Khai ngộ với thiên nhiên Bashô và Octavio Paz- Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecocritical age), đọc lại thơ Bashô, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là tâm linh sinh thái, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, không có chủ nhân và sở hữu chủ, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu. Là nhà thơ, Bashô cảm thấy mình có quyền kêu gọi mọi người trở thành “người bạn của bốn mùa” và “quay về với tạo hóa” để gặp gỡ cái mê diệu và sáng tạo cái mê diệu. Hướng theo con đường thơ ca sâu thẳm của Bashô là tạo nên khả thể cho cuộc “tái mê diệu hiện thực của thế giới này” (a realistic reenchantment of the world)(1), nói theo Patrick H. Dust.

alt

Lắng nghe Matsuo Bashô là lắng nghe những vần thơ của hơn ba thế kỷ trước. Đọc Bashô giữa thế kỷ hai mươi, Octavio Paz, nhà thơ lớn Mexico cho rằng kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi) là cuộc hành hương tâm linh (a spiritual pilgrimage) khi ông tham gia chuyển ngữ nó sang tiếng Tây Ban Nha(2). Bản thân Paz cũng từng sáng tác thơ theo thể renga và haiku (liên ca và haiku) trong phong cách hội tụ và hiện đại.

Cũng như Bashô, thơ Octavio Paz thể hiện hành trình tâm linh và cái đồng cảm vũ trụ rất gần tinh thần “thiên nhân tương cảm” của Đông phương mà ông rất quen thuộc. “Tương cảm và tương ứng chỉ là cách gọi cho nhịp điệu vũ trụ”, Paz đã nói như thế(3). Sự tương cảm đó có thể xem là mặc khải thơ ca (Poetic revelation) một thứ mặc khải không cần tới một quyền lực siêu hình nào, “đó là mặc khải về chính mình mà con người tạo ra cho mình”(4). Đó là mặc khải với thiên nhiên. Vì hiền minh thơ ca cũng là hiền minh thiên nhiên (natural wisdom).

Đó là khi thơ ca học cách sáng tạo và chuyển hóa của bốn mùa, của tứ đại (đất, nước, gió, lửa) trong tĩnh lặng cũng như trong khi đối diện với sự tàn phá thiên nhiên:

“Phản chiếu cái tương thân vũ trụ, thơ ca là biểu tượng của những gì xã hội con người cần hướng tới. Trong khi đối mặt với tàn phá thiên nhiên, thơ ca cống hiến bằng chứng sống động về cái tương thân của các vì sao và các phân tử, của hóa học và ý thức… mỗi bài thơ là một bài học thực tiễn trong hài hòa và tương hợp… Bài thơ hình thành qua cái tương thân của các yếu tố, hình thức và tạo vật của vũ trụ là biểu tượng cho sự tồn sinh trên đời…

Sinh ra từ tưởng tượng của con người, thơ ca có thể chết đi nếu tưởng tượng chết đi hay tàn bại. Nếu con người quên lãng thơ ca, họ lãng quên chính mình, niềm lãng quên con người. Và quay về với hỗn mang nguyên thủy”(5). Paz đã nói như thế.

Và như thế, Paz từ cái nhìn hiện đại, Paz đã vô hình trung kế tục và phóng mở tư tưởng Bashô. Chống lại sự lãng quên thơ ca và lãng quên thiên nhiên, thi hào Nhật Bản kêu gọi “làm bạn với bốn mùa” và “đón nhận thiên nhiên, quay về với tạo hóa”.

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Bashô tự thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ tấm lụa tả tơi phiêu lãng. Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga: phong nhã, hồn thơ, bản thân nghệ thuật thơ ca) như Saigyô của thơ tanka, Sesshu của hội ca, Rikyu của trà đạo và Sôgi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Bashô ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập chi tiểu văn: Ghi chép nhỏ trong túi hành hương):

“Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là tâm hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi loài thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa.”

Đoạn văn lộng lẫy mà uyên áo này cho thấy cái nhìn hiền minh của Bashô về thiên nhiên. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa, có nghệ thuật, có hồn thơ (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Bashô còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Cái tưởng tượng thơ ca của Paz có khác gì với tâm hồn phong nhã của Bashô. Tưởng tượng ấy chết đi thì cũng là phong nhã chết đi.

Kẻ man rợ của Bashô thì khác gì niềm quên lãng con người của Paz.

Cái tương thân vũ trụ của Paz cũng rất gần với bạn bốn mùa của Bashô.

Khỏi phải nói, cả hai nhà thơ lớn đều ca ngợi cái thiên nhân tương cảm, cái sáng tạo và chuyển hóa thể hiện trong con người và thiên nhiên.

Cả hai đều hướng tới sự tồn sinh của con người trong nhịp điệu thiên nhiên, cái không khác với nhịp điệu thơ ca.

Để nói về tính sáng tạo của thiên nhiên, Bashô thường dùng từ zôka (tạo hóa). Cho nên ông nói “quay về với tạo hóa”, tức là quay về với cái huyền diệu của vũ trụ.

Trong kiệt tác Con đường sâu thẳm (Oku no hosomichi), đến thăm Matsushima (Tùng Đảo) tuyệt đẹp, Bashô đã viết: “Tạo hóa thiên công, có bút mực nào, lời thơ nào vẽ nổi và tả xiết đây?”(6).

“Tạo hóa thiên công” (zôka no tenkô) chính là tính sáng tạo huyền diệu mà Bashô muốn bắt chước trong thơ, muốn quay về với cái đó, chơi với nó (zôka zuijun: tạo hóa tùy thuận).

Cũng như thế, Octavio Paz cho rằng thiên nhiên là ngôn ngữ, là thơ ca. Mở ra ngôn ngữ chính là trở về với thiên nhiên (es volver a la naturaleza). Nhưng thiên nhiên ở đây không phải là vật chất hay tâm linh mà là năng lượng, là từ trường, rất gần ý nghĩa sinh thái. “Chúng ta ra khỏi thiên nhiên và trở về với nó” là điều ông nhận thấy khi đọc Lévi-Strauss.

Paz cho rằng vũ trụ có từ tính, là từ trường hóa. Vũ trụ là “một loại nhịp điệu đan dệt thời gian và không gian”.

Đứng trước thiên nhiên và vũ trụ mê diệu như thế, hơn ai hết các nhà thơ muốn cuộc tồn sinh của con người yêu thương nó, kết một khối tình với nó. Như Hồ Xuân Hương cho thấy trong bài thơ tuyệt diệu Đá Ông Chồng Bà Chồng:

Khéo khéo bày trò tạo hóa công

Ông Chồng đã vậy lại Bà Chống

Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt

Khối tình cọ mãi với non sông.

Trò chơi của Tạo hóa thiên công, trò chơi của từ trường mà các nhà thơ nói ở đây là cái kỳ diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa, ẩn tú trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên.

Trở về ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Bashô và các nhà thơ chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức đã nói: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên”.

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên. Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

“Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên phong phú, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.”

Đối với Bashô, Paz cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa, phải là thơ ca nghệ thuật mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái đương nhiên đồng tình với những nghệ sĩ thượng thặng ấy và dị ứng với loại tư tưởng “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người.

Trong thiên nhiên, vai trò của con người không phải là chủ nhân. Đó phải là người bạn như Bashô đòi hỏi, “bạn của bốn mùa”. Đó phải là người tình, như Paz gợi ý.

Tương quan với thiên nhiên như thế có thể là một tương quan mật thiết, sắc dục hay từ tính (a magnetic relationship) nghĩa là thu hút nhau, mơn trớn nhau và có thể xuyên thấm nhau.

Như bài haiku của Bashô về đầm Kisagata:

Đầm Kisagata

Nàng Tây Thi nằm ngủ

Hoa buồn ngủ trong mưa.

(Kisagata ya

ame ni Seishi ga

nebu no hana).

Dưới mưa, đầm Kisagata, nàng Tây Thi và hoa buồn ngủ (hoa hợp hoan) như cùng nhau thiếp ngủ. Cảnh ấy “ngập đầy đôi mắt” nhà thơ, mơn trớn nhà thơ.

Và khổ thơ về quẻ Hằng của Paz:

Như rừng nằm trong giường lá

Em nằm ngủ trong giường mưa

Em hát ca trong giường gió

Em hôn trong giường những tia lửa ngời.

(Como el bosque en su lecho de hojas

tú duermes en tu lecho de lluvia

tú cantas en tu lecho de viento

tú besas en tu lecho de chispas)

Nhà thơ Paz muốn “sờ nắn bằng tư tưởng và suy tư bằng thân xác” và vần thơ trên cho thấy điều đó. Nằm ngủ, hát ca và hôn trong mưa, trong gió, trong lửa. Tư tưởng thật sự biết sờ nắn và thân xác thật sự biết suy tư.

Với Bashô, tiếp xúc và hiểu biết thiên nhiên là nguồn cảm hứng vô tận: “Muốn biết cây tùng, hãy đi tới cây tùng”. Đi tới là tiếp xúc, là mơn trớn, là thâm nhập vào sự vật, vào thiên nhiên. Và cảm nghiệm Nước, Đất, Gió, Lửa bên ngoài ta cũng như bên trong ta.

Nước, cổ mẫu đầu tiên, trải nghiệm đầu đời của ta. Lòng mẹ, máu, sữa, mưa, sông, biển, nước mắt…

Haiku mùa thu của Bashô:

Chén trăng đầy

sóng thơm mùi rượu

biển xanh say.

(Sokai no

nami sake kusashi

kyo no tsuki)

Trăng có thể được dùng làm chén mà múc rượu từ biển mùa thu ngát hương: rượu tình.

Với Paz, thơ ca là nước, nước chảy tràn.

Cuối cùng hãy là một Lời…

một giọt nước trên khao khát môi.

nước, nước cuối cùng trôi,

lời của người dành cho người.

(Ser al fin una Palabra…

un poco de agua en unos labios ávidos.

Agua, agua al fin

palabra del hombre para el hombre).

Nước kết nối con người với cội nguồn, con người với con người. Nước là thơ ca, là tình yêu cuộc sống.

Đất thì phong nhiêu, là mẹ đất. Theo Paz, mẹ đất luôn luôn trinh nguyên. Nhưng sinh sản vô tận hoa trái trần gian.

Một bài haiku của Bashô trình bày một cuộc chơi: hoa rụng về cội.

Xuống đất ư

cánh hoa về cội rễ

dường như giã từ.

(chi ni taore

ne ni yori hana no

wakare kana)

Bài thơ thuộc mùa xuân cho dù nói về giã từ và cái chết. Vì hoa lại tan mình vào đất, một lúc nào đó lại tái sinh thành hoa mới trên cây. Cây đã nhập hoa trở lại vào thân mình. Vòng luân hồi của sinh thái là thế.

Đất thì lặng lẽ và cây cũng thế. Paz nói lên cái vô ngôn đó trong một bài haiku của mình:

Cây tần bì

đêm qua dường sắp nói

nhưng rồi không nói ra.

(Anoche un fresno

a punto de decirme

algo -callóse)

Có nhiều cách nói. Và không nói cũng là một cách nói. Do đó ta có thể nghe đất và nghe cây. Không thể nghe bài ca im lặng của đất và cây có thể là một cách mất gốc, không còn là hoa của đất.

Đất có thể kết hợp với trời trong mưa và lúc ấy mọi sinh linh trông khác đi, như một bài haiku của Bashô cho thấy:

Mưa mùa hạ trôi

kìa chân chim hạc

ngắn lên lần hồi.

(Samidare ni

tsuru no ashi

mijikaku nareri).

Chân chim hạc ngắn đi khi nước dâng nhưng nói thế mà không phải. Chim hạc biết rõ chân mình, biết bầu trời và nước, biết mùa hạ và mưa theo cách của nó, theo bản năng sinh thái. Chim hạc đứng một mình nhưng đâu phải một mình. Hiện thời, đất, nước và bầu trời làm ra nó.

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng có mặt trong cái khác trong nguyên lý tương tức (interbeing) không có chi ngoại lệ.

Tư tưởng Phật giáo cũng như hiền minh sinh thái nhìn thấy không có gì là biệt lập, một mình.

Một mình không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Con hạc không bất động. Đứng yên là một cách khác, bay với mưa mùa hạ. Cái đứng yên đó là kết tụ ngàn lần đã bay và ngàn lần sẽ bay.

Trước Bashô, Nguyễn Trãi cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

Lẻ có chim bay cùng cá nhảy

Mới hay kìa nước nọ hư không.

Nhiều thế kỷ trước, thiền sư Nhật Bản Dôgen cũng đã nói trong Chánh Pháp Nhãn Tạng (Shobogenzo):

“Từ nước, cá làm nên đời sống của mình, và từ trời, chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau”.

Và hình ảnh cánh hạc biển của Nguyễn Du:

Hải hạc diệc hội vũ

Bất dữ thế nhân tri.

(Biển xanh cánh hạc múa chơi

Cần chi hạc múa cho người đời hay.)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và nước, đất và trời tương phản mà tương hợp.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên tạo hóa thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, nước, chim, cá… và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức…

Đất tự nó là một sinh thể. Con người không chỉ sống trên đất mà còn là đất. Thế nên Paz viết:

Chỉ có đất

mà tôi biết và biết tôi.

(Única tierra

que conozco y me conoce).

Với Octavio Paz, gió được xem là “hơi thở sáng tạo của đời sống. Gió có thể ném ta ra khỏi chính mình hay ném ta vào chính mình”.

Lang thang trong gió thu gió đông, Bashô cảm thấy:

Xơ xác dãi dầu

gió xuyên thân xác

vào tận hồn sâu.

(Nozarashi o

kokoro ni kaze no

shimu mi kana).

Cùng diễn tả hơi thở dữ dội của gió, đến giữa thế kỷ hai mươi, nữ sĩ Setsuko viết:

Đất trời

rung chuyển cùng hơi thở

bày trận tuyết rơi.

(ame-tsuchi no

iki aite hagheshi

yuki furasu).

Gió vừa sáng tạo vừa tàn phá, vừa là sắc vừa là không, vừa đến vừa đi đồng chơi, vừa chơi vừa chết đồng thời.

Gió thổi mây bay. Nhưng chính là gió bay. Yếu tính của gió là bay và bay và nó có thể giải thoát từ đã đến thơ ca ra khỏi trọng lực, như những vần thơ của Paz cho thấy:

Thế giới cũ của đá

cất mình lên và bay

(El viejo mundo de las piedras

se levanta y vuela).

Ngày mở bàn tay

bay ra ba áng mây

và những vần thơ này.

(El día abre la mano

tres nubes

y estas pocas palabras).

Mây bay gió thổi. Nhưng ngày thật sự mở ra với lửa. Với Paz, thơ ca là “ngôn ngữ của lửa” (lenguaje de incendios) và lửa cũng là tâm linh, như có thể thấy qua vần thơ sau đây của ông:

linh hồn không sống trong hình thể nào,

nhưng làm cho mọi hình sắc cháy

với một ngọn lửa bất diệt huyền linh.

(espíritu que no vive en ninguna forma,

mas hace arder todas las formas

con un secreto fuego indestructible).

Lời thơ của Bashô trong một đêm mùa xuân ẩn giấu một ánh lửa vô hình của nến, của hương và của u huyền:

Một đêm mùa xuân

trong góc Phật đường

bóng ai quỳ mông lung.

(Haru no yo ya

komoribito yukashi

dô no sumi).

Một hình ảnh lửa có thể nhìn thấy trong nước qua bài haiku khác của Bashô:

Dòng Mogami ấy

dìm mặt trời đang cháy

vào trong biển xanh.

(Atsuki hi o

umi ni iretari

Mogamigawa).

Lửa mặt trời vẫn cháy trong dòng sông ấy, trong biển cả ấy và vẫn cháy trong thơ ca, trong đá, trong cỏ, trong gió, trong đất và trong con người.

Thơ ca đã kết buộc thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, ôm ấp đất, nước, gió, lửa bằng tình yêu nồng nàn.

Mỗi ngày của chúng ta được kết dệt bằng vũ điệu của các nguyên tố ấy như lời thơ của Paz:

Những nguyên tố quấn quít nhau

đan dệt y trang của một ngày chưa biết.

(Los elementos enlazados tejen

la vestidura de un día desconocido).

Cái ngày chưa biết đó, cái ẩn giấu đó chính là cái mê diệu mà thiên nhiên mặc khải cho thơ ca, sự mặc khải mà Bashô và Paz lắng nghe không ngừng. Lắng nghe hình sắc và lắng nghe cả hư không. Thơ Bashô:

Từ cành cao

hư không rơi xuống

trong vỏ ve sầu(7).

(Kozue yori

adani ochi keri

semi no kara).

Chú thích

(1) Patrick H. Dust, Editor: Ortega y Gasset and the Question of Modernity, The Prisma Institute, Minneapolis, 1989, p.51

(2) Octavio Paz: Covergences, Trans. Helen Lane. HBJ, New York, 1987, p.248

(3) Octavio Paz: Children of the Mire, Trans. Rachel Phillips, Harvard University Press, Cambridge, 1974, p.63.

(4) Octavio Paz: The Bow and the Lyre, Trans. Ruth Simns, McGraw-Hill, New York, 1975, p.121

(5) Octavio Paz: The other voice, Trans. Helen Lane, HBJ, New York, 1992, p.159,160.

(6) Matsuo Bashô: Oku no hosomichi/ The Narrow Road to Oku, Song ngữ Nhật Anh, Trans. Donald Keene, Kodansha, Tokyo, 1996, p.78,79.

(7) Những trích dịch không đánh số trong bài viết chúng tôi thực hiện khi dựa vào các tài liệu sau đây:

- Jason Wilson: Octavio Paz, A study of his poetics, Cambridge University Press, London, 1979

- The Poems of Octavio Paz, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. E. Weinberger, New Directions, 1998

- Octavio Paz, Selected Poem, Sách song ngữ Tây Ban Nha – Anh, Trans. Tomlinson, Penguin Books, 1979

- Bashô The Complete Haiku, Sách song ngữ Nhật – Anh, Trans. Jane Reichhold.

N.C

Hạnh phúc đơn sơ- Lê Văn Truyền

alt

鉄鉢に明日の米あり夕涼み
tetsubachi ni / asu no kome ari / yūsuzumi
in the iron bowl

rice for tomorrow
the cool evening


trong bát sắt khất thực

có nhúm gạo ngày mai

chiều buông mát lành

Ryokan Taigu (1758 – 1831)

Lê văn Truyền dịch

Hạnh phúc là điều mà mọi người đều theo đuổi, dù bằng cách thật chính đáng hay bằng cách đáng ngờ. Sống trong cái “xã hội tiêu thụ” này đôi khi ta tự hỏi: thế nào là hạnh phúc, những gì và những ai sẽ đem hạnh phúc đến cho chúng ta. Có người coi thành công là hạnh phúc, có người chọn sự giàu sang, danh vọng là hạnh phúc nhưng cũng có người đơn giản chỉ tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn để được hạnh phúc.

Aristotle (Hy Lạp, 384 - 322 trước C.N.) đã nói: “Hạnh phúc phụ thuộc vào chính bạn”. Như vậy, hạnh phúc không phải là món quà mà người khác đem đến cho ta. Đó là thứ ta phải tự tạo ra bằng chính đôi tay và sự nỗ lực của bản thân một cách trung thực. Socrates (Hy Lạp, 469 – 399 trước C.N.) thì cho rằng: Bí mật của hạnh phúc không nằm ở việc bạn tìm kiếm nó, mà là ở việc bạn hưởng thụ hạnh phúc như thế nào”? Như vậy, hạnh phúc không đến từ những yếu tố ngoại thân như các phương tiện vật chất mà chúng ta sở đắc hay những danh vọng mà ta được tưởng thưởng. Hạnh phúc đến từ chính bản thân mỗi người bằng sự cố gắng, nỗ lực và hưởng thụ những thành quả tự mình tạo ra. John Stuart Mill (Anh, 1806 - 1873) lại nói rằng: “Hãy học tìm kiếm hạnh phúc bằng cách giảm bớt nhu cầu chứ không phải tìm mọi cách để đáp ứng nhu cầu”. Điều quan trọng nhất của hạnh phúc là thay vì mê đắm đuổi theo sự đầy đủ về vật chất hãy giảm bớt những nhu cầu không cần thiết và sử dụng mọi thứ đúng mục đích.

Khúc haiku của Ryokan dường như đã kết tinh được những gì mà các nhà triết học trên đây đã phát biểu về hạnh phúc. Mặc dù là con trưởng trong một gia đình khá giả, được trọng vọng, Ryokan đã sống một cuộc sống đơn giản, vô cùng bình dị, không vương vấn bụi trần như một thiền sư. Một buổi chiều nào đó, Ryokan cảm thấy hạnh phúc khi trong cái bát khất thực nhỏ nhoi của mình đã có được nắm gạo cho ngày mai:

có nhúm gạo ngày mai

Nhúm gạo ngày mai” có trong chiếc bát sắt con con đã làm cho tâm hồn thiền sư bỗng trở nên nhẹ nhàng, không bợn chút lo toan để hạnh phúc thấy “chiều buông mát lành”. Ngày mai Ryokan đã có bát cơm ăn, để tiếp tục tồn tại, để mở lòng tận hưởng niềm hạnh phúc mà thiên nhiên ban tặng.

Mục sư Robert Waldinger - giáo sư tâm lý học của Đại Học Havard- đã nghiên cứu trên 724 người trưởng thành trong suốt 75 năm nhằm tìm hiểu quan niệm về hạnh phúc trong cuộc sống con người. Thông qua kết quả nghiên cứu dài hạn này, Mục sư Robert Waldinger khẳng định: Khoa học và Phật giáo có cùng quan điểm cơ bản về giá trị hạnh phúc: “Thoát khỏi cái tôi nhỏ bé là nguồn gốc của sự mãn nguyện và ý nghĩa hạnh phúc”.

Dù người đương thời đã tặng Ryokan biệt hiệu “Taigu” (Đại Ngu) nhưng cuộc đời và khúc haiku cách đây hơn 200 năm cho thấy Ryokan có cái nhìn thật minh triết về hạnh phúc, rất trùng hợp và không thua kém các kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại của Đại Học Havard trong cái “xã hội tiêu thụ” ngày nay của chúng ta.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Thượng Đình, Hà Thành

...

RYOKAN TAIGU: (1758 - 1831), tên thật Yamamoto Eizo sinh ở làng Izumozaki, tỉnh Echigo (Nhật Bản). Ông rời bỏ gia đình rất sớm và tu tập tại ngôi đền Koshô-ji với thiền sư Kokusen. Khi sư phụ Kokusen mất ông bắt đầu sống cuộc đời khất thực. Ông dành cả cuộc đời để làm thơ, viết thư pháp và đàm thoại với thiên nhiên. Thơ ông rất đơn giản và thường lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Ông rất yêu trẻ con và đôi khi say sưa chơi đùa với trẻ con mà quên cả việc khất thực.  Ông không bao giờ tự nhận mình là “nhà sư” hoặc “nhà thơ”. Thơ ông đầy tính thiền và hài hước. Ryokan sống cuộc đời cực kỳ đơn giản và có rất nhiều giai thoại về lòng nhân từ, lòng vị tha của ông. Ông mất ngày 6 tháng giâng năm 1831. Teshin, người bạn thân của ông cho biết Ryokan từ trần trong tư thế thiền định, từ giã cõi đời như đang trong một giấc ngủ quên. (Nguồn: Wikipedia)

Hương thơm, liều thuốc tâm hồn- Lê Văn Truyền

alt

Đầu thu

úp mặt vào hoa cúc

cho buồn thành hương bay

Nguyễn Thánh Ngã

Trong thiên nhiên quanh ta luôn luôn hiện hữu mùi hương. Một cách vô hình, mùi hương hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng đến hoạt động thể chất và tâm lý của chúng ta, thậm chí có thể nói không quá rằng: hương thơm có thể kiểm soát khả năng hoạt động thể chất và tâm lý của con người. Ở đâu đang tỏa ngát hương thơm, ở đó có một loại ngôn ngữ – ngôn ngữ vô hình – để con người giao tiếp với con người và giao tiếp với thiên nhiên. Người Hy Lạp cổ đại còn tin rằng con người có thể giao tiếp với thần linh thông qua mùi hương: “Ở đâu có hương thơm ngọt ngào, ở đó hiện diện các Thần linh”.

Tác động của mùi hương đến thể xác, tinh thần và tâm hồn chúng ta là cơ sở khoa học của một phép chữa bệnh được gọi là “Hương trị liệu” (Aromatherapy) có lịch sử hơn 6.000 năm và đã được ghi vào các sách cổ trên giấy papirus của người Hy Lạp vào khoảng 1.500 năm trước Công nguyên. Trị liệu bằng hương thơm là nghệ thuật và khoa học sử dụng tinh dầu thơm tự nhiên để cân bằng, hài hòa và thúc đẩy sức khoẻ thể xác, tinh thần và tâm hồn chúng ta. Phép “Hương trị liệu” tìm con đường để thống nhất các quá trình sinh lý, tâm lý và tinh thần nhằm hỗ trợ cho việc chữa trị một số bệnh, đặc biệt là những bệnh tâm căn. Các nhà khoa học hiện đại đã lập được một “Từ điển hương trị liệu” xác định tác dụng điều trị của từng loại hương thơm. Tinh dầu hoa Cúc, đặc biệt là Cúc La Mã (Matricaria chamomilla), được coi là có tác dụng như một thuốc an thần, làm vợi đi những căng thẳng, xoa dịu lo âu trong tâm hồn người.

Khi mùa Thu đến, không gian bàng bạc, khí trời man mác, những mùi hương mơ hồ trong thiên nhiên chung quanh thường mang lại cho ta những nỗi u sầu vô cớ (melancholy). Đôi khi, những ký ức gợi sầu đã bị chôn vùi trong thời gian bỗng dưng hồi sinh mạnh mẽ, da diết vì một mùi hương thân thương, quen thuộc nào đó trong quá khứ thẳm sâu. Và khi tác giả phiến khúc haiku trên đây cảm thấy tâm hồn tràn ngập muộn phiền, không có gì tốt hơn là mượn mùi hương của hoa Cúc để gửi nỗi buồn theo gió bay đi.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Những khúc Haiku về con ếch- Lê Văn Truyền

Khi nói đến những động vật bé nhỏ được dùng làm “quý ngữ” cho những khúc haiku, người ta thường nhắc đến con ếch trong phiến khúc haiku sau đây của Bashô, một trong bốn đại sư của Haiku Nhật Bản:

古池や
蛙飛び込む
水の音

furuikeya /kawazu tobikomu / mizu no oto

ao cũ

con ếch nhảy vào

vang tiếng nước xao

Nhật Chiêu dịch

alt

Trên thế giới đã có hàng ngàn bản dịch phiến khúc haiku này và thầy Nhật Chiêu tài hoa đã cũng đã dịch ra tiếng Việt như trên. Cũng về con ếch, Ryokan, một đại sư haikư khác của Nhật Bản, đã viết khúc haikư sau đây, được người đời tương truyền là để đùa giễu Basho:

新いけやかはずとびこむ音もなし
新池や蛙飛びこむ音もなし

araike ya / kawazu tobikomu / oto mo nashi

the new pond

a frog jumps in

no splashing

ao mới

con ếch nhảy vào

không tiếng nước xao

Lê văn Truyền dịch

Hai phiến khúc haiku của hai đại sư đều kiệm từ nhưng đối nhau chan chát: “ao xưa (cũ) / ao mới”, “vang tiếng nước xao / không tiếng nước xao”. Thế mới biết thành ngữ “văn ta, vợ người” phản ảnh một cách suy nghĩ phổ biến không chỉ trong giới văn nhân, nghệ sĩ nước ta.

Ở đất nước Việt Nam xa xôi, nơi chỉ gần đây thôi mới biết đến nền thơ haiku Nhật Bản, tôi đồ rằng chú bé Đặng Nhật Minh 11 tuổi, học sinh trường Trung học phổ thông cơ sở Nguyễn Du (Hà Nội), có thể chưa được biết hai đại sư Basho và Ryokan đã có những khúc haiku để đời về con ếch được coi là kinh điển trong kho tàng haiku Nhật Bản. Chính vì vậy, khi tham gia cuộc thi “Sáng tác haiku trên tranh vẽ” về chủ đề “Sinh vật sống” (2017-2018) do Japan Airlines Foundation tổ chức, cậu bé mới hồn nhiên, không run tay “dám” sáng tác khúc haiku của riêng mình về chú ếch con, bạn của cậu:

chú ếch ngồi đáy giếng

chú ta thường hay hỏi tại sao

bầu trời lại bé thế

Đặng Nhật Minh, 11 tuổi

Khúc haiku độc đáo trùng với ý tưởng của một thành ngữ Việt Nam “ếch ngồi đáy giếng”. Chú bé trai hiếu động, tinh nghịch Đặng Nhật Minh hàng ngày sau giờ học, chắc vẫn bầu bạn, tâm tình với những người bạn nhỏ: chú ếch dưới đáy giếng, con cóc cụ trong góc vườn, chú ve sầu ca hát suốt mùa hè, con dế trũi đen thui trốn sâu trong hang đất … Chỉ có chú bé Đặng Nhật Minh mới có khả năng “trò chuyện” và hiểu được “tâm sự” của những động vật bé tí này. Em đã coi chú ếch là một động vật biết tư duy, biết thắc mắc về bầu trời quá nhỏ bé và biết trăn trở ngày đêm tìm câu trả lời. Khúc haiku thể hiện cách nhìn hồn nhiên, đầy cảm thông của trẻ thơ đối với thân phận con vật bé nhỏ đáng yêu đang bị “cầm tù” dưới đáy giếng với câu hỏi khắc khoải chưa được giải đáp của nó: tại sao bầu trời lại bé thế? Hoàn cảnh sống làm chú ếch không hiểu tại sao bầu trời chỉ bằng cái miệng giếng.

Trong phiến khúc haiku trên đây của Đặng Nhật Minh, chú ếch không còn là một con vật bé nhỏ chỉ biết “nhảy vào” và “nhảy ra” khỏi cái ao. Chú ếch của Đặng Nhật Minh là động vật “biết tư duy” khi quanh quẩn dưới đáy giếng đã dám đặt một câu hỏi lớn: Sao bầu trời bé thế?

Thế mới biết, có nhiều cách khác nhau để tìm đường lên một đỉnh núi.

LVT

Tưởng nhớ thảm họa bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki

alt

a sparrows’ nest

perhaps

inside the A-bom dome

Kinichi Sawaki ((1919-2001)

Patricia Donegan dịch

có thể

có một tổ chim sẻ

trong mái vòm bom nguyên tử

Lê Văn Truyền dịch

KHÔNG MỘT HIROSHIMA NỮA

Patricia Donegan

Nhớ lại Hiroshima ngày 6 tháng 8 gần 60 năm trước, tôi nhận ra rằng không có tin tức gì hôm nay về thành phố này trên phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, một ngày là “Ngày Hòa Bình Thế Giới” với lời nguyền của Nhân Loại không thể để lặp lại một lần nữa sự hủy diệt như thế. Tôi chỉ hy vọng những độc giả tương lai được sống trong một thế giới phi hạt nhân. Tôi nhớ lại lần hành hương đầu tiên về Hiroshima nhiều năm trước đây, tôi đã khóc và nghĩ rằng, mỗi nhà lãnh đạo trên thế giới cần phải đến thăm chốn linh thiêng này - vì rằng kinh nghiệm đau thương của chốn này sâu sắc nhường bao và họ - các nhà lãnh đạo cần phải kêu gọi một thế giới không bom hạt nhân. Có thể đây là một ảo tưởng hay là một ảo tưởng ngăn chặn vũ khí hạt nhân vì một ngày nào đó, một trong hàng ngàn quả bom hạt nhân (mà mỗi quả bom có sức mạnh gấp hàng ngàn lần quả bom nguyên tử ở Hiroshima) sẽ gây ra một vụ nổ. Hình ảnh gây ấn tượng thật mạnh mà tôi còn nhớ là hình ảnh cái bóng cháy đen của một người đàn ông vô danh in lên các bậc thềm đá của một tòa nhà ngân hàng mà ông ta đang sắp bước vào khi luồng ánh sáng chói chang của quả bom nguyên tử bùng lên vào lúc 8:15 sáng, và ông ta bỗng biến mất khỏi cõi trần. Một hình ảnh khác cũng ám ảnh tôi không kém là hình ảnh được nhắc đến trong khúc haiku này: các mái vòm đen của tòa nhà, tòa nhà duy nhất còn sót lại sau vụ nổ của quả bom nguyên tử, đang được UNESCO bảo tồn như là một biểu tượng của Hòa Bình để hồi tưởng đến Hiroshima. Ở đây, trong khúc haiku này, hình ảnh của mái vòm bị bom trở nên thật thấm thía với hình ảnh của sức sống mới đang nẩy nở từ mái vòm này, từ trong cái tổ bé nhỏ của con chim sẻ … Có lẽ, ta có thể mơ đến điều đó. (Patricia Donegan: Haiku Mind, 108 Poems to Cultivate Awareness & Open Your Heart, Shambhala. 2010).

PHƯỢNG HOÀNG TÁI SINH

Lê văn Truyền

Vào giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ II, ngày 6 tháng 8 năm 1945, Hoa Kỳ đã ném quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên "Little Boy" xuống thành phố Hiroshima (Nhật Bản). Và sau đó 3 hôm, ngày 9 tháng 8 năm 1945, quả bom thứ hai mang tên "Fat Man" đã phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki.

Ở Hiroshima vào lúc 8 giờ 15 phút sáng, quả bom nổ ở độ cao 610 m, giải phóng nguồn năng lượng hủy diệt khổng lồ tương đương 15.000 tấn thuốc nổ TNT, san phẳng 13 km vuông thành phố chỉ trong trong vài giây. Hơn 60 phần trăm nhà cửa bị phá hủy hoàn toàn. Ước tính, khoảng 80.000 người dân Hiroshima đã chết ngay lập tức bởi vụ nổ và cũng khoảng 80.000 chết sau đó bởi hậu quả của vụ nổ. Một trong những bức ảnh kinh điển của nhiếp ảnh gia O'Donnell đã ghi lại khoảnh khắc một cậu bé đưa tiễn đứa em nhỏ về nơi an nghỉ cuối cùng tại khu hỏa táng. Cậu bé cõng đứa em nhỏ đã chết trên lưng, cố gắng không bật khóc. Tác giả bức ảnh viết: “Tôi thấy một cậu bé khoảng 10 tuổi, đi chân đất cõng em trên lưng. Trong những ngày này ở Nhật Bản, người ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh trẻ em được anh chị trông nom. Tuy nhiên, đứa trẻ này không phải như vậy. Tôi thấy cậu bé đi đến khu vực hỏa táng nạn nhân vụ nổ bom nguyên tử vì một lý do gì đó rất nghiêm trọng. Khuôn mặt cậu bé nghiêm nghị trong khi đứa em trên lưng nghiêng đầu như đang ngủ say. Cậu bé đứng đó chừng 5 hoặc 10 phút. Những người đàn ông mang khẩu trang trắng bước về phía cậu bé, lặng lẽ cởi sợi dây buộc đứa trẻ ở phía sau. Đó là lúc tôi nhận ra đứa em ở trên lưng cậu bé đã chết. Những người đàn ông đưa bé em tới nơi hỏa táng. Anh của bé vẫn đứng tại chỗ, mắt không rời ngọn lửa. Cậu bé cắn chặt môi dưới đến rướm máu, đứng đó tới khi ngọn lửa tắt dần và mặt trời bắt đầu lặn. Rồi cậu bé quay lưng và lặng lẽ bước đi".

Tuy vậy, do nằm trong vành đai núi lửa và động đất Thái Bình Dương, các công trình xây dựng ở Nhật Bản nói chung và ở Hiroshima nói riêng khá vững chắc. Một trong số những công trình còn tồn tại là “Genbaku” được xây dựng từ năm 1915, sau vụ nổ được gọi là “A-bomb Dome” (Vòm Bom Nguyên Tử). Ngày nay, quanh phế tích “A-bomb Dome” là Khu Tưởng Niệm Hòa Bình Hiroshima được UNESCO đưa vào danh sách Di Sản Thế Giới (1996), bất chấp sự phản đối của Mỹ và Trung Quốc.

Chịu hai quả bom A, nước Nhật đầu hàng Phe Đồng Minh và kẻ bại trận phải bắt đầu tái thiết đất nước từ đống tro tàn.

Trong phiến khúc haiku trên đây, Kinichi Sawaki, một haijin Mỹ gốc Nhật đã mượn hình ảnh những con chim sẻ làm tổ trong “A-bomb Dome” để biểu trưng cho dấu hiệu hồi sinh của một vùng đất chết, cho sự hồi sinh một đất nước bại trận, hoàn toàn bị tàn phá đang quyết tâm xây dựng lại. Nhưng liệu Nhật Bản - đất nước của những chiến binh samurai - có cam chịu chỉ phục hồi lại những gì đã bị hủy diệt hay chính nỗi nhục bại trận đau đớn lại là động lực mạnh mẽ để Nhật Bản quyết tâm thực hiện những kỳ tích?

Là một dân tộc được cả thế giới ngưỡng mộ tinh thần trách nhiệm trong công việc, sự khiêm nhường, ý thức tự giác và kỷ luật, đức tính ham học hỏi, cần cù, chăm chỉ, nhẫn nại, tính cách luôn luôn muốn vươn lên đạt đến sự hoàn thiện, toàn mỹ … người Nhật đã chứng minh trước toàn thế giới: nước Nhật không phải là chú chim sẻ. Nhật Bản hiện đại là con chim Phượng Hoàng Lửa (Phoenix) trong thần thoại Hy Lạp tái sinh từ đống tro tàn, tung cánh vươn lên những đỉnh cao, bất chấp thảm họa nguyên tử trong chiến tranh thế giới lần thứ hai và cả thảm họa nguyên tử nhà máy điện hạt nhân Fukushima bị tàn phá bởi sóng thần trong thời bình.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

KINICHI SAWAKI (1919-2001). Là một nhà thơ haiku hiện đại lỗi lạc của Hoa Kỳ. Vợ ông, Ayako Hosomi cũng là một nhà thơ nổi tiếng. Sawaki đã từng là người lãnh đạo của nhóm thi sỹ “Kaze” (Wind: Gió) trong nhiều năm. Ông đồng thời là Chủ Tịch của Hội Haiku Nhật Bản. Trong số các tác phẩm của ông, có chuyên khảo về Basho có tên “Oku no Hosomichi Wo Aruku” (Walking the Narrow Road to the Deep North: Đi trên Con Đường Hẹp về Phương Bắc Bí Hiểm”. Hai tuyển tập haiku của ông là: “Yukishiro” (Tuyết Trắng) và “Enden” (Salt Farm: Đồng Muối). (Theo Patricia Donegan).

PATRICIA DONEGAN (1953 - …): Thành viên Hiệp Hội Giáo Sư Hoa Kỳ, nhà thơ, nhà biên dịch đồng thời là người đề xướng việc coi haiku như là một phương tiện để “thực hành nhận thức”. Bà là thành viên của Hội Nhà Thơ Đông – Tây (Đại Học Naropa) của Allen Ginsberg và Chogyam Trungpa; Bà cũng là môn đệ của bậc thầy haiku Seishi Yamaguchi và là nghiên cứu viên của quỹ Fulbright ở Nhật Bản. Các tác phẩm haiku của Bà gồm có: “Love Haiku” (Haiku Tình Yêu), “Chiyo-ni: Woman Haiku Master” (Chiyo-ni: Nữ Sỹ Haiku Bậc Thầy) đồng tác giả với Yoshie Ishibashi và tác phẩm “Haiku: Asian Art for Creative Kids” (Haiku: Nghệ thuật Á Đông cho Trẻ Em Sáng Tạo). Các tuyển tập Haiku của Patricia Donegan gồm có: “Without Warning”, “Bone Poems” và “Hot Haiku”.

Thơ Haiku đeo nặng suy tư- Lý Viễn Giao

Thơ Haiku ngày càng được nhiều người tìm đến có lẽ bởi đặc điểm ngắn gọn của nó. Trong thời đại mà mọi lĩnh vực đời sống đều vận hành với tốc độ cao, ít ai có điều kiện và nghị lực để thưởng thức những tác phẩm dài, dẫu cho đó là văn chương. Ngắn gọn nhưng không gây nhàm chán, nhạt nhèo thì hẳn nhiên phải hàm súc rồi. Những con chữ tích hợp trong một khúc thơ càng gợi nhiều, gợi đa chiều, sẽ nâng tầm giá trị của thơ lên càng cao. Với một số lượng từ rất hạn chế, người làm thơ tài ba có thể gửi vào đấy ý tưởng lớn mang tính định hướng cho đời sống xã hội và tình cảm con người trong mọi ngõ ngách của suy tư. Là thế, nhưng thơ Haiku không răn dậy, rao giảng mà chỉ nêu lên thông qua ý tứ hay hình ảnh để người đọc chiêm nghiệm. Bài thơ không đề xuất triết lý nhưng độc giả có thể rút ra từ đó, nhào nặn nên châm ngôn cho riêng mình.

alt

Hãy đọc khúc thơ này của tác giả Lê Đình Công :

“Tôi đi về phía hoàng hôn

Ráng chiều rực rỡ

Bình minh đợi phía bên kia”

Ta có thấy anh nói gì đâu. Chỉ là ba ngắt ý dưới dạng hình ảnh để tạo nên bức tranh toàn cảnh về một người hướng bước phía trời tây tràn đầy ánh sáng , cả ánh sáng hiển hiện và ánh sáng còn đang ẩn mình đợi phía bên kia. Ấy vậy mà anh nói với ta nhiều đấy. Nói về sự tự tin, tự tại đón nhận cái quy luật chắng của riêng ai, chẳng của thứ gì, Vô Thường. Nhưng không chỉ thế mà còn vẽ lên cái bản lĩnh của con người đã đủ nhận chân được quy luật sinh tồn này. Đoạn cuối của con đường không u ám mà sáng đến diệu kỳ cho cả hiện tại và tương lai.

Lại cũng có thể hiểu khúc thơ này gợi mở cho ta nhớ ra những điều tất yếu khác. Nó như tìm ra ánh sáng cuối đường hầm. Nó như niềm vui của Bĩ cực thái lai hay Khổ tận cam lai…

Cùng sử dụng hình ảnh buổi cuối ngày để nói về cuộc đời. Cùng thể hiện sự bình thản, tự tin dẫu đã trải nhiều dâu bể. Thạch Lựu lại viết:

“Đường đời

Chân mỏi

Nắng hoàng hôn”

Cái nắng của hoàng hôn dẫu chẳng chói chang gì, nó không được như cái nắng quái chiều hôm nhưng nhiều khi lại tạo nên vẻ đẹp say lòng.

Đọc khúc Haiku này :

“Tiếng mưa

Rơi trên chiếc lá

Xuyên thủng màu xanh”

(Nguyễn Thánh Ngã)

Tôi sực nhớ tới hai câu luận trong bài thơ Sơn Trà của nhà thơ Nguyễn Khuyến :

穿

Người tự dịch nghĩa :

“Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp
Tiêu sắt thần phong oán lạc dà” và dịch thơ :

“Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá
Gió to luống sợ lúc rơi già”

Dân gian có câu “Mưa dầm ra nước” với hàm ý cả tốt lẫn xấu cho mưa. Mưa đem nước về tưới nhuần để vạn vật sinh sôi nhưng nếu mưa dầm dài dài nước lại biến thành thủy họa. Nguyễn Ngã không trực ngôn như cụ Tam Nguyên nhưng “xuyên thủng màu xanh” thì khác gì “xuyên diệp”. Cách nói này làm ý tứ mềm đi, hình ảnh thơ hơn, nhưng cũng vẫn là cái e ngại về sự đời đen bạc, tình người trắc ẩn mà thôi .

Hai jin Lương Thị Đậm mượn hình ảnh con thuyền thúng để nói về phận người. Chị không gán cho phận con người bằng một từ mặc định nào cả mà chỉ đưa ra hai ngắt ý bằng hình ảnh Thuyền thúng và Phận người. Ngắt ý thứ ba là một hình ảnh động chung cho cả hai ý trên,Tròng trành ! Người quen lái, ngồi thuyền thúng đã ngắc ngư, chao đảo cùng con sóng và bước chèo. Người non tay, sự tròng trành ấy lại càng là những thử thách không nhỏ, khôn lường. Ấy cũng chính là phận người trước sóng gió cuộc đới đấy “Thuyền thúng xoay xoay/ Phận người/ Tròng trành”

Khi nói về bài học đường đời, dân gian có những câu “Chim sợ cành cong” hay “Sợ như gà phải cáo”. Con chim đã một lần gặp bẫy sẽ cứ thấy cành cây có dạng cong cong là dè chừng. Còn chú gà nào một lần được giáp mặt cáo thì chỉ thấp thoáng một cái gì đó cũng đủ giật mình. Người xưa mượn hiện tượng về con vật để nói thay mình như thế. Giản dị thôi nhưng cũng sâu sắc đấy. Khúc Haiku sau đã khiến ta liên tưởng đến tiền nhân :

“Em sợ ngọt

Vì đã say

Bởi mật”

(Kiều Lam)

Cũng là bài học đường đời nhưng óng ả hơn, văn chương hơn và cũng uyên thâm hơn. Không phải chỉ vì nó nói về người. Cái làm ta sợ không khô cứng như cành cây, không dữ dằn như loài cáo. Cái bẫy gài lại là mật để ta đã không phải chỉ thích , mà say. Dân gian có nói một câu răn na ná : “Mật ngọt thì ruồi chét tươi / Những nơi cay đắng là nơi thật thà”, có phải hơi lộ quá không ? Kiều Lam tự sự thôi, cứ như chẳng bảo ai cái gì thế mà như nói với tất cả. Nhẹ nhàng, tế nhị mà sâu sắc.

Đạo Phât dậy con người biết buông, biết xả. Nhủ nhau về điều này người làm thơ lại viết :

“Buông câu

Vẩy chuyện đời

Vào quên”

(Thiện Niệm)

Chỉ cần buông câu đã nói lên động thái của người tìm sự quên lãng bằng một thú vui thanh thản. Ai đã từng một lần tựa gối ôm cần hẳn biết động tác trước lúc buông câu là hất nhẹ đầu cần để mồi rơi đúng vào nơi bỏ thính. Động tác nhẹ ấy mà tác giả so với việc vẩy chuyện đời thì quả là tinh tế. Mồi câu vẩy vào ổ thính còn chuyện đời anh vẩy vào quên. Mượn việc nhỏ gửi gắm ý lớn quả là tài tình. Điều này cũng không lạ lắm bởi anh vốn là một điếu ngư thủ mà.

Người ta tìm đến cửa hàng gỗ để mua sắm, để tìm tòi những nét trạm trổ tinh tế của nghệ nhân làng mộc. Ngọc Căn thì khác, qua khúc thơ :

“Cửa hàng gỗ

Nghĩa địa

Rừng”

Ta thấy anh không phải thế. Thay vì bị thu hút bởi vẻ đẹp của các sản phẩm để vui, anh lại đau lòng nhìn mỗi đồ vật như một nấm mồ của cây, cửa hàng là nghĩa địa của rừng. Nỗi niềm đau đáu này là cách phản ứng tế nhị nạn phá rừng, là hình thức gián tiếp truyền cảm ứng bảo vệ môi trường cho mọi người bằng thơ.

Có hay không hiện tượng hiền tài chịu đìu hiu ẩn giật? Có hay không chuyện ếch nhái nhẩy lên làm người? Nhiều đấy! Suy tư về những chuyện này của cả xưa và nay, Lê Đăng Hoan chỉ nhẹ nhàng :

“Lúa hết thời

Cỏ lên ngôi

Đời lộn ngược”

đủ cho ta chiêm nghiệm về ta, về đời trong cuộc người.

Đọc đến ngắt ý thứ ba trong khúc Haiku này :

“Đau khổ về đây

Ta sẽ trả thù

Bằng nụ cười độ lượng”

(Lê Vũ)

chắc nhiều người phải ngạc nhiên về cách trả thù của tác giả. Nó nâng ý nghĩa của lòng khoan dung lên tới tầm, nâng tính nhân văn đạt đủ độ. Đức Phật nêu tình huống cho các đồ đệ rằng nếu có người làm điều không tốt với mình thì nên chọn động thái dừng lại, tiến tới hay bước qua? Dừng lại là để tìm cách đối phó. Tiến tới là để hành động đáp trả. Còn bước qua là coi như không có gì. Và Phật khuyên nên hành sử theo cách thứ ba ! Khúc thơ trên cho thấy chẳng phải chỉ bước qua mà còn vui vẻ bước qua nữa kia. Quả là một cách hóa giải sự việc thật cao thượng phải không ?

Những uẩn khúc, những nỗi niềm hàm súc trong một bài thơ đôi khi không bình nổi thành lời mà chỉ biết nó rồi để suy ngẫm mà thôi. Một vài phiến khúc Haiku sau đây là những bài thơ như thế :

“Giọt thời gian

Những vì sao cũ

Rưng rưng con người”

(Đinh Trần Phương)

“Tự nguồn

Đáy mắt

Mùa xuân”

(Phùng Gia Viên)

Người viết gieo suy tư vào thơ. Người đọc cảm nhận thơ để suy tư. Thường hai luồng đó là đồng nhất nhưng đôi khi cũng có sự vênh lệch. Hay gặp nhất là suy tư của độc giả rộng hơn hay hẹp hơn tác giả. Mức độ rộng hẹp, nông sâu của suy tư lệ thuộc nhiều yếu tố, trong đó bao gồm nhân sinh quan, thế giới quan … và cả cá tính, năng lực nữa. Với thơ Haiku, đặc tính súc tích của nó lại càng dễ tạo ra khả năng thiếu đồng nhất giữa đôi bên. Với cách hiểu này, xin các tác giả có trong bài viết hãy bước qua nếu có chuyện đó xẩy ra.

LVG

Một thế giới bất trắc- Lê Văn Truyền

alt

the new calendar!

as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko

Michael R. Burch phỏng dịch

quyển lịch mới

như nói cùng ta

liệu ngày mai có chắc …
Lê Văn Truyền dịch

Mỗi khi đón chào năm mới, ta thường háo hức bóc tờ lịch đầu tiên với bao niềm hy vọng vào một năm sẽ đem lại cho ta những niềm vui mới, hạnh phúc mới như lời chúc “Happy New Year” vẫn thường nổi bật trên bìa quyển lịch. Thế nhưng tại sao phiến khúc haiku của Inahata Teiko lại thể hiện một tâm trạng khắc khoải, bất an … khi bà bóc tờ lịch đầu tiên của năm mới?

Ngày mai có chắc …?” là câu hỏi lửng lơ không lời đáp về một tương lai không chắc chắn, bất định … không chỉ thể hiện tâm trạng của bà mà phần nào là tâm trạng của cả nhân loại trong thời đại này.

Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI nền sản xuất công nghiệp toàn cầu phát triển như vũ bão đã để lại những hậu quả kinh hoàng và khó lường cho nhân loại (trái đất nóng lên vì khí thải hiệu ứng nhà kính, tốc độ diệt vong của sinh giới tăng nhanh, môi trường suy thoái khủng khiếp …). Nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động xã hội đã phải trăn trở đặt câu hỏi: Với cái đà này, đâu là tương lai của nền văn minh công nghiệp?

Ulrich Beck (1944-2015), nhà xã hội học đương đại người Đức, cho rằng: Trước đây con người là nạn nhân của nền “kinh tế khan hiếm” với ý nghĩa khan hiếm của cải vật chất, trong đó các rủi ro và nguy cơ chủ yếu đến từ các thảm hoạ tự nhiên. Ngày nay, chúng ta đang trở thành nạn nhân của những nguy cơ do chính mình gây ra. Nhân loại đang chứng kiến bước ngoặt của xã hội hiện đại từ một xã hội công nghiệp cổ điển chuyển sang một hình thái mới “xã hội công nghiệp nguy cơ” (risk industrial society) trong đó nhân loại phải đối mặt với cả nhân tai và thiên tai, và ngay cả thiên tai cũng có phần không nhỏ do con người gây ra. Gắn liền với “xã hội công nghiệp nguy cơ” là sự chuyển đổi từ phương thức phân phối sự giàu có và phúc lợi sang phương thức phân phối nguy cơ và rủi ro. Sự giàu có, phúc lợi do nền công nghiệp hiện đại tạo ra được phân phối cho một thiểu số người giàu, quốc gia giàu có trong khi đa số người nghèo, những người yếu thế và các nước nghèo phải gánh chịu phần lớn các nguy cơ và rủi ro như là một thứ “phụ phẩm” (by-products) của nền công nghiệp hiện đại.

Không phải là nhà xã hội học cũng không phải là nhà kinh tế học, với tư cách là thường dân của một nước đang phát triển, tôi thì lại muốn đặt tên cho cái “nền công nghiệp nguy cơ” của Ulrich Beck là “nền công nghiệp tham lam”. Tham lam vì nó chiếm hầu hết phần phúc lợi, sự giàu có trong khi trút hết mọi nguy cơ và rủi ro lên đầu người khác. Hãy nhìn các nước thượng nguồn sông Mekong đã xây 15 nhà máy thủy điện và còn dọa sau 2020 sẽ xây thêm 30 đập thủy điện nữa để khai thác tiềm năng 250.000 MW điện năng phục vụ cho nền công nghiệp của họ, biến đất nước họ thành “cái bình điện khổng lồ” của Đông Nam Á, đẩy nước ta vào thế phải hứng chịu rủi ro nhãn tiền về “những quả bom nước” treo lơ lửng trên đầu và đồng bằng Nam Bộ, vựa lúa, thủy hải sản, trái cây … nuôi sống hàng chục triệu người sẽ trở thành những “cánh đồng chết” như thế nào! Và đêm 23 tháng 7 năm 2018 mới đây, đập thủy điện Setien Senamnoi trên sông Mekong công suất 410 MW, một “quả bom nước” chứa 5 tỷ mét khối nước, đã nổ ở Attapeu (Nam Lào) chắc chắn không những gieo tai họa nhãn tiền cho người dân địa phương mà nhân dân vùng hạ lưu sông Mekong cũng phải hứng chịu những ảnh hưởng khôn lường.

Ấy thế mà, việc phân bổ nguy cơ và rủi ro cho các nước kém phát triển đôi khi còn được ngụy trang bằng một thuật ngữ kinh tế mỹ miều “đầu tư trực tiếp nước ngoài” (FDI: Lưu Foreign Direct Investment) để chuyển những ngành “công nghiệp rủi ro” sang các nước chậm phát triển.

Thế giới hiện đại đang bất ổn vì cũng như sự bất công trong phân phối của cải, phân phối nguy cơ, rủi ro cũng không công bằng. Nói cho ngay, theo suy nghĩ của kẻ viết những dòng này, nạn khủng bố dã man không thể tưởng tượng nổi đang lan tràn như dịch bệnh nhắm vào những nước giàu, ngoài những nguyên nhân về tôn giáo, phần nào còn phản ánh sự bất mãn về thực trạng mất công bằng trong khai thác tài nguyên, trong phân phối của cải, phúc lợi và rủi ro. Hơn thế nữa, chúng ta đang chứng kiến nạn dịch “hội chứng sùng bái giá trị vật chất” ngày càng lấn át các giá trị tinh thần cao đẹp của con người. Lòng trắc ẩn, tâm từ bi đã trở nên khan hiếm, nhường chỗ cho bạo lực và sự dã man trong khi “lòng trắc ẩn chính là nền tảng của mọi đạo đức” (Arthur Schopenhauer, 1788 – 1860, Đức). “Một người từ bi không bao giờ giàu. Nhưng một người giàu, lại không có chút từ bi” (Tục ngữ Trung Quốc).

Câu hỏi lửng lơ trong phiến khúc haiku của Inahata Teiko tuy ngắn gọn nhưng đã phản ánh sâu sắc tâm trạng khắc khoải, bất an thường trực của cá nhân bà với tư cách là một công dân Nhật, một trong những nước có nền công nghiệp phát triển nhất thế giới, nhưng đồng thời cũng là tâm trạng của nhân loại về một tương lai bất định với những bất trắc, nguy cơ và rủi ro không lường trước được.

Trước thực trạng xã hội đáng buồn của nhân loại, Đạt Lai Lạt Ma đã phải lên tiếng thiết tha kêu gọi: “Lòng trắc ẩn không phải là vấn đề tôn giáo mà là vấn đề của con người. Nó không xa xỉ nhưng rất thiết yếu đối với sự bình an, sự ổn định tinh thần của chúng ta và đối với sự sống còn của nhân loại.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Khi ta lìa đời- Lê Văn Truyền

alt

rồi đến một ngày trong cỏ dại

ta lìa đời

đám mới nở hoa, đám nhú mầm

Santoka (Taneda Shoichi) (1882-1933) Đinh Nhật Hạnh dịch

Sống trên đời ai ai cũng tự hỏi, cuộc sống quanh ta sẽ như thế nào sau khi ta từ trần. Có người sống cuộc đời quá bất công, bất hạnh, cực khổ, nhiều khi phải ngửa mặt lên trời mà kêu than: Sao ông Trời không cho ta chết quách cho rồi để nhẹ nợ trần gian? Nhưng có người lại muốn sống để lưu danh muôn thuở:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858)

Vấn đề là để lại cái gì? Và đời có công nhận và ghi nhận không? Có người muốn lưu danh với bất cứ giá nào mà kẻ đốt đền Herostratos là một trường hợp điển hình. Trong hy vọng sẽ được nổi tiếng, năm 356 trước C.N. Herostratos đã phóng hỏa đốt Đền thờ thần Artemis ở Ephesus, ngôi đền đẹp nhất trong số khoảng ba mươi ngôi đền của người Hy Lạp đương thời và là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Trong tiếng Đức hiện đại, tên riêng của kẻ đốt đền đã biến thành danh từ chung “herostrat” dùng để chỉ những kẻ điên cuồng tìm kiếm danh vọng bằng bất cứ giá nào. Đáng buồn là trong cuộc sống quanh ta hiện nay không hiếm những tên đốt đền như Herostratos. Ngược lại, có rất nhiều người sống cuộc đời hết sức giản đơn mà chỉ sau khi họ từ trần nhân loại mới nhận chân được tất thảy giá trị họ để lại cho đời. Những nhà hiền triết, những nhà tư tưởng lớn, những nhà bác học kiệt xuất là những người như thế.

Bậc thầy haiku Ryokan đã sống một cuộc đời cực kỳ đơn giản. Và ông thấy cái chết của mình chẳng có gì quan trọng để đáng nói, đáng sợ. Hãy sống thuận theo quy luật của Đấng Tạo Hóa: sinh, lão, bệnh, tử. Khi giờ của ta đã điểm, hãy nhẹ nhàng lìa đời, siêu thoát vào cõi hư vô. Hãy nhớ rằng, sau khi ta – dù là một kẻ thứ dân bần hàn, vô danh hay là một đấng thiên tài lừng lẫy, kiệt xuất – từ giã cõi đời, cuộc sống bất diệt quanh ta vẫn tiếp diễn. Tài năng, thiện tâm của con người vẫn sẽ như đám cỏ dại đầy sức sống trong khúc haiku trên đây:

đám mới nở hoa, đám nhú mầm

Ryokan luôn bình tĩnh đón nhận cái chết. Ông luôn điềm đạm tự hỏi:

khi nào thì mình chết?

rắc gieo

những hạt mầm

Đừng sợ cái chết. Trái lại, cái chết sẽ là niềm vui sướng đối với kẻ nào đã sống một cuộc đời chân thật” (Marcus Aurelius). Người khất thực Ryokan, bằng cuộc đời chân thật của mình với con người, với muôn loài và thiên nhiên, bằng những khúc haiku đầy tính thiền như những hạt mầm vẫn nẩy nở, đâm chồi, hai trăm năm sau được tôn vinh là một đại thụ trong dòng thơ haiku đang phát triển tại quê hương ông và trên toàn thế giới. Đêm trước hôm từ trần Ryokan đã từng chia sẻ tâm sự với một người bạn: “Mình cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa. Sẽ thật thích nếu được như lũ chim sẻ hay lũ voi, chết lặng lẽ một mình giữa đồng hoang”.

Khi thầy Lưu Đức Trung tạ thế, kẻ viết bài này đã viếng thầy bức thư pháp do Dương Minh Hoàng thủ bút, khúc haiku sau đây để tiễn thầy về với cõi Vô Ưu:

đời là cõi tạm

nhẹ bước thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt –Hà Nội

SANTOKA TANEDA (1882-1940). Là một trong những nhà thơ haiku hiện đại nổi tiếng nhất và lập dị nhất của Nhật Bản. Ông được cứu khỏi một vụ tự tử khi còn trẻ và sau này trở thành một trong những Thiền Sư Hành Hương đích thật cuối cùng của thế kỷ XX. Thơ haiku của ông thuộc thể tự do cũng như cuộc đời của ông vậy; Ông sử dụng tinh thần của haiku, nhưng không tuân theo số âm tiết và quý ngữ (kigo) của haiku. Có thể đọc haiku của ông bằng tiếng Anh trong tác phẩm “Mountain Tasting: Zen Haiku by Santoka Taneda”, được John Stevens dịch. (Theo Patricia Donegan).

Khiếu hài hước- Lê Văn Truyền

alt

nusubito ni / tori nokosareshi / mado no tsuki

chàng trộm lỉnh rồi

chỉ quên một việc

cửa số còn trăng

Ryokan Taigu (1758 – 1831)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Chúng ta thường có hai thái độ khi phải đối mặt với rủi ro: xem xét sự việc với cái nhìn hài hước, lạc quan hay với cái nhìn bi quan, bi lụy. Robert A Heinlein khuyên: “Hãy đừng là người bi quan; người bi quan thường đúng hơn người lạc quan nhưng người lạc quan vui vẻ hơn – và quan trọng hơn là cả hai đều không thể ngăn được dòng sự kiện đang ập tới”.Bi quan hay lạc quan đều không thể ngăn chặn được những rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của ta.

Tác giả của khúc haiku đầy hài hước trên đây là Ryokan, một haijin - thiền sư sống cuộc đời lãng du cực kỳ đơn giản. Sống một cuộc đời lý tưởng về sự hòa hợp của con người với thiên nhiên, tâm của Ryokan trở nên vô phân biệt. Ông kết bạn với trẻ con cũng như kết bạn với côn trùng, cây cỏ. Ông ngây thơ đến cảm động và tràn đầy lòng từ bi. Một lần, thương mấy cây tre bị kẹt trong túp lều, ông cố tạo một chỗ trống trên mái tranh để cây tre có thể vươn lên đón ánh sáng mặt trời. Thế rồi, chẳng may Ryokan tự đốt cháy chính mái lều của mình. Có giai thoại kể rằng, một buổi tối có tên trộm lẻn vào túp lều của ông dưới chân núi nhưng chẳng tìm thấy gì đáng giá để cuỗm đi. Khi Ryokan quay về, gặp tên trộm ông nói: “Anh đã đi đường xa đến đây thăm tôi, nên tôi chẳng nỡ để anh về tay không. Tôi tặng anh bộ quần áo này”. Nói rồi, ông cởi bộ quần áo đang mặc trên người cho tên trộm. Tên trộm ngẩn người ra nhưng cũng cầm bộ quần áo và biến mất. Đêm hôm ấy, Ryokan trần truồng ngắm trăng.

Nhưng lần này, một đạo chích khác đã lẻn vào túp lều của Ryokan, khoắng đi tất cả những vật dụng nghèo nàn tối cần thiết của ông. Khi phát hiện chàng trộm đã lỉnh rồi và túp lều của mình trống rỗng, thiền sư đành hài hước tự an ủi rằng: may mà trong lúc vội vàng, chàng trộm đã không để ý còn có vầng trăng treo bên cửa sổ túp lều. Ryokan cảm thấy mình thật may mắn vì nếu hắn ta để ý đến vầng trăng thì đêm nay chắc ông không còn ai để bầu bạn.

Hài hước là liều thuốc an thần, giảm đau hiệu nghiệm cho tâm hồn chúng ta trước những tai ương không thể tránh khỏi trong cuộc sống thường nhật. Hài hước đem cho ta cách nhìn sáng suốt và lòng khoan dung trong hoạn nạn. “Khiếu hài hước là vật liệu để ta lấp đầy những ổ gà trên con đường đời gập ghềnh mà ta phải dấn thân mỗi ngày” (Frank Tyger).

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

RYOKAN TAIGU: (1758 - 1831), tên thật Yamamoto Eizo sinh ở làng Izumozaki, tỉnh Echigo (Nhật Bản). Ông rời bỏ gia đình rất sớm và tu tập tại ngôi đền Koshô-ji với thiền sư Kokusen. Khi sư phụ Kokusen mất ông bắt đầu sống cuộc đời khất thực. Ông dành cả cuộc đời để làm thơ, viết thư pháp và đàm thoại với thiên nhiên. Thơ ông rất đơn giản và thường lấy cảm hứng từ thiên nhiên. Ông rất yêu trẻ con và đôi khi say sưa chơi đùa với trẻ con mà quên cả việc khất thực.  Ông không bao giờ tự nhận mình là “nhà sư” hoặc “nhà thơ”. Thơ ông đầy tính thiền và hài hước. Ryokan sống cuộc đời cực kỳ đơn giản và có rất nhiều giai thoại về lòng nhân từ, lòng vị tha của ông. Ông mất ngày 6 tháng giâng năm 1831. Teshin, người bạn thân của ông cho biết Ryokan từ trần trong tư thế thiền định, từ giã cõi đời như đang trong một giấc ngủ quên. (Nguồn: Wikipedia)

Hạt bụi trần- Lê Văn Truyền

alt

này, bướm đang đập cánh

ta cũng như cậu

chỉ là hạt bụi thôi

Issa Kobayashi

Đinh Nhật Hạnh dịch

Thân phận con người luôn luôn là câu hỏi chúng ta thường đau đáu tìm câu trả lời. Ta từ đâu đến? Và ta sẽ về đâu sau khi chết. Có lên được thiên đường để hưởng thụ những gì ta đã cống hiến (hoặc … hưởng thụ tiếp những gì ta chưa kịp hưởng thụ trên cõi trần thế này) hay về cõi địa ngục để bị đọa đày, trả nợ cho những tội lỗi ta đã gây ra.

Trong Ngày thứ tư Lễ Tro của Kitô giáo bắt đầu cho Mùa Chay trước Lễ Phục Sinh, tín đồ được làm phép xức tro trên trán. Trong Kinh Thánh, sách Sáng thế ký viết: "... Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được sinh ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất". Phật giáo ở Phương Đông, cho rằng nguồn gốc của vạn vật là từ tứ đại: đất, nước, gió, lửa do nhân duyên kết hợp mà thành. Nhà Phật hay dùng cụm từ "thân tứ đại" để chỉ nhục thân của chúng ta. Cả Phật giáo và Kitô giáo đều cho rằng: “Con người sinh ra từ cát bụi và sẽ trở về với cát bụi”.

Trịnh Công Sơn, chàng nhạc sĩ tài hoa xứ Huế đã thể hiện quy luật sinh diệt này của hai tôn giáo lớn trên thế giới thành một đoạn ca từ rất hay trong bài hát “Cát Bụi”:

Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi

để một mai tôi về làm cát bụi

Cát Bụi – Trịnh Công Sơn

Hai trăm năm trước Trịnh Công Sơn, haijin – thiền sư Issa Kobayashi thì lại thể hiện quan niệm về sinh diệt của Nhà Phật và Kitô giáo trong khúc haiku đầy tinh thần nhân văn trên đây. Ngắm nhìn chú bướm đang đập cánh bay lượn trên những đóa hoa, Issa thì thầm với bướm để gửi đi một thông điệp: dù là một sinh vật nhỏ nhoi, mong manh hay là một thiền sư, ta và ngươi đều như nhau trước Đấng Tạo Hóa. Tất cả chúng ta đều sinh ra từ cát bụi và đều trở về với cát bụi mà thôi.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt –Hà Nội


Hương của tình yêu- Lê Văn Truyền

alt

rainy cottage

after lovemaking

the scent of jasmine tea

Ikuyo Yoshimura

Patricia Donegan dịch


túp lều trong mưa

sau cuộc ái ân

trà nhài hương ngát

Lê văn Truyền dịch


Tôi vẫn thường nghĩ khi người nam và người nữ yêu nhau ở đâu thì ở đó chính là Thiên Đường, là Cõi Bồng Lai trên mặt đất cho dù đấy chỉ là một túp lều rách nát của kẻ bình dân hay là cung điện xa hoa của bậc đại gia, vương giả.

Ikuyo Yoshimura và người yêu vừa trải qua một cuộc yêu trong túp lều dưới mưa. Có thể tiếng rơi của những giọt mưa qua mái lều dột nát và hơi nước ẩm ướt trong túp lều chẳng ảnh hưởng gì đến cuộc ái ân của hai người. Nhưng chắc chắn trong ký ức của họ, niềm hoan lạc của cuộc yêu lần này sẽ được điểm xuyết và được “đánh dấu” bằng âm điệu đều đều của những giọt mưa rơi làm tăng thêm thi vị cho cuộc tình của họ. Thính giác và khứu giác của họ được cảm xúc hoan lạc của tình yêu mài sắc. Vì vậy, buổi thưởng trà để nghỉ ngơi sau cuộc ái ân trở nên đặc biệt. Ykuyo cảm thấy hương nhài hôm nay ngát hơn thường lệ trong buổi uống trà đặc biệt cùng với người đối ẩm cũng rất đặc biệt này. Và chắc chắn Ykuyo không bao giờ quên những cảm xúc do hương nhài hôm nay mang lại, vì như Jean de Bouffler đã nói: “Hoan lạc rồi cũng sẽ qua đi như đóa hoa rồi sẽ tàn: ký ức từ hương thơm sẽ ở lại”. Đó là nhờ “Mùi hương có khả năng cực kỳ gợi nhớ, nó có thể làm ta nhớ lại những hình ảnh sắc nét như một bức ảnh, đã bị lãng quên từ lâu trong tâm trí ta” (Thalassa Cruso).

Nhưng mùi hương không chỉ đánh dấu và gợi nhớ tình yêu nam nữ. Mùi hương có thể là “chứng nhân” cho mọi tình yêu, trước hết là tình mẫu tử, kể cả khi ta chỉ là một đứa hài nhi. Trong đêm tối, bé sơ sinh vẫn có thể tìm thấy vú mẹ nhờ mùi hương của bầu sữa mẹ mình. Hồi nhỏ, tôi vẫn thấy những em bé dù thiếu sữa mẹ vẫn ngúng nguẩy ngoảnh mặt đi khi được một bà mẹ trong xóm cho “bú nhờ”, chắc là vì không thấy có làn hương của mẹ.

“Những ký ức mạnh mẽ đầu tiên trong đời tôi có lẽ là mùi hương của mẹ tôi, một sự hòa trộn hương thơm của bà và hương thơm của thiên nhiên”, Mary Gaitskill đã viết như vậy.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Con nhện dễ thương- Lê Văn Truyền

alt

trăng rơi xuống

con nhện
giăng tơ hứng trăng

Nguyễn Uyên Trang, 12 tuổi (lớp 7), Hà Nội

Trong ngôi nhà, ngoài gián thì nhện cũng nằm trong danh sách những loài côn trùng bị đa số chúng ta ghét bỏ. Bởi vậy mà nhện thường xuyên là nạn nhân của dép lê và thuốc diệt côn trùng. Tuy nhiên nhiều nhà khoa học đã khuyên đừng bao giờ giết chết những con nhện trong nhà bạn. Mặc dù có hình hài đáng sợ, nhện là một phần quan trọng đối với hệ sinh thái khép kín trong từng gia đình và hầu hết đều là những loài nhện không nguy hiểm và thậm chí rất có ích. Bằng việc tiết một loại tơ khá chắc từ thân mình ra để giăng mạng, nhện tạo ra những cái bẫy để diệt các loài côn trùng biết bay, đặc biệt là ruồi và muỗi, những côn trùng mang vi trùng, virus và ký sinh trùng gây nhiều bệnh lây truyền nguy hiểm chết người.

Suy nghĩ của Nguyễn Uyên Trang, cô bé học sinh 12 tuổi, lớp 7A của Trường phổ thông Gateway (Hà Nội) có lẽ rất khác cách suy nghĩ của nhiều người lớn chúng ta đối với loài nhện. Trong một đêm tha thẩn trước hiên nhà, thấy một chú nhện đang miệt mài giăng tơ dưới ánh trăng, cô bé 12 tuổi bỗng phát hiện ra con vật tuy vẻ ngoài xấu xí nhưng thật đáng yêu làm sao. Chú nhện đang giăng tơ để “hứng trăng”.

Khúc haiku xuất sắc, ngắn gọn (3 / 2 / 4) chỉ gồm có 9 từ nhưng rất tinh tế, bất ngờ, đầy trí tưởng tượng hồn nhiên, phát hiện ra mối liên quan giữa hai hình ảnh tưởng chừng như không liên quan gì với nhau: mặt trăng đang lặn trên bầu trời đêm và con nhện đang cần mẫn, lặng lẽ giăng tấm mạng nhện dưới mặt đất. Bé gái Nguyễn Uyên Trang đặt hai hình ảnh cạnh nhau và qua đôi mắt trẻ thơ phát hiện ra một mối liên quan giữa hai hiện tượng độc lập mà trên thực tế không có mối liên hệ hữu cơ/tất yếu nào cả. Chỉ có trí tưởng tượng bay bổng và tâm hồn trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ mới kết nối được hai hình ảnh độc lập ấy và lý giải được mối quan hệ một cách thật trẻ con, thật dễ thương và lãng mạn: hóa ra vì sợ mặt trăng rơi xuống đất vỡ tan nên chú nhện giăng tấm lưới tơ để hứng trăng như ta đang dang đôi bàn tay để hứng và nâng niu một quả trứng, một bông hoa đang rơi. Ôi, con nhện nhỏ nhoi, tội nghiệp (trông hơi xấu xí) nhưng thật đáng yêu, đang cuống quýt giăng tơ để cứu chị Hằng cho chúng ta trong khi trái tim của chúng ta thì dửng dưng, vô cảm. Vì ta đã quá biết rằng: “trăng lên rồi trăng lặn” là quy luật tự nhiên của đất trời!

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt- Hà Nội

*Một trong 38 bài haiku ưu tú được Ban Giám Khảo bình chọn trong cuộc thi sáng tác haiku trên tranh vẽ chủ đề “Sinh vật sống” năm 2017 – 2018 cho học sinh trung học phổ thông do JAL Foundation (hãng Hàng Không Nhật Bản), Đại Sứ Quán Nhật Bản, Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam phối hợp tổ chức.

Hạt mưa mồ côi- Nguyễn Xuân Dương

alt

Xó chợ
Chiếc lon trống
Hạt mưa mồ côi

(Nguyễn Thánh Ngã)

LỜI BÌNH:

Thể loại thơ haiku của Nhật Bản quy định rất chặt chẽ về số từ. Một bài thơ Haiku không vượt quá mười bảy từ. Còn với "đứa trẻ" ở đây chỉ có chín từ! Sự tối giản có thể coi là tận cùng. Chín từ lại được sắp xếp có chủ ý, tăng dần theo nhịp điệu của cảm xúc, theo thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm : hai từ, ba từ, bốn từ...
Bài thơ có tên là "đứa trẻ", nhưng tuyệt nhiên trong chín từ đó, không hề có một từ nào liên quan đến thân phận đứa trẻ. Vì thế, bài thơ rất kín đáo và sâu sắc. Đối với một bài thơ Haiku nói chung, và bài "đứa trẻ" nói riêng, muốn hiểu được một cách cặn kẽ, trước hết ta phải là người đồng sáng tạo với tác giả, hoặc không, ta phải có trí tưởng tượng, sự liên tưởng mạnh mẽ, sự kết nối của ba câu thơ vô cùng ngắn ngủi để giải mã thân phận đứa trẻ.
Tôi cứ mạo muội cảm nhận bài thơ này theo sự rung động, cảm xúc, và cũng phải có sự rung động mãnh liệt của trí tuệ, để giải mã bài thơ với hy vọng mang đến cho người đọc một sự cảm thụ:

“Xó chợ”

Tác giả đã cho ta nhận biết về một địa điểm cụ thể: "xó chợ" - một địa điểm bất an. Cổ nhân đã dạy “đầu đường xó chợ”, tức là một địa điểm chứa chấp những kẻ bất lương trộm cắp, và những người cùng khổ. Còn hơn thế, đó là nơi chứa chấp những thứ rác rưởi hôi thối của cả cái chợ dồn về, phải đợi đến tối những người lao công mới dọn dẹp xong. Vâng, đó là địa điểm "đứa trẻ" đang đứng, hoặc ngồi. Ta đã nhìn thấy ở cái "xó chợ" bất an kia, một "đứa trẻ" gầy gò, xanh xao ốm yếu, quần áo rách nát tả tơi trong một buổi chiều chạng vạng rét mướt thê lương, ngồi bên:

“Chiếc lon trống”

Trống nghĩa là không có gì! "Chiếc lon trống" đã minh chứng rõ ràng đứa trẻ ăn xin với "chiếc lon" để đựng những đồng tiền cáu bẩn, rách nát, có khi cả những mẩu thức ăn dư thừa của người đời. Thế nhưng, từ sáng đến chiều chiếc lon vẫn trống, đồng nghĩa lại một đêm nữa đứa trẻ bụng đói nằm co ro rét mướt ở cái "xó chợ" bất an bẩn thỉu đó...
"Chiếc lon trống" không có đồng xu, đồng hào, hay một mẩu thức ăn. Điều đó đã minh chứng rằng, cuộc đời này đã vơi cạn tình thương và sự lương thiện. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đang tôn vinh những nhà nọ, nhà kia làm từ thiện với số tiền lên đến hàng tỷ đồng. Có phải họ tốt không? Có phải họ thực sự là người lương thiện không, chỉ có lương tâm của họ mới cân đong đo đếm sự lương thiện, lòng hảo tâm của chính mình. Họ làm từ thiện, trước hết là vì chính họ, vì thương hiệu của họ, chắc gì đã vì những đứa trẻ đói khổ, bần hàn đầu đường xó chợ?

Vâng! những đứa trẻ ở cái "xó chợ" ấy, không hề nhận được một xu, một hào, từ những đồng từ thiện hảo tâm ấy. Một "chiếc lon trống": trống tiền, một mảnh đời trống rỗng, một cõi người trống rỗng!
Nhưng như thế, vẫn là chưa hết trong một buổi chiều chạng vạng, trong "xó chợ" âm thầm ấy bỗng nhiên:

“Hạt mưa mồ côi”!

Mồ côi là đơn lẻ, là duy nhất. Nhưng thật quái ác, cái đơn lẻ, cái duy nhất mong manh nhỏ bé đó, bỗng nhiên khuấy động lên trong đứa trẻ một chút hy vọng mong manh. Vâng, cái "hạt mưa mồ côi" ấy đã rơi đúng vào chiếc lon trống, làm vang lên một tiếng động, và đứa trẻ giật mình, chợt nghĩ đã có ai đó bố thí cho nó một đồng xu, đồng hào. Nhưng đứa trẻ chỉ nhận được âm thanh của một hạt mưa mồ côi...

Ôi cái "hạt mưa mồ côi" vô cảm ấy, sao có thể là kẻ đồng lõa với cõi người vô cảm mà hành hạ đứa trẻ khốn khổ đến cùng kiệt!?
Bài thơ khép lại rồi, ta vẫn nhìn thấy nơi "xó chợ" kia, một đứa trẻ gầy gò, ốm yếu xanh xao, áo quần tơi tả ngồi bên "chiếc lon trống" mà trong đó, chỉ có "hạt mưa mồ côi" quái ác đọng lại. Vậy là một đêm nữa, đứa trẻ lại đói rét, lạnh lùng...
Bài thơ chỉ "chín từ" thôi, mà gửi đến cho cõi người một thông điệp đớn đau về sự bần hàn, đói khổ của biết bao đứa trẻ mồ côi không mẹ không cha, nạn nhân của những cuộc ly hôn, vì tình yêu chộp giật của thời hiện đại!
Đọc bài thơ ta mới thấu hiểu tấm lòng nhân ái của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã lớn lao biết chừng nào...

Bài thơ xứng đáng sống mãi trong lòng người đọc, và người yêu thơ bốn phương...

Nguyễn Xuân Dương

...

Nguyễn Xuân Dương

Tên thật: Nguyễn Xuân Vương. Năm sinh 1940. Sinh quán: Nguyên Cát, Võ Liệt, Thanh Chương, Nghệ An. Trú quán: Số 7, đường Thành Cổ, Vệ An, TP Bắc Ninh

Lòng nhân từ- Lê Văn Truyền

alt

thương thay

bọ chét lều ta

chúng sẽ gầy thôi

Kyobashi Issa (1763 – 1828)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Bọ chét là một loài ký sinh trùng sống trên da vật chủ là các loài động vật có vú và động vật có lông vũ để hút máu. Thế kỷ XIV, bọ chét nổi tiếng là kẻ đã gieo rắc “cái chết đen” trong lịch sử nhân loại thời trung cổ khi đã làm lan truyền bệnh dịch hạch khắp Châu Á và Châu Âu. Riêng ở Châu Âu, cái chết đen đã cướp đi ba phần tư dân số. Thậm chí, nhiều nhà khoa học còn phân tích lý do tại sao con bọ chét – ký sinh trùng nhỏ bé – có thể làm thay đổi cơ cấu cả nền nông nghiệp và nền kinh tế nước Anh thời đó. Theo các nhà kinh tế, việc mất đi ¾ dân số trong một thời gian ngắn đã làm nước Anh giảm đột ngột nhu cầu lương thực, thực phẩm. Vì vậy, những người nông dân còn sống sót phải chuyển qua chăn nuôi cừu, từ đó nền công nghiệp len dạ của nước Anh đã phát triển và nổi tiếng khắp thế giới từ mấy thế kỷ nay. Có nhà kinh tế học còn hài hước cho rằng thị trường len dạ - một trong những thị trường lớn và nổi tiếng thế giới của nước Anh - được tạo ra do những con bọ chét!

Bọ chét ưa nơi tối tăm, thiếu ánh sáng, phần lớn ẩn náu trong các đám lông tơ, lông vũ của động vật, ở giường ngủ, quần áo của con người ... Bọ chét không phát triển trong môi trường có độ ẩm thấp. Vì vậy, túp thảo am nghèo nàn, dột nát, ẩm ướt, thiếu ánh sáng của Issa chắc chắn là môi trường phát triển lý tưởng của chúng. Và chúng ta nghĩ rằng chủ nhân của túp lều chắc phải chịu đựng bọ chét như những người bạn “bất đắc dĩ”. Nhưng không, với Issa các con bọ chét là những sinh linh gần gũi của ông. Cũng giống như Ryokan nhân từ trong một ngày nắng đẹp đã bắt từng con bọ chét trên người phơi ra ngoài nắng ấm cho chúng được khô ráo. Rồi khi tối đến lại cẩn thận cho chúng bò trở lại sống trên ngực mình. Ryokan viết:

với bọ chét, chấy rận

hay bất cứ côn trùng

của mùa thu ca hát

ngực áo ta chắc là

cánh đồng Musashino

Đinh Nhật Hạnh dịch

Còn hơn cả Ryokan, người dùng cơ thể mình làm nơi trú ngụ cho bọ chét, Kyobashi Issa dù đang sống một cuộc đời nghèo khổ, thiếu thốn, ốm yếu … nhưng ông không thấy tự thương thân mà lại để tâm lo lắng cho đàn bọ chét đáng thương trong túp lều của mình: chúng sẽ không có gì mà ăn và cũng “sẽ gầy” như ông thôi. Đúng rồi, chủ đã gầy yếu thì “vật nuôi” làm sao mà béo tốt được.

Hơn một trăm năm trước, Ryokan và Issa lấy thân mình để nuôi nấng và làm chỗ trú ngụ cho những con bọ chét. Hơn một trăm năm sau thời của Ryokan và Issa, có biết bao người nghèo đang bị hất đổ bát cơm và phải rời khỏi ngôi nhà của mình để dành đất cho những tòa cao ốc, các resort và sân golf. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời đại mà lòng nhân từ đối với kẻ yếu thế đã biến khỏi trái tim của rất nhiều người. Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển như vũ bão hứa hẹn sẽ đến cái thời đại rất gần mà loài người phải sống cộng sinh cùng các thế hệ người máy (robot) với những bộ não nhân tạo và trái tim thép đã được lập trình hàng loạt. Tôi rùng mình, nổi da gà khi nghĩ đến cái ngày định mệnh biết đâu ta phải sống chung với những thế hệ người máy có bộ óc và trái tim được lập trình bởi một “thiên tài vô lương” nào đó. Khi ấy, nhân loại sẽ đi về đâu?

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Cái cuốc đáng thương- Lê Văn Truyền

alt

một cái cuốc

đứng giữa đồng không

nắng thế

Matsuo Shiki

Đinh Nhật Hạnh dịch

Cái cuốc là một trong những nông cụ gắn liền với lịch sử loài người, đặc biệt với lịch sử của các dân tộc Đông Á như Việt Nam, Nhật Bản … từ niên đại hậu kỳ đá mới (3.500 – 4.000 năm trước C.N.). Với sự xuất hiện các loại cuốc mà thoạt kỳ thủy con người cổ đại chế tác từ đá nham thạch: cuốc đá, nền nông nghiệp dùng cuốc đã ra đời thay cho việc trồng trọt bằng cách chọc lỗ, tra hạt. Đến thời đại kim khí, cái cuốc đá được thay bằng cuốc sắt đem lại năng suất lao động cao hơn nhiều. Ở nước ta, cái cuốc không chỉ là công cụ nông nghiệp phổ biến cho đến thế kỷ XX với hình ảnh người nông dân “vác cuốc ra đồng” mỗi buổi sáng mà còn có thể coi cái cuốc là một trong những thứ “vũ khí” để anh bộ đội cụ Hồ, để các chàng trai cô gái thanh niên xung phong đào ma trận chiến hào trong cuộc chiến Điện Biên Phủ thời kháng chiến chống Pháp và các địa đạo Vĩnh Mốc, Củ Chi và phá núi, bạt rừng để tạo nên con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Là công cụ lao động gần như quan trọng nhất trong các công cụ lao động sản xuất nông nghiệp, cái cuốc cùng với cái cày, cái bừa, cái liềm, cái hái ... và con trâu, con bò là “bạn của nhà nông”. Giữa công cụ lao động, gia súc và người nông dân đã hình thành mối quan hệ tình cảm, tinh thần. Người nông dân chăm chút cho cái cuốc, cái cày … những vật vô tri, vô giác và đối xử với chúng như những người bạn có tri giác và tình cảm cũng như họ đã chăm sóc cho con trâu, con bò … cơ nghiệp của nhà nông.

Một buổi trưa hè, thấy người nông dân tạm dừng công việc, nghỉ ngơi trong bóng mát nhưng để quên cái cuốc trên cánh đồng trơ trọi không một bóng cây, dưới cái nắng chang chang, Shiki bỗng thấy động lòng cảm thán, thương cho cho cái cuốc đang phải đứng giữa trời “nắng thế”. Đọc khúc haiku đầy tính nhân văn trên đây của Matsuo Shiki, tôi đồ rằng trước khi trở thành một đại sư haiku nổi tiếng, chắc chắn Shiki đã xuất thân từ một gia đình nông dân truyền thống của Nhật Bản.

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Bông hoa huệ rừng- Lê Văn Truyền

alt

hoa huệ rừng

nhụy tỏa hương

ngấm thơm đôi vú em

Ijima Haruko (1921 – 2000)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Huệ rừng là một loài hoa có nguồn gốc từ Nam Phi (boselie - forest lily) còn có tên là hoa Clivia, mang tên Công nương Clivia, người đã đưa loài hoa hoang dã này về thuần hóa ở nước Anh.

Hàng ngày, trên các trang mạng tràn ngập những lời tiếp thị “có cánh” về các loại nước hoa dành cho phái đẹp. Nào là nước hoa “Happy” của hãng Clinique thể hiện sự tươi vui của một buổi sáng đầy nắng ấm dành cho phái đẹp, được sáng tạo bởi các bậc thầy Jean Claude Delville và Rodrigo Flores Roux. Nào là nước hoa “First” của hãng Van Cleef & Arpels, nước hoa “Salvator Ferragamo pour femme” của hãng mỹ phẩm Salvator Ferragamo được sáng tạo bởi Jacques Cavallier, nước hoa “Chanel No 5” của huyền thoại Mme Coco Chanel … Điều đặc biệt là trong các nhãn hiệu nước hoa hàng đầu thế giới, hương hoa huệ rừng luôn luôn chiếm vị trí chủ đạo ở lớp “hương giữa” trong ba lớp “hương đầu” (top notes), “hương giữa” (heart notes/middle notes) và “hương cuối” (base notes) của thành phần công thức hương liệu một lọ nước hoa. Lọ nước hoa là phụ kiện không thế thiếu trong túi xách của hàng trăm triệu phụ nữ hiện đại trên thế giới. Năm 2016, công nghiệp nước hoa toàn cầu có giá trị khoảng 40 tỷ đô la Mỹ, lớn hơn tổng thu nhập quốc dân một năm của một nước kém phát triển ở Châu Phi. Có những lọ nước hoa giá vài ba ngàn đô la, tương đương thu nhập quốc dân bình quân đầu người của Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ vừa qua, ngưỡng thu nhập quốc dân đầu người của một nước đang phát triển. Các hãng mỹ phẩm nổi tiếng thế giới của phương Tây thu lợi nhuận nặng túi mỗi năm nhờ vào một quan niệm ngàn đời của chúng ta, đặc biệt là của cánh đàn ông: “Đã là phụ nữ thì phải đẹp và phải thơm” [sic]. Cũng cần phải nói rằng quan niệm này hiện đang bị các tổ chức nữ quyền trên thế giới phê phán vì mang mầu sắc bất bình đẳng và phân biệt đối xử về giới (gender unequality and discrimination).

Thế nhưng, tất cả những lọ nước hoa sang trọng, đắt tiền, thậm chí còn được vống lên là những “tác phẩm nghệ thuật” (pieces of Art) trên đây đều là sản phẩm nhân tạo.

Ngâm ngợi phiến khúc haiku của Ijima Haruko, ta thấy mặc dù sống trong thế kỷ XX, ông coi thường và không màng đến những hương thơm nhân tạo đó. Đơn giản chỉ cần nhụy bông hoa huệ rừng tỏa hương, vương trên bộ ngực vốn đã thơm tho người đàn bà của riêng mình, ông đã thấy mê ly. Mùi hương tự nhiên của da thịt người yêu hòa trộn với mùi hương tự nhiên của bông hoa huệ rừng sẽ tạo nên thứ hương thơm ngất ngây nhất dành cho riêng ông và thuộc của riêng ông mà không một chuyên gia bậc thầy lão luyện nào của Hãng Clinique, Hãng Salvator Ferragamo, Hãng Chanel hoặc bất cứ một hãng nước hoa nào trên thế giới có thể sáng tạo hoặc “copy” được như họ từng “chém gió” khoe khoang trên những trang quảng cáo bắt mắt về khả năng thâm hậu có thể làm chủ khoa học về mùi hương của họ.

Ở nước ta, tương truyền nhà vua thi sĩ Tự Đức (1829 – 1883) khi vĩnh biệt người cung nữ yêu quý Bằng Phi bạc mệnh đã lặng lẽ “xếp tàn y lại để dành hơi” mà không cho phép những kẻ thuộc quyền chôn y phục của nàng theo thi hài. Vì nhà vua biết rằng: dù là đấng quân vương đầy quyền năng nhưng thi sĩ Tự Đức sẽ không tìm được ai có thể đem lại cho mình mùi hương thân thương ấy của nàng trong suốt quãng đời còn lại của mình. Khi luận bàn về mùi hương, Diane Ackerman trong tác phẩm A Natural History of the Senses (Lịch sử tự nhiên của các giác quan) đã viết, đại ý: Không có gì có thể gợi nhớ ký ức cho ta hơn mùi hương. Mùi hương kích hoạt ký ức của chúng ta giống như đang khơi lên những kho báu đã bị chôn vùi dưới đám cỏ um tùm của thời gian.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Hai giọt nắng tung tăng- Lê Văn Truyền

alt

Sơn nữ gùi nước

bầu ngực trần

giọt nắng tung tăng

Phan Vũ Khánh

Dưới chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có vai trò và quyền lực rất lớn trong cộng đồng. Bởi họ là người có chức năng thiêng liêng: sinh ra và nuôi dưỡng các thế hệ tương lai để duy trì và phát triển giống nòi. Trong đời sống xã hội nguyên thủy, lương thực, thực phẩm rất hạn chế, nguồn dinh dưỡng duy nhất cho những đứa bé sơ sinh chỉ là sữa mẹ. Mặt khác, cộng đồng phải đối mặt với nạn “hữu sinh vô dưỡng” do thiếu dinh dưỡng và điều kiện vệ sinh kém nên trong nhận thức của xã hội nguyên thủy, bầu vú của người nữ có giá trị hết sức thiêng liêng. Với nhiều dân tộc trên thế giới, đặc biệt ở vùng khí hậu nhiệt đới, tập tục để ngực trần thể hiện sự trân trọng của cộng đồng và sự tự hào của người phụ nữ.

Ở nước ta tập tục đẹp này vẫn được vẫn được một số dân tộc ở Tây Nguyên duy trì cho tới ngày nay. Trong đời sống thường nhật, hình ảnh bầu vú căng tròn xuất hiện khắp mọi nơi, kể cả những nơi linh thiêng nhất (nhà mồ, nhà rông …) một cách tự nhiên như biểu trưng cho nguyện vọng của cộng đồng về sự sinh sôi, nảy nở và phồn thực của con người và giới tự nhiên. Một điển hình là chiếc cầu thang đực - cái đặt trước cửa nhà sàn Tây Nguyên. Bên cạnh cầu thang đực nhỏ bé đơn giản, chiếc cầu thang cái làm từ một thân cây to lớn mang hình một con thuyền đang lướt sóng. Trên bậc cuối cùng của cầu thang có khắc hình hai bầu vú căng tròn thể hiện sự viên mãn, hạnh phúc, phồn thực. Vì vậy, để ngực trần khoe bầu vú của mình là điều tự nhiên, là niềm tự hào của người phụ nữ về thiên chức sinh nở và nuôi dưỡng các thế hệ tương lai cho cộng đồng.

Tự nhiên, tôi lại nghĩ đến nạn dịch “bơm ngực” đang lan tràn trong nhiều cô gái trẻ trong xã hội hôm nay. Các thẩm mỹ viện đang quảng cáo om sòm về các kỹ thuật hiện đại để làm tăng kích thước “vòng một” cho các thanh nữ. Đủ các loại vật liệu được bơm vào ngực của các cô gái trẻ: từ mỡ tự thân, các chất làm đầy tự nhiên và các chất làm đầy nhân tạo (filler) … để các cô có thể “thửa” bầu ngực của mình theo tiêu chuẩn quốc tế của những nữ hoàng nhan sắc hoặc minh tinh điện ảnh một thời như B. B. - Brigitte Bardot, Marylin Monroe … hay các nữ hoàng K-Pop hiện nay đến từ “quê hương của nhân sâm và linh chi” … mà không hề mảy may lo lắng cho thiên chức làm mẹ trong tương lai của mình. Bầu ngực từ hình ảnh biểu trưng linh thiêng cho thiên chức làm mẹ đã trở thành “vật trang trí nhân tạo” trên cơ thể người phụ nữ (đôi khi khá rẻ tiền do các “spa bình dân”, các “spa dạo” cung cấp).

Họa sĩ - Haijin Phan Vũ Khánh, trong một sáng sớm mai Tây Nguyên đã may mắn bắt gặp một sơn nữ đang cõng nước từ suối trở về nhà. Bộ ngực trần sáng lên trong nắng sớm và ánh bình minh đang nhảy múa tung tăng trên bầu ngực khỏe mạnh, phồn thực của nàng. Tôi đoán chắc, có thể trái tim của chàng họa sĩ – nhà thơ lúc ấy cũng nhảy múa không kém những giọt nắng đang nhảy múa kia. Hay là vì trên “điện tâm đồ”, nhịp tim nhà thơ – họa sĩ đang nhảy múa nên chàng thấy ánh nắng cũng như đang nhảy múa?

Nhưng, xin lỗi chàng họa sĩ – haijin tài hoa, bạn của tôi! Nếu tôi được may mắn như bạn trong buổi sớm mai tuyệt trần ấy chắc chắn tôi sẽ thấy trên bầu ngực sơn nữ không phải chỉ hai giọt nắng tung tăng mà là cả hai vầng mặt trời ấm áp, rực rỡ, lung linh.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Tự sự về bài thơ haiku- Lưu Đức Hải

alt

Đêm trăng

tiếng nước

bóng người nhấp nhô.

Khi tôi viết ra mấy câu trên tôi chỉ nghĩ đơn giản là ghi lại những ký ức về những đêm trăng đã đi qua cuộc đời tôi. Đó là các hình ảnh nhấp nhô của bà con nông dân tát nước dưới trăng khuya; là dáng thoăn thoắt của các cô thôn nữ quê tôi gánh nước từ giếng Hung, giếng Kiệt; là dáng chèo nghiêng nghiêng của cô lái đò trên sông; là bóng các bạn nữ cùng trường tắm bên bờ giếng, là cái khỏa chân bên cầu ao của cô hàng xóm đi chơi khuya về... Rồi mỗi âm thanh hay “tiếng nước” gắn với mỗi hình ảnh ở trên cứ từng cặp lần lượt hiện về sao mà thân thương, gần gũi. Tôi rất vui vì hình ảnh đêm trăng của cả vùng nông thôn Việt Nam đã được gói lại trong mấy câu, hay đúng hơn là chỉ trong mấy chữ.

Thế nhưng, khi tôi đọc bài này cho anh Lê Chiêu Phùng, người làng tôi hiện đang sống ở Đồng Hới thì anh cười ầm lên và phán rằng, hai chữ “nhấp nhô” là hình ảnh chàng trai mới lớn thập thò nhìn trộm ai đó tắm dưới ánh trăng, hay cao hơn, sâu hơn là hình ảnh của tình yêu nam nữ... Anh nói khác với những gì tôi nghĩ lúc đầu, nhưng thấy có lý nên tôi gật gù tán thưởng

Tưởng chỉ đến thế là cùng, nào ngờ mới đây trò chuyện với anh Lê Minh Thắng, tác giả tập thơ “Hai mươi bốn chữ cái”, anh cũng là người làng tôi thì tôi rất bất ngời khi nghe anh nói là thích bài này vì 2 từ “Đêm trăng” gợi ra được cái ước mơ có một cuộc sống hòa bình, no đủ, còn mấy từ sau là nỗi khắc khoải, là sự lam lũ, nhấp nhô tìm kiếm từng miếng ăn, nhấp nhô những mái nhà cao, thấp, nhấp nhô trong phân hóa giàu nghèo, nông thôn, thành thị... Thật là thú vị về suy nghĩ và sự liên tưởng của anh.

Và tôi hiểu sâu hơn rằng, thể thơ haiku rất đa nghĩa, có những nghĩa ngoài suy nghĩ của người làm ra nó. Người đọc haiku cũng chính là một nhà thơ haiku.

LĐH

Phẩm hạnh của hoa- Lê Văn Truyền

alt

Sau khi tàn rụng

một đóa mẫu đơn

vẫn giữ dáng hình.

BusonTaraguchi Yosa (1716 – 1783)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Văn nhân, thi sĩ, nghệ sĩ và cả nhân loại nói chung đều coi hoa là biểu trưng của cái đẹp. Cái đẹp của các loài hoa thường được so sánh với vẻ đẹp của người thiếu nữ nói riêng và phụ nữ nói chung. Hoa, cũng như người đẹp, là đề tài vô tận của văn thơ nhạc họa từ xưa đến nay và mãi mãi sau này. Vẻ đẹp của các loài hoa, dù là loài hoa được chăm sóc vun trồng trong vườn thượng uyển hay là những bông hoa dại chốn đồng hoang, là điều không thể chối cãi. Đã nói đến hoa là nói đến vẻ đẹp, dù đó là vẻ đẹp thanh tao, rực rỡ hay hoang dã, dữ dội…

Thế nhưng, khúc haiku độc đáo của bậc thầy Buson không như những vần thơ khác nhằm ca ngợi vẻ đẹp hình thức, vẻ đẹp bên ngoài của đóa hoa khi đang hàm tiếu hay lúc mãn khai mà lại biểu đạt một cái nhìn rất thâm trầm, sâu sắc, thấm đẫm tình yêu về vẻ đẹp toát ra từ một đóa mẫu đơn đã tàn rụng. Một đóa mẫu đơn đã tàn rụng vẫn còn đẹp như lúc mãn khai chăng? Không, Buson không mô tả vẻ đẹp bên ngoài của đóa hoa tàn. Nhìn đóa mẫu đơn đã tàn rụng Buson suy ngẫm về dáng hình, cốt cách của đóa mẫu đơn lúc mãn khai rực rỡ nhất. Khúc haiku của Buson gợi người đọc liên tưởng đến hình ảnh người phụ nữ Nhật Bản trong những năm cuối của cuộc đời, tuy nhan sắc đã phôi pha nhưng vẫn còn toát lên cốt cách trang nhã, đẹp đẽ, thanh tao của một thời thiếu nữ. Cảm thụ khúc haiku này, chúng ta không thể không nghĩ về vẻ đẹp tâm hồn không bao giờ tàn phai của những người bà, người mẹ Việt Nam trường tồn qua bao gian khó trong chiều dài lịch sử của dân tộc.

Khúc haiku về đóa mẫu đơn tàn rụng của Buson gửi đến người đọc trong xã hội hiện nay của chúng ta, một xã hội đang “lên đồng” với cái đẹp của các kiều nữ bất kể là cái đẹp mẹ cha ban tặng hay “cái đẹp dao kéo”, một thông điệp quan trọng: nhan sắc chỉ là cái đẹp nhất thời, cốt cách, phẩm hạnh của người phụ nữ mới là cái đẹp vĩnh cửu. Người phụ nữ đẹp nhất là người phụ nữ trong bất cứ nghịch cảnh nào cũng vẫn giữ được phẩm hạnh giống như đóa mẫu đơn kia dù đã tàn, rụng xuống vũng bùn vẫn toát lên dáng vẻ cao quý, thanh tao của mình.

Phẩm hạnh của hoa cũng cao quý như phẩm tiết của người đàn bà và tiết tháo của người quân tử vậy: “Cây chi, cây lan tuy mọc chỗ rừng vắng mà hoa vẫn thơm. Người quân tử theo lẽ phải làm điều hay, tuy gặp cảnh khốn cùng, mà tiết hạnh vẫn không đổi” (Gia Ngữ).

Lê Văn Truyền

CLB Haiku Việt- Hà Nội

Mặt trời độ lượng- Lê Văn Truyền

alt

Chân núi

mặt trời độ lượng

một dãy mồ

Taneda Santoka (1882-1940)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Trong cuộc sống bận rộn hàng ngày, liệu có lúc nào ta để tâm đến một câu hỏi: Trái Đất này, ngôi nhà chung của chúng ta, sẽ như thế nào nếu không có Mặt Trời? Ánh sáng mặt trời - nguồn năng lượng mặt trời - là yếu tố xúc tác cho mọi phản ứng hóa học và quá trình vật lý tạo nên sự sống của vạn vật, của muôn loài và các nền văn minh trên Trái Đất. Không có ánh sáng Mặt Trời, Trái Đất không có sinh vật, không có con người - loài động vật thông minh (Homo sapiens) chúng ta. Khi đó, Trái Đất đẹp đẽ sẽ là một tinh cầu chết, lạnh lẽo, lụi tàn trong bóng tối triền miên, trong một Hố Đen vô biên, vô tận.

Mặt Trời tuy có quyền lực siêu nhiên, quyết định sự sống chết của muôn loài, nhưng sự khác biệt của quyền lực Mặt Trời so với các thứ quyền lực tinh thần và vật chất khác do con người tạo ra dưới ánh Mặt Trời chính là ở chỗ: mặt trời rất công tâm. Từ các bậc vua chúa đến kẻ cùng mạt trong xã hội, sinh ra dưới ánh mặt Trời, đều được hưởng những ân phúc như nhau do mặt trời độ lượng ban phát. Nói theo ngôn ngữ thương mại quốc tế hiện đại, Mặt Trời cấp cho hơn 6 tỷ sinh linh trên Trái Đất cùng một mức “hạn ngạch (quota) ân sủng” như nhau. Anh hùng hay tiểu nhân, vua chúa hay kẻ cùng đinh, người giàu có nứt đố đổ vách sống trong cung điện bằng vàng nguy nga, tráng lệ hay kẻ nghèo hèn cùng cực sống trong túp lều tranh dột nát … chẳng qua là do nhân thế tạo ra chứ không phải do Mặt Trời thiên vị.

Rồi cho đến khi chúng ta từ giã cõi trần, Mặt Trời vẫn mỉm cười công tâm, độ lượng hàng ngày vẫn ấm áp chiếu dọi cho những nấm mồ của mỗi chúng ta nằm cạnh nhau trong bãi nghĩa địa dưới chân núi, dù ta đã từng là người anh hùng vĩ đại hay một kẻ khốn cùng, đã từng là tỷ phú được Forbes xếp hạng là 1 trong 100 người giầu nhất thế giới hay là một kẻ làm thuê thất nghiệp, đã từng là quan tòa thượng thẩm hay là tên tù khổ sai …

Câu nói “dưới ánh mặt trời ai cũng có một chỗ đứng” thật đúng khi ta còn sống và vẫn đúng cả khi ta đã chết. Taneda Santoka đã chuyển hóa ý tưởng minh triết trên đây của dân gian thành một khúc haiku nhẹ nhàng nhưng thật sâu sắc và có phần … dí dỏm. Kính thưa quý vị, chết là … hết chuyện. Vậy nên, xin quý vị đừng tị hiềm nhau sau khi đã chết bằng những thứ hư ảo. Xin hãy đừng nhìn sang bên cạnh mà buồn phiền tại sao nấm mồ của hắn, tấm bia của hắn to hơn của mình. Xin hãy bình tâm, an lạc tận hưởng gió mát, trăng thanh, nắng vàng rực rỡ, tiếng chim lảnh lót mỗi buổi sớm mai, tiếng dế nỉ non trong đêm tối … mà Mặt Trời độ lượng và công bằng đã ban phát cho nấm mồ của ta mỗi ngày.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay645
mod_vvisit_counterHôm qua987
mod_vvisit_counterTất cả236202
Hiện có 39 khách Trực tuyến