Haiku và nhịp điệu của tự nhiên

Haiku, thể thơ ngắn truyền thống của Nhật Bản với cấu trúc ba dòng 5-7-5 âm, có từ cắt (kireji) trước hết để đảm bảo số âm của bài, rồi chia ngắt các hình ảnh mà nhìn vào quan hệ, tương tác giữa chúng, và sau cùng, kết hợp với quý ngữ (kigo), tức từ chỉ mùa, tạo trường liên tưởng cho bài thơ. Từ đầu thế kỷ 20, thế giới đã biết tới thể thơ này, và đặc biệt ở thời đại liên thông hiện nay, haiku được yêu thích và phát triển trên hầu khắp các nước, được viết bằng mọi thứ tiếng. Nhìn chung, do sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nên haiku thế giới không còn giữ cấu trúc 5-7-5 nhưng vẫn đảm bảo yếu tố ba dòng; từ cắt thuần Nhật không còn nhưng các hình ảnh vẫn thường được xếp tách rõ rệt; từ chỉ mùa cũng không nhất thiết phải có, chủ yếu bởi haiku hiện đại xâm nhập vào mọi đề tài, khía cạnh, không chỉ gói gọn trong mảng thiên nhiên như trước kia. Ở bài này, xin bàn một góc nhìn về nhịp điệu thơ haiku.

alt

Nhịp điệu thuộc về cấu trúc nhưng không vì thế có thể tách rời khỏi nội hàm của thơ được. Haiku, theo nghĩa rộng nhất của từ ngữ, là thơ duy khoảnh khắc. Một khoảnh khắc của thực tại được nhìn ra, được sáng tạo, và được thuần khiết hóa. Thực tại ví như hơi thở, cái căn bản của sự sống, luôn ở đây với mỗi chúng ta, nhưng sự có mặt của hơi thở lại thường bị quên mất. Biết trở lại cảm nhận niềm vui trong từng nhịp thở, cảm nhận giá trị của phút giây này, cảm nhận cái đẹp phong nhiêu ngầm ẩn của thực tại – đó là haiku. Issa đã nhìn thấy cái đẹp trong khoảnh khắc đời thường như thế, Issa hát với ta (bản dịch của Nhật Chiêu):

Mưa mùa xuân reo

một cô gái bé nhỏ

dạy mèo con múa theo

Tạo hóa sáng tạo ra bông hoa, giọt sương, làn gió, cơn mưa, điệu múa, và tạo hóa cũng sáng tạo haiku. Mặt khác, một bài haiku nhỏ bé thường chỉ là tương tác chấm phá của hai (đôi khi ba) hình ảnh, có thể coi là đơn vị nhỏ nhất cấu thành thơ ca – một nguyên tử thơ. Nói vậy để thấy mỗi bài haiku là một nhịp đập, một hơi thở thuần khiết của tự nhiên. Nhắc đến nhịp đập cũng như hơi thở, ta sẽ có cảm thức về sự trôi chảy đều đặn và liên tục. Quả vậy, làm một bài haiku giống như nắm bắt sự vật trong thoáng chốc rồi lại thả nó vào dòng trôi như nhiên của thực tại. Hãy thử cùng phóng to cái nguyên tử thơ ấy lên để thấy cấu trúc của nó. Nhịp 5-7-5 thuần Nhật, bắt nguồn từ thời của những bài thơ trong Cổ Kim Tập hay Vạn Diệp Tập, cũng tương tự như nhịp 6-8 đi từ ca dao vào thơ lục bát của Việt Nam. Nhịp ấy đều đặn về số âm của ba dòng nhưng pha chút biến điệu [ở dòng thứ hai]. Bản thân thơ haiku trong tiếng Nhật thường được viết thành một dòng và đọc lên thành tiếng trong một hơi thở, nhưng chính những từ ngắt có chức năng tạo tính gián đoạn trong sự liên tục đó.

Nhịp 5-7-5 như đã nói ở trên, do khác biệt ngôn ngữ, không nên và không còn được áp dụng cho haiku thế giới [một lý do quan trọng nữa là cần hạn chế các dư từ trong ngôn ngữ đơn âm như tiếng Việt, nhằm đảm bảo nội hàm cho bài thơ]. Thế nhưng, điểm đặc biệt nhất về cấu trúc của thơ haiku lại nằm ở tính chất ba dòng, hay ba nhịp.

Đem so sánh với thơ Đường của Trung Quốc hoặc thơ lục bát của Việt Nam, hai thể thơ sau có số câu chẵn và thường có tính đăng đối, cân xứng, tạo những đối cực có phần tĩnh, thì thơ haiku với ba dòng lẻ lại bộc lộ một sự vỡ đối xứng chớm phát, một biến dịch tiềm tàng. Bản thân vũ trụ của chúng ta chứng kiến sự vỡ đối xứng tự phát ở khắp mọi nơi, trên mọi bình diện, mà điển hình nhất là sự vỡ đối xứng giữa các lực tương tác [ban đầu được xem như có cùng bản chất] chi phối tới hết thảy sự vật, hiện tượng trong tự nhiên. Ta có ví dụ nổi tiếng về chú lừa của Buridan. Chú lừa đã rất đói rồi và đang đứng giữa hai bó cỏ y hệt nhau, hoàn toàn đối xứng. Không có lý do gì để tới ăn bó này mà không phải bó kia, nhưng cơn đói đã khiến chú chọn tự phát một trong hai bó cỏ. Ví dụ minh họa phần nào sự sống, tự nhiên là một vỡ đối xứng tự phát. Adam và Eva trước khi cắn trái táo cấm chưa thể được coi là con người. Nhưng không chỉ có vậy, cái đẹp, ở khía cạnh là bạn song hành của tự nhiên, cũng mang tính chất ấy. Nếu không thế, cái đẹp sẽ trở nên bất động, cứng nhắc. Còn ngược lại, với một vỡ đối xứng nhẹ, nó sẽ có sức sống và mềm mại hơn. Điểm đặc biệt vừa nêu trên không riêng thuộc về haiku mà thơ ca Nhật Bản nói chung là vậy. Như thể thơ tanka với cấu trúc năm dòng lẻ [5-7-5-7-7] cũng gần với sự vỡ đối xứng, biến chuyển của tự nhiên. Lời giải thích có lẽ nằm ở cảm thức tinh tế của người Nhật trước thiên nhiên bốn mùa đi qua, kết tinh ở khái niệm thẩm mỹ aware, hay đầy đủ hơn mono no aware [nỗi buồn sự vật].

Suy ngẫm thêm một chút, ta còn nhận ra tính phổ quát của cấu trúc ba nhịp. Trên nhịp nền phập phồng, đều đặn và liên tục của vũ trụ, cái tương thông với nhịp hơi thở của mỗi cá thể, vẫn còn một nhịp điệu nữa của tâm thức, của kiếp người biến chuyển với ba giai đoạn: thời thơ ấu, lúc trưởng thành, và khi về già. Chính sự tương thông giữa vũ trụ đại ngã và con người tiểu ngã khiến mọi sự vật, hiện tượng đều có cấu trúc ba nhịp và khả năng quy hồi. Người Nhật gọi cấu trúc biến điệu này là jo-ha-kyū. Jo (序 – Tự), ha (破 – Phá) và kyū (急 – Cấp) lần lượt là nhịp đầu, nhịp giữa và nhịp cuối của mỗi chuyển động trong chuỗi jo-ha-kyū. Mọi hiện tượng cấu thành một đơn vị thống nhất khi chúng khởi đầu theo cách thanh thoát (jo), triển khai phức tạp và nhanh dần (ha), rồi kết thúc đột ngột (kyū). Ví như hành động săn mồi của đại bàng, jo tương ứng với lúc lượn vòng quan sát trầm tĩnh từ trên không, ha là khi sải những đường bay theo dấu con mồi, và kyū là thời khắc lao xuống tung móng vuốt. Hay như thiên tài Zeami của sân khấu kịch Nō đã viết trong luận Thập Túc Đắc Hoa: “Vạn vật trong vũ trụ, cho dù tốt xấu, lớn nhỏ, có đời sống hay vô tri, tất cả đều chia sẻ nhịp điệu của jo-ha-kyū. Từ tiếng chim líu lo đến tiếng côn trùng rả rích, mọi loài ca hát theo một trật tự chọn lựa, và trật tự ấy luôn bao gồm jo, ha, và kyū… Cỏ cây ướt với mưa, với sương trong nhịp điệu jo-ha-kyū này, cũng như hoa thơm trái chín vào mùa thích hợp. Tiếng gió, tiếng nước cũng theo cùng điệu ấy”. Trở lại với bài thơ của Issa:

Mưa mùa xuân reo

một cô gái bé nhỏ

dạy mèo con múa theo

Dòng đầu ứng với nhịp jo, mở ra không gian, bối cảnh nền của bài thơ là cơn mưa mùa xuân. Dòng hai chuyển sang nhịp ha, phát triển từ nhịp đầu: trong cơn mưa reo vui, hiện lên hình ảnh một cô bé. Cô bé đang làm gì? Cô đang hân hoan vui đùa với một chú mèo nhỏ đáng yêu. Nhịp cuối kyū, nhịp kết thúc có sức công phá mạnh, đục sâu vào khoảnh khắc bình dị ấy cho thực tại hiển lộ. Cơn mưa rồi sẽ tạnh, cô bé sẽ lớn lên, và con mèo cũng sẽ không còn ở đấy nữa. Nhưng ngay giây phút này đây, cả ba – cơn mưa, cô bé, và mèo con – đang hòa cùng điệu múa. Điệu múa của vũ trụ tương tùy ở đó mọi sự vật hòa quyện cùng nhau. Điệu múa của cái đẹp vừa phai tàn lại vừa vĩnh cửu. Ta thấy nhịp cuối trở lại nâng nhịp đầu lên tạo thành một tổng thể hòa điệu, biến dịch mà hồi quy. Như vậy, bản chất cấu trúc của thơ haiku, tương hợp với nội hàm duy khoảnh khắc, mang trong mình nhịp điệu của tự nhiên.

Đến đây, ta hãy thử bàn xem nhịp điệu haiku thể hiện trong ngôn ngữ tiếng Việt sẽ có những đặc điểm gì. Một khúc haiku dịch từ nguyên tác tiếng Nhật đa âm sang tiếng Việt đơn âm, nếu đảm bảo nội hàm của bài thơ, đọc lên sẽ ngắn gọn hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc haiku trong tiếng Việt không còn giữ nhịp 5-7-5 nữa. Tiếng Việt cũng không có hệ thống các quý ngữ chỉ mùa và từ cắt để định hướng và tạo trường liên tưởng cho người đọc. Tuy nhiên, tiếng Việt lại rất giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc tính, đều là những phẩm tính ưu việt có thể khai thác cho haiku. Hầu hết với các ngôn ngữ khác trên thế giới, kể cả tiếng Nhật, những phẩm tính này không mạnh như ở tiếng Việt. Thậm chí, một bài haiku Nhật khi dịch nguyên nghĩa sang một ngôn ngữ khác đọc lên thấy có phần khô khan, thiên về suy tưởng lý tính. Với cấu tạo ngôn ngữ gồm các thanh bằng trắc, tiếng Việt chỉ nói không thôi nghe đã như hát rồi, kết hợp với việc gieo vần đa dạng sẽ có thể tạo thành phong cách đặc trưng riêng cho haiku Việt. Việt Nam và Nhật Bản cùng là hai nước Á Đông nên có đồng thời cả những mẫu số chung lẫn những điểm khác biệt về văn hóa. Cùng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Đại Thừa và Thiền tông nhưng văn hóa Nhật Bản thì duy mỹ [và duy lý] trong khi văn hóa Việt thì duy tình. Yếu tố duy tình được thể hiện rất rõ trong nội hàm của thơ lục bát nói chung, nhưng như nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu đã chỉ ra, ngay chính cấu trúc 6-8 với cách gieo vần lưng nom giống như một người con trai vòng tay ôm lấy eo một người con gái. Xét trên quan điểm Phật giáo, thơ lục bát và thơ haiku giống như đối ngẫu của nhau. Lục bát chuyên chở cái tình, cái duyên nghiệp và có tính sóng – lan truyền, xâu chuỗi các câu thơ bằng vần điệu. Còn haiku lại có độ tụ và xuyên phá mạnh, thể hiện cái trực ngộ của người làm thơ. Như vậy, nếu vận dụng khéo léo ngôn ngữ và văn hóa Việt, hòa hợp với nền tảng vốn có của haiku Nhật Bản, chúng ta có quyền mong đợi ở haiku Việt cân bằng được cả hai yếu tố lý và tình, tạo thành một trực nghiệm thơ ca hoàn chỉnh. Qua ngôn ngữ Việt, bài haiku của Issa dường như lại thêm phần ngân nga.

Mưa mùa xuân reo

một cô gái bé nhỏ

dạy mèo con múa theo

Đinh Trần Phương

Khúc Haiku về chú chó hoang

alt

Vasile Smărăndescu (România)

Cîine părăsit
căutînd un stăpîn
să aibă după cine plînge

An abandoned dog
is looking for a master
just to bark for him

Con chó hoang

chạy tìm một ông chủ mới

chỉ để được sủa theo

Lê văn Truyền

(dịch từ nguyên bản tiếng România)

Cách đây hơn hai mươi năm, vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, tình cờ tôi đọc được trên mạng bài phát biểu của Luật sư George Graham Vest (Hoa Kỳ) tại phiên tòa xử vụ kiện hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire báo New York Times bình chọn là một trong 100 bài diễn văn hay nhất trên thế giới trong thiên niên kỷ thứ hai sau khi Chúa Jesus ra đời. Sau khi nói về sự phản trắc của con người, từ bạn bè, con cái … cho đến những kẻ cộng sự hay thuộc quyền … vị luật sư nhấn mạnh:

“Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta. Nó luôn ở bên cạnh ta trong những khi phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết dập vùi, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn chút thức ăn cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng dù ta có là một gã ăn mày chăng nữa. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như vầng thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trunng thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù... Rồi khi tấn trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng, quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì vẫn còn bên nấm mồ của ta - chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô”.

Đó là những lời thấm đẫm nhân văn của một vị luật sư khi nói về đức tính của loài chó. Nhưng tôi nghĩ chắc ngài luật sư đang nói về những con chó có chủ và chắc chắn trong cuộc đời của chúng, chúng đã được người chủ thương yêu. Và dù là loài vật, chúng vẫn cảm nhận được niềm hạnh phúc với lòng trung thành và lòng biết ơn vô hạn. Điều đó cũng giải thích cho tôi hiểu tại sao những người vô gia cư ở Paris mà tôi thấy trên đường phố trong một chuyến công tác vào năm 2007, trong những đêm Đông lạnh buốt ngập tràn tuyết trắng ai cũng nằm trong những chiếc thùng giấy với con chó thân yêu của mình dưới chân những tòa nhà cao ngất.

Paris, những đêm buốt giá

Còn bao nhiêu kẻ không nhà?

Thùng giấy thay chăn nệm ấm

Bên mình, chú chó ngẩn ngơ…

Paris, ánh sáng và bóng tối

Lê Văn Truyền, 2007

Ở nước ta, trong dân gian, khi nói về nỗi khốn cùng của một phận người hoặc khi tự than vãn về cuộc đời mình, người ta vẫn thường ví von: “khổ như chó”. Có lúc, để đáp trả cái liếm chân thể hiện lòng trung thành và tình yêu, những con chó phải chịu nhiều cú đá vô cớ khi chủ nhà đang bực bội. Nó là nơi để chủ nhà, từ trẻ em cho đến người lớn, trút những trận đòn cho hả cơn giận dữ mà nguyên nhân nhiều khi không phải do nó gây ra. Rồi đến một ngày nào đó, người ta làm thịt chúng, quay chúng vàng rộm trong lửa rơm và xào nấu chúng thành những món ăn khoái khẩu, mua vui cho mọi người trên bàn nhậu để sau đó tấm tắc bảo nhau rằng “sống trên đời không được ăn một miếng dồi chó, khi chết không nhắm được mắt!” … Thế nhưng dù sao, khi còn sống chúng vẫn may mắn là còn có chủ, có con người làm bầu bạn.

Tôi nghĩ, những con chó khổ nhất trên thế gian này chắc chắn phải là những con chó vô chủ - những con chó hoang. Chúng chẳng có một nền đất lạnh trong một góc nhà để lim dim khi mệt rũ. Chúng chẳng có chút thức ăn thừa đã ôi thiu bỏ đi dành cho chúng khi dạ dày chúng rỗng tuếch. Chúng chỉ có một mình, cô đơn, không bạn bè, bị con người săn đuổi để giết thịt (như ở nước ta và một vài nước khác). Để sống sót, chúng phải cắn xé nhau, đôi khi đến đổ máu để tranh giành thức ăn và chỗ ngủ với đồng loại, những con chó hoang khác cũng vô chủ như chúng … Và trong cuộc sống “khổ hơn chó” của những con chó hoang, chúng thiếu tình người dành cho chúng. Con chó hoang thấy cần có một ông chủ biết bao. Dù không hy vọng được ấm áp trong tình thương yêu loài vật, nó chỉ cần có một ông chủ, để thi thoảng được nghe lời quát mắng, để cảm nhận được rằng nó vẫn còn được một ai đó quan tâm, để thấy sự tồn tại trên cõi đời này của nó có ý nghĩa, để bù đắp cho sự cô đơn vô tận trong cuộc sống hoang dã của mình. Đến đây, tôi bỗng lại nhớ đến những con chó hoang ở Thủ đô Bucarest trong chuyến công tác của tôi đến România vào năm 2001, hơn 10 năm sau khi chế độ của Tổng thống Nicolae Ceausescu sụp đổ. Lúc đó nền kinh tế của România đã tụt đến tận đáy. Người dân thủ đô không còn khả năng nuôi những con thú cưng. Hàng ngàn con chó cưng của một thành phố gần 10 triệu dân bị đẩy ra khỏi nhà, lang thang kiếm ăn trên khắp các đường phố, và cả dưới mạng lưới tầu điện ngầm đẹp đẽ, hiện đại vốn từng là niềm tự hào của đất nước. Một buổi tối, khi tôi đi bộ từ một ga tầu điện ngầm trên đại lộ Magheru trở về Đại Sứ Quán Việt Nam trong một con phố nhỏ yên tĩnh, một con chó bông nhỏ xíu, xơ xác, bẩn thỉu quấn lấy chân tôi để làm quen và lẫm chẫm, tội nghiệp chạy theo về đến tận cổng Tòa Đại Sứ. Tôi đành phải nhẫn tâm gạt nó ra, đóng hai cánh cửa sắt của Tòa Đại Sứ để nó đứng bên ngoài trong đêm tối lạnh lẽo, thất vọng dõi theo tôi với ánh mắt cầu khẩn… Thế cho nên, một con chó dù có bị đuổi ra khỏi nhà trở thành con chó hoang vẫn vô vọng rong ruỗi, lang thang hết ngày này sang ngày khác để “chạy tìm một ông chủ” với niềm hy vọng cháy bỏng trong một ngày đẹp trời nào đó có một ai đó đem mình về nuôi. Để mình được có một ông chủ mới, để dù không được thương yêu đi nữa, nhưng có một người để có thể chạy theo sau mà sủa, dù đôi khi có thể bị một cú đá, nhưng đó cũng đã là niềm an ủi lớn lao vì mình đã thoát khỏi thân phận một con chó hoang vô chủ còn “khổ hơn chó” của mình.

Khúc haiku với nhận xét hết sức tinh tế và độc đáo của haijin Vasile Smărăndescu (România) về con chó hoang giúp tôi nhận ra một khía cạnh khác đầy “nhân tính” của loài chó mà Luật sư George Graham Vest đã tổng kết trong bài phát biểu của mình. Và tự nhiên tôi tin rằng, không thể khác được, chắc chắn nhà thơ đã viết khúc haiku này trong bối cảnh của thời kỳ chuyển đổi đầy đau đớn của đất nước và xã hội România vào thập kỷ 90’ của thế kỷ trước, nơi tôi từng có một khoảng đời thanh xuân trải qua ở đó trong thập kỷ 60’.

LVT

Khúc Haiku về chiếc quạt mo

Khúc haiku đạt Giải Ba

Cuộc thi Haiku Việt 2017

Cung Văn Hóa Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng

alt

Chiếc quạt mo

âu yếm tấm thân tôi mệt mỏi

làn gió thời ấu thơ

Lê Văn Truyền

A fan made from areca leaf base

cooling my exhausted body

with the childhood breeze

by Trần Hữu Hiền

Cách nay mấy chục năm, đặc biệt trong thời chiến tranh, nhiều vùng quê miền Trung nắng như đổ lửa và người ta chỉ được hưởng làn gió mát lành từ những cánh đồng lúa, từ mảnh vườn xôn xao cây lá và từ tấm quạt mo cau. Những cây cau trong vườn cho ta những trái cau, lễ vật thiêng liêng của những ngày giỗ, ngày Tết, và trái cau cùng với lá trầu – lễ vật thiêng liêng của tình yêu và hôn nhân. Hoa cau rụng trắng bên thềm trong những đêm trăng sáng lan tỏa một làn hương nhẹ nhàng, thanh tao. Trong những ngày đói kém, đôi khi buồng hoa cau non được luộc lên thay rau xanh, ăn vào thấy ngọt ngọt, lâng lâng như có men say.

Thân cây cau già chết khô được xẻ làm đôi, khoét ruột để làm ống máng hứng nước mưa từ mái tranh vào những lu, chum đựng nước đầu chái nhà, cho ta những gáo nước mát lành giải cơn khát giữa trưa hè oi bức. Và tầu lá cau già, thỉnh thoảng đột ngột rụng, tạo một tiếng vang trong đêm thanh vắng như nhắc nhở ta sự hiện diện của quy luật tự nhiên “lá già phải rụng nhường chỗ cho lá non đâm chồi”. Sáng hôm sau, bà tôi lượm tầu lá cau, chặt lấy chiếc mo, cắt thành một tấm quạt, đem phơi ngoài sân nắng sau khi chặn bằng mấy hòn gạch cho tấm mo khỏi cong. Từ tay bà, chiếc quạt mo đã cho tôi làn gió mát thoang thoảng hương cau trong những buổi trưa hè đổ lửa, những đêm tháng năm, tháng sáu oi bức, ngột ngạt và những lúc làn da tôi nóng hừng hực, vầng trán hâm hấp mồ hôi vì những cơn sốt mà bà tôi thường gọi là sốt “vỡ da” của con trẻ.

Thời kỳ kinh tế bao cấp, cả cơ quan ngồi chờ đến lượt mình được bán “cung cấp” một chiếc quạt “tai chuột” bé tí. Đêm đêm trong các căn nhà tập thể vừa đủ kê một chiếc giường đôi, nóng hừng hực như một lò lửa bao bà mẹ trẻ thức ngủ chập chờn suốt đêm quạt chiếc quạt mo hoặc quạt nan cho những đứa con bé bỏng. Tay mỏi rã rời, lơ mơ trong cơn buồn ngủ ập vào đôi mi mắt, buông tay để rơi chiếc quạt. Như một phản ứng tự nhiên, người mẹ giật thột vơ lấy chiếc quạt và tiếp tục bao bọc cho con làn gió mát thấm đẫm tình mẫu tử nồng nàn. Trong làn gió mát của những chiếc quạt mo, quạt nan … những người mẹ gửi đến cho những đứa con thân yêu cả một tình yêu thương và sự hy sinh vô bờ bến. Bây giờ, chúng ta ngủ trong những căn phòng máy lạnh. Các công ty công nghệ hàng đầu đang nỗ lực quảng cáo để bán gió trời mát mẻ cho chúng ta qua những chiếc máy điều hòa nhiệt độ tân tiến. Để tạo làn không khí mát cho người có tiền, hàng trăm triệu “cục nóng” máy lạnh đang trút sức nóng cho những kẻ không tiền. Khí làm lạnh của hàng trăm triệu chiếc máy lạnh đang phân bổ tai họa môi trường cho toàn Nhân Loại, bất kể người giàu hay người nghèo, thông qua việc chọc thủng tầng “ôzôn”, và Trái Đất, ngôi nhà chung của chúng ta, đang nóng dần lên. Xem ra luồng gió máy lạnh hiện đại thật là “phi nhân tính”.

Một buổi trưa hè năm nay, cùng người bạn trẻ thăm một làng nhỏ miền Trung, tôi bỗng thấy một chiếc quạt mo lặng lẽ nằm trên chiếc chõng tre ngoài hiên nhà. Cầm chiếc quạt mo phe phẩy, một làn gió tuổi thơ bỗng ôm ấp tấm thân già cỗi của tôi và tim tôi bỗng tràn ngập một cảm xúc trẻ trung, thân quen khó nói nên lời.

Lê Văn Truyền

CÂU LẠC BỘ HAIKU VIỆT HÀ NỘI

Tính quốc tế của thơ Haiku- Lê Thị Bình

Hiện nay, khoảng hơn 40 nước trên thế giới có nhiều người đang say mê sáng tác và nghiên cứu thơ Haiku. Tôi muốn tìm hiểu những suy nghĩ, đánh giá về thực tế đó từ phía Nhật và các nước khác nên viết bài này để mọi người tham khảo. Về chủ đề này, có mấy bài viết của các tác giả Ngô Triêu Tân (Đài Loan) và Tachiana L. Sokolova (Nga). Bài phân tích của tác giả nổi tiếng Terada Torahiko (1878-1935) về người Nhật trong mối quan hệ với thiên nhiên, một số bài viết của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về Haiku cũng khiến tôi quan tâm.

alt

Người ta tổng kết đến nay, từ châu Âu (cả Tây và Đông Âu), Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Đông Nam Á… đều có đội ngũ sáng tác Haiku, lý do ban đầu rất giống nhau: vì thể thơ này ngắn, dễ làm, ai cũng có thể làm được (đương nhiên muốn hay và để người đọc nhớ đến thì cũng khó đấy!). Ở châu Âu và châu Mỹ trước đây có một quan niệm phiến diện rằng thơ và văn là của tầng lớp tri thức, người bình dân ít học mà làm thơ, viết văn thì đó là sự trụy lạc. Nhà văn thiếu nhi nổi tiếng Andersen khi ra mắt tiểu thuyết bằng ngôn ngữ Đan Mạch cũng bị chê rằng “đây mà gọi là tiểu thuyết ư?”, nhưng khi các tác phẩm của ông bán rất chạy thì tư tưởng phiến diện trên đã bị phá bỏ. Cuộc sống là như vậy, thật “xanh tươi”.

Người Nhật cho rằng Haiku lan truyền trên thế giới là do công lao to lớn của nhà văn hóa Nhật người Ý Reginald Horace Blyth (1898-1964). Từ năm 1949, ông đã viết 4 cuốn về Haiku và 2 cuốn về lịch sử Haiku bằng tiếng Anh để giới thiệu về thể thơ này.

Haiku hiện đại của Nhật có lẽ gần với Haiku của các nước khác trên thế giới. Nhật có thơ Haiku tự do từ cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, cùng với đó là sự ra đời của Hiệp hội thơ Haiku hiện đại. Người Nhật muốn thoát khỏi sự gò bó của Haiku cổ điển, tiêu biếu là nhóm Haiku theo xu hướng tự do với tạp chí Soun 層雲 (“Tằng Vân” hay “Mây tầng”). Đây là loại Haiku “phá cách”, không theo luật lệ “định hình 5-7-5 và có quý đề, quý ngữ”. Ta có thể tìm hiểu Haiku tự do của Nhật do Kawahigashi Hekigoto (1873-1937) và những người theo trường phái của ông, như Ozaki Hosai, Taneda Santoka… đề xướng, hưởng ứng phong trào “Haiku khuynh hướng mới” (新傾向俳句).

Trong bài về “Lịch sử Haiku ở Đài Loan”, ông Ngô Triêu Tân nói rằng qua một thời gian dài từ 1895 đến 1945, Đài Loan chịu sự thống trị của người Nhật, đã tiếp thu nền giáo dục của Nhật; người dân Đài Loan bị buộc phải học tiếng Nhật nên rất thạo, họ sáng tác Haiku bằng tiếng Nhật và chữ Hán. Nhiều người Nhật ở Đài Loan cũng kết thành các Hội Haiku và ra nhiều tạp chí Haiku. Ông bàn nhiều về “quý đề” và “quý ngữ” trong sáng tác thơ Haiku ở Đài Loan. Ông cho rằng sáng tác Haiku bằng ngôn ngữ khác ngôn ngữ Nhật thì có âm điệu khác, thời tiết khác nên khó áp dụng các “quý ngữ” như của Nhật, có cố tình dùng quý ngữ thì đọc lên cũng không cảm nhận được, mất ý nghĩa vốn có.

Có những nhà thơ Đài Loan cũng rất tâm huyết và ra sức cổ vũ cho Haiku tiếng Trung (Hán Bài), nhưng theo Ngô Triêu Tân, dù sao đó là loại thơ ngắn nhưng dứt khoát không phải Haiku (Bài Cú, 俳句) kiểu Nhật. Một thực trạng khiến ông băn khoăn là Hội Haiku ở Đài Loan đa phần là người cao tuổi, ông hy vọng Hội sẽ thu hút thêm nhiều nhà thơ trẻ để kế tục sự nghiệp phát triển thơ Haiku. Con đường phát triển thể thơ ngắn này, theo ông, còn rộng mở mà không cứ phải là dạng Bài Cú truyền thồng có quý ngữ, định hình 5-7-5. Ông cho rằng Bài Cú truyền thống của Nhật (có quý ngữ, định hình, hoa điểu phúng ngâm, tả sinh…) chỉ là một phần của Haiku chứ không phải là tất cả, và rằng Shiki mất quá sớm chứ nếu sống lâu hơn thì chắc thế giới Haiku bây giờ còn thay đổi nhiều nữa. Ông kêu gọi người Nhật hãy mở lòng đón nhận văn hóa Haiku, khởi nguồn từ Nhật Bản và đươm hoa kết trái trên nhiều đất nước. Ông nói “cớ sao một bộ phận người Nhật lại không muốn chấp nhận nó!”.

Ông cũng cho biết mặc dù Haiku đã được nhiều nước trên thế giới tiếp nhận và sáng tác, nhưng phần lớn những người hâm mộ Haiku ở Nhật Bản vẫn nghĩ rằng Haiku chỉ thích hợp với người Nhật và phải làm bằng tiếng Nhật. Nó là thể loại thơ định hình với cấu trúc 5-7-5, có quý ngữ và ngâm vịnh phong cảnh thiên nhiên (花鳥諷詠), thậm chí còn có chủ trương phải cưỡng chế như vậy. Một số ít, nhất là giới trẻ, thì cho rằng có thể sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng chỉ cần thật ngắn và là thơ 3 dòng, không có quy ước nhất định.

Đất nước Brazil, rộng lớn nhất Nam Mỹ, là nơi người Nhật di dân sang sống từ hơn 100 năm nay, và là nơi đông kiều Nhật nhất trên thế giới. Đã có đến ba, bốn thế hệ người Nhật sinh ra và lớn lên ở Brazil, thế hệ con cháu thứ tư thì hầu hết là con lai. Người Nhật xa quê hương và họ yêu văn hóa nước mình nên rất thích ngâm nga, sáng tác thơ Haiku, Tanka… Nói đến Haiku của người Nhật ở Brazil thì phải nhắc đến người mở đầu là ông Uetsuka Shuhei (1876-1935) với bút danh Uetsuka Hisagokotsu (上塚瓢骨). Ông dẫn đầu đoàn người di cư sang Brazil trong chuyến tàu đầu tiên Kasato maru và sáng tác câu Haiku sau, mở đầu cho phong trào thơ Haiku trên đất Nam Mỹ:

涸滝を見上げて着きぬ移民船

karedaki wo / miage tetsukinu / iminfune

Nhìn lên thác khô / tàu di dân / cập bến

Tiếp đó, phải kể đến nhà thơ, nhà báo Guilherme de Almeida đã lập nên trường phái thơ Haikai Almeida. Nghe nói ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ Haiku bằng tiếng Bồ Đào Nha từ năm 1936 sau khi gặp ngài Tổng lãnh sự Nhật yêu thơ Haiku Ichige Kozo. Mỗi câu Haikai của ông có đầu đề riêng và vẫn tuân theo cấu trúc 5-7-5, ví dụ bài Haikai của ông như sau:

Rửa / vẩy nước, lắc cát / trong sàng còn lại một hạt vàng

Bài này tiêu biểu cho ý niệm sáng tác Haiku của Almeida và cũng là của Brazil. Đúng là đãi cát tìm vàng!

Người sáng lập nên thi đàn Haiku Brazil là Sato Nenhara (1898-1979). Ông theo học Kyoshi và cả đời trung thành với quan niệm sáng tác “tả sinh” của Shiki. Ông xuất bản nhiều tập thơ trong đó phải kể đến “Haiku Brazil thi tập” (1948), “Tập thơ Haiku của di dân 70 năm” (1978), “Tuyển tạp ngâm Bóng râm - Haiku của di dân Brazil” (1979). “Bóng cây” hay “Bóng râm” (木陰 kokage) là tên tạp chí Haiku nổi tiếng ở Brazil. Người ta nói Haiku ở Brazil đi từ hoa Anh Đào đến hoa Ippe (quốc hoa Brazil).

Brazil dùng tiếng Bồ Đào Nha có cấu trúc ngôn ngữ khác tiếng Nhật, thời tiết cũng khác, chủ đạo là khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới, đặc biệt các mùa ngược hẳn với Nhật Bản vì vậy việc dùng “quý ngữ” như quy định của Nhật là nỗi băn khoăn với họ. Tuy vậy, con người là một phần của vũ trụ, như haijin Kyoshi đã viết vào cuối đời trong cuốn “Con đường đến Haiku” (1955), đại ý: Haiku là sự “thể hiện của vũ trụ”, là thứ “văn nghệ của thiên đường, chốn cực lạc”. Haiku gắn với thiên nhiên, mỗi con người là một phần của vũ trụ là như vậy.

Tài liệu nghiên cứu “Haiku ở Tây Âu trong sự phát triển của Haiku hiện đại” của bà Tachiana L. Sokolova – ủy viên Ủy ban văn học Moscova – viết rằng: “Một điểm đặc trưng của Haiku ngày nay là nó đã vượt thoát khuôn khổ thơ ca Nhật Bản. Từ đầu thế kỷ 20, Haiku đã dần có được không gian sống mới. Ban đầu mới chỉ là một số ít các nhà thơ Tây Âu sáng tác Haiku nhưng, như nhà thơ Nhật Sato Kazuo – người đầu tiên viết về Haiku hải ngoại – nhận định, ngày nay, con đường từ Haiku đến Haiku dần rộng mở. Phong trào sáng tác Haiku lan từ Mỹ sang Tây Âu và các nước trong khu vực châu Á. Xuất hiện ngày càng nhiều các Hiệp hội thơ Haiku ở Mỹ, Canada, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc… Người ta tổ chức các cuộc thi sáng tác Haiku khắp mọi nơi, giảng dạy về Haiku, thậm chí có cả các trường dạy sáng tác”. Điều này khiến cho ngay cả các Hiệp hội thơ Haiku trong nước Nhật cũng phải hình thành các bộ phận giao lưu quốc tế. Ở mỗi nước, quá trình tiếp biến thơ Haiku khá tương đồng: ban đầu là giới thiệu về Haiku; rồi đến những bài luận văn liên quan đến Haiku và dịch những câu Haiku cổ điển của Nhật; sau nữa là say mê và trải nghiệm sáng tác… Bà giới thiệu sáng tác Haiku của một số nhà thơ Nga nổi tiếng thời kỳ đầu mới tiếp xúc và tìm hiểu Haiku như Konstantin Dmitriyevich Balmont (1867-1942), Andrei Bieri (1880-1934). Thơ họ mới đầu phần nhiều chịu ảnh hưởng của thơ ca Nhật, đặc biệt là Tanka và Haiku. Bà coi đây là những bước đi đầu tiên của người Nga sáng tác Tanka và Haiku bằng tiếng Nga. Bà lý giải tại sao người châu Âu thích Haiku như vậy, bởi vì nó ngắn và chứa đựng nội dung sâu sắc. Ban đầu họ không phân biệt sự khác nhau giữa Tanka và Haiku nhưng khi hiểu nhiều hơn thì thấy chúng rõ ràng khác nhau và họ cho Haiku chiếm lĩnh vị trí số một. Tanka có tính văn học và mỹ cảm hơn nhưng Haiku thì gần gũi, dễ cảm hơn và mang đậm yếu tố dân chủ.

Bà Tachiana L. Sokolova so sánh Haiku của các tác giả Nga, Anh, Ý, Đức, Canada, Mỹ, Pháp, Croatia, Rumani, Hungary… với Haiku của một số nhà thơ Nhật nổi tiếng ở cùng chủ đề. Ví dụ, bà so sánh một câu thơ về đêm xuân nhớ bạn tình, tuy đã cố làm ngắn gọn nhưng vẫn dài dòng của Fyudor Tyutchev với câu cùng ý của Uejima Onitsura (1661-1783):

春の夜の枕嗅ぐやら目が腫レた

Haru no yoru/ no makura kaguyara / mega hareta

Đêm xuân / ngửi hương của gối / mắt xưng mọng

Hay bà so sánh thơ của Apollon Nikolayevich Maykov (1821-1897) với cùng chủ đề mùa xuân của Masaoka Shiki (1867-1902):

雪の絵を春も掛けたる埃哉

Yuki no e wo / haru mo kaketaru / hokori kana

Tranh tuyết / bụi còn bám / sang cả mùa xuân

và cho rằng nếu Maykov là một haijin thì ông sẽ chỉ cần viết hai dòng đầu là đủ, không cần giải thích hay miêu tả dài dòng.

Bà so sánh thêm thơ của Boris Pasternak (1890-1960) về tình cảm nhớ hình ảnh người vợ đã mất với câu của Yosa Buson (1716-1783) như sau:

身にしむや亡妻の櫛を閨に踏む

Minishimu ya / nakitsuma no kushi wo / neya ni fumu

Thấm lạnh / chốn phòng the / thấy lược của người vợ đã mất

Một câu ngắn nhưng ý rất sâu!

Bà nhận định quá trình các nước tìm hiểu, dịch và làm Haiku bằng ngôn ngữ nước mình là giống nhau. Và bà kết luận rằng sáng tác Haiku bằng ngôn ngữ khác tiếng Nhật thì hình thức định hình có thể không giống luật Haiku của Nhật Bản nhưng nội dung thì phải có tính Haiku. Người sáng tác có thể làm thơ ngắn hoặc gần giống Haiku, mang tinh thần cô đọng, hàm súc như Haiku.

Bà cũng cho biết thêm, ở Nga, trong thập niên 60-70 có nữ sỹ Marukova dịch và giới thiệu tập thơ Haiku của Basho, sách đã bán hết veo trước khi đưa ra phát hành tại các tiệm sách vì rất nhiều người hứng thú, đặc biệt là các nhà thơ trẻ đương thời sáng tác theo khuynh hướng tự do.

Tôi lại xem bài “Hai lối mộng trong thơ Haiku Nhật Bản hiện đại” của Hoàng Long viết năm 2011, khi mà người Việt vẫn quen gọi tạp chí Haiku Hototogisu nổi tiếng của Nhật là “Chim Cuốc” (tác giả Hoàng Long cũng vậy). Tạp chí Hototogisu xin cứ dịch là "Chim Tử Quy" cho gọn và đúng ý của Shiki, người sinh ra nó. Bài này nói về sự ra đời của Haiku hiện đại Nhật Bản mà tiêu biểu là khuynh hướng của hai nhà thơ Haiku nổi tiếng, đều là những học trò xuất sắc của Masaoka Shiki: Hekigoto và Kyoshi. Hai ông đã cách tân Haiku Nhật Bản theo hướng tự do mà cho đến nay người Nhật vẫn còn tiếp tục bàn cãi. Tuy vậy, Haiku đã ra thế giới, biểu hiện bằng nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng Nhật. Ngôn ngữ khác, môi trường khác, nền văn hóa khác nhưng người ta vẫn mê Haiku ngắn gọn và hàm xúc sâu xa. Điều đó tạo nên “tính quốc tế” của Haiku.

Tác giả Terada Torahiko (1878-1935) đã phân tích tỉ mỉ về điều kiện tự nhiên của Nhật Bản dẫn đến “thiên nhiên quan” của người Nhật qua bài viết “Quan niệm về thiên nhiên của người Nhật”, đồng thời, “tinh thần Haiku” cũng được ông bàn khá kỹ trong bài tùy bút đặc sắc này của mình. Ông nhận định người Nhật khác người phương Tây ở chỗ sống gần gũi, không tách rời và đối lập với thiên nhiên, không có thái độ khoa học lý tính áp đặt lên thiên nhiên mà hòa với thiên nhiên làm một. Nói cách khác, người phương Tây coi thiên nhiên là công cụ, là hàng hóa thì người Nhật coi thiên nhiên thân thiết như anh em ruột thịt, coi mình là một phần của thiên nhiên; người phương Tây muốn “chinh phục” thiên nhiên thì người Nhật muốn “đồng hóa” hòa mình vào tự nhiên, nương theo tự nhiên. Ngày nay, trước sự quy mô hóa toàn cầu của vấn đề môi trường thì ở bất cứ đâu cũng cần tăng cường phát huy công cuộc hòa hợp với thiên nhiên. Thơ Haiku là thứ văn hóa mà thông qua “quý ngữ” có thể giúp con người thân thiện với thiên nhiên, rất thích hợp với việc giáo dục trẻ em biết yêu quý thiên nhiên… Hiện nay ở Mỹ, Úc và nhiều nước khác, các trường tiểu học đã dạy cách làm thơ Haiku…

Ở Hà Nội của chúng ta hiện nay, tôi biết có tới hơn 10 trường dạy tiếng Nhật và dạy làm thơ Haiku bằng tiếng Việt. Hàng năm, hãng Hàng không Nhật Bản (Japan Airlines) tổ chức thi vẽ tranh có đề một câu Haiku tự sáng tác theo chủ đề cho thiếu nhi khắp thế giới. Từ ba năm nay, học sinh cấp 2 ở các trường thuộc Hà Nội đã tham gia dự thi. Trước đây tôi đã có một bài giới thiệu về việc sáng tác thơ Haiku ở các nước và về cuộc thi này trong mấy số nội san của CLB Haiku Hà Nội, các bạn có thể tham khảo thêm. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì mới tổ chức hội thảo về sáng tác thơ Haiku trong nhà trường ở Việt Nam.

Thực ra, người Việt đã biết đến thơ Haiku từ đầu thế kỷ 20 nhưng phát triển thành phong trào như hiện nay thì phải chờ đến những năm đầu thế kỷ 21.

PGS. Lưu Đúc Trung và nhà giáo Nguyễn Bích Nhã Trúc có một bài viết về sự tiếp nhận thơ Haiku của người Việt Nam, hình thành Haiku Việt. Điều kiện tự nhiên của Việt Nam và một số nước khác với Nhật Bản, nhiều nơi trong năm không có bốn mùa, có nơi chỉ có mùa khô và mùa mưa, cấu trúc ngôn ngữ cũng khác nên về cả hình thức lẫn nội dung đều có thể có khác biệt với suy nghĩ, tình cảm của người Nhật. Nhưng tựu chung, tất cả đều thích thú với vẻ cô đọng, hàm xúc, ý nghĩa sâu sắc của thể thơ này.

Người Nhật hay trích dẫn câu Haiku của tác giả người Mỹ Jack Galmitz sáng tác sau ngày 11/9/2001 để chứng minh rằng Haiku tiếng Anh vẫn mang âm sắc rất Haiku:

Two light beams shining

where there were once Twin Towers -

my son, my daughter

Hai tia sáng chiếu rọi / nơi Tháp Đôi / con trai, con gái tôi ơi

Khi diễn giảng về “tinh thần Haiku”, Terada Torahiko nói đó chính là “tự nhiên quan” hay “thế giới quan” của người Nhật. Ông dẫn chứng một câu Haiku của Basho:

春雨や蜂の巣つたふ屋ねの漏り

Harusame ya / hachi no suttau / yane no mori

Mưa xuân / mái dột / nước chảy theo tổ ong

Ông dùng câu này để cho người đọc thấy cái “thực” và cái “hư” trong Haiku Nhật Bản. Cũng như kiệt tác sau đây của Basho đã gây nhiều tranh cãi ở Nhật:

荒海や佐渡に横たふ天の川

Araumi ya / sado ni yokotau / ama no gawa

Biển động / bắc ngang đảo Sado / dải ngân hà

Nếu với cách nhìn “khoa học” của người phương Tây thì đây là câu thơ ngắn không có gì đặc biệt nếu không nói là dở nhưng với người Nhật thì đây là câu Haiku rất đẹp. Cụm từ araumi (荒海) – “biển động” hay đảo Sado (佐渡) làm rung động bao tình cảm của người Nhật, bởi vì biển, đảo gắn liền với cuộc sống của họ, hạnh phúc và khổ đau, nó không đơn thuần là “khoa học hàng hải” như đối với người châu Âu…

Lấy ví dụ câu thơ “con ếch” nổi tiếng của Basho, ông cho rằng “cấu trúc 5-7-5” làm cho câu Haiku khác với một câu nói thông thường, nó cho ta cảm giác mạnh mẽ về ngôn ngữ. Tôi nghĩ rằng cũng như vậy, câu Lục Bát của ta nếu không mang âm hưởng vần điệu và không có cấu trúc 6-8 thì không còn là Lục Bát.

Tôi lại tìm hiểu xem người Nhật cảm nhận về Haiku của nước khác làm bằng ngôn ngữ khác mà ta vẫn gọi là “Haiku” ấy ra sao? Người Nhật vốn kín đáo và khiêm nhường nên chủ yếu họ nói nhiều về suy nghĩ của người nước ngoài về văn hóa nước họ, về thơ Haiku. Thực ra họ vẫn có cảm giác Haiku do người nước ngoài sáng tác nghe “ngồ ngộ”, là thứ thơ ngắn, 3 dòng mà thôi, khó chấp nhận. Và như Ngô Triêu Tân phải kêu gọi người Nhật nên thông cảm và có cái nhìn thoáng hơn với Haiku thế giới: “cớ sao một bộ phận người Nhật lại không muốn chấp nhận nó!”, cần phải suy nghĩ về điều này! Theo tôi, cần thông cảm cho người Nhật bởi họ vốn ưa chỉn chu và “cảm” thơ theo cách của họ. Có lẽ người Việt ta cũng sẽ có cảm giác như vậy khi người nước ngoài sáng tác thơ Lục Bát mà thôi. Nhưng tiếc rằng ta chưa tập hợp được những câu Lục Bát do người nước ngoài sáng tác và cũng chưa có phong trào làm thơ dạng Lục Bát ở nước ngoài như Haiku của Nhật.

Thực tế, nếu nói người Nhật đã tuyên truyền cho Văn hóa Nhật thì có lẽ không chính xác lắm. Tôi nghĩ rằng các nhà nghiên cứu và nhà thơ các nước tự tìm hiểu Văn hóa Nhật Bản và thơ Haiku trước khi người Nhật quan tâm đến việc tuyên truyền nó!

Tôi tình cờ đọc được bài “Haiku - Lục Bát một vài ghi nhận” của Nguyễn Thị Thanh Xuân trong tập tuyển chọn “Văn hóa Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á” (NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2013). Tác giả cũng cảm nhận rằng hai thể thơ này có nhiều khác biệt, không thể “hòa đồng” được dù đều rất ngắn (một câu Lục Bát độc lập chỉ có 14 chữ mà thôi). Có lẽ thơ Thiền thời Lý - Trần (thế kỷ 10-14) có gì đó gần gũi hơn với thơ Haiku và như tác giả Phan Thị Hồng nhận định, thơ Thiền thời đại Lý - Trần và thơ Haiku đã “lặng lẽ làm nên sự nối kết lịch sử” về suy tưởng. Và sau mấy thế kỷ, thơ Haiku của các thiền sư Nhật Bản đã rút gọn, trở nên cô đọng hơn. Tuy nhiên, thơ Haiku cũng không hẳn chỉ là thơ “Thiền” của mấy vị thiền sư!

Có lẽ vì “không thể hòa đồng” như tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận xét nên khi đọc “Lối lên miền Oku” do giáo sư Vĩnh Sính dịch ra tiếng Việt theo kiểu thơ Lục Bát, tôi cũng thấy khó hấp thụ, không cảm thấy hay.

Mỗi nền văn hóa có sức mạnh riêng, nhưng sức mạnh ấy có thể được bồi đắp theo thời gian. Nên chăng, chúng ta cứ phát triển thơ Lục Bát, đồng thời tiếp nhận dòng thơ Haiku Việt như một tiếp biến mới. Có điều, người Việt vẫn cảm thấy thơ thì cần có vần điệu, có tình cảm nên thơ Haiku có cảm giác hơi cứng và khô khan, âu cũng là trở ngại mà các haijin Việt phải vượt qua. Các haijin Việt trong cả nước đã sáng tác hàng vạn câu Haiku Việt mà họ tâm đắc, tôi chỉ xin trích ra đây một số mà tôi cho là rất hay:

Đảo nổi, đảo chìm / phập phồng nhịp tim / tổ quốc

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Vũng bùn / lấp lánh / những tia mặt trời

(Lê Văn Truyền)

Cánh bèo / tìm bóng mây xa / chậu nước trong nhà

(Lưu Đức Trung)

Nằm nghe / đêm thẳng đứng / mưa rơi

(Đinh Trần Phương)

Cầu vượt / vun vút /gió xuân

(Lê Thị Bình)

Bờ môi thiếu nữ / uốn lệch / vng trăng

(Nguyễn Thị Kim)

Đôi mắt mẹ tôi / một màu sương khói / thanh xuân đâu rồi

(Nhã Trúc)

Mưa, mưa/ cưa đôi/ nỗi nhớ

(Đỗ Tuyết Loan)

Gió kéo chăn mây / đắp vầng trăng lạnh / hao gầy

(Mai Liên)

Một bóng hoa đào / thắp bừng ngõ nhỏ / ấm chiều ba mươi

(Đinh Nhật Hạnh)

Trăng lạnh / nghĩa trang / đồng đội xếp hàng

(Lý Viễn Giao)

Về thôi / bờ sông níu gió / chân trời níu mây

(Lương Thị Đậm)

Tiếng võng đưa / ngày xưa / tay mẹ

(Nguyễn Duy Quý)

Cào cào / gác chân trước gió / hẹn xuân

(Như Trang)

Rong chơi / em và mặt trời / đuổi bắt

(Phúc Oanh)

Cúp điện / em ngủ ngon lành / gió từ tay anh

(Thanh Tùng)

Mấy năm nay, ta có chừng hơn 20 thành viên cả nước đã gia nhập Hiệp hội Haiku thế giới (WHA) và thơ Haiku của ta cũng được Hiệp hội này trích đăng trong Tạp chí Haiku thế giới và cả Ginyu nữa. Nữ tiến sỹ Quỳnh Như đang có chương trình nghiên cứu về Haiku ở Kyoto, và chị thông báo cho biết đã được mời tham dự  nhiều chương trình giới thiệu về Haiku Việt cho người Nhật. Ta vẫn nằm ở dạng “tuyên truyền, quảng bá”, nhưng mong rằng “hữu xạ tự nhiên hương”.

Người Nhật vốn làm gì cũng đến nơi đến chốn và cái gì cũng phải học! Ở Nhật có Hội nghiên cứu giáo dục Haiku (NHKK) và Hội này đã ra mắt cuốn sách “Hướng dẫn sáng tác Haiku” cho giáo viên các trường tìm đọc. Từ thời xa xưa, người Nhật đã dạy nhau làm thơ, đặc biệt về Haiku thì từ thời Basho, cách đây khoảng hơn 400 năm, riêng thi hào này đã có hàng trăm, ngàn môn sinh. Tôi không quá ngạc nhiên khi hiện nay ở Nhật có rất nhiều Hiệp hội thơ Haiku, nhiều tạp chí Haiku, nhiều cuộc thi sáng tác Haiku và đặc biệt trường học nào cũng dạy Haiku cho các em học sinh… Đại học Haiku thành lập đầu năm ngoái (1/1/2015) và trong Điều lệ của Đại học này cũng có nêu rõ nhiệm vụ thúc đẩy giao lưu quốc tế.

Thơ Haiku xinh xinh, ngắn gọn hàm ý sâu xa tiêu biểu cho văn hóa Nhật. Người Nhật vốn thích “thu nhỏ”, mỹ học Nhật Bản là mỹ học của sự thu nhỏ… Và nay thì Haiku lan ra khắp thế giới có lẽ cũng vì sự xinh xinh độc đáo của nó vậy. Ở Nhật, tôi biết có ít nhất hai Hiệp hội Haiku quốc tế: Hiệp hội giao lưu Haiku quốc tế và Hiệp hội Haiku thế giới. Hơn nữa, vì xu thế phát triển nên hầu như các Hiệp hội Haiku Nhật Bản đều có bộ phận giao lưu quốc tế. Haiku đã vào Việt Nam, tiếp biến vào thơ Việt. CLB Haiku Tp. Hồ Chí Minh với nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà giáo… vừa kỷ niệm 9 năm thành lập. CLB Haiku Hà Nội thì chính thức ra đời sau đó 2 năm. CLB Haiku Hà Nội đã tổ chức thành công Tọa đàm quốc tế về thơ Haiku ở Việt Nam lần thứ nhất, năm 2014, và tháng 11/2016 này sẽ diễn ra Tọa đàm Haiku Việt lần hai. Thể thơ Haiku Việt có thực sự hòa vào dòng chảy văn thơ Việt Nam hay không còn chờ thời gian và sự quan tâm của công chúng yêu thơ. Với số lượng và chất lượng sáng tác của đội ngũ Haiku Việt, tôi tin rằng xu hướng sẽ phát triển.

LTB

Tài liệu tham khảo:

  1. Tinh thần Haiku của Terada Torahiko (1878-1935) về Cách nhìn môi trường tự nhiên của người Nhật.
  2. Khảo sát về Haiku Tây Âu của Tachiana L. Sokolova - ủy viên Hội nhà văn Moskova, một nữ phiên dịch Nhật- Nga.
  3. Haiku Nhật Bản trên Từ điển bách khoa Thế giới.
  4. “Lịch sử Haiku Đài Loan từ 1985 đến 2013” của bác sỹ, haijin Đài Loan Ngô Triêu Tân.
  5. Sự sáng tạo của văn học” - Art Potynica - của Giáo sư Kawasoko Shogo (1930- ) do NXB Tohosha XB năm 2006, phần về hướng phát triển của thơ Haiku.
  6. Tạp chí bình luận Haiku do Fujita Akekarasu chủ biên.
  7. Tài liệu giới thiệu về “Đại học Haiku” ở Nhật Bản.
  8. Tài liệu giới thiệu về Hội Haiku hiện đại Nhật Bản.
  9. Haiku Lê Đạt nhìn từ m học Haiku Nhật Bản” của TS. Lê Thị Thanh Tâm.
  10. “Hai lối mộng trong thơ Haiku Nhật Bản” của Hoàng Long, 12/5/2012).
  11. “Haiku- Lục Bát một vài ghi nhận” của Nguyễn Thị Thanh Xuân (tr. 269, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á” - NXB văn hóa - văn nghệ, 2013).
  12. “Một số phương diện thi pháp Haiku, Lục Bát, Ngũ ngôn tứ tuyệt và Ghazal từ góc nhìn so sánh” của TS. Nguyễn Thị Mai Liên (tr. 166, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa” - NXB Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, 2015).
  13. “Haiku nhìn từ mỹ học Thiền” của Lê Thị Thanh Tâm (tr. 82, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa” - NXB Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, 2015).
  14. “Thi tứ trong thơ thiền Việt Na và thơ Haiku Nhật Bản” của Phan Thị Hồng (tr. 278, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á” - NXB văn hóa - văn nghệ, 2013).
  15. Một số blog trên Internet về Haiku của Nhật Bản.

Đọc Haiku Việt trong tạp chí “Haiku Thế Giới”- Sayumi Kamakura

Tọa đàm Haiku Việt lần thứ nhất tổ chức năm 2014 đã rất thành công với nhiệt tình nóng bỏng dâng trào. Nhiệt tình đó không suy giảm khi các bạn Việt Nam tiếp tục tổ chức cuộc Tọa đàm Haiku Việt lần hai vào năm 2016.

alt

Ở tọa đàm lần thứ nhất, tôi thật vui mừng được sang dự với các bạn. Vì vậy, tôi muốn viết ra cảm nghĩ của mình về Haiku Việt đăng trong mấy số gần đây của tạp chí “Haiku Thế Giới”.

Trước hết, tôi chú ý đến những câu haiku đẹp, phong phú và hướng tới thiên nhiên. Ví dụ:

Cánh đồng mưa

hải âu bay

tìm biển xưa

(Mai Liên, tạp chí số 11)

Mùa xuân

bay về đồng hoang

cùng sếu đầu đỏ

(Vũ Tam Huề, tạp chí số 12)

Mây rong chơi

dìu mặt trời

về núi vắng

(Lý Viễn Giao, tạp chí số 12)

Mưa trắng trời

Sài Gòn ngõ nhỏ

phố bỗng thành sông

(Nhã Trúc, tạp chí số 12)

Ở câu haiku đầu, chim hải âu là hình ảnh rõ rệt của biển nhưng bạn Mai Liên lại không nói về biển mà nói về chim hải âu nơi cánh đồng mưa, mở rộng trí tưởng tượng đến vùng biển xa xưa. Bạn Vũ Tam Huề thì thấy lũ sếu đang nhắm bay đến một cánh đồng và mùa xuân cũng bay đến cùng với những cái đầu đỏ chói lọi của chúng, câu Haiku rực sáng. Câu của bạn Lý Viễn Giao thì về đám mây nhàn tản rong chơi. Cùng trôi theo thời gian thư thái, đám mây ấy dẫn mặt trời vào núi, câu thơ nhấn mạnh đến sự vận động từ từ của đám mây. Bạn Nhã Trúc nhìn mưa ở đường phố Sài Gòn. Cơn mưa trắng trời, dài dằng dẵng đó đã vô tình biến ngõ nhỏ thành con sông. Rồi mưa kéo dài mãi, sông ấy lớn dần lên nuốt cả con phố, có lẽ vậy. Cơn mưa thật đẹp nhưng mưa kéo dài thì thật đáng ngại!

Những câu thơ sau hướng cái nhìn của mình đến thiên nhiên xa xa:

Mưa

giọt buồn, giọt vui

đường đời ngắn ngủi

(Đỗ Tuyết Loan, tạp chí số 12)

Ơ kìa, cầu vồng!

nỗi buồn vụt tắt

mỉm cười hư không

(Kim Thanh, tạp chí số 12)

Tóc sương

giường đơn

một gối

(Phạm Ngọc Liễn, tạp chí số 11)

Cái đọng lại trong tâm hồn bạn Tuyết Loan là hạt mưa, có lẽ nó đang đập vào cửa sổ. Như từng giọt mưa rơi xuống, giọt buồn, giọt vui, có lẽ đời người, kiếp nhân sinh cũng vậy, chỉ trong giây lát thật ngắn ngủi biết bao! Bạn Kim Thanh nhìn cầu vồng, tô lại lòng mình và bật ra một nụ “cười hư không”. Nổi lên trong câu của bạn Phạm Ngọc Liễn là mái “tóc sương” – ta thấy cuộc sống của một người cao tuổi. Câu thơ này biểu hiện nỗi buồn và niềm đắng nhưng đồng thời cả sự mạnh mẽ, nhìn thẳng vào hoàn cảnh thực tại.

Đọc thêm và suy nghẫm nhiều lần, bất ngờ thấy được những câu sau:

Bờ môi thiếu nữ

uốn lệch

vầng trăng

(Nguyễn Thị Kim, tạp chí số 11)

Ban mai

giấc mơ của hàng cây

trong ngần cất tiếng

(Đinh Trần Phương, tạp chí số 11)

Hạt sương tinh khiết

lăn thành

ban mai

(Thọ Chu, tạp chí số 12)

Đêm đông

giọt cà phê cuối cùng rơi

câu thơ mọc cánh

(Nguyễn Tiến Lộc, tạp chí số 12)

Câu của tác giả Nguyễn Thị Kim, có lẽ là đôi môi người thiếu nữ nói những điều mạnh mẽ làm lệch mất cả vầng trăng. Hoặc giả tôi đọc thấy môi người thiếu nữ làm cho ta liên tưởng tới vầng trăng non, có lẽ là trăng lá lúa. Và một phát hiện mới thật đẹp về bờ môi của người con gái dưới trăng! Câu haiku của Đinh Trần Phương làm bật lên tiếng rì rào của hàng cây trong nắng ban mai. Cùng với nắng sớm, hàng cây cũng bật tiếng về giấc mơ đêm qua của nó. Hay ở chỗ đó. Câu của tác giả Đỗ Chu cũng nói về bình minh, về sớm mai nhưng bình minh ở đây là do hạt sương tinh khiết lăn mà thành đấy! Cái cách chộp sự “tinh khiết”của giọt sương trong nắng mai làm ta mãi thấy cái đẹp và sự tươi mát của buổi sáng. Câu của tác giả Nguyễn Tiến Lộc có chủ đề về cà phê. “Câu thơ mọc cánh” – sự tưởng tượng về thơ Haiku như mang đôi cánh, cho ta ấn tượng sâu sắc về sự vỗ cánh bay lên. Khi đọc đi đọc lại nhiều lần, đặt mình trong phong cảnh rộng, xa và phong phú sẽ nảy sinh những câu haiku tuyệt vời. Tôi hy vọng rồi đây sẽ còn đọc được nhiều câu haiku hay từ Việt Nam. Rất thú vị!

Lê Thị Bình dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Cơn mưa ấm áp tình người- Nguyễn Thánh Ngã

( Un ciel de pluie / descend la pente / le village court devant)

"Cả một trời mưa/ ào ào xuống dốc/ xóm làng chạy trước lao xao"

(Zlatka Timenova - Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ từ tiếng Pháp)

alt

Theo Haikuviet.com: "Zlatka Timenova, thành viên Hiệp hội Haiku Thế giới WHA, sống và làm việc tại Lisbonne, Bồ Đào Nha. Bà nghiên cứu về triết học Pháp và làm luận văn tiến sỹ với chủ đề «Sự im lặng trong văn học và các hình thái của nó thể hiện qua tiểu thuyết của Marguerite Duras». Hiện tại, bà là Phó Giáo sư giảng dạy Ngôn ngữ và Văn học Pháp tại Đại học Lisbonne, đồng thời làm khảo cứu về Ngôn ngữ và Văn hóa Bungary. Ngoài các bài viết trong lĩnh vực phê bình văn học, dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ, Zlatka Timenova còn làm thơ ngắn và thơ haiku. Ba cuốn thơ haiku đã xuất bản của bà gồm có: Chama, a palavra (2013); Comme un oiseau contre le vent (Như một cánh chim trong gió, 2013) và Kato zvezden prah (Bụi sao, 2013)"

Nắng gió, mưa bão vv...là những hiện tượng thời tiết thường xuất hiện trong thơ Haiku. Mưa mỗi xứ mỗi khác, nhưng có một cơn mưa rất gần với làng quê Việt Nam. Đó là cơn mưa ấm áp của nhà thơ Zlatka Timenova xứ Bồ Đào Nha. Thơ của bà được nhà thơ Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ từ tiếng Pháp. Ông cho biết một thông tin khá thú vị, nhà thơ nữ này rất thân tình với CLB Haiku Việt Hà Nội. Bà đã có những trao đổi, chia sẻ với chúng ta trong thơ cũng như trong cuộc sống. Có lẽ vì vậy, mà trời thấu lòng người đã đổ cơn mưa trong thơ Zlatka Timenova làm thành một nỗi nhớ!

Nếu Zlatka Timenova từng ở Việt Nam, bà sẽ thấy cùng cơn mưa ấy xảy ra ở hai lãnh thổ khác nhau, nhưng có cùng một không khí của làng quê hiền hòa. Vâng, bầu trời và những giọt mưa không có biên giới, không có cả hộ chiếu. Thế mà vẫn mưa. Mưa cùng một giọng điệu, trong hồn người và trong thực tế. Cuộc sống vốn cho ta những hiểu biết về nước. Nước là nguồn sống ở một vị thế nào đó, và sẽ khác khi ở vị thế khác. Và "cả một trời mưa ào ào xuống dốc", khiến câu thơ kéo dãn nhịp chữ, chảy dài xuống như một dòng thác cuồn cuộn, có thể cuốn phăng cả xóm làng trong sức mạnh của nó. Câu thơ mang tín hiệu bất ngờ, bởi bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả những cơn mưa cần thiết cho đời sống!

Bài thơ không mong chờ gì hơn là có một xóm làng yêu thương, gắn bó để cùng nhau "chạy mưa". Đó là thông điệp cần thiết cho mỗi nơi ở, mỗi vùng miền trên trái đất. Có tiếng "lao xao" í ới nhau là có thể vượt qua mọi trở lực.

Bài thơ nhắc nhở quy luật vô thường luôn ẩn nấp trong cuộc sống.

Ta nhận ra tính nhân văn trong cơn mưa ở Bồ Đào Nha và ở Việt Nam, có gì khác đâu. Và thơ cũng vậy. Không khác là mấy...

N.T.N

Haiku Việt trong quá trình phát triển- Ban’ya Natsuishi

Việt Nam, nơi trước đây từng là vũng lầy chiến tranh. Việt Nam nơi tôi đến thăm lần đầu nhân dịp sang dự Lễ hội thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ nhất, mùa xuân năm 2012, thì không còn quang cảnh chiến tranh nữa mà đang trong thời kỳ biến động như một cái thai đang phát triển.

alt

Ngày 5/2 năm đó tôi tình cờ gặp gỡ các thành viên CLB Haiku Hà Nội, khi đó họ đang hoạt động quảng bá thơ Haiku của mình tại một căn lều được căng lên gần cửa vào hội trường Văn Miếu, nơi chính diễn ra lễ hội thơ. Có thể coi đó là kỷ niệm đáng nhớ về cuộc tương phùng lần đầu tiên của Haiku hai nước Nhật - Việt. Dẫu không biết tiếng Việt nhưng tôi lắng nghe họ đọc thơ Haiku Việt thì có cảm nhận tiếng Việt đặc biệt nhiều mẫu âm nên dù ngắn vẫn thấy sự lên xuống cao thấp rất phong phú của ngôn ngữ.

Tôi ví dụ một câu của Trụ Vũ, người mà tôi chưa hề gặp mặt, nghe nói ông sống ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi được biết đến câu thơ này nhờ chị Nguyễn Vũ Quỳnh Như – một nghiên cứu sinh về Haiku du học tại Kyoto đọc bằng tiếng Việt trong cuộc hội thảo Haiku thế giới lần thứ năm, tổ chức ở Tokyo tháng 4 năm 2016:

Giọt cà phê

không nói gì

không nói gì

Tôi hình dung ra âm hưởng của từng giọt cà phê bằng cách lặp lại bằng tiềng Việt “không nói gì / không nói gì”.

Lịch sử Haiku Việt bắt đầu từ thời còn là thuộc địa của Pháp, bị ngắt quãng một thời gian, rồi từ 1980 người ta bắt đầu cố gắng đưa Haiku của Basho vào sách giáo khoa. Đến năm 2007 thì thành lập CLB Haiku thành phố Hồ Chí Minh và 2009 thì thành lập CLB Haiku Hà Nội.

Từ 2013, hàng năm Hiệp hội Haiku Thế Giới bắt đầu tiếp nhận khoảng 20 thành viên của CLB Haiku Hà Nội. Tháng 9 năm 2014, Tọa đàm Haiku Việt lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, và tháng 9 năm 2015, có hai đại biểu của Hà Nội và một đại biểu của thành phố Hồ Chí Minh đã đến dự Đại hội lần thứ tám của Hiệp hội Haiku Thế Giới tổ chức tại Tokyo. Tôi thấy cảm kích mãnh liệt về câu haiku của haijin Lý Viễn Giao về đề tài chiến tranh:

Trăng lạnh

nghĩa trang

đồng dội xếp hàng

(đã đăng trong tập chí Haiku Thế giới số 9, tháng 3/2013)

Đây là một câu haiku hay trong hiện thực ảo ảnh, gần như có âm vần chân ở dòng thứ 2 và 3.

Ở Việt Nam có thơ truyền thống thể Lục Bát, trên cơ sở đó, người ta lặp đi lặp lại 14 âm này có thể thành bài thơ dài. Trên mảnh đất của thể thơ ấy, người Việt sáng tác Haiku Việt. Ví dụ câu haiku không mùa của ông Đinh Nhật Hạnh – Chủ nhiệm CLB Haiku Hà Nội – khi nói về thành phố Hà Nội lớn lên theo mô-típ các công trình kiến trúc cao tầng thường thấy ở các thủ đô trên trái đất:

Thủ đô vươn tầm cao

mắt hoa

nhìn tám hướng

(đã đăng trong Tạp chí Haiku thế giới số 11, tháng 2 năm 2015)

Cũng như vậy câu haiku của chị Lê Thị Bình – một haijin nữ của CLB Haiku Hà Nội – với 3 dòng ngắn, rất hiệu quả, chị thấy mưa bụi thì thầm báo hiệu mùa xuân.

Mưa

thì thầm

mùa xuân

(đã đăng trong Tạp chí Haiku thế giới số 11, tháng 2 năm 2015)

Thơ Haiku không theo một âm điệu nhất định, có lẽ nó tìm một âm điệu phù hợp với nội dung. Tôi hiểu rằng “Hà Nội” (Kawachi) là tên cũ của vùng phía miền nam Osaka. Nhưng “Hà Nội” cũng là tên gọi xuất phát từ chữ Hán. Nhưng không, đó là câu nói về loài hoa có tên là Osaka, có lẽ tên cây không nhất thiết giống nhau ở mọi nơi. Như câu của haijin Kim Thanh:

A, Osaka

em từ đâu tới

neo vào tim ta

(đã đăng trong tạp chí Haiku thế giới số 12, tháng 3 năm 2016)

Tôi nghĩ rằng Haiku Việt đang trưởng thành từng ngày trong sự lớn lên đáng khích lệ.

Lê Thị Bình dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Tôi đứa bé không lạc lõng

alt

Nguyễn Thánh Ngã

Tôi làm thơ từ rất sớm. "Sớm", nghĩa là lúc chưa hề ý thức. Làm thơ mà không nghĩ mình làm thơ, chỉ là những xúc cảm nhỏ nhoi. Tuổi học trò là vậy. Quẩn quanh. Nhưng cũng nhờ cái quanh quẩn tôi đâm chán mình. Tự chán là đã ý thức.

Tôi gặp thơ Haiku.

Tò mò.

Đơn thương độc mã đi tìm. Và mê đắm. Tôi ra sức rèn luyện Haiku và nhào lộn trong triều dâng của nó. Rồi nhận ra tốn công vô ích. Bởi nó như những công án thiền, chỉ là tiếng thét giữa miền cây cỏ hoang sơ. Không ai đón nhận. Rừng Lâm Đồng cỏ hoa là thế, mà tôi quạnh hiu. Một mình tiềm ẩn giữa Vương quốc hoa. Xưa Nguyễn Công Trứ xin làm cây thông. Nay tôi như đấu sĩ với chiếc gươm Haiku, chiến đấu với "cối xay gió" giữa rừng thông vi vút, nhận ra tính đa âm của lá thông kim; chiến đấu với đóa hoa dại bên rừng mới nhận ra làn hương ủ kín giữa đại ngàn... Bừng một hôm, có kẻ trộm! Không trộm hoa vì tham lợi, mà trộm cái đẹp - một tình yêu vô cùng lãng mạn:

Hoa hồng

giọt máu kẻ trộm

đầy trăng

Có ai thấy đâu. Tôi thấy một tình yêu dễ thương đầy thuyết phục. Nhờ giọt máu chan ánh trăng, mà tình yêu vượt qua bức tường lạnh căm của đêm đông Đà Lạt. Nhưng thơ Haiku không nhờ tôi đem "ở trọ" trong khu vườn cách ngăn, đầy hoa của Đà Lạt, dù Đà Lạt có đủ "kỳ hoa dị thảo" đi nữa, cũng cần mở toang cánh cửa phạm trù. Tôi nghĩ, mình sinh ra trong chiếc nôi lục bát, chưa đi khỏi lũy tre làng, sao biết được thế giới muôn màu:

Nôi lục bát

kĩu kịt lũy tre làng

đứa bé chào haiku

Quả thật, tôi như đứa bé hớn hở đón chào một người bạn mới lạ. Sâu kín. Tự nhiên hợp với bản tính "lặng" của mình. Ấy cũng là lúc "đột vỡ" ra mọi thứ. Cảm giác mình là đứa trẻ vô tư lự, hồn nhiên "chơi đùa" với Lão thiền sư. Thơ Haiku vừa là đứa trẻ, vừa là một thiền sư, chỉ có tâm hồn vô phân biệt là gặp nhau. Từ đó, tôi nắm tay haiku đi suốt con đường này. Còn dài lắm, chưa thể nói gì được. Nhưng có một làn hương kỳ diệu, thoang thoảng quanh đây, khiến tôi bật ngộ: thơ chính là cuộc sống!

Cuộc sống muôn màu. Tôi chọn màu nâu. Màu của đất đai, bùn thấp, màu của ngọn đồi hoang trọc:

Trên ngọn đồi ấy

ta ôm vào lòng

cỏ dại mọc hoang

Không có hoa thơm, trái ngọt, mà chỉ có sự vươn lên của cỏ dại sau hoang tàn đổ nát của loài cây. Cỏ dại là chiếc áo xanh, nhờ sương nắng, gió mưa hay làn da xanh thẳm của bầu trời cũng vậy:

Nắng

lột da trời xanh

vá đất

Ôi con người tàn phá những cánh rừng, rừng đã cạn kiệt. Chỉ còn có cách đem tình thương từ trời vá lành những vết thương lở loét của đất đai mà thôi. Thơ Haiku ở Cao nguyên trở nên tiếng kêu hay tiếng khóc:

Hai cây thông

ôm nhau

khóc trước lưỡi cưa

Chỉ vậy thôi, thơ Haiku đã đi vào cuộc sống. Nó tụng ca giọt nước mắt vượt lên trên nỗi thống khoái thường tình, để thấm vào đất đai, thấu thị vũ trụ:

Trên cành cây cháy sém

giọt sương đen

khóc rừng

Giọt sương hay nước mắt? Và giọt "sương-nước-mắt" ấy đã bị ám khói, cháy sém trên cành cây, như nỗi nhớ trên cánh tay người mẹ nhân từ. Thơ là Thượng đế sáng tạo, thơ Haiku có thể đem nỗi buồn cháy sém neo giữa lưng trời; neo trước mặt con người ở chế độ tiên tri và cảnh báo. Giản dị vậy đó mà sâu thẳm ngẫm ngợi, tương lai chúng ta tùy thuộc vào đây, vào luật nhân quả. Tuy nhiên, thơ Haiku luôn reo ca với những cái bình thường nhất, sau cái đại sự. Đó là ý thức trở về...

Và tôi trở về với đứa bé, tâm hồn luôn trẻ dại:

Đứa bé

cúng Phật

cánh hoa bên rào[1]

Đứa bé "tôi", muôn đời vẫn ngây thơ trước đấng Từ Bi. Hôm nay thơ Haiku Nhật đã hòa âm cùng thế giới, và lưu chảy trong dòng Haiku Việt. Tôi đứa trẻ Việt không còn lạc lõng giữa rừng hoang, mà đã có "cánh hoa bên rào" dâng hiến... Bởi ngoài kia mùa xuân đang về, tín hiệu của đất trời rung chuyển:

Hoa gạo đỏ

sấm ầm ì

lúa trổ bông

(Cao Ngọc Thắng)

Vâng, tôi bắt được tín hiệu mùa xuân của nhà thơ Cao Ngọc Thắng khi anh vào Nha Trang quảng bá Haiku Việt. Tuy chưa được cái may mắn gặp anh, nhưng anh là cầu nối đầu tiên, cho tôi biết có một dòng thơ lạ đang chuyển động trên đất Bắc. Sấm chớp tạo khí ni-tơ bón cho cánh đồng thơ Việt trổ bông. Và người có công đem tiếng đàn Koto[2] hòa âm cùng tiếng võng ru điệu lục bát quê nhà, chính là nhà thơ Đinh Nhật Hạnh:

Đàn koto dìu dặt

nâng ta về

võng Mẹ ngày xưa

(Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh – người đã "ngộ" ra, từ suối nguồn lục bát của dân tộc đã có sẵn tinh chất Haiku. Ví như ông đã tìm trong truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có biết bao câu lục, câu bát có thể hóa thành một bài Haiku: "Ngày xuân / con én / đưa thoi"... hay một cách kỳ lạ. Biết tin ông vào Đà Lạt, tôi đã tìm gặp và nhận ra bậc tiền bối mê đắm cách "hòa điệu" Việt - Nhật. Nhất là ông đã dày công tìm tòi, tra cứu trong kho tàng Ca dao -Tục ngữ những chất liệu có thể làm cơ sở lý luận về Cấu trúc và Vần điệu cho thơ Haiku Việt và trong tinh thần Thơ Lục Bát vạn năng hồn cốt cho tâm hồn Haiku Việt. Tuy phát kiến của ông còn đang được tiếp tục hoàn thiện, nhưng quả thật, câu chuyện thơ đã luôn cuốn hút tôi như một gọi mời đầy trí tuệ. Và dĩ nhiên, với phong cách đó tôi kính cẩn tìm về. Xin mượn cách viết của nhà thơ Lý Viễn Giao để diễn đạt:

Về thăm mẹ

bước nhẹ

cỏ thơm

(Lý Viễn Giao)

Nhà thơ Lý Viễn Giao tôi cũng chưa có duyên được gặp gỡ, nhưng tôi luôn trân quý thơ ông, bởi cách viết độc đáo, dịu nhẹ đi vào lòng người đọc lúc nào không hay. Tôi cho rằng câu chữ của ông có "thần" là vậy; nó đã dìu bước tôi như đứa bé hồn nhiên với tấm lòng thơm thảo, kính cẩn bước về ngôi đền thơ lộng lẫy...

Thật vậy, tôi đang "bước nhẹ" với tâm hồn của một đứa trẻ không còn lạc lõng, mà đã có bao cánh tay vẫy gọi, thân gần...

Đà Lạt, tháng 8/2016

NTN


[1] Các khúc Haiku trích dẫn đến đây là của tác giả bài viết.

[2] Một loại nhạc cụ dây truyền thống của Nhật Bản, tương tự như đàn tranh.

Đề xuất quy luật cho thơ Haiku Việt

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Gần hai tháng tiếp tục nghiên cứu thơ haiku, tiếp xúc được khá nhiều điều thú vị. Trong lần gặp nhà giáo – nhà thơ haiku – chuyên viết nhiều sách về thơ haiku của trường Đại học Musashino, Tokyo đã được tặng cuốn sách “Quy luật thơ haiku”. Cuốn sách được xuất bản năm 2017, và tái bản hơn năm lần. Khi gặp trao đổi với nhà giáo này, đã đề cập trực tiếp về những vấn đề liên quan đến thơ haiku Việt như thể thơ, quý ngữ, từ ngắt, đề tài….

Hai ngày cuối tuần vừa qua, tại phòng nghiên cứu của Viện Nghiên cứu văn hóa quốc tế Nichibunken tại Kyoto, đã diễn ra hội thảo về sự phổ biến và tính giáo dục văn học cổ điển Nhật Bản trong đó co tanka, haiku…. Hội thảo đã quy tụ nhiều nhà nghiên cứu liên quan, nhiều diễn văn, tham luận đề cập sâu về sự phát riển rộng rãi của văn học cổ điển Nhật Bản và những vấn đề cần lưu tâm trong quá trính tiếp nhận, phổ biến, biên phiên địch, sáng tác bằng ngôn ngữ bản địa….

Ngay sau đó, vào ngày 21/1/2018, tại trường Đại học Kansai, những vấn đề của thơ haiku Việt đã được trình bày và trao đổi sâu sắc giữa TS Quỳnh Như và các Giáo sư, giảng viên, nhà nghiên cứu, nhà thơ haiku đến từ khu vực Kansai, Tokyo, Kyoto....Những vấn đề về thể thơ, quý ngữ, từ ngắt đã được Quỳnh Như diễn thuyết và trao đổi gần hai giờ tiếng đồng hồ.

Chiều ngày 24/1/2018, tại Osaka, hội thơ haiku Soju diễn ra với các thành viên là các bậc bô lão nhiều kinh nghiệm trong thơ haiku của khu vực. Mỗi người tham gia 3 bài thơ, trong đó có 2 bài theo quý ngữ tự chọn, 1 bài được chuyên gia haiku chỉ định. Hình thức sinh hoạt bình chọn thơ haiku tại Nhật là người tham dự chỉ gửi bài không ghi tên tác giả, người bình chọn nhận danh sách các bài thơ mà không có tên tác giả nên không ai  biết trước tác giả của mỗi bài thơ cho đến khi kết quả được công bố vào cuối giờ. Tại đây, Quỳnh Như đã tham gia sáng tác 3 bài thơ tiếng Nhật và bình chọn thơ haiku, có nói chuyện về thơ haiku Việt. Trong gần 4 tiếng đồng hồ sáng tác và bình chọn hơn 60 bài thơ, một bài thơ của Quỳnh Như được chọn giải nhì.

初雪や親し人の遠きまま(Quỳnh Như)

hatsuyuki ya shitashi hito no tookimama

tuyết đầu mùa

người thân thích

lại xa lạ

(Quỳnh Như dịch)

alt

Nhận xét đánh giá về bài thơ nói trên, chuyên gia thơ haiku hiện đại Bà Uda cho rằng thể hiện cách sử dụng quý ngữ mới lạ, để lại nhiều dấu ấn. Xin nói thêm, một bài thơ haiku được cho là hay không phải do nội dung mà là do dấu ấn mà bài thơ để lại (Giống như bài thơ con ếch của nhà thơ Matsuo Basho nổi tiếng không phải do nội dung mà là do cách thể hiện để lại dấu ấn sâu sắc).

Xin tóm lược một vài nội dung nổi bật trong các buổi tham dự nói trên.

Lưu tâm lớn nhất về thơ haiku đó là khi ngày càng phát triển rộng rãi tại nhiều quốc gia, thì những tinh túy về văn hóa tiềm ẩn sâu thẳm trong thơ haiku khi được tiếp nhận, đánh giá, hoặc khi được sáng tác bằng chính ngôn ngữ bản địa của mỗi quốc gia đã được định hình như thế nào. Không chỉ người sáng tác, mà ngay cả người thưởng thức tác phẩm cũng có sự thẩm thấu khác để phù hợp trong một thời đại mới. Nhiều kết luận đã được đưa ra cho thơ haiku thời đại mới như: thơ haiku cần có cái mới trong sự nhìn nhận, đánh giá, thưởng thức, cảm nhận…Và tất cả những cái mới đó đều vẫn phải dựa vào những cốt lõi của truyền thống hơn bao trăm năm qua. Cũng giống như thơ haiku từ thời nhà thơ Matsuo Basho đã được biến chuyển mạnh mẽ sâu sắc vào thời kỳ nhà thơ Masaoka Shiki nhưng không vì thế mà những giá trị truyền thống của thơ haiku bị lu mờ.

Đi vào cụ thể truờng hợp của thơ haiku Việt, nhiều ý kiến đã được mổ xẻ, bình luận sau các bài tham luận và trao đổi của TS. Quỳnh Như. Các nhà nghiên cứu, chuyên gia thơ haiku Nhật đã đưa ra đề xuất cho thơ haiku Việt, tạm gọi là “Luật thơ haiku Việt”, được tóm tắt như sau:

1.Thơ haiku dưới 5-7-5 chữ, được viết thành 3 dòng.

Sau khi xem và nghe Quỳnh Như đọc và phân tích nghĩa các bài thơ haiku Việt được viết thành 2 dòng theo thể thơ truyền thống như lục bát, hoặc thơ viết theo 5-7-5 chữ, nhiều ý kiến cho rằng như vậy thì thơ haiku Việt bộc lộ quá nhiều từ, nhiều ý. Nên nhớ thơ haiku Nhật là thơ 5-7-5 âm, chứ không phải thơ 5-7-5 chữ nên thật ra một bài thơ haiku Nhật chỉ có vài từ (những điều này Quỳnh Như đã trao đổi và viết nhiều tham luận tại Việt Nam trước khi qua Nhật).

Thơ haiku Việt nên viết thành 3 dòng, chứ không viết thành 1 dòng. Thơ haiku Nhật theo truyền thống là viết một dòng thẳng đứng, không viết hoa (ngôn ngữ Nhật không có viết hoa), không khoảng cách giữa mỗi chữ, không dấu chấm cuối dòng. (Có thể tham khảo tại trang 190 trong sách “Thơ Haiku Nhật Bản: Lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại” (NXB ĐHQG TPHCM, 2015). Khi được dịch sang tiếng nước ngoài, thường được viết thành 3 dòng để phù hợp với ngôn ngữ và thơ văn của nước đó. Do đó thơ haiku Việt cũng nên là thơ 3 dòng để cho ra là một thể thơ hơn là viết một dòng. Bởi hệ thống chữ viết truyền thống tiếng Nhật là viết liên tục, không ngắt quãng, không dấu chấm phẩy. Gần đây, xuất hiện ý kiến có nên viết thơ haiku Việt 1 dòng có dấu “/” (thi thoảng Quỳnh Như trong quá trình biên dịch hay làm như vậy). Phía Nhật Bản đã phản đối cách viết như thế, vì với sự cô đọng kiệm lời, mỗi chữ, mỗi dấu hiệu xuất hiện trong thơ haiku đều có ẩn ý. Trong khi đó dấu phẩy, hoặc dấu / sẽ trở thành thừa thải nếu không có ngụ ý rõ ràng. Ngoài ra, về thẩm mỹ trong thơ haiku, với cách viết thơ haiku ngang 1 dòng có nhiều dấu / như thế lại bị cho là “thiếu thẩm mỹ”.

2.Có một quý ngữ

Ngay trong mỗi buổi sinh hoạt bình chọn thơ haiku, đều có chuyên gia nhiều kinh nghiệm của thơ haiku bình luận và đánh giá các bài thơ haiku dựa vào cách sử dụng từ (quý ngữ, cách thể hiện)…Thơ haiku hiện đại có thể cho rằng không có quý ngữ, nhưng thật ra đều có ẩn ý quý ngữ thông qua cách sử dụng ngôn từ.

Thơ haiku từ thời Basho đã vận dụng hệ thống quý ngữ từ thơ waka của các thời kỳ trước. Ngày nay hệ thống quý ngữ trong thơ haiku Nhật Bản luôn được bổ sung, biên soạn mới, và cập nhật vào hệ thống quy luật của thơ haiku. Dù thơ haiku Việt chưa có hệ thống quý ngữ mà đáng lý ra cần phải xây dựng bộ quý ngữ ngay từ khi mới du nhập thơ haiku, nhưng không vì thế mà bỏ qua quy luật này trong thơ haiku.

Tiếp nhận ý kiến của phía Nhật, muộn còn hơn không, và được sự đồng ý hỗ trợ của một số Hiệp hội thơ haiku và các nhà thơ haiku Nhật, Quỳnh Như sẽ chính thức biên soạn hệ thống quý ngữ thơ haiku Việt và đưa luật này vào thơ haiku Việt. Và nhớ rằng, mỗi bài thơ haiku chỉ có một và chỉ một từ quý ngữ.

3.Có hoặc không có một từ đồng âm.

Về từ ngắt trong thơ haiku Nhật, do sự khác biệt ngôn ngữ, nên không nhất thiết phải áp dụng từ ngắt (kire-ji) trong thơ haiku Nhật vào thơ haiku Việt. Tuy nhiên, một số quốc gia đã khéo léo biến chuyển từ ngắt trong tiếng Nhật thành những từ đồng âm trong ngôn ngữ riêng để đến khi đọc đến đó thể hiện sự ngắt dòng, ngắt quãng để ẩn ý cho một liên tưởng nào đó.

Qua dẫn chứng một số bài thơ haiku Việt, phía Nhật Bản cho rằng thơ haiku Việt rất giàu âm điệu và cho rằng với thơ haiku Việt hoàn toàn có thể đưa quy luật âm điệu vào luật thơ haiku Việt. Tiếp nhận ý kiến này, thiết nghĩ, thơ haiku Việt cũng có thể đưa điều này thành luật.Giống như luật của quý ngữ, một bài thơ haiku chỉ có một đồng âm, không được nhiều hơn.

Cũng giống như tại Nhật Bản, hiện đang có nhiều Hiệp hội, hội thơ haiku như Hội thơ haiku truyền thống, Hội thơ haiku hiện đại, Hội nhà thơ haiku. Các nhà thơ haiku Nhật tùy vào nhận định riêng của mỗi người mà lựa chọn Hiệp hội để tham gia. Theo số liệu tìm hiểu riêng, dù các nhà thơ tham gia Hiệp hội nào đi nữa, thì hơn 80% các bài thơ haiku Nhật đều có quý ngữ. Và đa số nhà thơ haiku Nhật khi đọc thơ haiku thì điều đầu tiên là tìm quý ngữ được sử dụng trong bài thơ. Những bài thơ tuy không có quý ngữ, nhưng đều có dấu ấn thể hiện riêng. Quỳnh Như hiện đang tham gia song song Hội thơ truyền thống, Hội thơ haiku hiện đại, Hội giao lưu quốc tế thơ haiku… nên hiểu rõ những quy định về sáng tác thơ haiku của mỗi Hiệp hội.

Trong quá trình nghiên cứu về thơ haiku, Quỳnh Như tiếp tục nhờ sự hỗ trợ của một thành viên của các Hội thơ Nhật mà tạm gọi là “Ban hỗ trợ thơ haiku Việt” để hoàn chỉnh việc xúc tiến quy luật cho thơ haiku Việt. Có thể có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng Quỳnh Như sẽ phát triển theo hướng thơ haiku Việt có quy luật và những bài thơ haiku Việt giới thiệu tại Nhật sẽ theo quy luật này.

alt

TS Quỳnh Như tham luận về thơ haiku Việt tại Nhật Bản

TS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như, ngày 25/1/2018

ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn,

ĐH Quốc gia TP.HCM

Đang nghiên cứu thơ haiku tại Kyoto

Tản mạn bài thơ con cóc

Phàm những người đến với thơ Haiku ai cũng biết bài thơ Con Ếch của Basho :
古池や ( Furuikeya )
蛙飛び込む ( Kawazu tobikomu )
水の音 ( Mizu no oto)
mà Nhật Chiêu dịch là:
Ao xưa
Con ếch nhẩy vào
Tiếng nước xao.
Đây được coi là bài thơ Haiku mẫu mực và được phân tích, thưởng thức đa chiều với không biết bao nhiêu giấy mực dành cho nó.

alt

Không hiểu mối liên hệ nào xui dẫn để ta nghĩ đến bài thơ Con Cóc của dòng dân gian Việt Nam. Bởi hình thức cấu trúc thơ hay bởi hai con vật có nhiều nét tương đồng.
Con cóc nhẩy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhẩy đi.
Mới nghe ta dễ buồn cười về cái logic dễ dãi, ý tứ hời hợt cũng như vần điệu xộc xệch của nó. Chẳng thế mà người đời chê bai đến mức coi đây là mẫu mực của sự dở hơi, hết lời phỉ báng, dùng nó để ám chỉ những bài thơ không phải là thơ, “Thơ Con Cóc” !
Thật không công bằng. Hãy nhìn bài thơ dưới giác độ thơ Haiku mới nhận chân được giá trị đích thực của nó. Này nhé, ba hình ảnh độc lập rất sắc nét. Đó là ba trạng thái tồn tại của con cóc không hề có chút chờm lấn: nhẩy ra, ngồi đó và nhẩy đi ! Chúng lại “Ướp hương” nhau để tạo nên lộ trình đầy đủ của cóc. Điều thiết yếu của một phiến khúc Haiku thì bài thơ đã đạt tới mức xuất sắc ! Cóc nhẩy ra ắt phải nhẩy từ bên trong. Có thể là trong nhà nhưng thông thường hơn là trong hang, nhẩy từ chỗ tối đến nơi sáng hơn. Đấy chẳng phải là quy luật của cuộc sống ư ? Ra khỏi nơi tù túng rồi, phải xem mình đang ở đâu, có đáng lưu lại không chứ. Vậy hình ảnh thứ hai “Ngồi đó” chính là để suy tính, cân nhắc sự hơn thua trong cuộc tìm kiếm. Chắc hẳn cóc suy nghĩ lung lắm. Trong đầu biết bao phép tính cộng trừ nhân chia thậm chí cả lũy thừa khai căn, không loại trừ vi phân, tích phân…để tìm ra một quyết định. Người đọc hồi hộp chờ động thái tiếp theo của cóc và ngạc nhiên đến mức ngỡ ngàng khi thấy cóc “Nhẩy đi” ! Sao vậy ? Chắc cóc không ưng ý cái vừa thấy được sau khi dời bóng tối rồi. Nhẩy đi, chẳng lẽ nào lại tìm đến chỗ tối hơn hang cũ ? Điều không nghi ngờ gì nữa, chỗ đến mới phải ưu việt hơn nghĩa là sáng hơn, phóng khoáng hơn,… , tự do hơn !
Thế đấy, một bài thơ Haiku tuyệt vời với ý tưởng vừa sâu vừa rộng mà bấy nay ta coi rẻ rúng thì ra là vậy. Không dám làm điều khập khiễng nhưng mạo muội nhìn khái quát hình ảnh Con Ếch và Con Cóc để biết thôi. Trong khi ếch từ ngoài nhẩy vào ao mà lại là cái ao cũ thì cóc của ta nhẩy ra và nhẩy đi. Hướng đi của con nào thoáng đãng hơn ? Cũng dễ hiểu thôi , vì cóc là cậu Ông Trời kia mà ! Và cũng từ những điều đã nói, phải khảng định rằng thơ Haiku vốn đã có trên đất nước ta từ lẩu lâu rồi, có điều không định danh mà thôi .

Lý Viễn Giao

Tính xã hội của thơ Haiku- Lê Thị Bình

Chúng ta biết rằng việc đấu tranh, tranh luận về các quan điểm trong sáng tác thơ văn diễn ra rất gay gắt ở nhiều nước. Thơ Haiku ở Nhật Bản cũng không nằm ngoài tình hình đó. Nhất là sau chiến tranh Thế giới lần thứ 2 thì trên thế giới đã hình thành 2 phe rõ rệt.

alt

Ở Nhật những cuộc tranh luận gay gắt giữa những người thuộc phe tạm gọi là trào lưu bảo thủ, coi sáng tác Haiku mang thiên về phong cảnh thiên nhiên qua đó nói lên tình cảm con người và theo cấu trúc truyền thống định hình 5-7-5 và có quí ngữ, có từ ngắt…với trào lưu tạm gọi là hiện đại cho rằng thơ Haiku cũng phải mang tính tư tưởng, cũng phải gắn với đời sống phản ánh tình cảm, suy nghĩ của con người…Nói cách khác Haiku có tính xã hội sâu sắc. Ozaki Hosai, Taneda Santoka, Kobayashi Issa, Masaoka Shiki… theo xu hướng này.

Sau thế chiến thứ 2 người Nhật thấy rằng Hai ku phải mang tính xã hội và hàng loạt nhà thơ Haiku theo xu hướng này đã ra đời và trở thành một cuộc vận động. Có lẽ không phải Haiku hiện đại mới có tính Xã hội mà nó đã manh nha từ thời Eđo khi người ta thấy sự chênh lệch giàu nghèo, phân chia đẳng cấp trong xã hội. Đến thời Minh Trị thì phong trào thơ Haiku sáng tác theo khuynh hướng mới (新傾向俳句) đã ra đời. Rồi cuộc vận động Haiku vô sản, Haiku đổi mới đầu thời Chiêu Hòa…. Năm 1946 (Chiêu Hoà 21) đăng luận văn “Nghệ thuật thứ hai, về Haiku hiện đại”「第二芸術 ―現代俳句について―」của nhà ngiên cứu và phê bình văn học Kuwabara Takeo ( 桑原武夫 1904-1988) trong tạp chí “thế giới” (『世界』)đã làmdấy lên cuộc tranh luận về giá trị xã hội của thơ Haiku về quan điểm cho Haiku là nghệ thuật thứ hai, Năm 33 Chiêu Hòa (1958) trong tạp chí “Haiku” đã ra số đặc biệt có bài “Haiku và tính xã hội” (「俳句と社会性の吟味」) ... Theo Ishida Hakyo, người được mệnh danh là thánh thi thời Chiêu Hòa cho rằng Haiku phải di sâu tìm hiểu con người và ông theo trường phái thơ đó (人間探求派). Những tên tuổi như Ishiđa Hakyo (石田波郷), Kato Shuton(加藤楸邨), Nakamura Kusatao(中村草田男) theo xu hướng sáng tác này từ Haiku Truyền thống chuyển sang Haiku Tiền Vệ (Haiku tiên phong)… Hình thành các trường phái thơ Haiku ở Nhật như trường phái truyền thồng, trường phái hiện đai, trường phái sáng tác theo xu hướng mới, trường phái đi sâu tìm hiểu con người , trường phái tiền vệ…từ đó những người cùng chí hướng sáng tác lập thành các Hiệp hội hay ngày xưa ở Nhật gọi là “liên kết” (Kết xã). Mấy chục năm nay thể thơ ngắn này đã lan ra toàn thế giới nên ở Nhật hình thành hai hiệp hội là “Hiệp hội Haiku quốc tế” (HIA) và “hiệp hội Haiku thế giới” (WHA) và các Hiệp hội khác đều có bộ phận giao lưu quốc tế là vậy. Ở Nhật Bản có Haiku của những bà nội trợ. của người làm công ăn lương, của người đang chữa bệnh, gọi là Haiku cảnh đời (境涯俳句), Haiku do trẻ em sáng tác…

Sau đây tôi xin tạm dịch một số câu Haiku tiêu biểu cho tính xã hội và thuộc lại Haiku theo trường phải không có quí đề quí ngữ, theo dạng ngắn tự do không theo định hình 5-7-5 âm tiết truyền thống của một số Hai jin Nhật Bản để bạn đọc tham khảo:

1,寒雷やびりりびりりと真夜の玻璃 加藤楸邨

Kanrai ya/bi ri ri bi ri ri to/ shin ya no ha ri Kato Shuton

(6- 7- 6)

Sấm lạnh/ răng rắc / kính vỡ giữa đêm (Lê Thị Bình tạm dịch)

2,隠岐や今木の芽をかこむ怒濤かな      加藤楸邨


Okiya/ imakonomewo kakomu / dotokana Kato Shuton
おきやいまこのめをかこむどとうかな

(3-9-5)
Trên đảo Oki/giờ đây cây đã nhú mầm/ sóng dữ vây quanh (Lê Thị Bình tạm dịch)

3、 咳をしても一人     尾崎 放哉

Sekiwo shitemo hitori Ozaki Hosai

(6-3)

Ho cũng một mình (Lê Thị Bình tạm dịch)

4, 萬緑/の中や吾子(あこ)の歯/ 生え初むる 中村 草田男

Banryoku no naka ya akonnoha haehajimuru Nakamura Kusatao

(5-8-7)

Mùa xanh rậm (Vạn lục)/ Răng con tôi/ cũng nứt ra rồi (Lê Thị Bình tạm dịch)

5. 分け入つても分け入つても青い山    種田山頭火

Wakeittemo/ wakeittemo/ aoiyama Haneda Santoka

(6-6-5)

Vạch cây đi vào, vạch cây đi vào chỉ thấy núi xanh (Lê Thị Bình tạm dịch)

6, 雪はしづかにゆたかにはやし屍室(かばねしつ)   石田 波郷

Yukiwa sidukani/yutakani hayashi/ kabanesitsu Ishida Hakyo

(7-7-5)

Tuyết dày rơi lặng lẽ/ dục nhanh/ đến phòng vĩnh biệt (Tử thất) (Lê Thị Bình tạm dịch)

7, 帰ってきてパパママ今日は卒業式  後藤 勝彦

Kaettekite/ papa mama kyoha / sotsugyosiki Goto Katsuhiko

(5-7-6)

Hãy trở về /bố mẹ ơi/ hôm nay là lễ tốt nghiệp (của con) (Lê Thị Bình tạm dịch)

Người ta bảo “Văn tức là người” người làm thơ bây giờ không thể chỉ ngồi tả cảnh Trăng, Hoa, Chim, Cảnh… mãi được, Senryu thì dễ hơn vì nó mang tính phê phán, trào phúng, đả kích.

Tôi đã có bài giới thiệu về các tổ chức Haiku ở Nhật cũng như có bài về hoạt động của các nhóm, các CLB các tổ chức sáng tác thơ Haiku trên TG, chắc các bạn đã tham khảo… Tôi cũng đã có bài về so sánh Haiku và Sen ryu của Nhật các bạn tìm xem thêm.

Dù sao thì Haiku ngày nay vẫn có tính xã hội, nó không chỉ dừng lại ở nghệ thuật “chim, bướm, trăng, hoa” hay “trăng hoa tuyết nguyệt” như người ta thường nói mà nó đi vào cuộc sống con người với những “hỉ nộ ái ố…” trước thời cuộc. Có lẽ vì vậy mà người Nhật thấy Haiku và Sen ryu có xu hướng ngày càng gần nhau hơn chăng?!

Haiku Việt của người Việt sáng tác chắc cũng mang nhiều tính xã hội vì người làm thơ Việt Nam là những người luôn có tâm trăn trở về thời cuộc.

LTB

Lòng bao dung- Hồ An Thạch

alt

Chú chó bị đánh

Quay đầu

Liếm chân người

(Nguyễn Thánh Ngã)

Đọc bài thơ Haiku nhỏ nhắn này của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã, tôi cứ bâng khuâng tự hỏi:" Có phải con vật cũng có "tính bản thiện" như người hay không?".

Kể từ khi được thuần hóa, chó là vật nuôi để giữ nhà. Ai cũng biết loài chó rất trung thành. Nhiều câu chuyện cảm động về chó lan truyền khắp Đông Tây kim cổ, như có con chó nằm canh mộ chủ mấy tháng ròng mà không ăn uống gì cho đến chết. Hoặc có chú chó đợi chủ trên bến tàu suốt bao năm...Có rất nhiều những câu chuyện cảm động như vậy về chó.

Đọc Ông già bến Ngự, ta không khỏi ngạc nhiên khi Cụ Phan cho chôn hai chú chó Ky và Vá dưới chân mộ mình. Và Cụ làm thơ ca ngợi hai chú chó trung thành, có đầy đủ "trí, đức" hơn người đó. Thế mà chúng ta, những con người, luôn ra tay đánh đập chúng không hề thương tiếc! Dù bị đánh đau đớn khôn cùng, nhưng như chúng ta thấy đó, chú chó vẫn quay đầu lại, vẫy đuôi mừng, liếm chân người chủ.

Nhà thơ Haiku Nguyễn Thánh Ngã đã có dụng ý khi dùng "chú chó". Từ chú đã nâng chó lên thành người bạn. Vâng, "người bạn" luôn bị đối xử tồi tệ vì bất cứ lý do gì, đã không hề giận bạn, không hề cắn trả bạn, mà ngược lại, quay đầu liếm chân "bạn"!

Hành động này là gì vậy? Nếu không nói đó là lòng bao dung...!?

Nhà thơ nổi tiếng Gibran viết: "Trong con người vĩ đại có hai trái tim: một trái tim chảy máu, và một trái tim bao dung". Tôi nghĩ trái tim bao dung ấy không dành hết cho con người. Có thể trong đó, có phần của con chó! Nhà văn nào đó viết không ngoa rằng, bao dung là một loại khí phách, cũng là một loại trí tuệ, thì chú chó trong thơ có đủ. Nhà yêu nước Phan Bội Châu từng nói về hai con chó yêu quý của mình: "đức trí có đủ"!

Bài thơ Haiku này, gợi cho ta những nỗi buồn, nhưng cũng gợi cho ta những niềm vui làm tan cái ác trong cuộc sống. Thú thật, trước đây thơ Haiku làm tôi khó hiểu, nhưng Nguyễn Thánh Ngã đã cho tôi yêu thích nó hơn, nhờ những bài viết có tính nhân văn cao.

Ngẫm ngợi và thích thú trước sự kiệm lời của Haiku. Độc đáo và kín đáo khiến tôi vô cùng khâm phục. Dư âm của thơ còn vọng mãi trong tâm trí tôi: không nên đối xử ác với loài vật. Nó cũng biết đau đớn, biết thương xót như con người. Tác giả dùng từ rất sâu sắc, khi cho chú chó liếm chân người, thay vì liếm chân chủ để cho ta đối sánh con chó con người, là những người bạn, không phân biệt chủ tớ. Thật cao thâm!

Từ bài thơ này, có thể sẽ làm thay đổi hành vi của bạn:"Yêu thương tất cả muôn loài".

Ý nghĩa của thơ sẽ đem lại cho tâm tôi và tâm bạn niềm an hòa. Từ nay tôi sẽ luôn đối xử tốt với những chú chó thân yêu!

Đó là lòng bao dung mà tôi học được từ bài thơ nhỏ này vậy!

H.A.T

Thơ Haikư Việt: Ba dòng hay một dòng?

alt

Khi thơ Haikư bắt đầu được sáng tác ở Việt Nam, các tác giả Việt đềù viết thành các khổ thơ ba dòng, có lúc lại viết thành một dòng.

Ngay từ đầu, những người làm thơ Haikư Việt đều không công nhận mọi bài thơ ba dòng đều là thơ Haikư. Rõ ràng nó còn có những đặc thù khác, ta đã bàn rồi, nên sẽ không bàn ở đây nữa. Trong kỳ thi “thơ ba câu” của Hải Phòng, ban giám khảo đã trao giải cho câu thơ 3 dòng sau, nhưng họ không nói đó là thơ Haikư :

VƯỜN QUÊ- Lương Lĩêm

Nhớ cỏ nội vườn nhà gội tóc dài hương nhu,lá sả

Chàng trai làng sang đầu ngõ đón ngọn gió thơm

chú chim khách bay về Đông sơn mách vườn nhà có chủ

Nhưng vì sao mọi người lại thống nhất rất nhanh rằng thơ Haikư Việt được trình bày thành ba dòng ? Trong bài này, ta sẽ thử đi tìm lý do cho việc ấy.

Lý do đầu tiên và là lý do chính xuất phát từ bản thân thơ Haikư Nhật và tiếng Nhật : Họ có những từ ngắt mà họ gọi là Kire-ji. Tiếng Nhật vốn được viết thành các dòng dọc, từ phải sang trái. Thơ Haikư dù theo cấu trúc 5-7-5 hay không theo cầu trúc này ( ở Nhật cả hai xu thế này đều vẫn đang tồn tại và tiếp tục tranh luận) , đều được viết thành 1 dòng dọc như vậy. Tiếng Nhật là tiếng đa âm ( polysyllabic), để ngăn cách các yếu tố ngôn ngữ, họ dùng các từ ngắt Kire-ji. Vì rất ngắn, tất cả chỉ có 17 âm tiết, nên người Nhật nói “ đọc trong một hơi thở”, nhưng vẫn cần có sự ngăn cách như vậy. Kết thúc đoạn 5 âm và 7 âm đềù có dấu ngắt. Như vậy có 2- 3 dấu ngắt . Khi tiếp xúc với phương Tây, thơ Haikư được viết theo kiểu các dòng ngang từ trái sang phải giữ nguyên các Kire-ji và xuống dòng ; hoặc nếu viết liên tục trên dòng ngang thì họ viết các dấu gạch chéo / .

Ví dụ câu của ông Ban’ya Natsuishi (Chủ tịch Hiệp Hội thơ Haiku quốc tế WHA):
「 未来より滝を吹き割る風来たる」
(mirai yori / taku wo hukiwaru / kazekitaru)
“Gió tương lai / thổi tới / chia dòng thác”
Hay câu của Kamakura Sayumi:
「水仙をとりまく青は歌ういろ」
(suisen wo / torimaku ao wa /utau iro)
“Màu xanh / vây quanh thủy tiên / màu ca hát”

( Kỷ yếu II – Tọa đàm Haiku Việt)

Các tác giả Haiku Nhật hiện đại cũng làm như thế:

Dưới trời âm u / rừng hoa anh đào / muôn phần tráng lệ
(SHINTOKU)
Rừng núi phủ hoa / chẳng biết từ phía nào / để ta chiêm ngưỡng
(SHINFU)

(Nội san Haikư 7 – 2017- trang 123)

Theo Nguyễn Vũ Quỳnh Như ( Thơ Haiku Nhật bản : Lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại – NXB ĐH QG TP HCM - 2015), ba hình thức Kire-ji được sử dụng nhiều nhất là :

ya (và)

kana (có lẽ)

keri (dường như).

Thơ Haikư Nhật hiện đại không nhất thiết phải có từ ngắt, vì vậy xu thế viêt thành một dòng ngang ngày càng phổ biến, kèm theo dấu gạch chéo / , nhất là khi trích dẫn , khi phiên âm và khi dịch ra tiếng nước ngoài.

Khi xâm nhập vào châu Âu, châu Mỹ và lan tỏa ra thế giới, các tác giả quốc tế đều phải giải quyết vấn đề cách trình bày thơ Haikư: Ngôn ngữ của họ không có từ ngắt, mà thơ thì không thể viết liên tục như văn xuôi, vậy tốt nhất là ngăn cách bằng xuống dòng và viết các khổ thơ thành 3 dòng. Xu thế này rất phổ biến trên thế giới, hầu như mọi ngôn ngữ đều chấp nhận . Gần đây, khi dấú gạch chéo / được sử dụng để ngăn cách thì cũng được dùng cho thơ Haikư , khi viết liên tục thành một dòng, nhất là khi trích dẫn hoặc khi dịch. Hai cách trình bày trên đang đan xen nhau: Khi trình bày thơ sáng tác thì thường viết thành 3 dòng với kiểu chữ in đứng thẳng, khi trích dẫn / khi dịch thì viết liên tục trên 1 dòng với các dấu gạch chéo / và kiểu chữ in nghiêng (italique).

I am nobody:
A red sinking autumn sun
Took my name away.

Tôi chẳng là ai:

Mặt trời Thu đỏ hồng chìm xuống

Mang tên tôi đi rồi.

(Richard Wright
From "Haiku: This Other World", 1998 - “ Haiku, một thế giới khác”- https://hpl.bibliocommons.com/item/show/25937125

Nghiêm Xuân Đức sưu tầm và dịch)

Jour de grand vent-

oiseaux,feuilles se confondent

flif,flop mon coeur bat

Ngày cả gió-

lá và chim lẫn lộn

tim tôi đập phập phồng

(JEAN ANTONINI (1946-) Pháp- http://haikuviet.com/trang-nuoc-ngoai/314-2017-06-08-22-29-13.html )

Fluturi se-aleargă
pe uliţa prăfuită
cad flori de cireş

Butterflies run
in the dusty street
flowers of cherry tree get down

Đàn bướm bay

trên con đường bụi bặm
đầy cánh anh đào rụng

(Aurica Văceanu - http://haikuviet.com/trang-nuoc-ngoai.html

Chủ tịch Hội Haiku Constantza – Roumanie (1992)

Biên tập viên Tạp chí Haiku Albatross (2003)- Lê văn Truyền dịch từ tiếng Roumanie.

Các Haijin Việt cũng áp dụng cách làm trên (với thơ sáng tác thì trình bày thành 3 dòng, khi trích dẫn, khi dịch thì viết liền trên 1 dòng với các dấu gạch chéo / và cũng có lúc dùng lốí chữ in nghiêng). Như vậy, một lý do khác là : làm theo cách trình bày thơ Haiku của thế giới. (Cách trình bày thơ theo cách xuống dòng của thế giới và của thơ Việt vẫn được coi là cách làm phổ biến, mặc dù gần đây nó bị lạm dụng hoặc bị rối loạn do lối xuống dòng lung tung : thơ leo thang bắt đầu từ Maiakôpsky và kiểu thơ văn xuôi không xuống dòng)

Như vậy, ba dòng chỉ là hình thức trình bày của thể thơ, nó không đồng nghĩa với ba câu ( ba mệnh đề) hoặc ba ý thơ ( thi tứ) hoặc ba hình ảnh/ ba sự kiện : Ba dòng chỉ là cái vỏ ngoài, không phải là thi pháp. Ba dòng có thể đề cập một hay nhiều thi tứ hoặc hình tượng.

Chồng hái dừa cao tít

Vợ hứng dưới váy căng

Hàng xóm dòm mắt típ

(Nguyễn Văn Đồng- TS Dược khoa - http://haikuviet.com/guong-mat-hoi-vien.html - PCN CLB Thơ Hải Thượng (Ngành Y- Dược VN)

Vỏ ốc trưa hè

ta ghé tai nghe

ầm ào sóng vỗ

From seashells at summer noon

we can hear

waves flapping

(Nghiêm Xuân Đức- HOA BỐN MÙA- FOUR BLOOMING SEASONS

Tuyển tập thơ Haiku song ngữ - The Haiku anthology- NXB VĂN HỌC – 2015)

A sunflower / lowing its head / like a remorse

Có bông hoa hướng dương

cúi đầu

như sám hối

(Chiaki Nagamine, (1954-) Nhật Bản- Đinh Nhật Hạnh sưu tầm và dịch- Xu hướng mới trong sáng tác thơ Haiku Thế giới- http://haikuviet.com/ly-luan.html )

Chúng ta ngày nay không còn quen với khái niệm về các từ ngắt. Các bậc tìền nhân Nho học của chúng ta khi học chữ Hán đã phải sử dụng các từ ngắt rất phổ biến của chữ Hán, vì họ cũng phải giải quyết khó khăn là phải viết liên tục trên các dòng dọc, mà lại không có các dấu chấm, phảy như chư Quốc ngữ sau này. Bôn từ ngắt chính của chữ Hán là : Chi, Hồ, Gỉả, Dã (池,湖,假,野), thường được nhắc đến để chế diễũ những kẻ hủ nho nói năng máy móc thích trích dẫn sách vở và hay dùng thứ ngôn ngữ bìền ngẫũ trúc trắc. Về sau trong xu thế viết văn theo kiểu Bạch thoại, người Trung Quốc cũng không dùng các từ ngắt đó nữa. Thí dụ điển hình cho các từ ngắt là câu nói nổi tiếng của Khổng tử trong Sách Luận Ngữ : Học nhi thời tập chi bất lạc diệc hồ ( Học mà thường luyện tâp thì chẳng vui hay sao) . Cũng có thể gặp các từ ngắt khác như Chừ, Hề trong thi ca..., thí dụ trong câu thơ của Kinh Kha khi đứng trên bờ sông Dịch, chuẩn bị đi ám sát Tần Thủy Hoàng : Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn; Tráng sĩ hề, nhất khứ bất phục hoàn... ( Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh lùng ghê; Tráng sĩ chừ, một đi không trở về...) . Chúng ta đã không tiếp nối cách dùng từ ngắt theo kiểu chữ Hán đó. Chúng ta đã chọn cách xuống dòng, đó là cách trình bày thông thường của các câu thơ Việt.

Tóm lại, có thể ba lý do chính của cách trình bày thơ Haikư Việt thành 3 dòng ( và có lúc lại trình bày thành 1 dòng ) là :

-Để thể hiện sự ngắt trong ngôn ngữ, tương đương với khái niệm từ ngắt Kire-ji trong tiếng Nhật

-Để thống nhất quốc tế với các ngôn ngữ sử dụng mẫũ tự La tinh, không có từ ngắt và thay thế từ ngắt bằng cách xuống dòng cho các câu thơ.

-Để thể hiện truyền thống Việt cho các câu thơ, cách làm thông thường của thơ Việt là xuống dòng, phân biệt với văn xuôi là viết liên tục. Khi trích dẫn và khi dịch, người ta có thể viết liên tục, không xuống dòng, có các dấu gạch chéo / và thường in chữ nghiêng

Phải chăng các tác giả thơ Haikư Việt đã chọn cách trình bày thơ Haikư Việt thành 3 dòng hoặc 1 dòng vì những lý do trên ?

Nghiêm Xuân Đức

(Chủ nhiệm CLB Thơ Hải Thượng của những người làm thơ thuộc ngành Y tế)

Khao khát vời vời trong một khúc thơ

alt

Anh viết thư pháp. Con chữ dưới tay anh có hồn có vía, có hình dáng và màu sắc như một bức tranh nên người đời gọi anh là Nhà thư họa. Còn tác phẩm của anh, người ta bảo đó là Tranh chữ ! Anh cũng là người làm thơ Haiku. Thơ anh viết không nhiều nhưng chín chắn vừa độ, sâu và cao đúng tầm. Khi đi làm công việc của một con ong thợ tìm kiếm chất liệu để xây tổ, tôi đã gặp bài thơ anh trên một trang viết. Nó gợi ra trước mắt nhiều điều về hồn cốt của một phiến khúc Haiku.

Cá xuống nước

Mây về trời

Ta thả ta vào chân không

Về cốt cách, khúc thơ rõ mồn một ba hình ảnh. Đứng riêng rẽ, mỗi hình ảnh đã đủ nói lên một hiện tượng và tự mình gợi mở ý tứ. Ôm lấy nhau trong khúc thơ, chúng tạo nên ý tưởng rộng lớn mà ta phải nhìn thật tinh tế mới nhận chân được. Nếu ai đó còn băn khoăn rằng thơ Haiku là Thơ ba câu có thể viện dẫn bài thơ này. Quả thật ở đây mỗi dòng là một câu hoàn chỉnh nhưng chỉ là sự ngẫu nhiên trùng hợp. Thực chất thơ Haiku không cần đến như vậy.

Xin được nói nhiều hơn về phần hồn bài thơ. Với hai hình ảnh cá xuống nước và mây về trời, tác giả đã khảng định cái tự nhiên tất yếu của sự sống. Không có bầu trời thì mây nhởn nhơ sao đây? Không có nước, cá làm sao vùng vẫy? Trời nước là nơi đích thực tạo nên sự sống. Vậy hãy trả lại sự sống cho mọi thứ mà mây và cá được dùng làm vật chỉ thị tượng trưng. Cũng đâu chỉ có vậy. Trong cuộc sống này thử hỏi thứ gì là cốt lõi, là động lực và vĩnh viễn? Tình yêu đấy! Bỗng nhiên tôi nhớ về một khúc ca dao xưa:

… Cái ngọn sông đào vừa trong vừa chảy

Anh đi kén vợ mười bẩy năm nay

Tình cờ bắt gặp nàng đây

Như cá gặp nước như mây gặp rồng

Mây gặp rồng, phát phong phát vũ
Cá gặp nước con ngược con xuôi …

Thế đấy, cá gặp nước đâu phải chỉ để bơi lội kiếm ăn mà “Con ngược con xuôi” quấn quýt yêu thương nhau, hạnh phúc cùng nhau… . Mây gặp rồng là không có thật. Hình ảnh hư cấu về rồng thường ở trên trời nên cứ hiểu mây gặp trời cũng không khác xa nhau là mấy. Mây gặp trời có thể bảng lảng nhẹ nhàng trôi, cũng có thể “Phát vũ” với mưa Ngâu thương nhớ, phát tia sét ái tình đầy cuồng nhiệt. Vậy nên “Cá xuống nước/Mây về trời” là ước vọng tình yêu nữa chứ đâu chỉ đơn thuần là sống thôi. Khi mây đã về trời, mây chẳng ở yên mà được gió đưa đẩy phiêu du, và ấy là tự do, là tình yêu đấy. Khúc dân ca này có phải như thế không thì ai mà chẳng rõ:

Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi

Anh ơi em vẫn đợi, bèo… í… a dạt

Mây í… ì… i trôi …

Đọc những câu sau của Xuân Diệu :

Tôi muốn tắt nắng đi cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi…

Ta thấy khúc tình si được đẩy lên tột độ để hành vi gần như chạm ngưỡng cực đoan. Thế nhưng gió đã buộc lại thì mây làm sao trôi, bèo có dạt không để nỗi nhung nhớ bời bời thốt lên thành lời day dứt ? Trong khúc Haiku của Thiện Niệm, anh chỉ cho mây về trời thôi để mây tự do lang thang hay phát phong phát vũ gì tùy ý. Cũng là dùng tương tác với thiên nhiên để giãi tình nhưng mỗi người một vẻ, mỗi cách đeo mang một nét hay riêng !

Với hình ảnh thứ ba “Ta thả ta vào chân không” dường như ý tứ có một bước nhẩy nâng tầm. Bây giờ là người rồi. Mà người thì không thể dùng thứ gì cụ thể, thiếu tế nhị để thỏa nỗi khao khát sống và yêu được. Chân không là lựa chọn độc đáo có nội hàm rộng. Nếu khoa học chỉ coi chân không là môi trường không chứa gì nên không có sự cản trở. Ở đó sợi bông rơi giống hệt viên bi. Thì văn chương mở rộng , trừu tượng hóa chân không thành cả một xã hội tự do và yêu thương. Nơi này không có hoài nghi và đố kỵ, không có tham lam và ích kỷ, bất công và áp bức làm vẩn đục. Nó trinh nguyên, trong veo như tự do và tình yêu. Cuộc sống như thế thực vô giá như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy “Không có gì quý hơn độc lập và tự do !”. Nhưng ai mang ta đến “Chân không” ? Lời khảng định đã rõ mồn một ngay trong câu thơ rồi đó. Đến đây , ta không thể không nhắc đến lời bất hủ của Các Mác: “Hạnh phúc là tranh đấu” ! Chỉ có tự ta khổ luyện, vươn lên mới có thể “Thả ta vào chân không” được.

Tính hàm xúc của thơ Haiku đã được cho là không phải bàn. Nếu dùng lăng kính thơ mà nhìn sẽ thấy nhiều bài thơ khác cũng óng ánh bẩy sắc cầu vồng như khúc thơ ngắn này. Thiện Niệm, người đi bằng hai chân thư họa và sáng tác. Chân nào anh cũng vững trãi. Mong và tin ở những bước đi tiếp của anh.

Lý Viễn Giao

Những đường bay đa chiều- Mai Văn Phấn

alt

Sương khuya Hồ Tây-

Sâm cầm vụt cánh

trăng lay

2008

Bài thơ trên của tác giả Đinh Nhật Hạnh có hình thức gắn với Haiku truyền thống.Ông sử dụng danh từ làm chất liệu,giản lược các quan hệ từ,và đặc biệt kiếm chế cảm xúc cá nhân. Tính biệt lập giữa các hình ảnh sương khuya,sâm cầm trăng cho thấy ông cố ý dùng nghệ thuật tương phản ,đối lập các cặp phạm trù giữa tĩnh và động,giữa sáng và tối,giữa mơ hồ và hiện tiền…Trên nền tĩnh mịch sương khuya phủ kín bỗng xuất hiện sâm cầm vụt cánh bay ngang như một mảnh thiên thạch,làm người đọc như nghe rõ tiếng con chim vụt bay lên tựa mũi tên bật khỏi dây cung xuyên qua đêm tối.Sâm cầm và sương khuya ở đây đã biến thái,va đập trong một bầu không thanh vắng,làm nền sự sống sinh biến,đa dạng.Những hình ảnh trên nếu tách biệt ra sẽ không còn thần vía,hương sắc nữa nhưng khi tác giả xếp chúng cạnh nhau ,thậm chí có thể đảo vị trí của câu thơ trong bài,chúng bỗng tỏa ra những sóng từ.Chỉ có duy nhất Hồ Tây nhiễm sương khuya đứng yên làm nền,còn các hình ảnh khác đều biến ảo ,sống động,khó đoán định.Tự chim sâm cầm vụt cánh làm trăng lay hay trăng lay sương khuya làm sâm cầm chuyển động ? Cả ba hình ảnh này đều là những nhân duyên,khởi duyên của nhau,mở ra không gian rộng lớn bởi những biến thái trong đó,làm bạn đọc khó phân định rạch ròi cả ba hữu thể ấy cùng tương tác,hoán chuyển để tạo nên những động rộn mơ hồ trong một bầu không vừa yên tĩnh.Đọc bài thơ của Đinh Nhật Hạnh,tôi bỗng nhớ một bài thơ Hai-kư của Kobayashi ISSA –Nhật Bản (1768-1827) viết khi con gái qua đời:

Tsuyu no yo wa

tsuyu no yo nagara sari nagara

sari nagara

Thế giới giọt sương

Trong thế giới giọt sương

Lìa xa

(NguyễnVũ Quỳnh Như dịch)

The world of dew-

A world of dew it is indeed,

And yet,and yet…

Thế giới sương giá

Thế giới sương giá,quả vậy

Thế nhưng,thế nhưng…

( Thi Ca dịch)

Nỗi đau đớn,mất mát của Kobayashi được tan hòa vào hình ảnh của giọt sương giá lạnh,mong manh.Giọt sương là những giọt nước mắt long lanh của nhà thơ bao bọc lấy con gái đang lìa xa những nẻo đường trần thế ,và,cũng là hình bóng,vong hồn của người vùa từ giã cõi đời đang len qua biển người để ra đi vĩnh viễn.Hình bóng thi sĩ không xuất hiện cụ thể trong bài,nhưng bạn đọc có thể cảm nhận Kobayashi đã hóa thành vạn hữu,để vạn hữu mang nỗi đau tột cùng của ông.

Trong bài thơ của Đinh Nhật Hạnh,dù tác giả không hiện thân trong câu chữ,chi phối cảm xúc,hay dẫn dắt ý tưởng,nhưng người đọc vẫn thấy được thần thái ung dung tự tại của tác giả ,thấy được lẽ sống,niềm tin yêu của ông vào cuộc đời luôn tràn đầy cảm xúc và hy vọng .

Bài thơ như một bức tranh đêm,cho bạn đọc được chiêm ngưỡng bóng trăng,chim sâm cầm vụt sáng ,tạo những đường bay đa chiều trên nền sương khuya dầy đặc,mờ ảo.

Hải Phòng 23/1/2013

MVP

...

LỜI BẠT

“Trăng Bùa”Tập Haiku Việt 4 ngữ của Đinh Nhật Hạnh-Nxb Văn Học 2014

Hành trình dài của một câu thơ ngắn- Đinh Nhật Hạnh

Trong quãng đời làm thơ của chúng ta-dù dài ngắn,thành đạt hay âm thầm dẫu thật khác nhau nhưng có những khoảng lặng giữa những bài,những câu dẫu ngắn, dài chắc ai cũng có.

alt

Câu chuyện bắt đầu cách đây 40 năm từ những vần thơ về Mẹ.Dạo ấy,quê hương và Mẹ là những đề tài vô tận,viết mấy vẫn cảm thấy không vừa.Thời đại nào tình mẹ con vẫn cao quý nhưng riêng với gia cảnh chúng tôi-cha mất sớm từ thuở lên ba,mẹ góa bụa ở tuổi hoa niên, chỉ biết nương tựa vào tình thương của Bà Ngoại cùng cảnh ngộ thì Mẹ và Bà thường trực là niềm thiêng liêng tối thượng.Hơn 300 câu thơ trong thời gian qua về Mẹ trong hành trình dài dằng dặc cuộc đời của Người vẫn không thể nào nói hết công lao trời biển qua 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ thần thánh của dân tộc.Chỉ xin được trình bày Khúc III viết năm 2003 như một nén hương lòng tưởng niệm:

Khúc III- Dâng Mẹ

Tôi về quê một mùa mưa
Thăm bao bến nước ngày xưa Mẹ dừng
Tre ngà rợp bóng đò Giăng
Từng che bóng Mẹ mùa măng bạt ngàn
Đò đưa tôi đến Nam Đàn
Nhấp nhô bãi mía, lụt tràn nương dâu
Thuyền xuôi chín khúc sông sâu
Chuyện xưa rợn tóc cọp cầu Ma Ca
Mẹ nghèo chạy chợ nuôi ta
Dặm mòn heo hút đường xa,ngõ gần
Mấp mô đồi núi Cát Văn
Chênh vênh ghềnh đá chợ Năn,chợ Dừa
Nhoáng nhoàng chạy trước cơn mưa
Sáng,ăn chợ Vịnh-xế trưa,chợDùng
Nao nao một bến Đò Cung
Nắng nung bãi cát,bỏng lưng gió Lào…

* *

Tôi về quê dưới trăng sao
Bồi hồi bước thấp bước cao ngỡ ngàng
Tạ ơn tình xóm nghĩa làng
Những dòng sông,chuyến đò ngang sớm chiều
Tạ ơn bãi cát nắng thiêu
Hàng tre râm mát,chợ xiêu xóm nghèo
Đã cùng Mẹ thuở gieo neo
Nuôi con khổ cực,cánh bèo nổi trôi

Tạ Sông,tạ Chợ,tạ Người
Rưng rưng dâng Mẹ mấy lời tâm hương…

Hồ làng Tám 2003

***

Năm 2006,nhân về thăm quê tảo mộ tiền nhân ở Bầu Vạn Đô Lương,mê mải ngắm cảnh sắc khe suối tuyệt vời bỗng vẳng tiếng “cúc cù cu” trên đồi thông vọng xuống; lòng thơ rung động và hình thành ngay một khúc haiku:

“Vẳng tiếng chim gù trưa

lay lắt bóng tre trùm nỗi nhớ

Mẹ chân trần nắng mưa”

Đoản khúc này hồi ấy viết theo đúng luật 5/7/5 cổ điển-là khúc Haiku đầu tiên của tôi sau thời kỳ bế tắc với dòng thơ Trữ tình đeo đẳng tự thiếu thời- trong tập Song Đào 40 khúc,tiền thân của vô số khúc Haiku Việt từ đây..Mãi sau đó 8 năm,khi xuất bản tập Haiku 4 ngữ “TRĂNG BÙA”tôi vẫn giữ nguyên khúc Haiku Việt đầu đời ấy như một kỷ niêm đẹp.Và giờ đây, khi viết bài này ,đọc lại thật kỹ hơn 300 câu thơ dâng Mẹ, tôi bỗng ngộ ra một điều:” Thì ra công ơn trời bể của Mẹ dẫu viết ngàn câu chưa đủ nhưng có lẽ có thể đúc kết lại chỉ trong dăm từ,cực ngắn! Và khúc thơ 17 từ trên đã ngắn, vẫn quá dài! Vẫn có thể ngắn,thật ngắn- có lẽ chỉ cần:

“Mẹ -

Chân trần

nắng mưa

Thưa vâng! Tình của Mẹ và công ơn của Mẹ luôn ngự trong trái tim con,đâu cần chờ tiếng chim gù trưa,ngắm bóng tre hoài niệm mới trở về hiện hữu! Hình ảnh Mẹ suốt cuộc đời bươn bả -chạy 27 chợ,qua 4 con sông nuôi 3 con và mẹ già-mãi năm 1972 ra Thủ đô đoàn tụ với cháu con vẫn không thể nào quen đi guốc, dép vẫn lừng lững trên 5 từ của một khúc Haiku…

Và Mẹ vẫn suốt đời, chân trần mưa nắng-lo lắng …Vì con

Phố Kim Đồng , 23 tháng chạp 2016

Ngày giỗ Mẹ lần thứ 31(1986-2017)

ĐINH NHẬT HẠNH

Sợi tình- Nguyễn Thánh Ngã

alt

bàn tay

ai đón đưa

sợi dây không buộc chặt

(Khả My)

Khả My - cô sinh viên mới ra trường. Ở cái tuổi còn mơ mộng, Khả My đã tự bén duyên với thơ haiku Việt. Trong mấy bài haiku xinh xắn của em, tôi chọn bài thơ trên như một cảm hứng bất chợt.

"Bàn tay ", được hiểu như xúc cảm mạnh mẽ nhất của loài người. Từ khi biết hái lượm, loài người đã nắm tay nhau, dắt nhau qua vô vàn biến đổi để thành người như ngày nay, thì bàn tay vô cùng quan trọng. Nó là năng lực biểu cảm yêu thương, giận ghét trong sự cầm nắm hữu hình và vô hình.

Bàn tay mà Khả My viết, là sợi dây vô hình, là tiếng nói của sự im lặng thiết tha. Riêng trong bài haiku thơ tình này là bàn tay khác phái, có sức hút nam châm dẫn đến hành động "ai đón đưa" hàng ngày, đã in đậm vào cõi nhớ...

Thơ haiku gợi ra đôi bàn tay ưu ái dành cho người yêu, và đón nhận tình cảm đáp lại. Đó là niềm giao cảm bản năng mà muôn loài dành cho nhau. Tuy nhiên, đôi bàn tay mười ngón ấy đã đến lúc biến thành một sợi dây: dây tình! Trong truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du từng viết:" Tu là cội phúc, tình là đây oan"...

Vâng, sợi dây không buộc mà chặt.

Không níu kéo mà vấn vương.

Không dằng co mà đứt nối...

Khả My viết:"sợi dây không buộc chặt", là lúc tình yêu mới chớm, còn thả lỏng, còn tự do...Xét về sắc thì đây là lúc đẹp nhất của một nụ hoa. Về hương, thì đây là thời trinh khiết nhất, con ong chỉ mới bay vòng chưa biết đậu vào đóa trà mi thơ mộng.

Thơ haiku luôn dành cho độc giả một khoảng trống. Thì đây, người đọc thỏa sức tưởng tượng cái khỏang trống ấy dành cho một mối tình. Cái hay của bài thơ chính là ở đó, là những gì kín đáo, khó nói nhất được cất giấu trong cái chưa thành và ...sẽ thành.

Với lần đầu học viết thơ haiku, Khả My đã làm nên điều kỳ diệu mà loại thơ độc đáo này mang lại. Hy vọng em sẽ gặt hái nhiều hoa thơm quả ngọt trong vườn haiku đa sắc màu...

Sài Gòn tháng 12/ 2017

N.T.N

Sắc điệu tâm tư- Trần Năng Tĩnh

Cầm tờ báo Tết Người Hà Nội-Mừng Xuân Ất Mùi 2015, theo thói quen, tôi đọc lướt những trang thơ.Và, chợt dừng lại ở trang 54. Bởi trang thơ này có sự góp mặt của mấy thi hữu thân quen: Phạm Đình Ân,Hàn Khánh,Quang Hoài...

alt

Lại bất chợt nữa, tôi nhận ra có sự xuất hiện của Phan Vũ Khánh-Họa sĩ và làm thơ. Điều mà làm tôi chú ý hơn là Khánh có một chùm 7 bài,viết theo điệu thơ Hai-Kư (Nhật Bản) mà tôi vốn tâm đắc; Ấn tượng ngay từ bài số 1:

Diều chao nắng

Nghiêng ngửa chiều

Rớt giọt chuông.”

Một đặc điểm, cũng là nét đặc trưng của thơ Hai-Kư là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo;Trực tiếp hoặc gián tiếp ý niệm “Quí ngữ” (Ngôn ngữ-hình ảnh gắn với bốn mùa theo qui luật tự nhiên).Và,thế là tôi như chợt nhận ra vi vu cánh diều trong một chiều mùa hạ-Nơi đồng quê thanh bình Đất-Việt,một thuở...Có sắc mầu thiên nhiên đồng hiện và hòa cùng cánh diều quê.Lời thơ khiến ta mường tượng ra hình ảnh “động” ở tầm cao với bầu trời cao rộng;Khiến ta nhận ra và nhớ lại thú vui có tự thủa ấu thơ: theo cánh diều lên cao mà tâm hồn ta cũng lâng lâng chắp cánh.Mà, vui theo...

Thường thì,trong thơ Hai-Kư, đến dòng thơ thứ 3 (cũng có thể là câu thơ), tạo nên ấn tượng về cấu tứ; về sự đặc sắc của tứ thơ. Với họa sĩ-Thi sĩ Phan Vũ Khánh,từ câu thơ khép lại này lại mở ra những hình ảnh tương phản giầu sức liên tưởng thật thú vị.Ấy là khi anh đem(đặt) cái nhỏ bé, thanh mảnh của cánh diều sóng bên giữa không gian của trời chiều cao lộng mà khiến cho “Diều chao”;Khiến “Nghiêng ngả chiều”...

Hình ảnh tương phản mà hình như cũng tương giao nữa,khi nhà thơ “rớt” vào, thả vào bức tranh-Tâm cảnh chiều giọt giọt thanh âm của tiếng chuông.Và, những “giọt chuông” buông thả rớt ấy khiến cho bức-nhạc-họa đồng quê thêm độ gợi xa-gần, hư-thực...Có lẽ vì thế bài thơ nhỏ kiệm lời, theo điệu Hai-Kư của phan Vũ Khánh bỗng trở thành sắc điệu tâm tư đa chiều của tình thương và nỗi nhớ...

TNT

Người độc ẩm thơ mình- Nguyễn Thánh Ngã

Trong cuộc đời làm thơ, ai cũng phải trải qua nhiều gian nan vất vả mới tìm được câu thơ, bài thơ, thậm chí là một từ vừa ý. Kinh nghiệm cho thấy, bài thơ có thể được làm trong cái chớp mắt, hay dài hơn... 5, 10 năm, hoặc hơn nữa. Vì vậy, ta thấy rằng thơ là vô hạn, và người thơ không có tuổi...

alt

Người thơ đắm mình trong ngôn ngữ thi ca, trải qua nhiều cảnh giới của tưởng thức, giật mình rớt xuống thực tại trần gian, mới biết chỉ là cái chợp mắt...

Cơn mộng thoáng qua như cánh cửa hé, để ta trôi vào một thế giới mới:

chợp mắt

mơ vội bài thơ

trong đêm ngắn ngủi

(Nguyễn Vũ Quỳnh Như)

Quả thật, với vóc thơ "ngắn nhất thế giới", haiku như hạt bụi bay qua mi mắt. Nhưng nếu muốn thử nhìn nó thôi, ta phải ra sức dụng công. Công ấy có khi một đời người không nhìn thấu. Người làm thơ được ví như quyền năng sáng tạo, chỉ qua "mơ" thôi, ảo sẽ biến thành thực. Cái động tác "vội" mà nhà thơ nói đến là cả một công phu, một nghệ thuật đã được tôi luyện, chứ đâu có dễ gì ai cũng "vội" được sao! Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh Như như tôi biết, là người đã miệt mài nghiên cứu haiku tận xứ sở Mặt trời mọc, nơi sản sinh ra thể thơ tuyệt diệu này, chị là người đã sở đắc một số thủ pháp nghệ thuật rất đáng nể phục.

Vậy thì "trong đêm ngắn ngủi" ấy nói gì?

Chẳng nói gì cả, mà chỉ là một cảm thức thời gian. Thời gian như chúng ta biết như "thoi đưa", như "bóng câu qua cửa sổ". Vừa nói ra là đã thành quá khứ. Có phải vậy không, mà tôi cảm nhận trong cái "ngắn ngủi" vô cùng ấy chính là một bài thơ. Bài thơ của khoảng lặng mênh mông...

Bằng trường liên tưởng bao la, thơ cho ta chợt nhận ra đời là phù du, là khoảnh khắc thoáng qua. Trong cơn "mơ vội" kia, bài thơ đã được hoài thai như bí quyết ủ men rượu. Đó là cách nâng chén của Quỳnh Như, người độc ẩm thơ mình...

Tôi đoan chắc, thơ haiku theo kiểu "độc ẩm" của Quỳnh Như, phải có một nội lực tự thẩm thấu vững vàng, trước khi bay ra với gió bụi ngàn khơi hay chợ quán đìu hiu cơm áo...

Cách "độc ẩm" ấy đem lại cho haiku một khai ngộ: kín đáo mà ngẫu nhĩ, nhẹ tênh mà sâu đắm. Đó là minh triết của hiền nhân, chỉ có thể được người thơ tài hoa khơi dậy...

Sài Gòn bão 14 - 19/11/2017

N.T.N

Mối duyên thơ- Đinh Nhật Hạnh

Lâu ngày gặp nhau,TS Lê Đăng Hoan -dịch giả tiếng Hàn nổi tiếng-bạn đồng hương chí thiết của tôi-vui vẻ :” Có quà đặc biệt cho anh đây! Tập thơ mới nhất và cũng lạ nhất của Mai Văn Phấn” Hơi ngạc nhiên về độ mỏng,rất mỏng của sách và cả vẻ dung dị,mộc mạc ít thấy của trang bìa .Tịnh không có một nét hoa văn,màu sắc điểm xuyết như ở bất cứ tập thơ nào .Không một lời nói đầu.Không một dòng cảm nhận.Lạ.Quả chưa hề thấy từ khi bị nàng Thơ mê hoặc.Mai Văn Phấn?Nhà thơ trẻ cách tân nổi tiếng. Đúng là tên tác giả vừa được 2 giải thưởng của Hội nhà Văn thời gian qua.Và tôi liền mở đọc. ngay trang đầu,bài mở đầu phần thơ 3 câu có đầu đề đã khiến tôi sững sờ:

CÁI NHÌN

Vũng nước nhỏ dưới chân núi

Soi

Tận đỉnh

alt

Tôi lặng người.Cô đọng quá.Thật vậy.Và tôi đọc lại,đọc lại.Trí tưởng tựơng của tôi vốn nghèo và thấp bỗng nhiên được nâng lên ,nâng lên rồi bỗng lóe lên một cảnh tượng y hệt tôi đã được bao lần chiêm ngưỡng khi hạnh phúc được 5 kỳ say mê du ngoạn chốn Địa đàng Hồ Ba Bể…Đó là cảnh mây,cây,chim ,núi phản ảnh ngược trên làn nước trong xanh kỳ ảo mà mấy chai nước tôi vục ngay giữa dòng Hồ huyền thoại làm kỷ niệm cách đây đúng 8 năm,9 năm giờ đây lắc mấy vẫn không hề vẩy cặn,minh chứng cho độ tinh khiết kỳ lạ của Hồ Tiên..Vậy mà chỉ một vũng nước nhỏ-vũng đã nông choèn mà còn là vũng nhỏ- trong 3 từ chắt chiu đến giật mình.Hẳn vũng ây rất trong.Không có cọng rác.Không có vẩn bùn.Hoàn toàn tinh khiết.Và cả hình dáng núi đồ sộ cao vút kia,rất cao, bao trùm tất cả bỗng phản ảnh trung thực lên gương nước tí hon,trong veo ngay dưới chân mình như chiếc gương chiếu yêu thần thoại soi tỏ mọi biến động,trạng thái trên cao, xa vời vợi.

Câu thơ ghê quá!

Quả đúng thật! Rồi ngay sau đó ,tôi có dịp trở về thăm lại Hồ xưa ,lần thứ năm-vục chậu nước trong veo giữa lòng hồ,nơi sâu nhất nghe đâu hơn 16 m.Lên bờ,tìm chỗ phẳng sát vách núi cao nhất quả nhiên thấy rõ mồn một nào lá,nào hoa rồi chim trời thay nhau tìm chốn đậu,ríu rít và thú vị chưa !Cả thoáng bóng lũ khỉ đuổi nhau chí chóe.Và tôi hiểu.Không phải vũng nước nhỏ nào cũng có công năng thấu thị như vũng nước tuy nhỏ bé nhưng cực kỳ trong trên câu thỏ cực ngắn kia.Nước dẫu chỉ bó hẹp trong vũng - nếu giữ được trong –quả là không hề dễ,mới thấy được phần nào sôi động kỳ bí tít trên đỉnh núi cao chót vót.Soi tận đỉnh ,hẳn là thấy cả khoảng trời hùng vĩ khi quang mây hay khi dông bão thất thường.Đa chiều không gian hiển thị ngay từ vũng nước nhỏ tầm thường mà nội lực mông mênh.

Thế rồi câu chuyện diễn biến cực nhanh , qua điện thoại tôi đáp lễ nhà Thơ chưa hề gặp -đọc nối ý sắc lẹm của người thơ tài danh trẻ- khúc thơ viết 2 năm trước cho riêng mình,không đề - nhân một chuyến viễn du vẫn nằm trong sổ tay,chưa có dịp chia xẻ cùng ai “đồng sàng đồng… mộng” :

“Vũng trâu đằm-

Mặt trời

lộn ngược

Câu chuyện chỉ ngắn ngủi thế thôi,mà chiếc cầu thơ đôi nhịp chính là 2 đoản khúc Haiku Việt tương phản-bên cực trong ,bên cực đục -bắc qua chiếc điện thoại nối 2 đầu tri kỷ từ đây.Rồi cũng từ buổi ấy ,đôi bạn thơ chênh nhau 30 tuổi đã thành tri âm chí thiết- trên một dòng thơ cực ngắn-đồng hành.

Sức công phá của 2 câu thơ …

Đó là 9 từ đẹp nhất chia đều cho cả hai kẻ đam mê thể thơ ngắn nhất trên đời mà sức gợi mênh mông-Haiku.

Ngõ Bằng lăng

Tiết Trung thu 2017

ĐINH NHẬT HẠNH

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay248
mod_vvisit_counterHôm qua319
mod_vvisit_counterTất cả117843
Hiện có 61 khách Trực tuyến