nay (trên 40 tạp chí), ta có thể thấy sức sống của haiku ở Nhật thế nào, chưa kể trên thế giới đã có đến hàng chục nước có những người yêu thích sáng tác thơ ngắn theo kiểu haiku bằng tiếng của họ và bằng cả tiếng Nhật và tiếng Anh như Ấn Độ, Úc, Hàn quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Trung quốc, Đài Loan, Tây Ban Nha, Đức, Mexico… Tuy nhiên ở các nước ngoài Nhật Bản thì chủ yếu là dạng thơ ba dòng ngắn gọn là chính. Việt Nam đã thành lập hai câu lạc bộ haiku Việt ở hai thành phố lớn của Việt Nam là Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội, thu hút hội viên trên cả nước. Hội viên của các câu lạc bộ haiku Việt hầu hết sáng tác haiku bằng tiếng Việt theo tình cảm của người Việt. Một số thành viên biết tiếng Nhật, Anh, Pháp dịch thêm ra các thứ tiếng đó để giao lưu với bạn bè quốc tế, chủ yếu là với bạn bè Nhật Bản. Hiện hai câu lạc bộ này đã có nội san riêng của mình nhằm đăng tải các bài sáng tác của thành viên và trao đổi để tăng cường hiểu biết về haiku và văn hóa Nhật Bản.

II. Tình hình sáng tác và nghiên cứu thơ haiku ở một số nước trên thế giới

Để các thành viên các câu lạc bộ haiku Việt trong nước và những người quan tâm đến thể thơ Haiku đang phát triển ở Việt nam có thể tìm hiểu thêm về sức lan tỏa của thơ haiku trên thế giới, chúng tôi sưu tập và giới thiệu đôi chút về tình hình sáng tác và nghiên cứu haiku ở một số nước trên thế giới để mọi người tham khảo.

Ấn Độ:

Ở Ấn Độ có tới 18 ngôn ngữ thông dụng, tíếng Anh cũng được sử dụng như một ngôn ngữ thông dụng. Tiếng Hindu được dùng làm ngôn ngữ chung của chính phủ trung ương và sáu bang khác. Ở Ấn Độ thơ haiku được các thi sĩ Ấn Độ biết đến từ đầu thế kỷ 20 nhưng chưa được phổ cập chung. Rabindranath Tagore (1861-1941), thi hào Ấn Độ được giải thưởng Nobel văn học, đã có những lời ca ngợi văn hóa và di sản văn học của Nhật Bản. Ông có một tập thơ tương tự thơ haiku mang tên Đom đóm được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Bengal. Năm 1916 có một thi nhân khác đã viết một tác phẩm bình luận về haiku dài mang tên Thơ Nhật Bản trong đó ông khảo sát kỹ và dài về haiku của một haijin Nhật Bản tên là Noguchi Yonejiro, một nhà văn một thi sĩ sáng tác bằng tiếng Anh và tiếng Nhật cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Năm 2000, tại một viện nghiên cứu học vấn châu Á ở Madolas có một hội thảo kéo dài 3 ngày, từ ngày 29 đến 31 tháng 3 với chủ đề “Ảnh hưởng của thơ haiku trong văn học Ấn Độ”, có các nhà thơ của Ấn Độ và Nhật Bản tham gia.

Người đi tiên phong trong sáng tác haiku ở Ấn Độ có lẽ là giáo sư Satayabushan Varuma, giáo sư danh dự của Đại học Giawahaclan Neru, ông là người đầu tiên dịch haiku Nhật Bản ra tiếng Hindu xuất bản năm 1977, năm 1981 ông lập ra tạp chí Haiku bằng tiếng Hindu, tồn tại đến năm 1989. Ông đã cùng với một thi sĩ người Mỹ được nhận giải thưởng haiku quốc tế Masaoka Shiki năm 2002, tiền thưởng là 1 triệu yên chia đều cho hai người.Sau giáo sư Varuma là giáo sư B. S. Agaruwara.Năm 1898 vị giáo sư này cho ra đời tạp chí hàng quí với tên gọi Haiku Baharaty bằng tiếng Hindu, vẫn hoạt động cho đến ngày nay.Hiện có khoảng 300 haijin người Ấn Độ gửi bài đăng trên tạp chí này.

Thơ haiku bằng tiếng Anh của Ấn Độ cũng có một số ít người sáng tác, nhưng haiku của các tác giả này thường xuất bản ở nước ngoài.

Tuy vậy, ở Ấn Độ chưa có CLB hay hiệp hội haiku chính thức. Nguyên nhân được lý giải là do Ấn Độ có quá nhiều ngôn ngữ nên khó khăn trong việc tập hợp chung. Có lẽ để các nhà thơ Haiku Ấn độ có thể giao lưu với các nhà thơ Haiku khác trên thế giới thì ngôn ngữ học tập và sáng tác Haiku là tiếng Anh có lẽ thích hợp hơn cả.

Trung Quốc:

Nghe nói ở Trung Quốc có tới trên 1.000 hình thức thơ ca. Hán bài (Haiku chữ Hán) cũng là một trong số đó. Khởi đầu là năm 1980 sau Cách mạng văn hóa có một đoàn đại biểu haiku Nhật Bản sang thăm Trung Quốc theo lời mời của Học hội thơ Trung Hoa. Trong tiệc chào mừng đoàn Nhật Bản ông trưởng đoàn Trung Quốc có đọc một câu Hán bài thường được nhắc đến như một dấu ấn lịch sử trong quan hệ về haiku của hai nước như sau:

Âm Hán -Việt

Dịch ra tiếng Nhật (phiên âm)

Tạm dịch nghĩa

Lục âm kim vũ lai

Sơn hoa chi tiếp Hải hoa khai

Hòa phong khởi Hán bài

Ryokuin ima ame kori

Yama hana no eđa

Umihana ni sessite saku

Wafu kanhai wo okosu

Bóng cây giờ mưa đến

Cành hoa núi gặp hoa biển thì bừng nở

Gió Đông thức tỉnh Hán bài

Từ đó khai sinh ra danh từ “Hán bài” (Kanhai 漢俳) và đây là lần đầu tiên trong lịch sử giao lưu Nhật – Trung 1.300 năm Trung Quốc tiếp nhận văn nghệ từ Nhật Bản.

Năm 1983 Lâm Lâm đã dịch haiku của ba tác gỉa tiêu biểu của haiku Nhật Bản là Basho, Buson và Issa ra tiếng Trung Quốc, in thành tập Tuyển Haiku cổ điển Nhật Bản, phát hành tới 12.190 cuốn. Sau đó trong các năm 1994, 1997… Trung Quốc cho ra những cuốn tuyển tập khác về haiku. Năm 2000 ở Bắc Kinh mở “Hội giao lưu thơ ngắn Trung – Nhật đón thế kỷ 21”, và sau đó tạp chí Kanhai shijin (“Hán bài thi nhân”) ra đời ở Hồ Nam năm 2002 đóng vai trò quan trọng trong việc phổ cập Hán bài ở Trung Quốc.

Nhưng như câu Hán bài trên của tác giả Trung Quốc cho thấy, cũng là cấu trúc 5-7-5 nhưng một chữ Hán mang nhiều thông tin nên khi dịch ra tiếng Nhật thành ra rất dài và nhiều nội dung, chính vì thế mà người Nhật tuy cũng dùng chữ Hán trong ngôn ngữ viết của họ nhưng 5-7-5 của Nhật là số âm tiết chứ không phải số từ hay chữ, mà một từ hay một chữ của Nhật thì nhiều âm tiết nên một bài haiku của Nhật nếu xét về từ thì đôi khi chỉ còn có 3-4 từ mà thôi. Vì vậy người Nhật cho rằng nếu làm haiku bằng chữ Hán thì không giống với tinh thần của haiku, vì nó chuyển tải quá nhiều thông tin chứ không cô đọng như haiku của Nhật, và người ta cho rằng ý nghĩa của Hán bài hợp với thơ tanka hơn. Người ta cho rằng Hán bài thì thuộc loại thơ ngắn, hay thơ ba dòng, một dòng gì đó. Người Nhật thuộc “văn hóa nhìn” nên khi liếc nhìn bài Hán bài thì họ thấy quá nhiều âm theo cách đọc chữ Hán của người Nhật nên họ không thấy ngữ điệu giống haiku của Nhật. Chính vì vậy hiện nay ở Nhật Bản ít người quan tâm đến haiku chữ Hán, mặc dù cũng đã có một thời có trào lưu sáng tác haiku chữ Hán. Người Nhật lại thấy dịch một câu Hán bài ra tiếng Nhật thì rất hợp với tanka, nhưng hiện nay ở Nhật, giới tanka và haiku lại phân biệt nhau rất rõ, đến mức người làm tanka không ngâm haiku và ngược lại người làm haiku cũng không ngâm tanka. Điều này khác hẳn với thời đại của Masaoka Shiki, khi mới sáu tuổi Shiki đã làm thơ chữ Hán (Hán thi) sau đó làm cả Hán thi, cả tanka và haiku. Tanka thì lập tạp chí Araragi, Haiku thì lập tạp chí Hototogisu

Tuy vậy, ở Trung Quốc vẫn có nhiều người thích Hán bài.Người ta cho rằng từ cuối thế kỷ 20 Hán bài đã bước vào giai đoạn phổ cập và đi dần vào quá trình đại chúng hóa. Có một số đặc điểm liên quan đến việc phát triển Hán bài ở Trung Quốc: như trên đã nói, năm 2002 tạp chí chuyên về Hán bài có tên là Hán bài thi nhân ra đời ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam, tạp chí này ra hàng quí và đã đóng vai trò lớn trong việc phổ cập Hán bài ở Trung Quốc. Hán bài ở các nơi trong nước và cả ở nước ngoài bao gồm cả Nhật Bản cũng gửi bài về tạp chí này, số nào cũng có tác phẩm của học sinh thanh thiếu niên các trường học từ tiểu học đến đại học trong nước gửi về.

Một đặc điểm nữa là liên quan đến việc phổ cập điện thoại di động. Người ta thấy rằng ở Trung Quốc và Nhật Bản người ta dùng điện thoại di động gửi email nhiều hơn hẳn ở châu Âu, châu Mỹ. Và người ta cũng nhận thấy các thông điệp gửi đi thường có ngữ điệu 5-7-5 rất giống Hán bài hay thơ ngắn. Thế là ông Đoạn Lạc Tam nguyên là tổng biên tập tạp chíHán bài thi nhân, cố vấn danh dự của Học hội Hán bài Nhật Bản, đã cho phát hành tập thơ Hán bài đọc bằng email có tên là Thi tập Hán bài nhắn tin ngắn trên điện thoại di động Trung Quốc tập 1.

Với tình hình phát triển như vậy, tháng 3 năm 2005 “Hán bài học hội” thuộc “Học hội thơ ca Trung hoa” (Học hội chính thống thuộc Bộ Văn hóa Trung Quốc) ra đời. Nghe nói ban đầu việc khai sinh ra “Hán bài học hội” cũng gặp khá nhiều cản trở, nhưng nhờ sự thúc đẩy của Hội hữu nghị Trung – Nhật, sự nhận thức về vai trò quan trọng của việc giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung – Nhật đã được nâng cao và tạo điều kiện cho Học hội này ra đời.

Về tương lai của Hán bài ở Trung Quốc có một số vấn đề sau: Một điều đáng tiếc là tạp chí Hán bài thi nhân quan trọng nói trên gần đây phải ngừng phát hành do nhà tài trợ cho tạp chí này gặp khó khăn trong kinh doanh, người ta đang hy vọng Học hội Hán bài sẽ cho ra đời tạp chí mới của học hội thay thế cho tạp chí Hán bài thi nhân trong việc thúc đẩy phát triển Hán bài ở đất nước đông dân nhất thế giới này. Mặt khác, theo bà phó hội trưởng của Học hội Hán bài cho biết, hiện nay ở Trung Quốc đang thịnh hành dạng thơ ngắn hơn cả thơ ba dòng và nhiều tác phẩm chỉ có 13-14 chữ chứ không phải 17 chữ nữa, như vậy nó sẽ gần với haiku của Nhật hơn. Tuy nhiên, số người làm Hán bài ở Trung Quốc lên tới hàng ngàn người, vì thế việc nghiên cứu giao lưu quốc tế của haiku không thể không nhắc tới trường hợp thơ ngắn và Hán bài ở Trung Quốc.

Hoa Kỳ:

Các nhà thơ theo trường phái hình tượng (Imagism) và hiện đại (modernism) của Mỹ đã chịu ảnh hưởng lớn của thơ Nhật Bản sau khi nhà thơ tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại Ezra Pound dịch câu thơ sau đây của Arakida Moritake, một nhà thơ renka Nhật Bản thế kỷ 15-16, ra tiếng Anh.

Rakkae ni

kaeruto mireba

kochoukana.

Ngỡ rằng

Cánh hoa rụng bay về cành

Ôi hồ điệp.

Đặc biệt sau Thế chiến II, haiku được Harold Henderson, R. H. Blyth và Alan Watts giới thiệu vào Mỹ cùng với tư tưởng Thiền. Thế rồi các nhà thơ thế hệ Beat (1955-1964) tiêu biểu như Allen Ginsberg, Jack Kerouac, Gary Snyder… dưới ảnh hưởng của Thiền đã sáng tác haiku.

Năm 1962, tạp chí chuyên về haiku đầu tiên ở Mỹ American Haiku, do James Bull làm chủ bút, đã ra đời. Tạp chí này chỉ tồn tại 5 năm, nhưng sau đó lần lượt các tạp chí khác về haiku ra đời đã làm cho haiku trở nên phổ biến rộng trong đại chúng Mỹ cho đến ngày nay.

Hiệp hội haiku Mỹ “Haiku Society of America” được thành lập 1968, có “mục đích thúc đẩy sáng tác và thưởng lãm haiku bằng tiếng Anh”, hiện có gần 900 hội viên, là hiệp hội haiku lớn nhất, lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Hoạt động của nó gồm việc tổ chức định kỳ các buổi diễn giảng, giới thiệu tác phẩm, thi sáng tác… Cơ quan ngôn luận của Hiệp hội này là tạp chí Ao ếch (Frogpond) in bằng tiếng Anh, mỗi năm ra 3 số đăng các loại thơ haiku, senryu, renga, renku, haibun, tùy bút (essai), các bài bình luận. Hàng quí có phát hành Hội báo trên đó đăng tải các thông tin hoạt động của Hiệp hội như đại hội toàn quốc, đại hội ở các đại phương, các sự kiện… Hiệp hội này một năm có bốn kỳ họp định kỳ.Từ năm 1976 thiết lập giải thưởng haiku kỷ niệm người có công xây dựng Hiệp hội haiku này là Harold G. Henderson (Memorial Award). Ngoài ra còn một số giải thưởng khác như từ năm 1984 có giải thưởng của Viện văn học Haiku hợp tác với Nhật, từ năm 2001 có giải thưởng kỷ niệm về senryu, renku, renga, từ năm 2000 có giải thưởng phê bình, dịch thuật, tuyển tập… Ngoài ra còn có gần chục hội và hiệp hội haiku, các CLB haiku khác ở các bang, ví dụ Hiệp hội Haiku Boston, Hiệp hội Haiku Bắc Georgia, Hiệp hội Haiku Định hình có quí ngữ chuyên sáng tác haiku theo kiểu truyền thống của Nhật…

Hiện ở Hoa Kỳ có tới khoảng 20 loại tạp chí haiku.

Australia:

Haiku ở Australia (Úc) có lịch sử hơn 100 năm, nhưng gần đây mới nở rộ.Đặc biệt từ 1988, nhân hội chợ quốc tế người ta đã tổ chức nhiều hoạt động để tuyên truyền cho haiku. Kết quả là hình thành nhóm haiku “Paper Wasp”, sau đó nhờ sự giúp đỡ của các haijin Nhật Bản, phong trào sáng tác haiku ở Úc đã phát triển mạnh, đặc biệt ở các trường học. Tạp chíHaiku Paper Wasp phát hành từ năm 1995 đã có nhiều hoạt động trong ngành giáo dục, thu hút nhiều hội viên. “Haiku Oz” là Hiệp hội Haiku Úc, trên trang web của Hiệp hội này đăng tải các thông tin mới nhất về haiku Úc và các thông tin haiku của quốc tế. Những người quan tâm có thể vào trang web http://user.mullum.com.au/jbird/ahs/html để xem thêm thông tin.

III. Thơ senryu và thơ haiku

Thơ senryu là một loại thơ “chị em” với haiku.Vậy thơ senryu khác với thơ haiku như thế nào?

Giống nhau:

–Haiku và senryu đều bắt nguồn từ thể thơ renga (liên ca) – một thể thơ thịnh hành vào thời Muromachi ở Nhật Bản – của haikai (bài hài).

–Về hình thức cả hai đều là dạng thơ ngắn, định hình,có cấu trúc truyền thống là 5-7-5 âm tiết.

–Về tính chất thì cả hai thể thơ này có nét tương tự khi biểu hiện những nét tinh tế của đời sống con người và mang tính hài hước.

Khác nhau:

–Haiku vốn là câu mở đầu hokku của renga như một câu chào, qui định bắt buộc phải có quí ngữ (kigo) và sử dụng từ ngắt (kiriji), nên khi haiku tách ra độc lập vẫn tiếp thu qui định đó.

–Senryu thì vốn là câu hiraku, một câu nối trong các câu qui định của renga được tách ra độc lập, không có qui định bắt buộc phải có quí ngữ hay từ ngắt như haiku.

–Haiku thường xuất phát từ những hình ảnh hoặc hiện tượng tự nhiên bất chợt gặp trên đường đi hay trong cuộc sống thường ngày, người sáng tác cảm nhận tức thời và làm thành thơ. Câu haiku gợi vẻ đẹp tự nhiên của cuộc sống và thiên nhiên, quí ngữ như cái mắt của câu thơ vậy.

–Senryu thì ngay từ đầu đã có mục đích trào lộng (warai) và châm biếm (ugachi) và người sáng tác qua trải nghiệm của mình, thấy hiện tượng trước mắt bỗng liên tưởng mà sáng tác ra thơ.

–Haiku hay dùng văn ngữ.

–Senryu là phần nhiều dùng khẩu ngữ.

–Senryu thường đề cập đến mặt trái của thế thái nhân tình, châm chọc, mỉa mai những thói hư tật xấu của con người và xã hội, mang tính thời sự, trào lộng và có tính cảnh báo cao.

Nguyên là vào trung kỳ Edo (thế kỷ 18), một người tên là Karai Senryu (1718-1790) đã tuyển chọn các câu thơ mở đầu hay (maekuzuke) làm thành một tập khoảng một vạn câu và được đánh giá cao. Tập Haifuyanagidaru do Karai Senryu chủ biên, được biên soạn công phu có 165 thiên, trong đó 24 thiên đầu do chính Karai biên soạn, thiên thứ nhất được phát hành năm 1765. Những câu được tuyển chọn trong tập Haifuyanagidaru này được coi là senryu cổ điển.Và để ghi nhớ người đã có công làm việc đó người ta đặt tên cho thể loại thơ này là senryu.Đây cũng là truyền thống tôn trọng tác giả, việc làm khá phổ biến trong văn đàn ở Nhật từ xa xưa.Những câu senryu cổ này vẫn được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Nhật, như kiểu ca dao tục ngữ ở Việt Nam vậy. Ví dụ câu sau đây được nhiều người nhớ đọc:

Có con / vợ chồng / lăn tròn ra ngủ

(Chính xác câu này nghĩa là có con vợ chồng và con ngủ thành chữ xuyên – Ý nói hai vợ chồng hai bên, bé ở giữa [tạo thành chữ xuyên trong chữ Hán nghĩa là con sông]. Hình ảnh rất ngộ nghĩnh nhưng tạo cảm giác thật yên lành hạnh phúc.)

Tiếng cười thật nhẹ, nhưng ý tứ cũng thật hóm.

Đến thời kỳ Minh Trị, cùng với sự cách tân thơ haiku của Matsuoka Shiki, thì phong trào sáng tác senryu mới cũng nở rộ.

Thơ haiku có Basho, Issa, Buson và Shiki là những ông tổ, được gọi là những “Haisei” (Thánh thơ Haiku) thì senryu cũng có người tiền bối là Karai Senryu, và sang thời Minh Trị thì có hai người được coi là ông tổ của senryu mới là Sakai Kuraki (1869-1945) và Inoue Kenkabo (1870-1934).

Thơ haiku có “Basho Thập Triết” thì thơ Senryu cũng có “Lục đại gia” (Roku taika) xuất hiện sau Thế chiến II.

Về cơ bản trong sáng tác senryu có ba yếu tố quan trọng là:

1) Thứ nhất là ugachi (châm biểm, mỉa mai): Yếu tố này hướng vào những gì mà bề ngoài khó nhận ra hay người ta hay bỏ qua, làm cho nó bộc lộ ra, mang tính phản biện, hạ thấp giá trị của nhận thức thông thường, nó có cái nhìn soi mói có thể nói hơi có tâm địa một chút.

2) Thứ hai là karumi (nhẹ nhàng): Yếu tố này nặng về hình thức hơn nội dung. Câu thơ nghe tưng tửng, nhẹ nhàng nhưng càng ngẫm càng thấy thâm ý của tác giả. Karumi chính là yếu tố đòi hỏi kỹ thuật của người sáng tác. Nhiều bài thi bị loại bởi yếu tố này.

3) Thứ ba là okasimi (trào lộng): Senryu có xu hướng bị hiểu nhầm là nghệ thuật humor. Từ đó người ta cho rằng cái gì buồn cuời, gây cười cũng là senryu, nhưng thực ra tiếng cười chỉ là kết quả chứ không phải là mục đích của senryu.Ai cũng mong có những câu senryu đưa lại tiếng cười sảng khoái, tự nhiên mà sâu lắng.Nhưng trong thực tế ở Nhật Bản cũng có rất nhiều câu senryu có cái cười dễ dãi, chưa đắt.

Về nội dung và giá trị, thể thơ này gần với thể thơ trào phúng, trào lộng, châm biếm của Việt Nam ta.

Tuy vậy, ở Nhật Bản hiện nay haiku hiện đại cũng có xu hướng không câu nệ phải có kigo (hoặc kidai) hay cấu trúc cố định 5-7-5 âm tiết.Mặt khác những bài senryu hiện đại cũng làm cho haiku và senryu như nhích lại gần nhau.Tuy vậy mỗi loại thơ vẫn có những sự khác biệt, cái hay riêng cần được tôn trọng.

Đó là vì xã hội luôn cần cả hai mặt: cái đẹp cần được nâng niu ca ngợi, nhưng cái xấu cũng cần phải được vạch mặt để làm cho con người và xã hội tốt hơn. Và hơn hết cuộc sống rất cần tiếng cười.Senryu là loại thơ đóng vai trò đó.

Ở Nhật Bản từ năm 1987, năm nào hãng bảo hiểm nhân thọ Daiichi Seimei cũng đứng ra tổ chức cuộc thi senryu trong toàn quốc. Người tham gia gửi bài là bất cứ ai, từ công chức, viên chức, sinh viên đến bà nội trợ… với các chủ đề chính trị, xã hội, gia đình, bếp núc sinh hoạt hàng ngày… Cuộc thi đó gọi là “Salaryman Senryu”. Do có đề tài phong phú có tính xã hội cao, cho nên thậm chí nó được coi như một cách nắm bắt dư luận xã hội, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng, được đông đảo người yêu senryu hưởng ứng.

Người ta sẽ lấy phiếu bình chọn các câu thơ senryu hay nhất trên toàn quốc. Kết quả bình chọn 100 câu hay nhất được công bố vào cuối năm cũ đầu năm mới. Sau đó lại chọn ra 10 câu có số phiếu bình chọn cao nhất.Đến nay đã có 25 cuộc thi như vậy được tổ chức và luôn được đông đảo người Nhật hưởng ứng.Sau đây chúng tôi xin giới thiệu 10 câu được nhiều phiếu bình chọn nhất năm 2012 (cuộc thi lần thứ 25).

10 câu thơ senryu hay nhất năm 2012 ở Nhật Bản

Câu 1:

“Takara kuji atareba yameru” ga aikotoba

Dịch nghĩa: Khẩu hiệu: “Nếu trúng sổ số thì sẽ nghỉ việc (từ chức)”

Dịch thơ: Ai cũng nói / Nếu trúng số / sẽ nghỉ thôi

Câu 2:

Josikaito kite nozokeba rokujuudai

Dịch nghĩa: Nghe nói Hội phụ nữ, nhìn vào chỉ thấy các bà 60

Dịch thơ: Hội phụ nữ gì / nhìn vào chỉ thấy / các bà sáu mươi

Câu 3:

Tsumaga iu shouchi simasita kiitemitai

Dịch nghĩa: Muốn được nghe vợ nói: “em đã hiểu rồi”

Dịch thơ: Vợ ơi / hãy nói / Em hiểu ra rồi

Câu 4:

Sumaato huon tsumato onajide ayatsurezu

Dịch nghĩa: Smartphone giống vợ mà không bị thao túng

Dịch thơ: Điện thoại di động / sao giống vợ ghê / nhưng không thao túng

Câu 5:

Excel o eguzairu to yomu buchou

Dịch nghĩa: Trưởng phòng đọc Excel (giỏi, xuất sắc) là Exile (tội lưu đày)

Dịch thơ: Sếp tôi đọc / Excel / là Exile

Câu 6:

Nanigenai kurasiga naniyori houmotsu

Dịch nghĩa: Cuộc sống vô tư là quí báu hơn cả

Dịch thơ: Cuộc sống vô tư / đúng là báu vật / hơn bất cứ gì

Câu 7:

Ikamera ja kessite mienai haragurosa

Dịch nghĩa: Máy chụp dạ dày thì dứt khoát không nhìn thấy tâm địa

Dịch thơ: Máy soi dạ dày / thì làm sao thấy / tâm địa con người

Câu 8:

Tachiagari mokutekiwasure mata suwaru

Sịch nghĩa: Đứng lên quên mục đích lại ngồi xuống

Dịch thơ: Đứng dậy / quên muốn gì / lại ngồi xuống vậy

Câu 9:

Teinengo inakani kaereba seinenbu

Dịch nghĩa: Sau khi về hưu nếu về quê thì lại thuộc giới trẻ

Dịch thơ: Về hưu / nếu về quê cũ / lại là thanh niên

Câu 10:

Saikin wa wasureruyorimo oboenai

Dịch nghĩa: Gần đây không quên mà chỉ không nhớ thôi

Dịch thơ: Gần đây / không nhớ / chứ có quên đâu

Nguồn: vanvn

Hương sắc Việt Nam trong thơ Haiku Việt

PGS TS Nguyễn Thị Mai Liên

alt

*

alt

PGS TS Nguyễn Thị Mai Liên

Hội viên Haiku Việt

Hội viên WHA

Ủy viên BBT Nội san- Web haikuviet.com

*

Thơ haiku là sản vật trân quý của xứ sở Phù Tang. Thơ haiku giống như loài hoa bồ công anh, đẹp một vẻ đẹp dung dị, đơn sơ, và khi vào độ chín, theo gió bay đi muôn phương. Những hạt giống haiku Nhật dù ở mảnh đất nào cũng nảy nở, sinh sôi thành vườn thơ đẹp bất chấp những hàng rào ngôn ngữ, văn hóa… Có một vườn thơ haiku như thế trên mảnh đất Việt Nam. Hạt giống haiku Nhật Bản được gieo trồng trên mảnh đất của xứ sở mà con người từ ngàn đời nay vẫn dành trọn tình yêu cho thi ca nên chẳng bao lâu đã đơm những nụ hoa, kết những trái ngọt đầu mùa. Hoa trái đầu mùa của haiku Việt kết tinh những hạt phù sa tâm hồn Việt, tỏa một hương sắc Việt. Đọc haiku Việt, độc giả được sống giữa một không gian thiên nhiên, một không gian văn hóa, gặp gỡ những tâm hồn rất Việt Nam.

Đề tài của haiku Việt là cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam

Thơ haiku Nhật Bản cổ điển thường viết về đề tài thiên nhiên qua bốn mùa được gọi là quý đề (kidai). Để biểu đạt mùa, thơ haiku thường dùng quý ngữ (kigo). Đó có thể là những từ trực tiếp chỉ mùa (gọi là quý ngữ trực tiếp) hoặc những hình ảnh, âm thanh đặc trưng biểu tượng cho mùa (gọi là quý ngữ gián tiếp). Quý ngữ chỉ mùa xuân trong haiku Nhật Bản thường là hoa anh đào, hoa mơ, hoa mận, liễu xanh, chim oanh, chim yến…, mùa hạ là con ve, chim quyên, hoa diên vĩ…, mùa thu là trăng, sương, tiếng dế, tiếng côn trùng…, mùa đông là cây tùng, tiếng ngỗng hoang, tuyết, cánh đồng hoang… Tiếp thu tinh thần ấy, thơ haiku Việt cũng viết về thiên nhiên bốn mùa nhưng là những cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam, là những hình ảnh, âm thanh rất đỗi thân thương đối với mỗi người dân Việt. Những âm thanh, hình ảnh dung dị của làng quê Việt chợt hiện lên trước mắt nhà thơ và bước vào trong thơ hết sức tự nhiên. Quê hương Việt Nam mộc mạc tiếng mõ trâu về trên đường thôn khua lốc cốc trong chiều sương. Trong làn sương chiều giăng mắc, trong tiếng mõ trâu, khung cảnh làng quê buổi chiều mênh mang nỗi buồn cô liêu:

Chiều sương

mõ trâu về lốc cốc

đường thôn

(Bài 99 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Quê hương là tiếng chim cu gáy dặt dìu vời vợi trong chiều quê:

Dìu dặt cúc cù cu

thả hồn quê

vời vợi

(Bài 62 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Là tiếng vạc kêu khan dưới ánh trăng tà cô liêu:

Trăng tà

khan

tiếng vạc

(Bài 128 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Hay đơn giản là tiếng bầy muỗi lao xao bên đàn bò dưới gốc nhãn trong một chiều vàng ngả muộn:

Chiều vàng gốc nhãn

bò lim dim

nghe muỗi gẩy đàn

(Bài 98 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ đã nghe, đã rung động và ghi lại với xiết bao tình yêu trìu mến những âm thanh đơn sơ, dung dị của quê nhà mà chúng ta, trong đời thường lao xao, vội vã có lúc đã không nghe thấy và vô tình hoặc cố tình lãng quên. Haiku Việt lắng bao tiếng quê hương thân thương đã nhắc ta điều ấy khiến ta không khỏi giật mình.

Thơ haiku Việt dẫn người đọc trở về với đồng lúa xanh, đàn cò trắng nơi làng quê thanh bình. Vẻ đẹp nên thơ ấy của làng quê được vun đắp bởi biết bao công sức của những người phụ nữ Việt Nam tần tảo, lam lũ. Bàn tay mẹ đã vẽ nên bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp:

Xuân về theo tay mẹ

đồng trải thảm xanh non

đàn cò trắng bay lượn

(Haiku Việt I - 2013 – Phan Hữu Cường)

Làng quê Việt trù phú nằm kề bên những dòng sông, được sông bồi đắp phù sa, trao tặng vị ngọt làm nên mùa màng bội thu. Vì thế, con người trên mảnh đất ấy luôn gắn bó với những dòng sông. Hình ảnh dòng sông với bông lục bình tím là ấn tượng không phai trong tâm thức mỗi người Việt, gợi lên thân phận con người:

Lục bình trên sông

về đâu sắc tím

giữa đời mênh mông

(Ngọt vị phù sa – Minh Trí)

Trong thơ haiku của Lưu Đức Trung, nỗi niềm thao thức quê hương được gợi lên từ sự thanh đạm, đơn sơ, dung dị của cảnh chiều quê thanh bình. Mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, con trâu chậm rãi bước đi trong yên ả. Con người an nhiên, tự tại giữa không gian thanh bình:

Chú bé ngồi vắt vẻo

con trâu chậm rãi

chiều quê

(Tươi mãi với thời gian – Lưu Đức Trung)

Lấy cảm hứng từ bức tranh Đông Hồ vẽ cảnh mục đồng cưỡi trâu che đầu bằng chiếc lá sen, Nguyễn Văn Đồng tái hiện lại cảnh chiều quê thân thuộc:

Gió đồng mênh mông

lưng trâu tiếng sáo

lọng sen mục đồng

(Dưới ngói âm dương – Nguyễn Văn Đồng)

Haiku Việt dắt ta về với ngôi nhà thân thuộc có mảnh sân ngày mùa và đàn sẻ nhẹ nhàng mổ thóc trong nắng. Màu vàng của thóc, màu vàng của nắng hòa quyện, khó phân biệt đâu là màu nắng, đâu là màu của thóc đang phơi:

Bước chân nhẹ nhàng

đàn sẻ mổ thóc

sân phơi nắng vàng

(Bốn mùa hoa – Lưu Đức Trung)

Phong tục, tập quán Việt Nam

Bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên, trong thơ haiku Việt, những thuần phong, mỹ tục cũng được các nhà thơ giới thiệu qua những hình ảnh rất gần gũi, thân thuộc. Đó là hình ảnh bếp lửa bập bùng với nồi bánh chưng đang sôi trong mỗi nhà ngày cuối năm:

Bếp lửa bập bùng

nồi bánh chưng

chờ vớt

(Haiku Việt I - 2013 – Nguyễn Hoàng Lâm)

Đó là tục tảo mộ “thanh minh trong tiết tháng Ba” tưởng nhớ người đã khuất – một mỹ tục thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” thủy chung của người Việt Nam:

Mồ cỏ xanh biếc

khói hương thương tiếc

thanh minh

(Haiku Việt I - 2013 – Nghiêm Xuân Đức)

Tục thắp hương phút giao thừa cúng trời đất, ông bà tổ tiên vừa để bày tỏ sự cảm tạ trời đất, ước vọng một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt cho mọi nhà, cũng vừa thể hiện lòng biết ơn ông bà tổ tiên, đạo lý uống nước nhớ nguồn ấy:

Giao thừa tới

thắp nén hương

hai năm chung một khói

(Haiku Việt I - 2013 – Trần Nguyệt Lâm)

Với mong ước một năm mới tình cảm sắt son, đậm đà, xua đi mọi tà ma, xú uế, mang về nhiều may mắn, an lành, người Việt có tục mua muối đầu năm. Những người diêm dân bán muối tranh thủ sớm mùng Một bán hàng trong lúc nhà nhà còn mơ màng sau những phút vui xuân, đón giao thừa. Lắng nghe tiếng rao: “Ai muối?”, Đỗ Tuyết Loan ngậm ngùi cho những diêm dân vất vả quanh năm, bán muối mang lại may mắn cho mọi nhà mà cuộc sống của chính họ lại hết sức bấp bênh, nghèo khó:

Giao thừa vui, dậy muộn

tiếng rao: “Ai muối?”

chập chờn trong mơ

(Haiku Việt I - 2013 – Đỗ Tuyết Loan)

Haiku Việt ca ngợi vẻ đẹp con người Việt Nam

Trong thơ haiku Việt, con người Việt Nam hiện lên hiền lành chân chất mà rất đỗi thủy chung, kiên cường, lạc quan. Haiku Việt nhắc nhớ nhiều về mẹ – hình tượng mang những phẩm chất tiêu biểu cho con người Việt Nam. Hình ảnh mẹ trong thơ haiku không phải là những tượng đài kỳ vĩ mà nhỏ bé, dịu dàng, chịu thương chịu khó, âm thầm hi sinh, hết lòng vì con. Mẹ để lại những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong ký ức mỗi con người, trước hết là tiếng ru con ngủ ầu ơ. Bên cánh võng, tiếng ru của mẹ cho con cảm nhận đầu tiên về quê hương, về yêu thương. Lớn lên, xa dần cánh võng, xa dần mái nhà xưa, đi khắp bốn phương trời, được nghe biết bao âm thanh mới lạ của cuộc đời nhưng nhà thơ vẫn nhớ tiếng ru của mẹ bên võng ngày xưa:

Cung đàn koto dìu dặt

nâng ta về

bên võng mẹ ngày xưa

(bài 132– Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Đúng là “Ta đi trọn kiếp con người / Vẫn không đi hết mấy lời mẹ ru” (Nguyễn Duy). Tình mẹ, tình quê hương nâng bước ta đi trọn cuộc đời.

Người mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó, tần tảo sớm hôm nuôi nấng, chăm sóc các con khôn lớn. Hình ảnh người mẹ ngồi khâu áo cho con không bao giờ phai nhạt trong tâm trí các con:

Nhặt cây kim rỉ

mắt lệ nhòa

áo con rách vai

(Bốn mùa hoa – Lưu Đức Trung)

Bài thơ gợi cho chúng ta cảm nhận được cái thăm thẳm của chiều thời gian. Thời gian vời vợi có thể làm phai tàn tất cả nhưng bất lực trước tình cảm nhà thơ dành cho mẹ. Từ thực tại với hình ảnh cây kim rỉ trước mắt, nhà thơ nhớ về những kỷ niệm thời ấu thơ khi còn mẹ, được mẹ chăm sóc từ miếng cơm manh áo. Hình ảnh người mẹ tần tảo trên cánh đồng được nhà thơ Nguyễn Duy Quý khắc họa trong câu thơ:

Chiều rộng

đồng xa

mẹ già chưa nghỉ

(Haiku Việt I - 2013 – Nguyễn Duy Quý)

Hình ảnh người mẹ không ngơi tay được đặt trong bối cảnh không gian và thời gian “xa”, “rộng” trở nên nhỏ bé, gợi trong ta biết bao niềm thương nỗi nhớ. Cũng khắc khoải về những vất vả, lo toan thường nhật của mẹ, Lê Văn Truyền lại dùng hình ảnh “đôi quang” trên vai mẹ như một biểu tượng cho sự lam lũ nhưng cũng thật đảm đang, mạnh mẽ, kiên cường trước gánh nặng cuộc đời của mẹ:

Đôi quang

mẹ gánh gồng

bao nợ nần cuộc sống

(Haiku Việt I - 2013 – Lê Văn Truyền)

Nhà thơ Lê Đình Công dùng hình ảnh cánh vạc lặn lội giữa đồng khuya để so sánh với mẹ:

Đồng khuya

cánh vạc

mẹ già

(Thơ haiku Việt tuyển tập – Lê Đình Công)

Mẹ yêu thương, chi chút cho con từ gói bỏng ngô:

Hình bóng mẹ

gói bỏng ngô đầu tiên

để dành ngày mai

(Cánh trăng – Đinh Trần Phương)

Hay gom góp chút nắng ấp ủ cho con trong những ngày lạnh giá:

Gom nắng chợ quê

ôm con hết cóng

lưng mẹ còng

(Dưới ngói âm dương – Nguyễn Văn Đồng)

Thủy chung son sắt, một vẻ đẹp của người Việt Nam cũng được thể hiện trong haiku Việt. Đi nhiều nơi, thưởng thức nhiều hương vị ẩm thực mới lạ, nghe nhiều thứ tiếng khác nhau, nhà thơ vẫn nhớ về những hương vị mộc mạc của quê nhà qua quả cà, miếng nhút, miếng cơm nắm muối vừng..., nhớ cha mẹ một nắng hai sương, nhớ âm sắc quê hương da diết:

Nhấm nha miếng nhút

mặn giọt mồ hôi

mẹ cha ngày ấy!

(Haiku Việt I - 2013 – Lê Đăng Hoan)

Trôi dạt phương trời xa

nhớ mặn mòi cà nhút

nhớ âm sắc quê nhà

(Haiku Việt I - 2013 – Nguyễn Bao)

Vị cơm nắm muối vừng

dắt tay ta

vào ký ức

(Haiku Việt I - 2013 – Lê Văn Truyền)

Lạc phố

mùi cơm ngõ nhỏ

dắt ta về

(Haiku Việt I - 2013 – Vương Trọng)

Dù đi đâu, nhà thơ cũng mong muốn được trở về quê, soi mình trong đáy giếng và tìm lại hình bóng tuổi thơ trong trẻo ở đó.

Về quê nhà

soi mình đáy giếng

những ngày ấu thơ

(Bốn mùa hoa – Lưu Đức Trung)

Âm vang của một thời đạn lửa khốc liệt với nhiều hi sinh mất mát với những con người dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc được phản ánh hàm súc trong haiku Việt:

Trăng lạnh

nghĩa trang

đồng đội xếp hàng

(Lý Viễn Giao)

Nhà thơ – người chiến sỹ năm xưa trở về thăm những người đồng đội cũ đã hi sinh vì đất nước. Dưới ánh trăng, nhìn những nấm mộ liệt sỹ xếp hàng ngay ngắn, nhà thơ cảm thấy như đồng đội của mình vẫn đang xếp hàng sẵn sàng lên đường ra trận. Tinh thần chiến đấu “chỉ tiến không lui” của những người lính dường như vẫn còn hiện diện, tại đây, trong nghĩa trang này. Họ hi sinh nhưng linh hồn của họ dường như vẫn hiển linh, phù hộ cho đồng đội, cho đất nước, cho dân tộc mãi trường tồn:

Ánh nến lung linh

hàng hàng thẳng tắp

đồng đội hiển linh

(Dưới ngói âm dương – Nguyễn Văn Đồng)

Thơ haiku Việt ca hát về vẻ đẹp Việt Nam, về cái đẹp của thiên nhiên gấm vóc, của những thuần phong mỹ tục, của tâm hồn, tính cách con người Việt Nam ngay thẳng, bình dị mà cao quý vô ngần. Và như vậy, “haiku Việt ôm choàng cuộc sống trong mọi nẻo đời. Ở đây và bây giờ” (Nắng mới từ thơ haiku – Nhật Chiêu). Những âm giai Nhật Bản và tâm hồn lục bát Việt Nam hòa quyện tạo thành một bản “hòa âm” mới “đa thanh”, đem đến cho con người tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đất nước mình.

ML

Khúc “Rượu” của Lý Viễn Giao- Huỳnh Xuân Sơn

Thơ ca có nhiều thể loại, nhiều hình thái biểu đạt ngôn ngữ và ý nghĩa khác nhau. Có tác phẩm dài dằng dặc mà ta gọi đó là Trường ca, có tác phẩm thì lại ngắn chỉ có vài từ. Bài thơ ngắn nhưng ý nghĩa và hồn cốt ẩn chứa trong nó lại không hề ngắn như khuôn khổ của bài thơ.

alt

Một trong những bài thơ ngắn như thế mà tôi đã gặp là bài thơ Haiku viết về Rượu của tác giả Lý Viễn Giao.

Rượu đầy

Lời bay

Dạ cạn

Chỉ vỏn vẹn 6 từ cho ba ngắt ý, bài thơ Haiku không quý ngữ đã gieo vào lòng tôi một dòng suy tư về Rượu và những gì liên quan đến nó.

Ngắt ý thứ nhất Rượu đầy, với người dân Việt từ cổ chí kim rượu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Dịp lễ tết, ngày vui, ngày buồn, người ta khi vui và ngay cả lúc buồn thậm chí không vui không buồn cũng uống rượu. Rượu luôn luôn hiện diện xung quanh chúng ta. Nhưng khi mà “Rượu đầy” thì lại dẫn tới chiều hướng sẽ uống nhiều. Sau khi uống nhiều không chỉ say xỉn ảnh hưởng tới sức khỏe, mà còn bao hệ lụy kéo theo sau. Ca dao xưa các cụ đã nói:

Rượu nhạt uống lắm cũng say

Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm (Ca dao)

Câu ca dao thứ hai cũng là một phần của ngắt ý thứ hai mà tác giả muốn nói trong Rượu :

Lời bay.

Tục ngữ đã có câu “rượu vào lời ra”. Hệ lụy của “Lời ra” này mới là điều mà mỗi người chúng ta cần nghĩ tới và có lẽ cũng là suy nghĩ của tác giả khi nghĩ đến hệ lụy của “Rượu đầy” dẫn tới “Lời bay”

Ca dao ông bà ta đã đúc kết

Ở đời chẳng biết sợ ai

Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày (ca dao)

Hệ lụy của Rượu không hẳn xấu với những người có nợ với văn chương. Đường Thi cổ có câu “Đấu tửu thi bách thiên” (Rượu vào hàng trăm bài thơ ra). Điển hình của mối duyên nợ Thơ và Rượu là Lý Bạch nhà thơ lớn đời Đường .Với thi sĩ họ Bạch phải có rượu vào mới có thơ ra, những áng thơ Đường bất hủ của ông còn lưu danh tới nay cũng xuất phát từ những lúc ngấm men cay nồng của rượu. Để rồi ngày nay bên xứ ấy vẫn còn một Tróc Nguyệt Đài (Đài bắt trăng)…Tích xưa kể rằng khi Lý Bạch rời kinh thành ngao du khắp chốn, mang theo lệnh vua ban uống rượu miễn phí ở bất kể đâu, cũng được ngân khố triều đình chi trả . Một lần Lý Bạch say rượu nằm bên bờ sông Thái Trạch, huyện Đang Hồ vào đêm trăng rằm, thấy bóng chị Hằng lấp lánh dưới sông, Lý Bạch liền lội ra để vớt trăng, dẫn đến mất mạng. Tích ấy đúng sai hẳn nhiên đời sau không dám, và không có ý phán xét, chỉ biết rằng Đài Bắt Trăng vẫn còn tồn tại cùng những áng thơ bất hủ gắn liền với thi sĩ họ Bạch và gắn liền với mối lương duyên Thơ Và Rượu..

Ca dao truyền lại và thi sĩ xứ người là vậy còn các thi sĩ của chúng ta thì sao?

Sinh thời Tản Đà đã gửi gắm tâm tư về Thơ và Rượu thế này

Rượu thơ mình lại với mình

Khi say quên cả cái hình phù du

Trăm năm thơ túi rượu vò

Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai? (Thơ Về Rượu)

Gần đây nữa ta có thể kể đến cố nhà văn Nguyễn Quang Sáng cùng bài thơ Rượu của ông.

Trong mâm rượu

Nếu nói xấu người vắng mặt

Rượu sẽ thành thuốc độc

Trong mâm rượu

Nhắc nhớ người vắng mặt

Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh

Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương (Nguyễn Quang Sáng).

Nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã có câu đúc kết về Rượu với Thơ rằng

Rượu có mùi thơm nên uống mãi

Thơ là thuốc bổ cứ ngâm chơi”(Bảy mươi tuổi tự thuật)

Trở lại với Rượu .“Rượu đầy”! Cạn hết sẽ say, khi có chất men kích thích lập tức “Lời bay”. Đó chính là những gợi mở trong ngắt ý thứ hai và Lời Bay cũng chính là điểm nhấn của bài thơ . Rượu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng cùng ngắt ý Lời bay trong Rượu của tác giả Lý Viễn Giao, hẳn họ muốn nhắc nhớ tới văn hóa ứng xử trong giao tiếp của mỗi người khi ngồi trong mâm rượu!

Mang theo suy nghĩ về Lời bay ta đến với ngắt ý thứ ba của Rượu

Dạ cạn.

Một vế đối đắt giá với ngắt ý thứ nhất Rượu đầy. Rượu đầy nghĩa là  có nhiều, mà nhiều rượu sẽ dẫn tới uống nhiều. Còn dạ cạn thật khó định lượng đây, khi mà ông bà ta đã có câu

Sông sâu biển rộng dễ dò

Nào ai lấy thước mà đo lòng người. ( ca dao).

Nhưng có lẽ câu ca dao ấy vốn nói về những người bình thường, tỉnh táo. Còn mấy người mà khi đã say tới mức lời bay không kiểm soát thì ắt chẳng cần đo cũng thấy Dạ Cạn.

Thông thường con người ta,bất kể già trẻ gái trai, khi uống nhiều nếu không biết kiềm chế sẽ dẫn đến nói nhiều. Kéo theo nhiều hệ lụy, mà đa phần trong đó là hệ lụy xấu. Và,với ngắt ý thứ ba “Dạ cạn” của tác giả Lý Viễn Giao, phải chăng ông còn muốn nhắc nhở những người uống “Rượu đầy” hãy tỉnh táo kìm chế. Đó đây nhan nhản trên các mặt báo biết bao vụ án từ say Rượu mà ra. Chỉ một cái nhìn, mà người say cho là “nhìn đểu” trong quán rượu, dẫn đến lời ra tiếng vào xô xát và hậu quả rất nhiều vụ án là người bị trọng thương hoặc mất mạng, kẻ tỉnh rượu thì vào tù hoặc lãnh án tử hình.

Vẫn biết rằng Rượu không thể thiếu trong đời sống bất kể thể chế, xã hội nào. Nhưng xin hãy nghĩ tới mặt trái của hậu cuộc “rượu đầy” sau những “lời bay” không chỉ là “Dạ cạn” mà nhiều rất nhiều từ cạn đi theo, cạn tình, cạn nghĩa, cạn luôn cả cuộc sống này.

Từ cổ chí kim. Xưa có Lý Bạch sinh thời cao ngạo tới mức

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

Lý Hữu Phước dịch rằng

Xưa nay lặng tiếng thánh hiền

Chỉ người uống rượu còn truyền lưu danh.

Nhưng rồi ông lại mất mạng chỉ vì say rượu. Tên ông và thơ ông quả đã lưu danh thiên cổ thật , Nhưng thử hỏi có mấy người rượu vào lời ra được như Lý Bạch.

Thời cận đại Việt Nam có Phạm Thái tức Chiêu Lỳ. Tác giả Chiến Tụng Tây Hồ Phú, Sơ Kính Tân Trang. Văn Tế Trương Quỳnh Như… Một người tài hoa vậy mà khi ở tuổi hai mươi vì chán nản tìm đến Rượu nên đã có những suy nghĩ bi quan trong Tự Trào:

Bầu giốc càn khôn giọng bét be

Miễn được ngày nào ngang dọc đã

Sống thì nuôi lấy chết chôn đi. (Tự Trào- Phạm Thái).

Cho đến tuổi Tam thập Nhi Lập ông vẫn Tự Thuật:

Một tập thơ sầu ngâm đã chán

Vài be ruột lạt uống ra gì

Chết về Tiên Phật cho xong nợ

Cái kiếp trần gian sống mãi chi (Tự Thuật- Phạm Thái).

Phạm Thái mất đi ở tuổi 36. Kết thúc chuỗi ngày li bì say rượu và kết thúc những bài thơ văn bi quan và yếm thế. mới thấy Rượu và hệ lụy của rượu không chỉ có Lời Bay và Dạ Cạn.

Thơ Haiku vốn không tả mà chỉ gợi. Tác giả Lý Viễn Giao với Rượu của mình đã khơi gợi trong tôi một dòng suy nghĩ và tôi đã viết ra những suy nghĩ của riêng cá nhân mình. Rất mong nhận được sự lượng thứ từ bạn đọc và tác giả nếu như có thiếu sót.


Dáng Xuân


Mây trắng nhấp nhô

Nắng sớm xòe ô

Ngựa hồng lối đá


Nắng mai gội vòm xanh

Gió sớm xô nghiêng mành

Thướt tha soi bóng nước


Chùm lan nào

Giậu cao

Tay với


Hoa rơi hết rồi

Đào về thôi

Vườn cũ


Tóc xõa vai mềm

Chân xải bước êm

Căng tràn nhựa sống.


H.X.S


Matsuo Basho và Nguyên lý Làn hương- Nhật Chiêu

Bài thơ cô đọng đến mức không thể rút gọn hơn. Tuyệt ngắn. Toàn bài vỏn vẹn mười bảy âm tiết, ngắt thành ba nhóm từ: 5, 7, 5 âm. Đó là thể thơ haiku của Nhật Bản, phát triển từ thế kỷ mười bảy và bây giờ phổ biến hầu như toàn thế giới.

alt

Thơ haiku được hoàn thiện dưới bàn tay của thi hào Matsuo Basho (1644-1694). Theo nhà thơ Mỹ lừng danh Robert Hass thì Basho đã biến haiku thành “một trong các thể thơ trữ tình vĩ đại trong văn hóa nhân loại và chính ông trở thành một nhà thơ trữ tình vĩ đại của thế giới”[1].

Tên gọi haiku (đọc theo âm Hán Việt là bài cú) chỉ có sau này, không xuất hiện vào thời Basho. Một bài thơ mười bảy âm tiết thời đó được gọi là hokku (phát cú) vì nó bắt nguồn từ khổ thơ mở đầu của chuỗi thơ haikai no renga (bài hài liên ca) hay renku (liên cú) thường do nhiều người hợp soạn.

Bước vào thời Edo (1600-1868), haikai no renga phát triển thanh thế là do sự lớn mạnh của tầng lớp thị dân vốn thích đùa cợt, phóng túng, nghiêng về hài và tục. Người ta bắt đầu ý thức rằng thơ ca, trong khi xa lánh cái trang trọng và tao nhã sáo mòn, cũng không nên sa vào sự dung tục dễ dãi. Thơ ca phải được cứu vớt lần nữa.

Chính vì thế mà những thiên tài như Basho và Uejima Onitsura (1661-1738) xuất hiện. Thơ ca đang chờ đợi một linh hồn mới. Một linh hồn kết hợp nơi nó cả vô tâm lẫn hữu tâm, hoan lạc và cô tịch, cái nhỏ nhoi và cao cả, cái đơn sơ và chiều sâu, cái bình thường và huyền diệu, cái trọng thể và nhẹ nhàng, trào lộng và trữ tình, sự nghèo nàn và phong nhiêu… Hầu như nó đang chờ một phép lạ. Một sự dung hợp toàn bích như vậy chỉ có thể thực hiện từ một thiên tài như Matsuo Basho. Kế vị ông sẽ là Yosa Buson (1716-1784) và Kobayashi Issa (1762-1826).

Renga (liên ca) là thơ kết nối thường được soạn từ hai nhà thơ trở lên, luân phiên các khổ 17 âm (5, 7, 5) và 14 âm (7, 7) phát triển theo chủ đề chứ không đi theo hướng tự sự.

Chẳng hạn như phần mở đầu một bài renga lưỡng ngâm (hai thi sĩ) do Basho soạn cùng Yaba ở Edo vào mùa xuân 1694:

梅 が 香 に の つ と 日 の 出 る 山 路 哉

Ume ga ka ni / notto hi no deru / yamaji kana

Trong hương hoa mơ

mặt trời mọc bất ngờ

bên con đường núi

Matsuo Basho

と こ ろ ど こ ろ に き じ の な き た つ

tokoro dokoro ni / kiji no nakitatsu

đó đây đó đây chim trĩ

vừa kêu vừa bay vút lên

Shida Yaba

Khổ thơ thứ hai (wakiku) như ta thấy đã kết nối tài tình khổ thơ khởi xướng (hokku) như thể thấm đẫm không khí và làn hương được truyền đi trong gió. Hình ảnh của mùa, những chuyển động, mùi hương, âm thanh… đều tương ứng hài hòa. Tiếng kêu thảng thốt của chim trĩ bay lên từ cỏ cây khi nghe tiếng chân người dường như song hành với cái ló dạng rực hồng của mặt trời rạng đông trong làn hương thơm ngát của hoa mơ. Hoa mơ và chim trĩ đều là hình ảnh của mùa xuân được dùng như kigo (quý ngữ). Trong cái tĩnh lặng của đường núi và cỏ cây là những chuyển động có thể cảm nhận và nhìn thấy: hương hoa thì lan tỏa, mặt trời thì mọc, chim thì kêu và bay.

Sự kết hợp tinh tế giữa hai khổ thơ như vậy Basho gọi là “Kết hương” (nioi-zuke). Làn hương (nioi) là cái bạn chỉ có thể cảm nhận chứ không nhìn thấy được, giống như cái “dư tình” (yojo) trong waka cổ điển.

Nguyên lý làn hương không chỉ hoạt động trong renga mà có thể vận dụng ngay trong bản thân một hokku đơn lập (như một bài haiku theo nghĩa hiện đại). Chẳng những thế một bài hokku của thi pháp làn hương còn nắm bắt được “vận động khứ hồi của tâm hồn” như nhận xét lý thú của Hattori Doho (1657-1730). Doho là cao đồ của Basho. Trong tập Sanzoshi (Tam Thảo Tử) tài liệu cho ta biết nhiều về Basho một cách chủ yếu, Doho viết:

“Soạn một bài hokku là nắm bắt vận động khứ hồi của tâm hồn, như bài thơ sau đây cho thấy:

山 里 は 萬 歳 お そ し 梅 の 花

Yamazato wa / Manzai ososhi / ume no hana

Làng trong núi đồi

đám múa hát đến muộn

hoa mơ nở trắng rồi

Matsuo Basho

Trước tiên, nhà thơ bảo rằng trong một ngôi làng miền núi, đám múa hát Manzai chúc mừng năm mới đến muộn, rồi sau đó ông nhận thấy hoa mơ đang nở trắng. Tâm hồn ông ra đi và trở về. Đây là điều diễn ra trong khi soạn một bài hokku. Nếu ông chỉ nói rằng:

Làng trong núi đồi

đám múa hát đến muộn

thì đó là một thứ thơ thông thường chỉ đáng xen vào trong thân bài của một liên ca. Có lần, Thầy (Basho) từng dạy: “Người ta nên biết rằng một bài hokku được soạn ra theo cách kết hợp sự vật”[2].

Doho muốn nói gì về “vận động khứ hồi (đi và về) của tâm hồn”? Đó là vận động nhiều chiều, tương tác giữa sự vật kết hợp trong bản thân một bài hokku. Hình ảnh sơn thôn (yamazato) thanh vắng thường gợi lên cảm thức tịch liêu (sabi). Thế nhưng mùa xuân đến đúng lúc với hoa mơ nở rộ. Dẫu vậy vẫn còn thiếu một cái gì đó đầy màu sắc và tưng bừng rộn rã. Đang chờ đám múa hát Manzai từ thành phố về làng, chúc mừng năm mới trước cửa nhà. Đám múa hát đó lại đến muộn hơn hoa. Hình ảnh hoa mơ ở cuối bài thơ chính là một vận động trở về với sơn thôn thanh vắng dù có hay không có đám múa hát thị thành.

Nguyên lý làn hương (nioi-zuke) mà Basho đề xướng gợi ta nhớ đến “nguyên lý đồng đẳng” (principle of equivalence) của Roman Jakovson (1896-1982). Trong bài tham luận “Ngôn ngữ học và Thi pháp học”, Jakovson phát biểu: “Chức năng của thơ là đưa nguyên lý đồng đẳng từ trục chọn lựa chiếu lên trục kết hợp.”[3]

Nguyên lý làn hương của Basho cũng như “nguyên lý đồng đẳng” của Jakovson đều nhấn mạnh đến phương thức kết hợp sự vật theo lối cả tương đồng lẫn tương dị. Do giống nhau và khác nhau mà sự vật tương tác theo lối thu hút hay xô đẩy tạo nên chiều “đi” lẫn chiều “về”, tạo nên đa thanh đa nghĩa.

Về phương thức kết hợp trong thơ haikai thì có ba lối: Kết chữ (kotoba-zuke), Kết ý (kokoro-zuke) và Kết hương (nioi-zuke). Kết chữ còn gọi là Kết vật (mono-zuke).

Thi phái Teimon chú trọng “Kết chữ”. Thi phái Danrin chú trọng “Kết ý”. Và tất nhiên, Basho chủ trương phương thức “Kết hương”. Điều đó làm nên phong cách Basho (Shofu - Tiêu phong). Chúng ta nhận ra Tiêu phong do mỗi bài thơ của Basho đều dường như ẩn chứa một làn hương.

木 の も と に 汁 も 膾 も 桜 か な

Ki no moto ni / shiru mo namasu mo / sakura kana

Dưới bóng cây

canh, rau, mọi thứ

đều vương hoa đào

菊 の 香 や 奈 良 に は 古 き 仏 達

Kiku no ka ya / Nara ni wa furuki / hotoke tachi

Làn hương cúc đưa

Nara trầm mặc

những đài Phật xưa

明 ぼ の や し ら 魚 し ろ き こ と 一 寸

Akebono ya / shirauo shiroki / koto issun

Tinh mơ

con cá tuyết trắng

một tấc trắng mờ

草 臥 れ て 宿 借 る こ ろ や 藤 の 花

Kutabirete / yado karu koro ya / fuji no hana

Mệt lử

tìm nơi trọ đêm

hoa đằng bóng rủ

六 月 や 峰 に 雲 置 く 嵐 山

Rokugatsu ya / mine ni kumo oku / Arashi yama

Tháng sáu

mây đứng đầu non

núi Bão

古 池 や 蛙 飛 び 込 む 水 の 音

Furuike ya / kawazu tobikomu / mizu no oto

Ao cũ

con ếch nhảy vào

vang tiếng nước xao

蚤 虱 馬 の 尿 す る 枕 も と

Nomi shirami / uma no shitosuru / makura moto

Chấy bọ rầy rà

và con ngựa đứng đái

gần bên gối ta

鴬 や 餅 に 糞 す る 縁 の 先

Uguisu ya / mochi ni funsuru / en no saki

Ôi chim oanh

ngoài hiên, bánh cốm

còn lưu dấu phân

春 も や や け し き と と の ふ 月 と 梅

Haru mo yaya / keshiki totonou / tsuki to ume

Thế rồi từ từ

mùa xuân thành tựu

với trăng và hoa mơ

梢 よ り あ だ に 落 ち け り 蝉 の 殻

Kuzue yori / adani ochi keri / semi no kara

Từ cành cao

hư không rơi xuống

trong vỏ ve sầu

Mười bài thơ trên của Basho thể hiện một cách kết hợp sự vật độc đáo: Canh, rau và hoa đào. Hoa cúc mới và tượng Phật xưa. Ánh tinh mơ và con cá tuyết nhỏ. Lữ khách mệt mỏi và hoa đằng. Tháng sáu, mây cao và núi Bão. Ao cũ và con ếch xuân. Nước đái ngựa và nhà thơ đang nằm ngủ. Bánh cốm và phân chim. Cái từ từ hiện thành của trăng và hoa.

Về bài cuối, nhà thơ haiku Mỹ nổi tiếng Jane Reichhold (1937-) nhận xét như sau: “Bài thơ kỳ thú ở chỗ ông không quan sát cái rơi của vỏ ve sầu mà là hư không trong đó rơi.”[4]

Thì như thế, mỗi con ve sầu đều có chứa hư không. Mỗi con người. Mỗi cánh hoa. Vầng trăng. Đỉnh núi. Mỗi giọt sương. Hạt bụi. Hư không bao la. Và hư không nhỏ xíu. Sống với hư không. Và hư không rơi xuống. Cái rơi của hư không là một làn hương nối từ cành cao xuống đến mặt đất. Đó là thi pháp của làn hương trong thơ Basho.

Nhật Chiêu

Chú thích:

[1] Dẫn theo Eleanor Kerkham (2006), Matsuo Basho’s Poetic Spaces, Palgrave Macmillan, New York, trang 1.

[2] Bản dịch tiếng Việt này dựa theo hai cuốn sách tiếng Anh:

-Haruo Shirane (1998), Traces of Dreams, Stanford, California, trang 107, 108.

-Makoto Ueda (1982), Matsuo Basho, Kodansha, Tokyo, trang 165.

[3] Xem Jakovson (2008), Thi học và Ngôn ngữ (Trần Duy Châu biên dịch), Nxb Văn học, ở trang 24, câu này được dịch là: “Chức năng thi ca chiếu nguyên tắc tương đương của trục tuyển lựa lên trục của sự kết hợp”.

[4] Jane Reichhold (2008), Basho, The Complete Haiku, Kodansha, trang 248.

Sống- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"sống trong đời sống

cần có một tấm lòng

để gió cuốn đi"

Trịnh Công Sơn

Sống, đây không phải bài Haiku của họ Trịnh, nhưng tôi cho rằng tự nhiên đã là thơ Haiku rồi. Thơ là thế, rất tự nhiên. Lời của nhạc sĩ T.C.S bay lên trên bờ môi mọi người. Và thành thơ cuốn hút mọi người bằng tấm lòng chân thật. Bởi giữa cuộc đời luôn thiếu vắng này, đang rất cần "một tấm lòng" biết làm đầy thế giới. Làm thơ Haiku cũng vậy, là rất cần "một tấm lòng", để thực hiện một cuộc chơi vừa tao nhã, vừa trí tuệ.

Nhưng người chơi cũng phải biết tất cả là "để gió cuốn đi"...

Gió cuốn đi một bài thơ nhỏ nhắn thì có nghĩa gì đâu!

Trong khi chính ngọn gió ấy là nguồn cơn khiến ta mở lòng ra với cuộc sống. Sống hân hoan, sống nhân ái, từ bi là ngọn gió mới mà thơ đem lại. Và ngọn gió ấy đã thổi bừng qua thơ Haiku một mảnh lửa. Thơ Haiku không phải là ngọn lửa, mà là một mảnh lửa có sức mạnh "đốt" cháy một niềm u tối. Thơ Haiku không để lại tàn tro, nhưng cũng đủ làm bốc hơi cái giả tạo. Vì thế, mặc nhiên thơ Haiku cực ngắn. Độc đáo. Thâm trầm...

Chỉ một làn gió nhẹ mà mặt hồ gợn sóng. Chỉ một gợi ý mà đánh thức bao tâm hồn. Chỉ cần một tấm lòng đánh thức cả thế giới. Ngôn ngữ thơ Haiku là đánh thức chứ không ru ngủ.

Đánh thức một khoảnh khắc...

Và chỉ một khoảnh khắc thôi, đủ tràn đầy ý nghĩa. Không cần cao sang, người làm thơ Haiku ở bất cứ đâu, trong hoàn cảnh nào, khi tứ thơ đến chỉ cần nhặt tờ giấy rác. Thế là có một bài thơ.

Ghi vội...bên đường...

Ra đường

Nhặt giấy rác

Ghi vội bài thơ

(N.T.N)

Sài Gòn 2017

N.T.N


Nắng mới từ thơ Haiku- Nhật Chiêu

Giờ thì thơ haiku cũng đã quen với tiếng Việt rồi. Từ khắp mọi miền đất nước, thơ haiku đã ngân nga tiếng nói giàu nhạc điệu, tiếng nói mang hồn lục bát, để đi đến một hòa âm mới. Cũng như thơ haiku đã tự thể hiện mình bằng những ngôn ngữ khác nhau. Đó là một hồn thơ liên tục chuyển hóa, lạ hóa, mới hóa. Đó là một hồn thơ đa thanh.

alt

Thế nên, chỉ trong vài năm gần đây, thơ haiku đã lôi cuốn mọi tầng lớp và mọi lứa tuổi đến với ngọn triều của mình. Đó là tinh thần vô sai biệt của thơ haiku. Trong tiếng Việt, thơ haiku ca hát với một tinh thần tự do. Nó không rập khuôn theo hình thức haiku Nhật, không cần thiết phải là bài thơ mười bảy âm tiết theo nhịp 5/7/5. Nó không nhất thiết phải có quý ngữ (kigo) như haiku truyền thống Nhật. Nó không nhất thiết quanh quẩn với thiên nhiên dù nó yêu thiên nhiên đến thế nào đi nữa. Nó muốn ôm choàng cuộc sống trong mọi nẻo đời. Ở đây và bây giờ. Nó đa thanh và có tình yêu mải mê với cái hiện tình (thì cũng như cái hiện tiền ấy mà). Nó cũng đi từ thiên nhiên, từ những hoài niệm của sương và trăng:

"Sương khuya hồ Tây
sâm cầm vụt cánh

trăng lay"

(Đinh Nhật Hạnh)

Không có tiếng chim mà chỉ có đường bay của chim, đường bay của nỗi nhớ. Sâm cầm tìm hơi ấm. Con người cũng thế.

"Mưa phùn

đốt chút lá khô

em tôi gom nắng"

(Vũ Tam Huề)

Chỉ vậy thôi mà tình người hửng nắng. Tình người. Chỉ tình người là cái vượt lên những lạnh câm của vũ trụ. Con người vô thường và biết rằng mình vô thường. Do đó mà có thể nhìn thẳng vào vụ trụ, mà hỏi chuyện đầy vơi:

"Tôi, bóng thành đôi

còn trăng khuyết nửa

ai đầy, ai vơi?"

(Đoàn Thị Thu Vân)

Con người hay con ruồi?

"Trên gương

chú ruồi hôn bóng

vơi ngày cô đơn"

(Thanh Tùng)

Con ruồi hay con người? Ta hay không ta? Haiku là thơ của những công án, những câu hỏi. Và người ta có thể sống với những câu hỏi. Không phải để trả lời. Chỉ giản dị là để sống. Để vượt qua.

Haiku Việt TP.HCM

Lời tựa cho tập thơ Haiku Việt tuyển chọn (NXB VH 2010)

N.C

Thử chuyển thơ hay Việt sang thành Haiku- Vũ Nho

alt

Haiku, thể thơ Nhật Bản đang trở thành hiện tượng đặc biệt. Cả thế giới làm thơ Haiku. Từ châu Á, Châu Âu, châu Phi, châu Mĩ, châu Đại dương. Các thứ tiếng phổ biến như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức,… đều có người viết Haiku. Việt Nam cũng là một trong các nước như vậy. Haiku vào Việt Nam chưa lâu, nhưng các Haijin ( người sáng tác Haiku) Việt đã có nhiều bài đăng trong tạp chí của Hiệp hội Haiku quốc tế ( ví dụ cá tác giả Đinh Nhật Hạnh, Lý Viễn Giao, Phùng Gia Viên, Mai Liên, Đinh Trần Phương, Đỗ Tuyết Loan,…)

Người Việt sáng tác Haiku Việt khi tiếp xúc với những bài thơ Haiku cổ điển mẫu mực của Basho. Đồng thời với việc nắm bắt các đặc điểm thi pháp của thể thơ này.

Thơ Haiku Việt có thể không có quý ngữ ( từ chỉ mùa), cũng không nhất thiết ngắt dòng theo công thức 5-7-5 ( mười bảy từ, tương đương mười bảy âm tiết). Haiku Việt vẫn đảm bảo ngắt làm ba dòng và sự vật được đề cập trong 3 dòng đó tuân thủ nhịp thời gian ( jo - ha – kyu tự - phá - cấp) một cách linh hoạt.

Một trong các điều thú vị là người Việt có thể chuyển thể những câu ca dao, câu Kiều, hoặc bất kì một câu thơ yêu thích nào trong kho tàng thơ ca Việt sang thể Haiku. Những câu thơ đó sẽ thành bài Haiku mới. Không rõ người Nhật có làm việc chuyển thơ loại khác sang Haiku? Người Trung quốc có chuyển thơ Đường luật thành Haiku? Người Nga có chuyển  những bài  thơ dân gian hay thơ hiện đại thành Haiku? Nếu họ không làm thì qủa thật, việc chuyển thể này ở Việt Nam là một cách làm độc đáo.

Tất nhiên, cũng từa tựa như việc dịch thơ nước ngoài ra thơ Việt. Người giỏi ngoại ngữ cùng lúc thưởng thức cái hay của nguyên tác và cái hay, ( cũng như chưa hay, chưa đạt) của bản dịch. Trường hợp này, người Việt vốn đã biết cái hay của áng thơ Việt, giờ lại thêm một lần thú vị thấy nó được chuyển thể thành Haiku. Nó là một phiên bản mới của câu thơ gốc. Chất lượng chuyển thể tùy thuộc vào cái hay của thơ Việt và khả năng chuyển thể của người chọn.

Chuyển câu thơ hay tiếng Việt sang Haiku Việt là một thách thức đầy thú vị cho các Haijin Việt và tất cả bạn đọc yêu thơ. Và rất có thể trong việc đố thơ ở các chương trình giải trí, có thể chọn phần Haiku Việt, đố người đọc bài Haiku đó vốn gốc của câu thơ nào.

Dười đây xin thử nghiệm về cách làm xuôi đó. Cũng là một kiểu làm Haiku chẳng giống ai!

  1. 1. Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Nguyễn Du

Haiku:

Thu

Thành biếc non vàng

Đáy nước long lanh

  1. 2. Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông

Nguyễn Du

Haiku:

Chim quyên kêu

Dưới trăng

Lựu trổ hoa lửa sáng

  1. 3. Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Ca dao

Haiku:

Thôn nữ

Tát nước

Đổ ánh trăng vàng lên ruộng lúa xanh

  1. 4. Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Ca dao

Haiku :

Canh rau muống

Cà dầm tương

Vị quê hương

  1. 5. Mặt trời càng lên tỏ

Bông lúa chín thêm vàng

Sương treo đầu ngọn cỏ

Sương lại càng long lanh

Trần Hữu Thung

Haiku:

Mặt trời đỏ

Bông lúa vàng

Sương đầu ngọn cỏ long lanh

  1. 6. Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả thương đau tươi thắm vô ngần

Nguyễn Đình Thi

Haiku:

Anh yêu

Đất nước và Em

Vất vả thương đau tươi thắm

  1. 7. Thuyền ta lướt nhẹ trên Ba Bể

Trên cả mây trời trên núi xanh

Hoàng Trung Thông

Haiku:

Ba Bể

Thuyền lướt nhẹ

Trên mây trắng núi xanh

  1. 8. Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút còn mây súng ngửi trời

Quang Dũng

Haiku:

Dốc khúc khuỷu thăm thẳm

Chiến sĩ lên

Súng ngửi trời

V.N

Đọc và viết thơ Haiku một niềm vui- Nhật Chiêu

Là một thể thơ tuyệt ngắn của người Nhật, thơ Haiku đã lan khắp thế giới, thâm nhập mọi ngôn ngữ, trở thành một hiện tượng thơ ca độc đáo vô song.

alt

Ở Việt Nam, đang hình thành một trào lưu đọc và viết thơ Haiku.

Vì sao thơ Haiku hấp dẫn mọi người? Vì sao thơ Haiku hấp dẫn chúng ta?

Dù nhỏ nhắn nhưng thơ Haiku có cách nói đầy hình ảnh và đầy sức khơi gợi, đánh thức nơi ta cảm thức ngạc nhiên về thế giới, về những khoảnh khắc loé sáng trong đời.

Điều đó đem lại niềm vui, làm ta hân hoan trước cuộc sống. Từ đó, nỗi buồn và niềm cô liêu cũng có hương vị mới. Những sinh linh nhỏ bé như côn trùng cũng mang ý nghĩa mới trong thế giới của chúng ta.

Đọc thơ Haiku, ta cảm thấy mình hóa thân thành trăng sao, thành đom đóm, hoa đào, thành đá cuội, thành chuồn chuồn, mây mưa, cánh bướm… nhưng vẫn cứ là mình. Mình sống trong vạn vật và vạn vật sống trong mình. Đó chính là niềm vui!

Đó là niềm vui làm tan những vấn đề giả tạo của cuộc sống.

Ngôn ngữ thơ Haiku không tạo ra vấn đề mà làm tan nó đi.

Đắm mình trong thơ Haiku, ta ca hát như côn trùng trên cành cây gãy, như đá cuội dưới lòng suối.

Và như em bé đuổi theo con bướm, chỉ để mà chơi.

Niwa no cho

koga haeba tobi

haeba tobu.


Trong vườn cánh bướm

đứa bé bò theo, bướm bay

cứ bò theo, bướm bay.

ssa

Đứa bé vui đùa với cánh bướm. Ta cũng thế. Với đời.


N.C

Ám ảnh từ một câu Haiku Việt- Lê Đình Công

alt

Đó là câu thơ của nhà thơ kiêm nhà thư pháp Trụ Vũ :

Giọt cà phê

không nói gì

không nói gì.

Nhà thơ trẻ Ts Đinh Trần Phương đã bình câu thơ này vởi đặc diểm là câu thơ haiku “một hình ảnh” (thông thường một câu thơ Haiku có vài hình ảnh đặt cạnh nhau và tự nó nói lên điều tác giả muốn gửi gắm). Còn tôi lại bị “tính gợi“ của câu thơ này ám ảnh.

Quả thật câu thơ đã gợi cho ta hình ảnh từng giọt cà phê đen rơi xuống, rơi xuống lặng lẽ… Điều thú vị ở đây là tác giả chỉ dùng cụm từ “không nói gì“ mà vẫn gợi cho người đọc hình ảnh rất rõ từng giọt cà phê rơi xuống mà không cần phải tả thực nó ra. Hơn thế nữa, ta lại hình dung ra người uống cà phê. Không phải là giọt cà phê không nói gì mà chính là người uống cà phê không nói gì. Phải chăng đó là một người đàn ông đã hơi luống tuổi (vì các bạn trẻ thường ồn ào) “Không nói gì“ vì đang mải suy ngẫm chuyện mình, chuyện đời? hay đang cấu tứ cho một bài thơ hoặc một bức thư pháp đang thai nghén?... Trong khi trong quán cà phê đó còn có thể có nhưng người khác vừa uóng vừa tâm sự với bạn bè… Cuối cùng, hóa ra câu thơ trên không chỉ có “một hình ảnh“ mà đã “gợi“ ra nhiều hình ảnh và suy diễn liên quan khác .

“Tính gợi “ là một “tính thơ” rất quan trọng của thơ Haiku. Vì thế đã là thơ Haiku thì không cần phải có đầu đề . Hãy để cho người đọc suy ngẫm cùng sáng tạo với tác giá và cùng thưởng thức thi vị của câu thơ,đôi khi còn vượt ra ngoài cả mong đợi ban đầu của tác giả.

Nhân đây, tôi xin mạo muội bàn thêm đôi lời về tiêu chí một bài Haiku- Việt hay

Theo tôi , về “hình hài “một bài Haiku-Việt là “cực ngắn” và “ba dòng“

Cực ngắn cả về ý và lời (không thể bỏ đi một từ nào) mà vẫn đủ để thể hiện đẹp đẽ tứ thơ. Ba dòng là để tao ra nhịp điệu của bài thơ và để nhấn mạnh từng ý thơ

Về “hồn cốt “của bài thơ chính là “tính thơ”của nó . Không có “ hồn cốt” tức là không có “thơ”. Tính thơ có thể được tạo nên bởi môt hoăc nhiều yếu tố: trươc hết là tứ thơ, rôi đến lời thơ’ hình ảnh , nhịp điêu , vần hoăc âm điệu thơ… vơi các thủ pháp thơ như ẩn dụ , đối lập, nhân hóa …nhằm gây được rung cảm nơi người đọc

Và như vây một câu Haiku- Việt hay không thể tạo nên bởi sự giản đơn , sáo mòn, thô thiển hoặc quá trừu tượng đến khó hiểu. Đã không hiểu được thì không thể cảm được

Về nội dung, theo tôi nên rộng rãi ,tùy theo cảm hứng của người viết.Có thể bao gồm thiên nhiên (Cảnh vật, sinh vật …), thế sự, tâm sự, tình cảm, triết lý… nghĩa là tất cả những gì có thể chạm đến sự cảm nhận của con người. Trong đó, khi nói về thiên nhiên (phần cơ bản nhất của Haiku) thì đương nhiên sẽ xuất hiện quí ngữ (kigo) vốn rất phong phú và rát dễ nhận biết trong bốn mùa của ngôn ngữ Việt.

Trên đây là những suy nghĩ của cá nhân. Thường thì nói dễ hơn làm .Tuy vậy cũng cứ xin nói ra để cùng bàn và cùng phấn đấu để có được những câu thơ Haiku Việt hay. Xin cám ơn bạn.

LĐC

Hiện tượng Santoka (1882- 1940)

Trong sáng tác Haiku ở nơi quê hương của thể thơ này, Nhật Bản, thể thơ này được coi là “quốc hồn quốc túy” của văn hóa, người ta vẫn còn tranh luận mãi về thơ của Santoka không biết có thể coi là Haiku không? Tôi thì coi đây là một “hiện tượng” trong thơ Haiku của Nhật.

alt

Cuộc đời ông đầy bi kịch, gắn với rượu và những cuộc lãng du. Cùng với nhà thơ Haiku theo luật tự do tiêu biểu của Nhật Hosai (尾崎放哉1885-1926), Haiku của các ông theo luật tự do, phá cách ((katayaburi, phá hình 型破り) không theo dạng Haiku truyền thống của Nhật định hình và có quí từ, quí ngữ (有季定型) khá gò bó. Tuy tác phong hai ông khác nhau như người ta nhận định, Hosai thì “tĩnh” còn Santoka thì “động”.

Có lẽ thơ hai ông gần với Haiku các Haijin người nước ngoài, khiến những Haijin Việt Nam cần suy nghĩ và tham khảo. Tiến sĩ Nguyễn Nam Trân viết:

“Nếu như thế thì haiku tự do có khác gì với thơ tự do? Thực ra, cái khác đó nằm ở tinh thần haiku. Haiku tự do trong trường hợp của Santôka chẳng hạn, không tô chuốt mà đượm màu triết lý vô thường (mujô), nỗi buồn cô quạnh (sabi), hòa đồng với thiên nhiên và có cái nhìn đơn sơ nhẹ nhàng về cuộc đời (karumi) như những nhà thơ haiku cổ điển. Phần nhiều nó đã được làm ra trong những chuyến đi”

Chủ nhiệm CLB Haiku Việt Hà Nội Đinh Nhật Hạnh và TS. Đinh Trần Phương đã dịch qua tiềng Pháp và giới thiệu thơ của ông qua cuối “Ryokan và Santoka” (Chế bản vi tính- Tủ sách thơ Haiku Việt dịch, năm 2013), các dịch giả chỉ dành tặng cho những người yêu thơ Haiku ở Việt Nam, các bạn có thể tham khảo thêm.

Taneda sinh ngày 3-12-1882, tại tỉnh Yamaguchi- Nhật Bản, mất 10-11-1940 trong một am cỏ ở tỉnh Matsuyama, thọ 58 tuổi. Tên gốc đầy đủ của ông là Taneda Shoichi (種田正一), là trưởng nam trên ông có 1 chị. Sau này ông lấy bút danh là Santôka (種田 山頭火) nghĩa là “lửa trên đỉnh núi” theo luật âm dương ngũ hành, có lẽ là ông thích bút danh này chứ không liên quan gì đến năm sinh của ông cả. Bút danh này xuất hiện từ 1925 khi ông tham gia tạp chí “Mây tầng” (層雲) và có lẽ chính thức lấy bút danh này năm 28 tuổi.

Cuộc đời ông đầy bi kịch, nghiện rượu nặng và bị mắc bệnh thần kinh. Nghe nói những cây viết hiện đại như tiểu thuyết gia Maruya Zaiichi(丸谷才一1925- 2012) hay nhà viết kịch Miyamoto Ken (宮本研1928-1988) đều lấy thơ ông làm tựa đề cho tác phẩm của họ. Lúc còn sống, Santôka không được biết đến nhiều. Người ta thờ ơ và chê bai bởi vì lúc đó chưa ai nhìn nhận ông là nhà thơ haiku. Sau khi mất 30 năm, từ 1970 người ta mới tìm hiểu và đánh giá lại thơ Haiku kiểu tự do của ông.Cho dù ông tập trung được sự chú ý của độc giả, người ta vẫn chưa chấp nhận Santôka vì họ nghĩ rằng thơ ông vẫn nằm giữa ranh giới của haiku và thơ tự do.Murakami Mamoru (村上護 1941-2013) một nhà phê bình nghệ thuật và Haijin Nhật Bản đã đưa ra 1 câu Tự trào của Santokađể tượng trưng cho thế đứng chênh vênh ấy của ông:

うしろすがたのしぐれてゆくか
Ushiro sugata no/ shigurete yuku ka (7/7)

Trời đổ mưa rào / sau dáng lưng cô độc (LTB dịch nghĩa)

Năm 1911 (Taneda đã 29 tuổi) ông mới bước vào văn chương ở địa phương với bút danh Tarako (Loa điền công- con Ốc ruộng). ông bắt đầu đăng trên nguyệt san Seinen (青年Thanh niên) của địa phương ông có một số bản dịch Guy de Maupassant và Ivan Tourgueniev ông có ghi bút hiệu Santôka 山頭火 và có những bài tiểu luận, tùy bút, thơ waka và haiku trong tạp chí chuyền tay giữa bạn bè ra hằng tháng dưới cái tên Tarakô (田螺公 Điền Loa Công hay Ốc Ruộng). Tháng 8 năm cùng năm, ông bắt đầu ra tạp chí Kyôdo 郷土(Hương thổ hay Quê nhà), ôngdần chính thức bước vào con đường văn chương.

Sau đó ông có cộng tác với tạp chí Sôun (層雲 Tằng Vân hay Mây Tầng) vốn đã ra mắt ở Tôkyô từ năm 1911 ( năm cuối cùng của thời Meiji). Tạp chí này do nhà thơ Ogiwara Seisensui 荻原井泉水(1884-1976),một người đứng đầu cuộc vận động Haiku tự do, làm chủ bút. Seisensui kém Santôka hai tuổi nhưng được ông suốt đời tôn kính như một người thầy. Seisensui đã sáng tác những bài thơ có thể tiêu biểu cho phong cách này:

/朗々/ひとり

(そらをあゆむ・ろうろうと・つきひとり)
Sora wo ayumu /rôrô to /tsuki hitori (6/5/5)

Trôi trên trời/ vằng vặc/ trăng đơn côi (LTB dịch nghĩa)

自分の/茶碗がある家に/もどっている

(じぶんの・ちゃわんがある・いえにもどっている)
Jibun no/ chawan ga aru /ie ni modotte iru (4/7/9)

Trở về ngôi nhà /có bát cơm/ của mình (LTB dịch nghĩa)

Mến tài năng của Santôka, Seisensui đã mời ông vào ban tuyển thơ cho tạp chí. Santôka từ đó được làng thơ haiku tự do toàn quốc biết tới.

Do bối cảnh lịch sử hay số phận, năm 1902, khi 20 tuổi ông vào học khoa văn của Đại học Waseda nên ông có rất nhiều bạn bè nổi tiềng trong văn học Nhật Bản. Ông có các bạn đồng song như Ogawa Mimei (小川未明 1882-1961 nhà văn viết truyện nhi đồng), Yoshie Takamatsu (吉江喬松1880-1940 nhà thơ và giáo sư Waseda rồi viện trưởng đại học), Muraoka Tsunetsugu (村岡 典嗣1884-1946 giáo sư Đại học Tôhoku, học giả ngành quốc văn và lịch sử tư tưởng Nhật Bản). Và có học Thầy Tsubouchi Shôyô (坪内 逍遥 1859-1935 tiểu thuyết gia kiêm nhà lý luận văn học)…

15 năm cuối đời ông đã hành thiền bằng cách hành khất để tự tu dưỡng và nuôi thân. Người ta nghĩ đến ông với hình ảnh một nhà sư trong chiếc áo choàng đen với chiếc bát gỗ khất thực trong tay và chiếc mũ vải. Tập Haiku nổi tiềng nhất của ông là “Tháp cây cỏ” (『草木塔』)với 701 bài do chính ông tuyển chọn năm 14 Đại Chính ( 大正 1925) in ở Tokyo để dâng lên hương hồn mẹ ông, người phụ nữ đã tự vẫn khi còn rất trẻ, khi Taneda Shoichi mới 11 tuổi, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự đổ nát của gia đình ông.

Ta hãy điểm qua một số bài (Câu) Haiku trong số khoảng hơn 8 vạn câu trong cả cuộc đời của ông mà ngươi ta mớichỉ tìm thấy già nửa, ta như nghe vang bên tai câu nói của ông :“Haiku ư? Không phải là cái mà người đăc biệt mới làm được. Ai cũng có thể sáng tác tự do, thấy thích là được! Vì thế tôi làm rất nhiều. Nào mời bạn!”

  1. 1. はみな枝垂れて南無観世音
    Matsu wa/ mina eda tarete / Nanmu Kanseon (3-7-8)

Tùng/tất cả ngả cành /nam mô Quan Thế Âm (LTB dịch nghĩa)

  1. 2. したしさのとなった
    Ohaka/ shitashisa no/ ame to natta (3-4-6)

Biến mình thành giọt mưa,
Dịu dàng trên phần mộ

(Nguyễn Nam Trân dịch)

  1. 3. 烏啼いて一人
    Karasu naite/ watashi mo hitori

Quạ cất tiếng kêu,
Ta chỉ một mình
(Nguyễn Nam Trân dịch)

  1. 4. をしても一人
    Seki wo shite mo/ hitori (6-3)

Khi ho/ cũng chỉ có một mình (LTB dịch nghĩa)

  1. 5. 鉄鉢へも
    Tetsubachi no /naka e moarare (5-7)

Mưa đá rơi cả vào/ trong bát khất thực (LTB dịch nghĩa)

  1. 6. って今日草草鞋履
    Damatte/ kyou no kusa/ waraji haku (3-7-5)

Cỏ hôm nay/ lặng thinh/đi dép cỏ (LTB dịch nghĩa)

  1. 7. まっすぐなしい
    Massugu na michi de samishii (8-4)

Ở con đường thẳng/ Buồn (LTB dịch nghĩa)

  1. 8. はだまってんでいた
    Tori wa damatte/ tonde itta (7-6)

Chim yên lặng/ bay (LTB dịch nghĩa)

  1. 9. 舟来つの
    Kuru fune /kuru fune ni/ hitotsu no shima (4-5-5)

Thuyền đến, thuyền lại đến/ vẫn chỉ có một Đảo (LTB dịch nghĩa)

  1. 10. 分け入っても分け入っても青い山

Wakeittemo/ wakeittemo/ aoiyama (6-6-5)

Rẽ cây đi vào/ rẽ cây đi vào/ vẫn chỉ có núi xanh (LTB dịch nghĩa)

Ông vẫn lãng du đi tìm một điều gì đó…

Lê Thị Bình- Biên soạn và dịch


Haiku là gì- Nguồn Internet, trang Wiki- Lê Thị Bình biên soạn

Haiku (tiếng Nhật: 俳句) (Bài cú) là loại thơ độc đáo của Nhật Bản, xuất phát từ ba câu đầu (発句 hokku, phát cú) của những bài renga (連歌 liên ca) có tính trào phúng gọi là renga no haikai (連歌の俳諧) mà sau gọi là haikai (俳諧 bài hài).

alt

Sự ra đời

Thể thơ haiku được ra đời vào thế kỉ 17 và phát triển mạnh vào thời kì Edo (1603 - 1867) khi đã dần mất đi sắc thái trào phúng mà mang âm hưởng sâu thẳm của Thiền tông. Thiền sư thi sĩ lỗi lạc Matsuo Basho được thừa nhận là người khai sinh ra haiku và Yosa Buson, Masaoka Shiki đã hoàn thiện nó dưới diện mạo và tên gọi như chúng ta thấy ngày nay. Đây có lẽ là thể thơ ngắn nhất thế giới bởi mỗi bài haiku, mặc dù đôi khi ta vẫn thấy có những hình thức khác, nhưng thường chỉ vỏn vẹn 17 âm tiết trong 3 câu 5+7+5 (17 âm tiết tiếng Nhật có khi chỉ vài ba từ ít ỏi, 3 câu trong cú pháp haiku cũng thường được viết thành một dòng). Chẳng hạn bài thơ con ếch nổi tiếng sau đây của Matsuo Bashō trong tập Xuân nhật (Haru no hi, 1686) viết chung với đồ đệ, có cú pháp 5+7+5 âm tiết:

古池や (fu-ru-i-ke ya)

蛙飛込む (ka-wa-zu to-bi-ko-mu)

水の音 (mi-zu no o-to)

Bài thơ viết theo các kiểu chữ khác nhau:

古池や蛙飛込む水の音 (Hán tự kanji)

ふるいけやかわずとびこむみずのおと (hiragana)

furuike ya kawazu tobikomu mizu no oto (romaji)

Tạm dịch:

Ao xưa;

con ếch nhảy vào -

tiếng nước xao.

Nội dung thơ Haiku

Về nội dung có luật cơ bản sau: không mô tả cảm xúc, chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. Vì số chữ bị giới hạn trong 17 âm nên thơ Haiku thường chỉ diễn tả một sự kiện xảy ra ngay lúc đó, ở thì hiện tại.Sự kiện này có thể liên kết hai ý nghĩ, hay hai ý tưởng khác nhau mà ít khi người ta nghĩ đến cùng một lúc.

Ôi những hạt sương (sự kiện hiện tại)

Trân châu từng hạt (ý nghĩ thứ 1)

Hiện hình cố hương (ý nghĩ thứ 2)

Một bài Haiku Nhật luôn tuân thủ hai nguyên lý tối thiểu, đó là Mùa và Tính Tương Quan Hai Hình Ảnh.Trong thơ bắt buộc phải có "Kigo" (quý ngữ) nghĩa là từ miêu tả mùa (không dùng từ xuân, hạ, thu, đông nhưng dùng các từ như hoa anh đào, cành khô, lá vàng,tuyết trắng... để chỉ các mùa), và diễn tả một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương xứng với một hình ảnh nhỏ (đời thường).

Tiếng ve kêu râm ran (tiếng ve kêu chỉ mùa hạ)

Như tan vào trong than trong đá

Ôi, sao tĩnh lặng quá!

Ðọc thơ Haiku, ta cảm được vị trí đứng ở ngoài sự kiện của tác giả. Tác giả dường như chỉ chia sẻ với người đọc một sự kiện đã quan sát được.

Cỏ hoang trong đồng ruộng

Dẫy xong bỏ tại chỗ

Phân bón!

Nhưng người đọc vẫn có thể nghiệm được tình cảm của tác giả, một tình cảm nhè nhẹ, bàng bạc trong cả bài thơ, nói lên niềm vui sống hay sự cô đơn, đôi khi cũng nêu ra điểm tác giả thắc mắc về cuộc đời của con người: ngắn ngủi, phù du, trước sự vĩnh hằng của thiên nhiên.

Thế giới này như giọt sương kia

Có lẽ là một giọt sương

Tuy nhiên, tuy nhiên...

Thơ có xu hướng gợi ý hay ám chỉ bóng gió nhẹ nhàng. Thông thường trong thơ đưa ra hai hình ảnh: một hình ảnh trừu tượng sống động và linh hoạt, một hình ảnh cụ thể ghi dấu thời gian và nơi chốn.

Trăng soi (hình ảnh trừu tượng)

Một bầy ốc nhỏ (hình ảnh cụ thể)

Khóc than đáy nồi (nơi chốn cụ thể)

Nhà thơ không giải thích hay luận về sự liên kết giữa hai hình ảnh này, chỉ diễn tả sự vật theo bản chất tự nhiên của nó. Người làm thơ phải tự đặt mình như một đứa trẻ lúc nào cũng có cảm giác bỡ ngỡ, lạ lùng khi tiếp xúc lần đầu tiên với ngoại giới. Một bài thơ Haiku hay là làm sống lại những gì đã chôn sâu trong ký ức và đưa ra những cảm giác sâu sắc, tế nhị, để tự nó khơi lại trí tưởng tượng và mơ ước của người đọc để người đọc tự suy diễn, cảm nhận.

Chim vân tước bay

Thở ra sương gió

Dẫm lướt từng mây

Thơ như một bài kệ, sàn lọc từng chữ, không dư mà cũng không thiếu, cốt sao nói đến chính cái đang là - "đương hạ tức thị". Nắm bắt thực tại ngay trong giây phút nảy mầm, cái đang xảy ra lắm khi chuyên chở cả một vũ trụ thu gọn vào trong thời điểm đó, tiểu thế giới và đại thế giới hòa nhập vào nhau. Một diễn tiến trước mắt khiến ta liên tưởng đến một hiện tượng hay biến cố nào đó trong một kinh nghiệm sống của riêng mình. Kỷ xảo của thơ Haiku là giản lược tối đa chữ nghĩa trong thơ để vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc.Không có người làm thơ và kẻ đọc thơ, cả hai nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm với sự liên hệ rất tinh tế và hài hòa của đất trời.

Niêm luật cơ bản của haiku cổ điển

  • Trong thơ haiku cổ điển buộc phải có kigo (季語, quý ngữ) nghĩa là từ miêu tả một mùa nào đó trong năm. Có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các hình ảnh, hoạt động hay những cái gì đó mà mang đặc trưng của một mùa trong năm.
  • Một bài haiku thường chỉ "gợi" chứ không "tả", và kết thúc thường không có gì rõ ràng, vậy nên hình ảnh và cảm nhận sau khi đọc thơ hoàn toàn phụ thuộc người đọc.
  • Mỗi bài haiku thông thường có cấu trúc âm tiết 5 + 7 + 5 trong ba câu. Tuy nhiên, ngay cả tổ sư của haiku Matsuo Basho cũng đôi khi sử dụng ít hơn hoặc nhiều hơn số âm tiết đã nói trên; chẳng hạn bài thơ sau đây có 19 âm tiết:

Kareeda ni (5 âm) / Trên cành khô

Karasu no tomarikeri (9 âm) / Quạ đậu

Aki no kure (5 âm) / Chiều thu

Tứ trụ haiku Nhật Bản

Lê Thị Bình (Biên soạn)

Từ rừng Tục ngữ- Ca dao nở vườn hoa lạ Haikư

Đinh Nhật Hạnh

alt
(Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh)

I. KHÁI QUÁT

Bắt nguồn từ thơ Haikư Nhật Bản manh nha từ thế kỷ XV, ở Việt Nam thơ Haikư bén rễ và phát triển trong rừng Tục ngữ - Ca dao đã lưu hành bao đời trong dân gian, hiện sưu tầm được hàng vạn câu. Thể thơ Haikư đã nảy mầm và đơm hoa những mùa đầu tiên ở Tp. Hồ Chí Minh (2007) và ở Thủ đô Hà Nội (2009) trong hai Câu lạc bộ.

Cũng cùng cốt cách ngắn gọn, thêm vào đó những lối gieo vần đa dạng, linh hoạt, biến hóa độc đáo chưa thấy trong Haikư thế giới, có thể tóm tắt bốn cách cấu trúc thể hiện của Haikư ở nước ta gần đây:

-không vần

-vần chân, vần cách

-vần sát, vần lưng

-đơn vận, đa vận, liên hoàn 4, 5 vần/câu…

Chỉ riêng lĩnh vực vần điệu này đã tạo nên loại tiết tấu độc đáo có một không hai trên thi đàn Haikư thế giới. Chỉ mới đọc bằng mắt đã uyển chuyển ngân nga như một câu ca trầm bổng vô thanh trong một hơi thở.

Xét về hình thức, Haikư đối chiếu với Tục ngữ, Ca dao Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về cấu trúc, vần điệu nói trên mà Haikư Việt vận dụng hầu như thống nhất. Tuy nhiên, về nội dung nội hàm thì có sự khác biệt cơ bản.

Tục Ngữ là những lời khuyên nhủ hay những kinh nghiệm về tự nhiên, lao động sản xuất và xã hội, trong khi Ca dao thì thiên về đời sống nội tâm con người. Cả Tục ngữ lẫn Ca dao đều là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn và thường có tính khẳng định.

Còn Haikư, vẫn giữ cốt cách cơ bản của Haikư Nhật Bản truyền thống cực ngắn gọn, có tính gợi mở cao, không kết luận, giản dị không cầu kỳ, thiên về lấy chất liệu từ thiên nhiên, bốn mùa biến động với hoa lá, trăng mây, bướm, chim, sương, nắng… mà ký thác kín đáo suy tư, cảm xúc một cách lửng lơ, khách quan trước những biến thiên của thời cuộc. Haikư không chỉ dừng, cố định ở chất Thiền đặc trưng của nền Haikư Nhật Bản những thế kỷ trước – vẫn bàng bạc cắm rễ vào tư duy của bao lớp Haijin chính thống nhưng ngày càng có xu hướng ít dần. Ở nước ta, cũng dễ hiểu thôi, lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm với bao biến cố long trời lở đất tất nhiên đã tác động mạnh lên tư duy sáng tác của Haikư Việt. Đó là một hồn thơ liên tục chuyển hóa, lạ hóa, mới hóa, một hồn thơ đa thanh. Haikư Việt không rập khuôn hình thức Haikư Nhật Bản, không chỉ quanh quẩn ở thiên nhiên mà muốn ôm choàng lấy cuộc sống trên mọi nẻo đời (lời của Nhật Chiêu). Haikư ở nước ta quán xuyến tinh thần Lục Bát – hồn Việt, sẽ xin trình bày tiếp sau đây.

II. VẦN ĐIỆU – TÍNH NHẠC ĐẶC THÙ CỦA HAIKƯ VIỆT

Điểm sơ qua thi ca trữ tình cổ điển của phương Tây, với các đại diện là Pháp và Mỹ, riêng về cấu trúc và vần điệu có phần đơn điệu, hầu như chỉ sử dụng vần chân như hai ví dụ dưới đây.

Un secret

(Félix Arvers – thơ Pháp) trích

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère

Un amour éternel en un moment conçu:

Le mal est sans espoir, aussi j'ai dû le taire,

Et celle qui l'a fait n'en a jamais rien su.

Tình tuyệt vọng

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây phút mà thành thiên thâu

Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu

Mà người đeo nặng như hầu không hay

(Khái Hưng dịch thơ)

Strings

(Sue Rudd – thơ Mỹ) trích

I found an old guitar string

Left abandoned in the grass

Bent and forgotten for ever

Crinkled nylon just won’t last

It served its purpose

Made music, then wore out

Someone left it on the ground

For the wind to blow it about

Những sợi dây đàn

Tôi nhặt được sợi dây đàn cũ

Ai bỏ rơi trên cỏ đã lâu rồi

Dây cong queo chủ mình quên lãng

Nhựa xoắn vòng vô dụng vứt đi thôi

Dây đàn đó từng vang lên tiếng nhạc

Kêu hết mình đứt ruột tàn hơi

Ai nỡ bỏ bơ thờ trên mặt đất

Mặc gió lùa năm tháng tả tơi

(Đinh Nhật Hạnh dịch thơ)

Còn với Haikư phương Tây và Haikư Nhật Bản, hầu như tất cả các bài thơ đều không có vần. Ví dụ:

Across the field of stubble

flame stalks flame

Trên cánh đồng trơ gốc rạ

lửa đuổi theo lửa

(David Cobb – Anh)

Moonlight

a sand dune

shifts

Ánh trăng

cồn cát

chuyển động

(Virginia Brady Young – Mỹ)

Your shadow

on the page

the poem

Bóng em

trên trang sách

bài thơ

(Cid Corman – Mỹ)

The wind

forced to blow

on concrete,steel and glass

Gió

buộc phải thổi

trên bê-tông, thép và gương kính

(Jack Cain – Canada)

Un corbeau et moi

allons dans la même direction

à travers les airs

Con quạ và tôi

đi về cùng một hướng

giữa trời

(Jean Antonini – Pháp)

Còn với Haikư Việt, kế thừa những đặc thù của ngôn ngữ, lại có nét rất riêng là giàu nhạc tính và vần điệu! Những nét đặc trưng quốc bảo của ngôn ngữ Việt là ngũ thanh: sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã như nhiên tạo cho ngôn ngữ Việt một âm giai độc đáo. Chỉ một câu nói thường, chỉ một dòng văn xuôi nếu khéo sắp xếp thanh bằng – trắc lại có thể dễ đọc, thuận tai. Khi sáng tác Haikư, tỷ lệ bài không vần thường cao vì tứ thơ chỉ vụt thoáng qua như tia chớp, như ngọn gió, như cánh bướm phải kịp cảm nhận mà ghi chép ngay – như khi ta bấm nhanh một pô ảnh hay ấn máy ghi âm một tiếng chim trời thoắt có thoắt không – một khoảnh khắc thực tại chợt hiện ra. Những bài đa vận, vần liên hoàn thường hiếm hơn, không thể ngồi mà cấu tạo, chắp nối mà vụt đến như một bất ngờ may mắn đem lại niềm vui cho cả người viết lẫn bạn đọc. Ta hãy thử đối chiếu và so sánh vần điệu một số Tục ngữ, Ca dao với Haikư Việt để làm rõ luận điểm cơ bản này.

TỤC NGỮ / CA DAO--------------------HAIKƯ VIỆT

1. Không vần

Con cóc trong hang

Con cóc nhảy ra

Con cóc ngồi đó

Con cóc nhảy đi

Mai vàng nảy lộc / nhớ / nụ đào phai

(Lưu Đức Trung)

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

Quên đi đôi cánh / mình / có thể bay

(Mai Văn Phấn)

Giàu điếc sáng đui

Một trời mai trắng / ánh mắt / nụ cười

(Lê Đăng Hoan)

Con biết lẫy, bố biết bò

Tiếng cuốc kêu / khắc khoải / nỗi buồn gọi ai

(Lê Anh Tuấn)

Chữa dép ruộng dưa

Nỗi buồn của chiếc lá khô / tôi mở ra xem / ánh trăng

(Đinh Trần Phương)

No ra bụt đói ra ma

Vũng trâu đằm / mặt trời / lộn ngược

(Đinh Nhật Hạnh)

Chuột cắn dây buộc mèo

Vũng nước nhỏ / dưới chân núi / soi tận đỉnh

(Mai Văn Phấn)

Cưa sừng làm nghé

Xuất hiện rồi biến mất / ừ nhỉ / cõi này

(Nguyễn Duy Quý)

2. Vần chân

Việc người thì sáng

Việc mình thì quáng

Bản vắng cheo leo / mái nghèo / nồi khoai đón Tết

(Nguyễn Thị Kim)

rơi / chị quét / nỗi đời

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Như thể dao cau / cắt nhau / vết sẹo

(Lý Viễn Giao)

Gió đùa ngọn cao / khẽ nào / chim non ngủ

(Nguyễn Duy Quý)

Ve ngắt hè / bặt tiếng chim cu / chầm chậm thu

(Cao Ngọc Thắng)

Cau phơi tái

Gái đoạn tang

Chim ra ràng

Bé gái nằm đầu / quằn quại kiếp ve / lột xác lên tiếng hát

(Nghiêm Xuân Đức)

Biển Đông / nổi sóng / bài ca giữ đất

(Lê Thị Bình)

Quê xưa nơi nao / làng lâu năm về lại / khác làng trong chiêm bao

(Vương Trọng)

Súc sắc súc sẻ / bi bô tiếng trẻ / vang vọng ngày xưa

(Vũ Tam Huề)

Cà phê đắng ngọt / từng giọt / tình yêu

(Vân Đình)

Kyoto - lá thu vàng nắng / hè phố vắng / bóng ai trải dài

(Hồ Hoàng Hoa)

3. Vần sát

Được làm vua

thua làm giặc

Mưa, mưa / cưa đôi / nỗi nhớ

(Đỗ Tuyết Loan)

Bút sa chết

Mưa tháng ba / ra hạt gạo / mưa tháng tư may còn bát cháo

(Lê Đăng Hoan)

Cơm ráo cháo dừ

Một sự nhịn chín sự lành

Đạp xe lên phố / nhớ tuổi thơ / những giấc dài

(Hoàng Xuân Họa)

phước bước cửa quan

Chiếc lồng mắt tròn / con dê đen không nhìn đâu cả / bên ngoài mùa thu

(Đinh Trần Phương)

4. Vần cách

Hay làm thì đói

Hay nói thì no

Tôi lại quét lá vàng / quét mùa thu / về lối

(Lê Đình Công)

Có chí làm quan

gan làm giàu

Tháng tám đói qua

Tháng ba đói chết

Núi phủ sương / mây vương / hồn Ba Bể

(Diêm Thị Thoa)

Ong vang đốt vàng con mắt

Ong vẽ đốt mẻ lưỡi cày

Tham thì thâm

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham

Đêm mưa / phố quạnh tiếng rao / bánh bao bánh khúc

(Phan Vũ Khánh)



Đại ngàn / vi vút gió / nghe suối đàn ngân nga

(Đinh Nhật Hạnh)

Chết sông chết suối

Không ai chết đuối đọi đèn

Buôn tàu bán

Chẳng bằng ăn hà tiện

Tơ nhện đọng sương / gió vương hoài cảm / nhớ thương

(Nguyễn Văn Đồng)

Xởi lởi trời gửi của cho

Xo ro trời co của lại

Còn nợ còn đòi

Hết nợ vỗ đếch, vỗ đoi mà về

Hạt sương / treo đầu ngọn cỏ / thu nhỏ bầu trời

(Hoàng Xuân Họa)

Trai vợ đẻ

Gái đoạn tang

Chim ra ràng

Bánh đúc bẻ ba

Mắm tôm quệt ngược

Cửa nhà tan hoang

Rơi cánh sen tàn / thành con đò mỏng / chao sóng hồ mưa

(Lê Đình Công)

Băm chẳng lỗ

Bổ chẳng vào

Ném ao chẳng chìm

5. Vần kép – liên hoàn (cả hai thể đều hiếm gặp)

Chim ra khỏi lồng

Không trông trở lại

Đường vắng / lang thang bướm trắng / hoa nắng tan rồi

(Thanh Tùng)

Băm bầu băm

Băm chị thằng Ngô

Băm chú khách

Vầng trăng / long lanh phố cổ / hoàng thành ngàn năm

(Nghiêm Xuân Đức)

Cau phơi tái

Gái đoạn tang

Chim ra ràng

Hồ mộng / động / vần thơ Ba Bể

(Đinh Nhật Hạnh)

Ngõ về lau lách / chim khách / mách

(Đinh Nhật Hạnh)

Én bay thấp mưa ngập bờ ao

Én bay cao mưa rào lại tạnh

Quỹ thời gian vơi / như giọt lệ đá / rơi trong hang Đời

(Đinh Nhật Hạnh)

Đôi chim ra ràng / ngỡ ngàng / cành bàng Vườn thượng

Đinh Nhật Hạnh

Trên đây xin sơ lược dăm nét, điểm qua một số ít tác giả, khi có điều kiện sẽ khảo cứu sâu kỹ trên hàng ngàn bài haikư chắc hẳn còn lắm điều khoái lạ bật ngờ. Có thể tạm kết luận thơ Haikư Việt bước ra từ rừng Tục ngữ, Ca dao phong phú không vần hoặc có vần đều rất giàu nhạc điệu, hòa vào thi ca nhân loại nở những bông hoa lạ đầu mùa đậm hương sắc Việt Nam trên tinh thần Lục Bát, tạo nên HỒN VIỆT tế nhị, độc đáo, không lẫn không chìm vào bất cứ thơ Haikư nào trên thế giới.

III. HỒN VIỆT – TINH THẦN LỤC BÁT

Năm 2009, trong lần ra Bắc mùa thu chủ đề là Hồn Việt trong thơ Haikư sáng tác ở Việt Nam, nhà văn Nhật Chiêu đã cùng chúng tôi tọa đàm nhiều buổi bên hồ làng Tám trong không gian hương hoa sữa át vị cà phê nhâm nhi say sưa bàn luận. Và năm sau đó, bài “Nắng mới từ thơ Haikư” – bản Tuyên ngôn của dòng thơ mới này ở Việt Nam đã lấp lánh trên lời bạt Tuyển tập thơ Haikư Việt hai miền đầu tiên vừa trịnh trọng, dứt khoát lại cũng bay bổng tuôn trào:

“… Từ khắp mọi miền đất nước, thơ Haikư đã ngân nga tiếng nói đầy nhạc điệu, tiếng nói mang hồn Lục Bát để đi đến một hòa âm mới…”

Xin hãy thưởng thức mấy khúc thơ cực ngắn về Xuân:

Chỉ câu Lục:

Ngày xuân

con én

đưa thoi

.

Lơ thơ

tơ liễu

buông mình

Hải đường

mơn mởn

cành xuân

Ngày vui

ngắn

chẳng tày gang

Chỉ câu Bát:

Lòng xuân phơi phới

chén xuân

tàng tàng

.

Hoa xuân đang nhụy

ngày xuân

còn dài

Đầy thềm hoa rụng

nay người

ở đâu

Đêm xuân

ai nỡ cầm lòng

cho đang

Không thưa chắc ai cũng thừa hay đó là những câu trích trong Truyện Kiều gồm 3254 câu Sáu - Tám bất hủ mà mỗi câu đã có sức chứa bao cảm xúc, bao tình hình, bao trạng huống, bao hành xử, bao tâm tư muôn màu muôn vẻ, thiên hình vạn trạng của cuộc đời, của thiên nhiên bao la muôn sắc, đã thể hiện dưới nét bút thiên tài của đại thi hào mệnh bạc Nguyễn Du.

Chính thể thơ Lục Bát độc đáo của dân tộc đã chắp cánh cho trí lực, tài hoa xuất chúng của Cụ, chấp bút để lại cho muôn đời sau áng thơ bất hủ. Quả vậy, bất cứ thể loại nào khác – từ cổ như Đường Luật, mới như Thơ Mới thời Thế Lữ du nhập từ văn hóa châu Âu… không thể nào thực hiện được. Khả năng thần diệu đó của thể Lục Bát từ xưa đã thể hiện trong nhiều tác phẩm nổi tiếng muôn đời như Chinh Phụ Ngâm (Đoàn Thị Điểm) với biến thể Song Thất Lục Bát mà Lục Bát vẫn là chủ thể, như Tống Trân Cúc Hoa, Lục Vân Tiên, Phan Trần thành công ở một cấp độ khác thấp hơn.

Lớp người hậu sinh chúng ta, hễ đã biết chữ hẳn ít ai không đọc Truyện Kiều rồi nhập tâm dăm đoạn hoặc không ngâm nga, dẫn xuất Tục ngữ, Ca dao có mặt thường trực trên khẩu ngữ dân gian. Những người làm thơ Haikư lại càng cảm nhận được và tiếp thu linh khí của thể Lục Bát đã nhuần nhuyễn ít nhiều nhập vào tư duy thơ của mình mà thể hiện trên những khúc thơ cực ngắn đó sao! Ta hãy cùng xem một số ví dụ ở đó Lục Bát được thể hiện trong thể Haikư.

1. Lục Bát biến thể

Ngay trong kho tàng Tục ngữ, Ca dao Việt Nam đã thấy nhiều câu Lục Bát biến thể:

“Bánh đúc bẻ ba

Mắm tôm quẹt ngược, cửa nhà tan hoang”

“Còn nợ còn đòi

Hết nợ vỗ đếch, vỗ đoi mà về”

Lục Bát biến thể thành thơ Haikư:

Bằng lăng

lại bâng khuâng tím

vầng trăng Tây Hồ

Đinh Nhật Hạnh

Đàn Koto dìu dặt

nâng ta về

võng mẹ ngày xưa

Đinh Nhật Hạnh

Nỗi niềm xưa

nay

nao nao vẫn khúc đàn này Koto

Đinh Nhật Hạnh

2. Sử dụng câu Lục

Lá rơi

chị quét

nỗi đời

Nguyễn Hoàng Lâm

Mưa, mưa

cưa đôi

nỗi nhớ

Đỗ Tuyết Loan

Võng mây

gà gật

vầng trăng

Nguyễn Hoàng Lân

Cầu vượt

vun vút

gió xuân

Lê Thị Bình

3. Sử dụng câu Bát

Núi phủ sương

mây vương

hồn Ba Bể

Diêm Thị Thoa

Quả táo địa đàng

nếm chung

nửa ngọt

Đinh Nhật Hạnh

Cà phê đắng ngọt

tìm giọt

tình yêu

Vân Đình

Sông như rắn lượn

dòng cuộn

trăng đầy

Lê Đình Công

Một trời mai trắng

ánh mắt

nụ cười

Lê Đăng Hoan

Cách bướm vờn bay

Xuân đầy

mắt trẻ

Như Trang

Heo may gọi mùa

tháng bảy

đồng mưa

Lương Thị Đậm

Quên đi

đôi cánh

mình có thể bay

Mai Văn Phấn

Sổ tay tẩy xóa

thưa dần

số thân

Đinh Nhật Hạnh

Đan chiếc lồng

bằng bầu trời

nuôi chim

Mai Văn Phấn

Cọng rác

trôi nhanh hơn

dòng nước

Mai Văn Phấn

Vũng bùn

lấp lánh

những tia mặt trời

Lê Văn Truyền

Giao thừa

mưa mừng tuổi

người bán muối

Phan Vũ Khánh

Rừng mơ trước mặt

khát

đến bao giờ

Đinh Nhật Hạnh

Thể thơ Lục Bát xuất xứ, hình thành, phát triển duy nhất ở Việt Nam đã được và có thể vận dụng vào sáng tác Haikư Việt rất đắc địa:

-Cấu trúc Lục (6 chữ)

-Cấu trúc Bát (8 chữ)

-hoặc Lục Bát biến thể (2/8 – 4/8)

để tạo nên khung của những bài thơ Haikư bản địa đầu tiên đang thời kỳ thể nghiệm. Đặc biệt, các tác giả Haikư Việt đã bước đầu ứng dụng thành công thổi hồn Lục Bát vạn năng, có thể biểu lộ muôn mặt đời thường về thiên nhiên, về trạng thái tâm tư tình cảm của nhân thế vui buồn, thành bại, hy vọng, suy tư của vòng đời đang xoay chóng mặt, không chỉ dừng lại cảm nhận, mô tả thiên nhiên, lệ thuộc thiên nhiên mà bao trùm lên thiên nhiên, dấn thân vào vòng đời thế sự với tư duy thơ trong sáng, vì Chân-Thiện-Mỹ cao cả. Rất có thể, hồn Lục Bát tạo bản sắc độc đáo của dòng thơ Haikư ở nước ta đang từng bước hình thành, phát triển và khẳng định mình trên thi đàn Haikư thế giới.

IV. KẾT LUẬN

Về hình thức, Haikư Việt mang hồn Việt trong tạo vần độc đáo của Tục ngữ, Ca dao qua các vần chân, vần sát, vần cách, vần liên hoàn… linh hoạt và phong phú chỉ có trong thi ca Việt Nam. Ngoài ra, sự sắp xếp các từ theo bằng, trắc thích hợp sẽ dễ dàng tạo tiết tấu đầy nhạc tính độc đáo chỉ đặc hữu ở nước ta.

Về nội dung, Haikư Việt thừa hưởng và triển khai nội hàm khoáng đạt, vô lượng, vô biên của thể thơ Lục Bát đã tạo nên các tác phẩm bất hủ như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm…, đã mô tả, chuyển tải được mọi trạng huống tư duy vô cùng tế nhị, phức tạp, phong phú của tâm trạng sâu kín, mọi diễn biến thường nhật hoặc trầm lặng, hoặc gấp gáp của dòng đời biến động quanh ta trong bao trùm của thiên nhiên. Tinh thần Lục Bát thể hiện hoặc trong một câu 6, một câu 8, hoặc biến thể linh hoạt sẽ chắp cánh cho mọi tứ thơ Haikư lung linh, diễn đạt bất cứ cảm thức nào của tác giả trên mọi cung bậc, mọi lĩnh vực.

Chúng ta làm thơ Haikư, có lẽ trước hết nên nhận thức đầy đủ sâu sắc về những nền móng cấu thành đặc thù của thể thơ có nguồn gốc Nhật Bản từ thế kỷ 17 ví như chiếc vạc ba chân luôn vô hình hiện hữu:

-Tịch lặng (wabi)

-U huyền (yugen)

-Đơn sơ (sabi)

Càng đi xa ba tố chất này càng giảm và mất đi thuộc tính của Haikư vốn phải có! Riêng “tính Thiền” – khi hiểu là một triết lý sống lưu hành từ đạo Thiền bàng bạc trong Haikư Nhật Bản như một quy luật ngự trị từ thời của Basho, không thể là cơ sở minh triết ràng buộc của Haikư Việt hình thành và phát triển trong một đất nước thường xuyên phải gồng mình đấu tranh để tồn tại và vươn lên trong suốt mấy ngàn năm. Nhận thức lý luận về Thiền khi ứng dụng trong Haikư Việt hẳn cần thời gian và công sức nhiều thế hệ mới thống nhất được. Thiết nghĩ, chưa nên chốt quá sớm khi Haikư Việt mới đi những bước đầu đời bỡ ngỡ. Nó phải hiện diện, nhưng ở cấp độ nào thì cần bàn luận.

“Trong tiếng Việt, thơ haikư ca hát với một tinh thần tự do. Nó không rập khuôn theo hình thức haikư Nhật, không cần thiết phải là bài thơ mười bảy âm tiết theo nhịp 5/7/5. Nó không nhất thiết phải có quý ngữ như haikư truyền thống Nhật. Nó không nhất thiết quanh quẩn với thiên nhiên dù nó yêu thiên nhiên đến thế nào đi nữa. Nó muốn ôm choàng cuộc sống trong mọi nẻo đời. Ở đây và bây giờ. Nó đa thanh và có tình yêu mải mê với cái hiện tình. Nó cũng đi từ thiên nhiên, từ những hoài niệm của sương và trăng…” (Nhật Chiêu – Nắng mới từ thơ Haikư).

Xin được phép trích những câu trong tuyên ngôn Haikư Việt của Nhật Chiêu để tạm kết luận bài viết này.

Ngõ bằng lăng

Tiết lập thu– 2009-2014

ĐNH

THAM KHẢO

  1. Tục ngữ - Ca dao Việt Nam (Vũ Ngọc Phan, Nxb KHXH. 1998)
  2. Từ điển Tục ngữ - Ca dao Việt Nam (Nguyễn Lân, Nxb Văn Học, 2006)
  3. Haiku mind (Patricia Donegan – Lon Don 2008)
  4. WHA Review số 9, 10, 11
  5. Tuyển tập Haikư Việt – Hà Nội (Nxb HNV, 2010)
  6. Anthologie de la Poésie française – Paris 2010
  7. Tuyển tập Haikư Việt hai miền (Nxb Văn Học, 2010)
  8. Nội san Haikư Việt – Hà Nội
  9. Truyện Kiều

10. Poèmes ZEN – manu Bazzano – Paris 2002

Những bài Haikư Việt trích dẫn trong tiểu luận này còn khu trú và chỉ có tính chất minh họa các thể loại vần để so sánh với Tục ngữ, Ca dao.Chưa hẳn là thơ tuyển

Xuân vẫn là- Nghiên cứu lý luận của Cao Ngọc Thắng

Basho [1644-1694], từ thế kỷ XVII là người tiên phong khẳng định haiku là một thể thơ độc lập giữa rất nhiều thể thơ truyền thống của Nhật Bản, khi giới thiệu tuyển tập thơ haiku “Đất hoang” (Arano) lần đầu tiên xuất bản năm 1690, đã viết: “Tại tỉnh Owari, bên tả ngạn sông Hôrai, thầy Kakei miền Kyubôkudo đã dệt nên tuyển tập mang tên ‘Đất hoang’ này. Vì sao lại là đất hoang, quả tình tôi không rõ. Basho cho biết, tuyển tập ban đầu định đặt tên là “Những ngày mùa đông”, nhưng “dưới bầu trời lộng lẫy của vầng trăng tháng hai, tháng ba, gấm vóc lệ liễu và hoa anh đào đua khoe sắc huy hoàng, bướm và chim tuân theo bản năng, bên chân lý thẳm sâu ấy có phần nào nhạt phai, biến đổi? Như những làn sóng nắng mông lung, tim ta lãng du giữa hư và thực, sắc sắc không không, như bông huệ kia phất phơ không điểm tiết, như cánh sơn ca nọ lạc giữa trời bao la, cũng như trên nẻo đường ngập cỏ hoang không tiên lộ, hẳn người ấy sẽ mong đặt vào cột mốc và vì thế nên chăng gọi ông là người gìn giữ trảng đất này”.

alt

Basho vinh danh việc tiên phong tuyển những phiến khúc haiku của Kakei là một buớc đầy ý nghĩa trong bối cảnh nền thơ Nhật Bản đương thời với nhiều khuynh hướng và trào lưu khác nhau. Kakei mong và đã đặt vào cột mốc ấy một sự kiện quan trọng của tiến trình khẳng định haiku như một thể thơ chính danh. Vì thế, Basho gọi Kakei là người gìn giữ trảng đất này, một mảnh đất còn hoang vu cần được canh tác để tiến tới thâm canh. Cái sự “quả tình không rõ” của Basho thực ra là đã sáng tỏ. Ông đồng cảm với Kakei những suy tư để làm sao xác định những đặc trưng cơ bản của thơ haiku, hướng người làm thơ và người thưởng thức thơ haiku đi đến sự đồng điệu cảm xúc về mối quan hệ nhân-quả không thể tách rời giữa con người và thiên nhiên. Thiên nhiên luôn luôn đẹp và cũng luôn luôn biến đổi. Sự mong manh của cái đẹp hiện hữu trong thiên nhiên đòi hỏi con người phải giữ được cái tĩnh lặng trong tâm hồn, để tinh tế cảm nhận thật sâu sắc, đi đến tận cùng của chân-thiện-mỹ. Điều đó cũng có nghĩa rằng, con người luôn cần thức nhận về sự hòa quyện trong bản thân cả hai: duy cảm và duy lý khi đứng trước thiên nhiên kỳ vĩ. Ranh giới giữa thực, giữa sắckhông đều chẳng dễ gì phân biệt. Chỉ hoàn duy cảm hay chỉ toàn duy lý, con người không có đủ khả năng cần thiết để nhận ra lằn ranh chấp chới đó. Cái khoảnh khắc ta có thể nắm bắt sự biến chuyển ấy chỉ là tích tắc, nếu tâm thế không sẵn sàng nó vụt biến mất ngay lập tức. Vì vậy, khi đựoc biểu hiện, những phiến khúc haiku như một lát cắt mỏng manh, chớp lấy cái ánh sáng lóe lên trong chốc lát và cũng trong chốc lát nhòe vào vô cùng tận. Sự biểu hiện ở mỗi phiến khúc haiku đồng thời thức tỉnh rằng trong tâm hồn nguời đã xuất hiện cái gì đó lớn lao bắt đầu cựa quậy và lớn lên, dịch chuyển về hướng trong trẻo, an lành, tự tại, như nhiên, điều mà cũng khiến cho người đọc cùng ngẫm suy về những gì đang tồn tại và cả những gì đã và sắp mất đi trong không gian bao la, theo thời gian dằng dặc.

Chỉ có ba ý của một tứ thơ mà sao mỗi phiến khúc haiku lại làm nguời ta xao xuyến để rồi ngẫm ngợi. Trong Tuyển tập “Đất hoang”, Kisei “chớp” được hình ảnh, quen thuộc đấy mà cũng bất ngờ:

Mạng nhện Toile d’araignée

Mưa xuân Pluie de printemps a laissé

Đính đầy giọt ngọc Ses gouhelettes

[Đinh Nhật Hạnh dịch theo bản tiếng Pháp “Frichef” của René Siefert chuyển ngữ từ tiếng Nhật]

Kisei khiến người đọc phải” “lục lại” trong ký ức quan sát của mình và so sánh mưa xuân với mưa ở các mùa còn lại trong năm. “Mạng nhện” và “Mưa xuân” là hai hình ảnh, hai sự vật và hai hiện tượng khác nhau, quan sát của người đã kéo chúng lại gần nhau, hiện lên nét chấm phá cho một bức tranh sắp hiện ra. Bức tranh ấy chỉ hoàn thiện khi một quan sát khác có khả năng tạo nên một mảng màu hài hòa, nhòa đi sự tương phản, là “giọt ngọc”. Cái “mạng” kia hoàn toàn chẳng ai muốn để ý, vì nó chăng ra chỉ có tác dụng săn mồi của chú nhện, một làn gió hơi khác thường đã có thể làm nó rách. Nhưng, mạng nhên này thật may mắn, bởi nó “gặp” mùa xuân, tiết trời ấm áp, mưa lất phất, gió khẽ khàng. “Mưa xuân”, chứ không phải mưa ở mùa khác, trở thành tác nhân cho mối kết duyên giữa “mạng nhện” và “giọt ngọc”. Đọc từng cặp câu: Mạng nhện/ Mưa xuân ta thấy hình ảnh mô tả sự vật/ hiện tượng này trong/ sánh đôi cùng sự vật/ hiện tượng kia; chuyển sang cặp tiếp theo: Mưa xuân/ Đính đầy giọt ngọc hình ảnh mô tả đã dịch đến một trường cảm nhận thú vị hơn bởi cái đẹp bất ngờ hiện lên. Cái đẹp ấy chỉ có mưa xuân mới tác thành nổi. Hơn nữa, là mưa xuân mới đính được nước thành “giọt”, chứ không phải “hạt”, tiết xuân mới đem đến cái lung linh, huyền ảo hiện vào giọt nước thành “giọt ngọc”. Nhưng, khi ta đọc cặp câu Mạng nhện/ Đính đầy giọt ngọc, tưởng chừng chúng ở cách nhau thì hóa ra biến thành bện chặt; mạng nhện, không chỉ vẻ đẹp của nó được nhân lên, mà còn biểu hiện một “sức khỏe” khác thường – cưu mang những giọt nuớc trên sợi mảnh tang, điều chẳng bao giờ có khi nó gặp mưa mùa hạ, mùa thu hoặc mùa đông. Diễn giải nôm na là: mưa xuân đã đem đến cho người ta hình ảnh mạng nhện đính đầy giọt ngọc, một sắc thái thuần khiết, đẩy thi tứ, vừa hoài niệm vừa hiện hữu, trào dâng trong tâm hồn Kasei, và ông cho ra đời phiến khúc haiku súc tích, khơi gợi sự liên tưởng ngọt ngào từ ký ức và tiếp tục tiếp diễn.

Một tác giả khác có thơ trong Tuyển tập “Đất hoang” là Shôhô cũng đã góp phần vào sự canh tác “trảng đất” còn hoang vu này. Phiến khúc haiku của ông có một cách nhìn, một góc nhìn “kéo” ba hiện tượng và sự vật rất khác nhau vào một tình huống ít người để ý:

Lèn gió thoảng qua An vent qui souffle

Chim ưng rạp xuống Le fancon s’est tapi

Khi cành liễu nghiêng À l’approche du saule

[Đinh Nhật Hạnh dịch theo bản tiếng Pháp “Frichef” của René Siefert chuyển ngữ từ tiếng Nhật]

Hình dung theo chiều xuôi (đọc từ trên xuống) hay theo chiều ngược lại (đọc từ dưới lên), đều cảm nhận một điều: ba hiện tuợng và sự vật này có chung giá trị thông báo trong mối quan hệ kết hợp đồng điệu ở một nơi xác định – lèn (hẻm núi hai bên vách đá cao), trong thời điểm nhất định – mùa xuân, mùa xuất hiện chim ưng và cây liễu sau khi mùa đông lạnh lẽo đã tan nhường chỗ cho cảnh và vật hân hoan giao hòa (chim ưng và cành liễu là quý ngữ chỉ mùa xuân). Cảm thấy được gió thoảng qua lèn là nghĩ ngay tới cánh chim ưng chao từ núi cao xuống thấp, và những cành liễu nghiêng theo chiều chim bay. Cũng vậy, nhìn thấy chim rạp cánh hoặc cành liễu nghiêng chắc chắn lèn núi kia không còn im phăng phắc, khiến cả không gian chuyển động, thoát xác khỏi im lặng mông lung. Trong phiến khúc này, các cặp câu 1-2, 2-3 và 1-3 đều có “ý thức nâng đỡ nhau”, tôn vị thế của nhau. Và, ở mỗi câu đều có một từ rất động: “thoảng”, “rạp”, “nghiêng”, gây cảm xúc ý vị và xôn xao.

Trảng đất hoang mà Kakei và các đồng sự xới lên, được Basho khuyến khích và tôn vinh, sang thế kỷ sau tiếp tục được đông đảo haijin bồi đắp thêm màu mỡ, trong đó Buson (1716-1783) là một đại diện xuất sắc. Thơ Buson làm nổi bật tâm thế và phận đời của con người giữa thiên nhiên, từ đó và mượn nó phát biểu nhân sinh quan của mình đối với hoàn cảnh đương thời.

Chua sót cho mình phận đắng cay Loathed feeling bitter about myself

Lên giuờng nằm vậy To bed I retived

Đêm xuân này! Spring evening

[Đinh Nhật Hạnh dịch theo bản tiếng Anh “The Heart” của Takafumi Saito và William R.Nelson chuyển ngữ từ tiếng Nhật ]

Buson không hề than thân trách phận và cũng chẳng trách hoàn cảnh, mà ông trải nỗi cô đơn trước mọi người. Cái tôi bản thể trong ông trỗi dậy. Tâm trạng chua xót, đắng cay của ông “rơi” ngay vào đêm xuân, đêm trong mùa mà đáng lẽ lòng người hà tất phải co ro trong xó nhà. Này đi liền sau đêm xuân, có thể hiểu là một đêm nhất định, nhưng cũng có thể là những đêm của một mùa xuân nào trong cuộc đời nặng cô đơn của ông? Ông “mượn” chiếc giường, cũng là một vật cô đơn, nằm khoèo trên đó, vắt tay lên trán mà ngẫm ngợi, mà suy tư về nỗi niềm của mình, của nhân tình thế thái. Ở câu 2, nằm nhưng không hề tĩnh bởi nó được phận mình và đêm xuân bao bọc. Các cặp câu 1-2, 2-3, 1-3 tạo thế liên hoàn cho toàn bài và gợi mở nhiều ngẫm suy. Đêm xuân này là một cái kết định vị sự quy chiếu của thi sỹ về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, hoặc ngược lại.

“Tựa” vào mùa xuân Buson biết nương vào và học được từ thiên nhiên hào phóng, một thiên nhiên biết tự điều chỉnh mình theo quy luật của riêng nó, để tự điều chỉnh mình cân bằng cùng thiên nhiên. Vẫn cùng trạng thái tâm tư ấy, Buson an nhiên bộc bạch:

Phải chăng hoa mơ Is the flagrance of an apricol

Xông huơng đỉnh trời Ascending to the sky

Thành quầng trăng xuân? The halo of the moon?

[Đinh Nhật Hạnh dịch theo bản tiếng Anh “The Heart” của Takafumi Saito và William R.Nelson chuyển ngữ từ tiếng Nhật ]

Quầng trăng xuân trong tâm niệm Buson đuợc dệt nên bởi bản thân hoa mơ hay hương của nó? (có lẽ cả hai). Điều đó không quan trọng, chỉ biết rằng, một cảnh đẹp, quầng trăng xuân ấy, đã hiện hữu, đã in vào tâm khảm thi nhân, đã để lại dấu ấn ám ảnh về nỗi cô đơn của con người trước bao la trời đất. Cái ánh sáng mờ ảo nhìn thấy từ quầng trăng xuân có màu trắng tinh khiết, có cả hương vị ngọt ngào của hoa mơ, thì cái ánh sáng ấy đã chứa đựng cả tâm hồn rộng mở, một tình yêu cuộn trào trong cơ thể nhỏ nhoi, ẩn khuất. Nhà thơ thực hiện sự quan trắc độc lập và độc đáo để nhận biết, để thể hiện sự độc lập và độc đáo của hiện tượng thiên nhiên biến thiên liên tục. Đó là tầm vóc của một thi nhân lớn. Cả bài thơ là một câu hỏi không có câu trả lời xác thực, chỉ biết rằng sự tĩnh của tâm hồn thi sỹ mới thu nạp đầy đủ và sâu sắc cái biến dịch muôn màu muôn vẻ và không ngừng nghỉ của thế giới tự nhiên mà con người khó thoát khỏi sự cưu mang và ràng buộc của nó.

Phân tích một vài phiến khúc haiku trên đây mới hay rằng, thể thơ haiku, trong một giới hạn xác định về câu chữ, nhưng rất khoáng đạt trong cấu tứ, lấy điểm nhìn và xúc cảm trong một khoảnh khắc tĩnh tâm để khai thác triệt để vẻ đẹp từ thiên nhiên một cách chân thực và diễn tả nó thật diễm ảo. Đặc tính này của thể thơ haiku rất gần gụi với tâm lý và thi pháp của người Việt thể hiện trong thể thơ lục bát, khác chăng là ở cấu trúc ngôn từ. Trong khi haiku nghiêng nhiều về phía duy lý thì lục bát đậm chất trữ tình (duy cảm), mặc dù cả hai đều hướng về triết lý nhân sinh. Một đằng (haiku) thiên dùng quý ngữ để chỉ mùa, hạn chế dùng tính từ, một đằng (lục bát) nghiêm cẩn về luật bằng-trắc, gieo vần và, vì thế, sử dụng tối đa điệp vần, láy tiếng, làm bật lên sự bóng bảy, nhuần nhuyễn của nhịp và điệu. Mỗi thể thơ của mỗi dân tộc đều có mặt mạnh và mặt hạn chế: ba câu haiku (một phiến khúc) trong cấu trúc 5-7-5, gồm 17 âm tiết (truyền thống), nay đã biến cải, làm “bong” ra ý-định rõ rệt trên bề mặt ngôn từ, có khả năng chuyển (dịch) sang ngữ khác; nguợc lại, cặp câu lục bát, gồm 14 tiếng theo nhịp chẵn hay lẻ, lại ẩn chứa sự bóng bảy, thực và hư trộn hòa, xen lẫn, cũng là ẩn chứa khó khăn cho công việc chuyển ngữ, nhất là khi muốn giữ được thể loại đúng với dạng ban đầu vốn có (điều mà thực tế đã nhiều lần chứng minh).

Tiếp nhận thơ haiku của người Nhật, người Việt muốn ứng dụng một thể thơ ngắn, hàm súc, có sức liên tưởng mạnh, bổ sung cho tư duy thơ của mình thêm phong phú, đa dạng, mong muốn hội nhập hồn thơ Việt vào các nền thơ của thế giới một cách nhanh chóng mà vẫn giữ được cốt cách, bản sắc một cách bền-vững. Sự tiếp nhận ấy, với dụng ý ấy tất đòi hỏi một quá trình chọn lọc, biến cải không chỉ ngày một ngày hai, cũng không chỉ ở một nhóm người làm thơ theo kiểu haiku, mà thơ haiku mang tâm hồn Việt cần thời gian thấm vào người đọc như thơ Đường luật, thơ Pháp đã từng thâm nhập và trải qua quãng đường tiếp biến lâu dài như từng thấy. Những gì mà hai lần tiếp biến trước đã từng trải nghiệm, là những bài học trực tiếp và gián tiếp cho lần tiếp biến thứ ba này. Học hình thức và niêm luật thơ Đường, người Việt sáng tác “kiểu” thơ không còn nệ vào điển tích, mà bộc lộ tình cảm và lý trí một cách trực tiếp, khỏi cần những chú thích, giải nghĩa dài dòng, luẩn quẩn. Tiếp thu thơ Pháp (và thơ phuơng Tây nói chung), người Việt thổi hồn của mình bằng lối riêng, lý lẽ riêng để thể hiện cấu trúc tự do theo tư duy và phong cách thơ với tiếng nói đa tầng, nhiều nghĩa, nêm chặt câu bằng những gián cách, tạo khoảng trống cần thiết mà vẫn giữ được vầnnhịp trong điệu thức hoàn chỉnh của cấu tứ, không đóng lại trường liên tưởng của người đọc.

Dịp xuân mở đọc thơ xuân càng thấm thía chất xuân, tình xuân trong tâm hồn thi nhân. Mùa xuân vẫn là và mãi mãi vẫn là đối tuợng, chất liệu không thể thiếu được cho cảm xúc tuôn trào cùng sự giao hòa của trời đất, gió mây: núi dìu dặt núi-sông luồn vào sông, mở ra tầm nhìn, tầm nghĩ cho thơ bốn mùa, quanh năm đượm hương ngọt ngào, thi vị và tinh tế…

C.N.T

Haiku- Hồn Việt trên con đường tìm tòi và khẳng định

alt

1. Những năm gần đây, người yêu thơ Việt Nam đang chứng kiến cuộc tiếp nhận thơ thứ ba trong tiến trình liên tục tiếp xúc các nền văn hóa thế giới. Đó là sự tiếp nhận dòng thơ haikư Nhật Bản. Lần thứ nhất đã diễn ra ở các nước dùng chữ tượng hình trong suốt nhiều thế kỷ các dòng thơ từ Trung Hoa, mà thơ Đường luật là tiêu biểu và nổi trội. Lần thứ hai, các dòng thơ châu Âu, đứng đầu là các thể thơ Pháp, đã dấy lên phong trào Thơ Mới vào đầu thế kỷ XX. Cả ba cuộc tiếp nhận thơ ở Việt Nam có bối cảnh và điều kiện riêng, nhưng đều có chung đặc điểm phổ quát mang tính thế giới hoặc khu vực. Lần này, phạm vi ảnh hưởng của thơ haikư có quy mô lớn hơn, đến nhiều nước thuộc các châu lục khác nhau.

2. Cũng như các dân tộc khác, thơ Đường luật hay thơ Pháp được người Việt Nam tiếp nhận đều phải trải qua những chặng đường với những thăng trầm, vừa học hỏi vừa cải biến. Quá trình tiếp biến (tiếp nhận và cải biến) này không ngoài mục tiêu vẫn đảm bảo những tiêu chí, về hình thức thể loại, của các thể thơ gốc, điển hình là các thể thơ Đường luật, nhưng dần dần càng tô đậm tinh thần và hồn cốt Việt. Điều đó là tất yếu. Dù đó là thơ của dân tộc nào, khi nhập tịch vào Việt Nam thì sớm muộn, đã và luôn luôn được tư duy và thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Việt, đậm đà tâm hồn Việt. Và, đương nhiên, chỉ khi nào tính thơ ngoại nhập nhuần nhị hồn Việt, lúc đó cuộc tiếp nhận thơ từ ngoài vào mới coi là thành công.

3. Thơ haikư truyền thống Nhật Bản có tiến trình hình thành, phát triển và định hình từ lâu. Cũng từ lâu, người Việt Nam đã biết, đã thực hành, nhưng ở tâm thế đơn lẻ, cá nhân, chưa trở thành trào lưu rộng rãi, vì thế chưa thu hút sự quan tâm của người làm thơ chứ chưa nói đến quần chúng yêu thơ. Điều kiện nay đã khác. Thơ haikư truyền thống được ngay chính các nhà thơ Nhật Bản đổi mới, khoảng một thế kỷ trước đây, và sự đổi mới này đã cho phép thơ haikư lan tỏa ra khỏi biên giới đất nước Phù Tang, truyền bá ngày thêm rộng tới nhiều dân tộc và hội tụ thành Hội Thơ haikư thế giới với nhiều tổ chức thành viên. Rất nhạy cảm, người Việt Nam đã nhanh chóng hòa nhập vào cuộc tiếp nhận thơ haikư có tính đa quốc gia này. Việc xuất hiện các Câu lạc bộ Thơ haikư ở hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội cùng một số nhóm ở các tỉnh thành, trong khoảng chục năm nay, đã nói lên thực tế đó.

4. Câu hỏi đặt ra là: vì sao có sự tiếp nhận thơ haikư Nhật Bản ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay? Có thể thấy mấy lý do sau đây.

Thứ nhất. Thể thơ haikư truyền thống của người Nhật có kết cấu ngắn, gọn, hàm súc trong cấu trúc 5-7-5, rất gần gụi với tư duy thơ và cách đọc-nhớ thơ của người Việt, trước đây cũng như hiện nay, đặc biệt gần gũi với ca dao, tục ngữ, thể lục bát và cả thể tứ tuyệt đã được Việt hóa.

Thứ hai. Nhu cầu và yêu cầu phổ biến thơ ra quốc tế trong xu thế hội nhập đã và đang đòi hỏi Thơ Việt phải nhanh chóng đổi mới toàn diện, nhằm phản ánh sâu sắc mọi phương diện về phát triển nghệ thuật thi ca của dân tộc. Cái hay, cái đẹp đã phát lộ và còn nhiều tàng ẩn trong nền Thơ Việt, ở tất cả các thể loại, ở tất cả các thời kỳ và giai đoạn phát triển khác nhau. Nhưng, cái hay, cái đẹp đó được truyền bá ra thế giới chưa thấm tháp gì so với bề dày vốn có của Thơ Việt. Những tinh túy mang tính đặc sắc, độc đáo, đậm hồn Việt nhất, hầu như tụ hội ở hai thể thơ lục bát và song thất lục bát. Tuy nhiên, đây là hai thể thơ rất khó phổ biến ra thế giới bằng các ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt. Nó khó ở chỗ, khi chuyển ngữ, hình thức của thể loại rất dễ bị biến dạng, không như việc chuyển ngữ thơ nước ngoài sang tiếng Việt. (Cần nhấn mạnh, ở đây chỉ nói đến khía cạnh giữ nguyên thể thơ trong chuyển ngữ). Việc tiếp biến thể thơ haikư, cùng với thể thơ hai dòng, thể thơ tự do, thể thơ văn xuôi, có khả năng khắc phục được khó khăn này.

Thứ ba. Như trên đã nói, thơ haikư truyền thống từ lâu đã được chính người Nhật đổi mới cả về hình thức (cấu trúc không còn lệ thuộc 5-7-5, số chữ một bài có xu hướng ít hơn 17) và nội dung (không còn bó hẹp miêu tả bốn mùa của thiên nhiên, hướng nội tâm về thiền nữa, nên không bắt buộc phải có quỹ ngữ). Hay nói cách khác, thơ haikư hiện đại có cơ hội biểu tả nhiều vấn đề, nhiều sắc thái mà mỗi người làm thơ quan tâm, phù hợp với tình hình chuyển động nhanh chóng của cuộc sống đương đại.

Những lý do tạm nêu trên đây được nhận thức và thúc đẩy xu hướng tiếp biến thơ haikư ở Việt Nam trong khoảng chục năm nay.

5. Câu hỏi tiếp theo là: sự tiếp biến thơ haikư ở Việt Nam thời gian qua diễn ra như thế nào?, sẽ hướng tới mục tiêu nào?

Có thể thấy ngay một thực tế: ở Việt Nam, người làm thơ vừa tìm tòi vừa khẳng định, vừa sáng tác vừa nghiên cứu thơ haikư. Sự song hành này góp phần đẩy nhanh tiến trình tiếp biến ngay trong những người quan tâm và yêu thích thể thơ haikư.

a) Ngay ở giai đoạn “đọc”, người ta đã quan tâm đến hình thức của thể haikư, mà đầu tiên là ở hình thức “ba dòng”, ở số chữ của mỗi dòng. Những người phân biệt “âm tiết” và “chữ” thì không quan tâm nhiều lắm đến số “chữ” hoặc “âm tiết”, bởi ngôn ngữ đa âm và ngôn ngữ đơn âm, số “âm tiết” hoặc số “chữ” trở nên không quan trọng, nó không thể đồng nhất.

b) Cũng ở giai đoạn “đọc”, mọi người đều quan tâm tìm hiểu thông điệp cơ bản trong một bài thơ haikư truyền thống thông qua các nhà thơ cổ điển, đồng thời tìm hiểu cách thức cách tân thể thơ này ở các nhà thơ Nhật Bản cận đại và hiện đại, sau đó là ở các nhà thơ hiện đại ngoài Nhật Bản.

c) Người ta nhận thấy, về âm luật, vần điệu, nếu không đọc, không nghe trực tiếp một bài thơ haikư bằng ngôn ngữ bản địa (tiếng Nhật), mà thông qua chuyển ngữ, thì khó cảm nhận cái hay, cái đẹp, cái sâu xa ẩn chứa chỉ trong phạm vi ba dòng/ ba câu và số chữ không quá 17. Song, vấn đề được lý giải đơn giản hơn, sự cảm nhận cái hay, cái đẹp của một bài thơ haikư cụ thể, đối với người Việt, là bằng cảm xúc, bằng sự phân tích những vỉa tầng của ngôn ngữ, của ý niệm thời gian-không gian, của sự liên tưởng về không gian ba chiều, bằng tâm thức thơ ca truyền thống. Cái gọi là “quý ngữ” trong thơ haikư Nhật Bản dường như không xa lạ đối với người Việt, mặc dù “bốn mùa” trong tâm thức người ở xứ nhiệt đới không trùng khớp như trong tâm thức người ở xứ ôn đới, vì người Việt đã qua giai đoạn tiếp biến với thơ Đường luật.

d) Kết luận, yếu tố “ba dòng” mới là quyết định cho thể thơ này. Người làm thơ haikư trước hết phải tuân thủ “luật ba dòng” hoặc ba câu, nếu không sẽ không có được một bài thơ haikư đích thực. Đây là một giàng buộc của thể thơ haikư, dù nó được thể hiện dưới vỏ ngôn ngữ nào. Đó cũng là “ngưỡng” của sự biến cải thể thơ haikư.

Nhận thức điều đó, đối với người Việt, quan trọng hơn cả là mỗi bài thơ haikư khi được sáng tạo không thể không mang âm hưởng của thơ Việt, không thể không có hồn Việt, qua đó ngân vang lên tính cách Việt, toát lên tâm trạng, suy tư, tâm thế, cốt cách của người Việt. Trong xu thế chung, ý tưởng và con đường đi đến mục tiêu đó, có thể còn mày mò, còn chưa định hình, nhưng công việc sáng tác thơ haikư vẫn luôn chuyển động và tiếp cận để mỗi bài thơ haikư đều thể hiện được tinh thần và cốt cách Việt. Trong quá trình Việt hóa thơ Đường luật hay các thể thơ Pháp, người Việt đã thành công, đã đạt đến trình độ uyên thâm, thì trong thể thơ haikư chắc chắn người Việt sẽ làm được như thế. Nền tảng của niềm hy vọng này đã có. Đã có từ việc vận dụng các loại hình dân gian (ca dao, tục ngữ, phong dao, đồng dao, các làn điệu dân ca), đặc biệt ở việc vận dụng cách lập tứ, triển khai ý, sử dụng âm vận, luật bằng-trắc của  thể thơ lục bát và song thất lục bát, từ đó tạo nên nhịp điệu, tiết tấu trầm bống, phóng khoáng, diễn tả tâm hồn, suy tư, cách nhìn nhận thấu đáo ngoại cảnh mênh mông và cuộc sống muôn hình vạn trạng, có sự tác động qua lại hữu cơ của sự sinh tồn cũng như sự phát triển của cuộc sống trong thơ haikư Việt. Đi sâu vào những khía cạnh này sẽ được trình bày ở những chuyên luận khác một cách rành mạch hơn.

Trong việc nghiên cứu, phê bình lý luận, dịch thuật và phổ biến, Nội san Haikư của CLB thơ Haikư Hà Nội, đã ra mắt 5 số trong vòng 4 năm qua, cũng chứng minh sự tiếp biến đang diễn ra một cách vừa âm thầm vừa khẩn trương. Từng bước, các số Nội san trình bày một số lượng sáng tác không nhỏ của 40 hội viên; đồng thời cũng lần lượt giới thiệu các nghiên cứu sâu sắc về thơ haikư truyền thống và hiện đại của Nhật Bản, sự tiếp biến thơ haikư ở các nước khác nhau, việc chuyển ngữ thơ haikư từ tiếng Nhật, tiếng Pháp, tiếng Anh sang tiếng Việt, bình những bài thơ tiêu biểu; và, nhiều bài biểu thị cách hiểu, cách tiếp cận, cách diễn đạt thể thơ haikư bằng tiếng Việt.

*

Việc nghiên cứu, sáng tác thơ haikư bằng ngôn ngữ Việt, dù là bước đầu, chập chững, đã thể hiện sự tập trung cho mục đích: tìm tòi và khẳng định hồn Việt, tính cách Việt trong thể thơ haikư. Đó là một yêu cầu đối với người làm thơ cũng là nhu cầu của mỗi người làm thơ haikư ở Việt Nam. Đó cũng là cánh cửa mở rộng cho từng người sáng tác thỏa sức tung hoành trên con đường sáng tạo nghệ thuật. Vấn đề còn lại là tác phẩm thơ có hay không, có neo vào thời gian và lòng công chúng yêu thơ hay không!

Cao Ngọc Thắng

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay11818
mod_vvisit_counterHôm qua42626
mod_vvisit_counterTất cả1589751
Hiện có 1199 khách Trực tuyến