Tím tìm và tím đợi- Nguyễn Thánh Ngã

alt

1.

Phố nhỏ chiều đông

tìm nhau không thấy

hoa tím bên song

2.

Đợi ai

cánh bằng lăng tím

một mình phôi phai

(Nhã Trúc – CLB Haikuviet tp. HCM)

Có lẽ trong những sắc màu đa dạng, thì màu tím giàu nữ tính hơn cả, nó cũng đại diện cho vẻ đẹp của những nỗi buồn sâu thẳm. Trong chùm thơ của Nhã Trúc, tôi nhặt được hai phiến khúc tím.

Tím của sự tìm kiếm.

Và tím của đợi chờ!

Một từ “tìm” mông lung, vô vọng. Một từ “đợi” nặng trĩu. Ám ảnh.

Tất cả dồn vào cánh bằng lăng, một cánh bằng lăng được mượn làm thân phận nàng Kiều. Nỗi buồn mà Nhã Trúc dồn hết vào hai phiến khúc này, có thể lên tới con số từ 10 – 15 năm lưu lạc chứ chẳng chơi…

Cô đơn cùng tột là khoảng không lặng lẽ, khoảng không không thể lấp đầy…

Thơ haiku không đầy, nhưng chứa hết những thứ mà con người gào thét. Và độ nén kinh người của ý thơ sẽ bùng nổ, khi ta nhận ra biển cả trong giọt nước màu xanh…

Vốn là cây bút nữ có nội lực, Nhã Trúc có khả năng tạo ra một trường liên tưởng với cảm xúc dồi dào, nén tình vào câu chữ, khiến cho cái màu chủ đạo của thơ hiện lên, nhuộm cả nỗi khắc khoải vào gam màu hoan lạc và đau thương. Một ngõ phố nhỏ, một con người lạc lõng, một chiều mùa đông, một màu hoa tím. Tất cả chảy ùa vào "tìm nhau", là đã định sẵn một duyên phận; để rồi thắc thỏm "đợi ai", là một chuỗi dài những thổn thức không lời. Đây là cách hành ngôn tinh giản của thơ haiku, Nhã Trúc là người biết rõ nhất năng lực chiếu sáng của từ ngữ của thơ mình, nên Haijin này đã làm nổi bật sự kết đọng đắc địa, đưa người đọc tìm thấy sự "vỡ òa" của tứ thơ và nghĩa chữ.

Đây là hai bài haiku hay, như đôi mắt thơ luôn để lại dấu ấn "nhãn tự" của riêng mình...

NTN

Dã hoa trinh bạch- Lê Văn Truyền

alt

Đừng chạm vào ta

em trong lành quá

triêu nhan à

Lâm Long Hồ

Triêu nhan là “tên chữ” của một loài hoa dại thường gặp ở nông thôn nước ta và một số nước Châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản…). Tôi còn nhớ khi lên 9-10 tuổi ở với bà ngoại ở làng Kim Long (Cố đô Huế), trong những rặng tre bao bọc những khu vườn quê, loài dây leo này được bà tôi gọi bằng cái tên “dân dã”: dây bìm bìm, với những cánh hoa không mùi hương, mầu trắng hoặc xanh biếc (bìm bìm biếc).

Từ dân gian đi vào thi ca, “bìm bìm” trở thành “triêu nhan” hệt như nhiều thôn nữ đang mang những cái tên thật chân chất, dễ thương, đáng yêu mà ông bà, cha mẹ ban cho: những Nhài, những Sen, những Xoan, những Nụ … khi lên chốn thị thành bỗng trở thành những Tuyết Trinh, những Ngọc Bích, những Diễm Lệ … và gần đây, những Kara Nguyễn, Subi Lê, Jenifer Trần …

Cây dại bìm bìm tuy mong manh nhưng lại có sức sống mạnh mẽ, chen vai thích cánh với những loài cây cỏ dại khác trong rặng tre, trên những bờ rào của những nếp nhà quê. Mặc dù được tặng cho một cái “tên chữ” thật cao sang, hơi chút bí hiểm “triêu nhan”, nhưng bìm bìm vẫn là một loài hoa dại trong trẻo, giản dị, gần gũi với thiên nhiên, thân thiết gắn bó với người dân nơi thôn dã.

Ở Nhật Bản, bìm bìm đã trở thành nguồn thi hứng cho nhiều đại sư haiku, mà điển hình là phiến khúc sau đây của Chiyo-Ni:

Asagao m

tsurube torare-te

morai mizu

A morning - glory

having taken the well-bucket

I begged for water

Nhành bìm bìm biếc

quấn vào dây gầu

đành đi xin nước

Lê văn Truyền dịch

Một buổi sáng ra giếng lấy nước, Chiyo-Ni bỗng thấy đêm qua nhành bìm bìm biếc vươn dài quấn lấy dây gầu. Trước vẻ đẹp thuần khiết, dịu dàng, mong manh của nhành hoa dại, nữ haijin không nỡ gỡ dây hoa mà để nó được sống thuận tự nhiên rồi không ngại phải quản công sang láng giềng xin nước.

Và ở Việt Nam ta, haijin Lâm Long Hồ theo một cách khác, cũng ngưỡng mộ không kém Chiyo-Ni vẻ đẹp giản dị, trong sáng, hồn nhiên … của đóa bìm bìm dại đến mức dù yêu hoa nhưng tác giả không dám để hoa chạm đến mình vì sợ rằng chính chúng ta, những con người dù ít dù nhiều cũng đã lấm “bụi trần”, sẽ làm vấy bẩn vẻ đẹp trinh nguyên, thanh khiết của đóa hoa dại bìm bìm mà haijin bất chợt bắt gặp.

LVT

Chùm thơ “Những người yêu Haiku xứ Huế”- Lê Văn Truyền

Sau hơn một năm kể từ “Hội ngộ Haikư Cố Đô Huế” (4-2019), một ngày cuối tuần đầu Thu Hà Nội, ta được đọc một chùm phiến khúc của “Những người yêu haikư xứ Huế”, những bạn thơ mà các haijin ba miền chúng ta đã có dịp thân tình gặp gỡ năm ngoái.

alt

Đã được viếng thăm các thành phố lớn của Nhật Bản: Tokyo, Osaka … và đặc biệt Cố đô Kyoto, quê hương của thể thơ haiku Nhật đặc sắc, tôi luôn nghĩ ở Việt Nam, chắc ít có nhiều nơi như Cố đô Huế là mảnh đất màu mỡ để haikư có thể dễ dàng đơm hoa, kết trái trên đất nước Việt Nam cách xa quê hương của thể thơ haikư hàng ngàn dặm. Cũng non nước hữu tình, không gian trầm mặc, con người trầm lắng, nhẹ nhàng … mang đậm những cảm thức đặc trưng của thể thơ haiku Nhật Bản: giản đạm (wabi), bi cảm (awari), tịch tĩnh (sabi), tinh tế (hosomi), phong nhã (fugi), u huyền (yugen) …

Bởi vậy, trong buổi sáng đầu Thu của Hà Nội, tôi vui mừng đọc được tâm tình một nữ haijin xứ Huế và bỗng nhận ra nét đẹp bình dị của quê hương:

Bình minh

trên cánh đồng Tả trạch

lúa lên màu hoan ca

Hồng Ngọc

Nhưng tác giả cùng không quên tri ân mẹ và bao nhiêu thế hệ đã “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” để có cánh đồng lúa hoan ca hôm nay:

Cánh đồng xanh mướt

khởi sắc quê hương

mùi mồ hôi mẹ

Hồng Ngọc

Thu Hà Nội đang về với hương cốm làng Vòng, nhưng Võ Phương Anh Lợi thật tinh tế khi trong cuộc bộn bề mưu sinh thường nhật bỗng thấy chiếc lá rơi báo hiệu mùa Thu đang tới:

Lá rơi

giật mình

mùa Thu

Võ Phương Anh Lợi

Mặc dù, Cố đô Huế được Tổng Giám đốc UNESCO ca ngợi là “bài thơ đô thị tuyệt tác” (Un Chef - d’oevre de poésie urbaine) nhưng cũng như những địa phương khác trên dải đất miền Trung, Huế phải hứng chịu khí hậu khắc nghiệt. Dù vậy, con người nơi đây vẫn giữ được tinh thần lạc quan về niềm yêu cuộc sống:

Lửa hạ sém da

hồ sen thơm ngát

đôi chuồn ớt say

Lài Linh Chi

Đúng rồi, đôi chuồn ớt còn say tình trong nắng hạ, cớ sao chúng ta lại hững hờ? Và haijin Quách Trọng Tâm đã trả lời câu hỏi ấy cho tôi:

Cà phê

giọt đắng

tình người bên nhau

Quách Trọng Tâm

Non nước hữu tình nên con người đa cảm là điều hiển nhiên. Nhưng tình yêu là liều thuốc an thần giúp ta vượt qua bao nghịch cảnh:

Đi suốt đường trần

nghe trong tình sử

một đời gió sương

Hồ Xuân Đài

Tôi đồ rằng tình sử của haijin Hồ Xuân Đài chắc là một “trường thiên tiểu thuyết” để giúp tác giả vượt qua được muôn nẻo đường trần.

Bảy mươi năm trước, tôi đã từng học từ lớp Năm đến lớp Nhất Trường tiểu học Trần Cao Vân trong Thành Nội Huế. Và mỗi lần trở về đi ngang qua ngôi trường xưa, bao kỷ niệm tuổi học trò tràn về, cũng như chỉ nửa viên gạch vỡ trên sân trường cũ đã gợi lên cho haijin Trần Tảng phiến khúc:

Trường xưa

viên gạch nửa

nhớ một thời

Trần Tảng

Và không chỉ ngội trường xưa, còn bao dáng hình làm ta không nguôi được nỗi vấn vương dù chỉ gặp một lần:

Áo dài qua Huế

lữ khách mơ màng

thương em chiều Vỹ Dạ

Hương Giang

Và không chỉ dáng hình, mà cả giọng nói “hút hồn” của những em gái Huế nữa:

Ngơ ngẩn lạ chưa

thưa không

giọng Huế

Hoàng Lộc

Đọc chùm thơ “trái bói” của “Những người yêu haikư xứ Huế” tôi nghĩ không có lý do gì mà haiku Việt lại không tỏa sáng bên dòng Hương thơ mộng, dòng sông đã được Thánh thơ Cao Bá Quát nhắc đến trong tuyệt phẩm “Hiểu quá Hương Giang” (Buổi sáng qua sông Hương) bằng một câu thơ bất hủ “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” (Sông dài như kiếm dựng trời xanh).

Vâng, tôi thì tôi tin rằng Hương Giang và xứ Huế sẽ là nguồn thi hứng bất tận cho các haijin Việt chúng ta.

LVT

Lòng tôn kính- Lê Văn Truyền

alt

shincha kumu mazu issen wa mihotokeni

Tokiko Hirata


Newly picked tea

leaves first cup

offered on the Buddist altar

Masaharu Hirata dịch


Chén trà đầu tiên

những lá non mới hái

dâng lên án thờ Đức Phật

Lê văn Truyền dịch

Trà đạo hay Thiền trà (Zen tea) là một nét văn hóa độc đáo đã hình thành từ rất lâu đời tại Nhật Bản. Trà đạo không chỉ đơn giản là một cuộc thù tạc bên chén trà mà còn ẩn chứa cả một nghệ thuật sống thông qua cách thưởng thức một tách trà. Với người Nhật, trà đạo (chadou, sadou, chanoyu) là hình thức uống trà trong một không gian tĩnh lặng, mà cả chủ lẫn khách - những trà nhân - đều hướng đến sự thư giãn, nuôi dưỡng tinh thần và hòa hợp với thiên nhiên. Có thể nói, đối với trà đạo việc pha trà và thưởng thức hương vị của chén trà là những khoảnh khắc của “chánh niệm”.

Chánh niệm (the mindfulness) trở nên phổ biến trên thế giới trong những năm gần đây, nhưng ở Nhật Bản chánh niệm đã ăn sâu vào nền văn hoá hàng thế kỷ. “Chánh niệm là sự tỉnh giác, biết rõ những gì phát sinh ngay trong mỗi thời khắc của hiện tại, bây giờ và ở đây” (Wikipedia). Nói một cách khác: “Chánh niệm là việc ý thức được sự quý báu của giây phút hiện tại và nuôi dưỡng một mối liên hệ mật thiết giữa con người với thực tại bằng một sự chú ý liên tục và thận trọng” (Jon Kabat-Zinn, Where You Go, Where You Are, Nơi Ấy cũng là Bây Giờ và Ở Đây).

Trong buổi “Trà thiền”, trà nhân dành thời gian và tập trung tâm trí ngắm nghía kiểu dáng của chén trà trước khi uống, chiêm ngưỡng trang trí của phòng trà, thưởng thức hương vị của những ngụm trà. Những nghi thức trà đạo nhằm đánh dấu kỷ niệm của thời khắc này, giữa những người bạn này, ở nơi này và sẽ không bao giờ xảy ra hệt như vậy nữa.

Bốn nguyên tắc cơ bản của Trà đạo gồm: Hòa - Kính - Thanh - Tịch.
“Hòa” là sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên trong khung cảnh của buổi thưởng trà. “Kính” là lòng tôn kính đối với những trà nhân cùng thưởng trà và thể hiện lòng thành kính và sự tri ân cuộc sống. Khi lòng tôn kính với con người và vạn vật đạt tới sự vô phân biệt thì tâm hồn ta trở nên thanh thản, yên tĩnh, thể hiện sự thanh tịnh, đó chính là ý nghĩa của “Thanh”. “Tịch” là sự tĩnh lặng đem đến cảm giác yên bình trong tâm hồn những trà nhân.

Thế cho nên, trong phiến khúc haikư này, để thể hiện lòng tôn kính, chén trà đầu tiên từ những búp trà mới hái được các trà nhân thành kính dâng lên Đức Phật trên án thờ.

LVT

Hạnh phúc tại tâm- Lê Văn Truyền

alt

Nhìn bầu trời trôi

đầu trống rỗng

hạnh phúc đấy thôi

Như Trang

Thật khó để tìm kiếm một thứ gì đó, khi ngay bản thân ta cũng không biết rõ nó là cái gì. Ai cũng mưu cầu hạnh phúc, nhưng hạnh phúc là cái gì vậy?

Với một đại gia, hạnh phúc có thể là khi thấy giá cổ phiếu của công ty mình niêm yết trên thị trường chứng khoán mỗi buổi sáng lại tăng vọt theo chiều thẳng đứng hoặc khi thấy một công ty đối thủ cạnh tranh “đáng ghét” bỗng nhiên công bố phá sản. Với một “hotgirl” có thể đấy là lúc vào buổi tối muộn thấy một câu nói (nhiều khi vớ vẩn, dở hơi và vô nghĩa) mình buột mồm trong ngày hay một bức ảnh “thiếu vải” được đưa lên mạng xã hội bỗng nhận được mấy ngàn, thậm chí mấy chục ngàn lượt “like”. Với một “hotboy” thuộc hàng “rich kids”, là khi thấy trong bộ sưu tập xe hơi hàng khủng của mình có thêm một chiếc xe “độc” triệu đô “chưa thằng nào có”, bằng giá trị hơn 500 ngôi nhà tình nghĩa. Với người nông dân miền Trung sau gần một năm trời hạn hán cánh đồng nứt nẻ, gia súc chết khát, cây cối chết khô hạnh phúc là lúc được ngửa mặt cảm nhận những hạt mưa mát mẻ đầu tiên từ trên trời ban xuống … Và trong làn sóng Covid 19 thứ hai hiện nay ở nước ta, hạnh phúc chắc là những hạt gạo đầu tiên mà những người bị đẩy ra bên lề cuộc sống, những người bị bỏ lại phía sau - như ngôn từ “thời thượng” nơi cửa miệng của những nhà chính trị trên thế giới - nhận được từ một cây ATM gạo miễn phí …

Nếu vậy, chúng ta có thể thấy rằng không thể “định tính” và “định lượng” được hạnh phúc bằng những thứ “thuốc thử” nhậy nhất và đong đo đếm hạnh phúc mà chúng ta muốn sở đắc. Vì sao vậy? Vì bản tính của con người là “tham, sân, si”. Vì chúng ta “được voi thì đòi tiên”, thậm chí các “teen” bây giờ còn nói “được voi còn đòi tiền”!

Ralph S Marston (1907-1967), một cầu thủ bóng đá nổi tiếng thể giới không chỉ bằng kỹ năng chơi bóng mà còn bằng những câu nói được cả thế giới coi như danh ngôn (quote), đã nói: Hạnh phúc là sự lựa chọn, chứ không phải là kết quả. Sẽ không gì có thể làm bạn vui cho tới khi bạn lựa chọn trở nên vui vẻ. Không ai có thể làm bạn vui cho tới khi bạn tự quyết định hãy sống vui vẻ. Hạnh phúc sẽ không đến với bạn, mà chỉ có thể đến từ bạn”. Ông cũng nói: “Trong mọi hoàn cảnh, luôn có điều gì đó tốt đẹp. Nếu bạn nhìn ra nó, bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc”.

Bởi vậy, trong một buổi sáng đầu thu sau cơn mưa Ngâu mát mẻ, tác giả phiến khúc haiku trên đây bỗng nhận ra chính khi này, tại nơi đây, chỉ cần được ngắm nhìn bầu trời xanh trong vời vợi với những làn mây trắng lững lờ trôi, tâm hồn thanh thản, đầu óc “rỗng không” vì không còn bị dằn vặt với những “được, mất”, “ăn, thua”, những “tị hiềm, bon chen” của cuộc sống, đấy chính là khoảng khắc nữ haijin cảm thấy hạnh phúc nhất.

Phiến khúc haiku bật ra tự nhiên trong sự “tỉnh thức” của nữ haijin bỗng làm tôi liên tưởng đến khúc haiku của Yamaguchi Sodo (1642-1716), một bậc thầy haikư Nhật Bản:

Mùa xuân này trong lều tôi

không có gì

không thiếu gì

Đinh Nhật Hạnh dịch

Có một mối liên hệ nào chăng giữa một bậc thầy haiku ở xứ sở của hoa anh đào xa xôi gần ba trăm năm trước với một haijin trẻ đất Việt hôm nay?

Vâng, tôi trộm nghĩ là “Có”!

Đấy chính là thái độ sống và quan niệm về hạnh phúc.

LVT

Chếch chao- Nguyễn Thánh Ngã

alt

“Cánh chim câu

đậu chếch hiên nhà

hoàng hôn ập bóng”

(Hoàng Kim Oanh)

Trong muôn vạn góc nhìn, thì nhà thơ là một họa sĩ. Vẽ như thật trong linh hồn con chữ, làm cho xác chữ có thần. Hoàng Kim Oanh có cách nhìn như thế. Bài haiku siêu nhỏ, toát lên một thi ảnh về thuật viễn cận qua ống kính của chiếc máy tâm hồn. Một cánh chim bồ câu, đậu xuống mái hiên. Và "chếch" là từ khóa của bài thơ, đã làm nghiêng ý thơ xuống một góc 45 độ...

Quả đất với độ nghiêng này, cho ta góc nhìn từ bầu trời vô cùng góc cạnh. Nhà thơ như bay lên cùng chiếc flycam, nhìn cái tứ thơ rơi dần bóng xuống.

Rơi tự do như vậy, mái hiên cho ta bao nhiêu gợi mở. Gợi ra hình ảnh thế giới bị xô lệch. Mở ra ngôi nhà tâm thức đã "hoàng hôn ập bóng"; "ập" là một từ đắc, mạnh mẽ, nó bổ sung cho "chếch", và làm bật lên thủ pháp tương phản giữa cánh bồ câu trắng muốt với màu ráng chiều đỏ sẫm. Trong màu chao chếch đó, mọi vật đã được nhuộm bóng hôn hoàng...

Đẹp. Buồn và mênh mông.

Con người chợt nhỏ bé làm sao!

Phải chăng, cánh chim câu sứ giả được viết từ tư tưởng, nên thơ cũng là những cảm xúc có tính dự cảm, tiên tri...

N.T.N

Người lại thương người - Lâm Long Hồ

alt

Refugee camp

pork and beef cooking

in one pan

難民キャンプ

豚肉と牛肉料理

一鍋で

Trại tị nạn

nấu thịt lợn và thịt bò

trong một chảo

Bakhtiyar Amini (Sinh năm 1975 ở Tajikistan, sống tại Đức)

Hai món ăn thịt lợn và thịt bò có thể đại diện cho những khác biệt về văn hóa, tôn giáo và dân tộc. Những khác biệt đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến chiến tranh. Đâu đó trên thế giới tiếng súng vẫn nổ ra hằng ngày vì những khác biệt này. Những nạn dân trong trại tị nạn có thể đến từ cả hai bờ chiến tuyến. Nếu ví chiến tranh là ngọn lửa, thì những nạn dân trong trại tị nạn như những “miếng ngon”, bị thiêu đốt bởi những “gã khổng lồ” đang đấu súng ngoài kia.

Trong trại tị nạn, những con người, những văn hóa, những tôn giáo, những dân tộc khác nhau đang chia sẻ với nhau nơi ăn, chốn ở, dụng cụ sinh hoạt. Họ đau chung nỗi đau nên dễ cảm thông và đồng cảm với nhau. Những khác biệt lúc này không còn là lý do để kỳ thị nhau nữa, khi đó người lại thương người. Trại tị nạn trở thành nơi dung hòa cho những khác biệt, mùi thịt lợn và thịt bò trộn lẫn vào nhau như tín hiệu của sự hòa hợp.

Bài haiku làm tôi nhớ đến câu ca dao của Việt Nam: “Bầu ơi thương lấy bí cùng/ Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

LLH

Cảm thức mùa thu- Lê Văn Truyền

Thật may, miền Bắc nước ta là một vùng đất mỗi năm đều có 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông để chúng ta có thể cảm nhận được vòng tuần hoàn muôn đời của trời đất.

alt

Tôi có một người bạn ở Sài Gòn, nơi chỉ có hai mùa: mùa khô và mùa mưa, chưa từng ra thăm miền Bắc bao giờ cứ băn khoăn hỏi: “Mùa Thu ở Hà Nội đẹp như thế nào hở anh?”. Không biết trả lời thế nào, tôi đành “định nghĩa” mùa Thu qua hai câu thơ ngắn ngủi:

“Mùa Hè phương Nam, mùa Đông phương Bắc

trời đất hòa thành Thu vàng cho em”

Và nói đến mùa Thu, mặc dù đã ở tuổi U90, cho đến nay tôi vẫn không quên được câu văn tả mùa Thu trong tác phẩm “Tôi đi học” của Thanh Tịnh mà tôi đã được đọc lúc 9-10 tuổi: “Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc ...” Khung cảnh ấy, và cái không khí của những buổi sáng “đầy sương thu và gió lạnh” thường làm dậy lên trong tâm hồn ta những cảm thức “xao xuyến” về những kỷ niệm ta đã trải qua, không chỉ trong mùa Hè mà có khi từ nhiều năm trước trong suốt cuộc đời. Tôi nghĩ có thể gọi mùa Thu chính là “mùa khơi kỷ niệm”.

Bởi vậy, trong một buổi sáng chớm thu đầy sương khói, trái tim cô gái trẻ - được người yêu tặng cho một nickname thật dễ thương “Bống” – bỗng rung lên bởi những kỷ niệm yêu thương mà lúc này dường như đã thành hư vô:

Bống run mình

bâng khuâng hư vô bóng khói

chớm thu

Nguyễn Lan Hương

Và chưa dứt được những kỷ niệm yêu thương, cô gái trẻ vẫn đang mê mải đi tìm người yêu, đi tìm mối tình – có thể là mối tình đầu đã từng rất đẹp – trong suốt mùa Thu khát, cũng như nỗi khát khao cháy bỏng của cô.

Giữa mùa thu khát

em mải tìm anh

một mối tình

Nguyễn Lan Hương

Cảm nhận hai phiến khúc haiku về mùa Thu của một haijin trẻ Hà Nội, tôi thầm chúc tác giả sẽ sớm tìm lại được “một nửa” của mình khi mùa Thu còn chưa tàn, để sẽ được sưởi ấm tâm hồn trong những ngày chớm Đông và cả một mùa Đông lạnh lẽo sắp tới.

LVT

Tiếp cận Thơ Haiku của Matsuo Basho từ triết mĩ thiền Nhật Bản- Ts Nguyễn Thị Mai Liên

alt

Tóm tắt

Tiếp cận văn hóa Nhật Bản nói chung và thơ haiku nói riêng từ mĩ học Thiền không phải là hướng tiếp cận mới. Nhà văn hóa học nổi tiếng Nhật Bản D.T. Suzuki đã phát hiện và phân tích mối quan hệ sâu sắc giữa Thiền và văn hóa Nhật Bản trong cuốn chuyên luận Thiền và văn hóa Nhật Bản xuất bản năm 1958 tại Tokyo. Kể từ đó, tiếp cận văn hóa Nhật Bản nói chung và thơ haiku nói riêng, đặc biệt là haiku cổ điển trong đó nổi bật là thơ haiku của M.Basho đã trở thành một xu hướng trên toàn thế giới, đến mức haiku gắn với Thiền như một quan niệm có tính “mặc định” đối với các học giả phương Tây và Mĩ. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ triết mĩ Thiền để chỉ những vấn đề có tính triết học của Thiền đã thâm nhập vào mĩ học rồi thẩm thấu tới toàn bộ văn hóa Nhật Bản. Từ triết mĩ Thiền, chúng tôi tiếp cận thơ haiku của M.Basho trên ba phương diện cơ bản, nổi bật: lí tưởng thẩm mĩ triết học, hình thức nghệ thuật và nghệ thuật cảm nghiệm mang tính Thiền.

Key words: Thơ haiku, Matsuo Basho, triết mĩ, Thiền

………………………………..

Haiku1 (俳句 hài cú) là một thể thơ độc đáo trong nền thi ca nhân loại. Haiku là cái tên được rút gọn từ cụm từ haikai no renga hokku, nghĩa là câu mở đầu bài liên ca hài hước. Thuở mới ra đời, haiku có nội dung hài hước, chỉ dùng để giải trí, nên được gọi là hài cú – câu thơ hài hước. Tuy nhiên, thi hào Nhật Bản Basho (松 尾 笆 焦 Tùng Vĩ Ba Tiêu, 1644-1694) – người sống cuộc đời như một thiền sư - đã thổi linh hồn Thiền tông vào thơ haiku khiến thể thơ này có ý nghĩa sâu thẳm. Nhờ đó, haiku được nâng lên vị trí lừng lẫy trên thi đàn thế giới vào thế kỉ XVII và trở thành một đạo của Nhật Bản: hài cú đạo. R.H. Blyth2, trong cuốn Japanese Life and Character in Senryu, đã đề cao thơ haiku đến mức coi đó là linh hồn Nhật Bản, và Basho, người có công đưa haiku lên đỉnh vinh quang là người sáng tạo ra linh hồn Nhật Bản. Ông viết: “Nước Nhật sinh ra cùng với Basho vào năm 1644. Ông chính là người sáng tạo ra linh hồn Nhật Bản” (R.H.Blyth 1960: 6). Chính vì vậy, cùng với các hướng tiếp cận khác như văn hóa học, thi pháp học… tiếp cận thơ haiku của Basho từ mĩ học Thiền là một hướng đi hứa hẹn giúp người đọc cảm nhận được Thiền vị đậm đà trong mỗi bài thơ haiku có dáng hình nhỏ bé, nhẹ nhàng như một làn hương. Người đầu tiên có công đưa ra hướng nghiên cứu thơ haiku trong mối quan hệ với Thiền cũng như dày công nghiên cứu về vấn đề này chính là Suzuki Teitaro Daizetsu với công trình Zen and Japanese Culture, Kyoto, 1958. Trong công trình của mình, Suzuki Teitaro Daizetsu cũng có nhắc đến hai người nước ngoài có công nhận ra rất sớm những ảnh hưởng của Thiền trong sinh hoạt tinh thần và tu dưỡng của người Nhật là Charles Elliot – người am hiểu thâm sâu về Phật giáo Nhật Bản và George Sansom, chuyên gia về lịch sử và văn hóa Nhật Bản. Tiếp theo, R. Blyth, nhà phê bình nghiên cứu người Anh, là một trong những người phương Tây đầu tiên có nhắc đến Thiền khi bàn về nền tảng mĩ học haiku trong 4 tập chuyên luận phê bình Haiku, xuất bản từ 1949, sau đó được Hokuseido Press xuất bản lại toàn bộ vào năm 1981 tại Tokyo. Stewart W.Holmes, Chimyo Horioka với Zen Art for Meditation, Tuttle Publishing, 1873 đã hệ thống hóa 15 nguyên tắc Thiền ảnh hưởng đến haiku… Từ những nghiên cứu đầu tiên này, có thể nói, trong lĩnh vực Nhật Bản học, đọc thơ haiku từ Thiền hầu như đã trở thành một xu hướng trên toàn thế giới, đến mức haiku gắn với Thiền như một quan niệm có tính “mặc định” đối với các học giả phương Tây và Mĩ. Theo một số nhà nghiên cứu, mĩ học Thiền ảnh hưởng đến haiku bao gồm ba hệ thống chính:

Mĩ học Phật giáo: Mĩ học Phật giáo bao gồm cái đẹp thực hành, cái đẹp chuyển hóa, cái đẹp thức tỉnh bản thể. Ba yếu tố này thực chất là ba mức độ tu tập (thức tỉnh ở đây đồng nghĩa với giác ngộ, chứng đạo), đồng thời cũng là ba khả năng cho phép sự nhận biết giá trị văn hóa Phật giáo trong mỗi bước di chuyển của nó về phía sáng tạo nghệ thuật.

Mĩ học Đông Á: mĩ học Thiền haiku có thể nói chịu ảnh hưởng cảm thức thẩm mĩ phương Đông, đặc biệt là truyền thống lí luận mĩ học và văn hóa Phật giáo Thiền tông, xuất phát từ Trung Hoa.

Mĩ học Thiền Nhật Bản: bao gồm các hệ thống cảm thức thẩm mĩ truyền thống Nhật Bản.

Nói chung, hương vị Thiền thấm đẫm thơ haiku. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ triết mĩ Thiền để chỉ những vấn đề có tính triết học của Thiền đã thâm nhập vào mĩ học rồi thẩm thấu vào văn hóa Nhật Bản. Từ triết mĩ Thiền, chúng tôi tiếp cận thơ haiku của Basho trên ba phương diện cơ bản, nổi bật: lí tưởng thẩm mĩ, hình thức nghệ thuật và nghệ thuật cảm nghiệm mang tính Thiền.

Lí tưởng thẩm mĩ Thiền trong haiku của Basho

Lí tưởng thẩm mĩ là tổng thể phương hướng cơ bản của đời sống về cái đẹp được đúc kết lại thành hình ảnh mẫu mực, cảm quan của sự hoàn thiện hoàn mĩ của con người, xã hội, thiên nhiên… Lí tưởng thẩm mĩ bộc lộ rõ rệt và tập trung nhất trong lĩnh vực nghệ thuật thông qua các phạm trù cơ bản như cái đẹp và cái trác tuyệt. Mỗi xã hội, mỗi thời đại, mỗi đất nước, mỗi lĩnh vực văn hóa… lại có những lí tưởng thẩm mĩ khác nhau nên sẽ có nhiều phạm trù thể hiện cái đẹp. Người Nhật với cảm nhận vô cùng tinh tế về cái đẹp đã sáng tạo nhiều phạm trù mĩ học khác để biểu đạt những dạng thức khác nhau hết sức tế vi của cái đẹp. Những phạm trù đó thấm đượm tinh thần của Thiền tông, được Basho thể hiện đặc sắc trong thơ.

Đà (侘び wabi), tịch (寂び sabi), u huyền (幽玄 yugen)... là những phạm trù mĩ học xuất hiện và chi phối văn hóa thời Kamakura (1192-1603). Kamakura là giai đoạn đầu của thời kì Trung đại ở Nhật Bản – giai đoạn nước Nhật chìm trong khói lửa của các cuộc nội chiến. Sau khi chiến thắng dòng Heike, Yoritomo trở thành tướng quân (shogun) thành lập chế độ Mạc phủ (幕府 bakufu) ở Kamakura năm 1192 (Mạc phủ là lều vải, nơi làm việc của tướng quân trên chiến trường). Thiên hoàng vẫn tại vị ở Kyoto nhưng không có thực quyền. Một đất nước hai chế độ chính trị, hai chính quyền kéo dài gần 7 thế kỉ. Ba cha con Yoritomo với danh hiệu tướng quân lần lượt cai trị đất nước. Năm 1333, Ashikaga cầm đầu một nhóm võ sĩ bất mãn đảo chính dẫn đến sự sụp đổ của tướng phủ ở Kamakura. Ashikaga trở thành tướng quân, lập nền mạc phủ thứ hai ở Kyoto và cai trị trong hai thế kỉ. Ashikaga cũng lập thiên hoàng mới là Komyo khiến thiên hoàng Godaigo lập triều đình mới ở núi Yoshino năm 1336. Từ đây Nhật Bản có hai thiên hoàng gọi là thời kì Nam - Bắc triều. Tình trạng này kéo dài đến 1392, chỉ còn triều đình ở Kyoto. Sau Nam - Bắc triều, Nhật Bản rơi vào tình trạng vô chính phủ. Nội chiến diễn ra giữa các lãnh chúa địa phương ở khắp nơi.

Khói lửa của những cuộc nối chiến liên miên kéo dài bốn thế kỉ đầu thời kì trung đại (1185-1603) xua đi cái thanh bình, êm ả của thời Heian. Đây cũng là thời kì Thiền tông du nhập vào Nhật và thẩm thấu vào mọi mặt đời sống. Văn học trung đại giai đoạn đầu vì thế tương phản sâu sắc với văn học Heian. Đó là “văn chương của tu sĩ và chiến sĩ”. Nếu văn học Heian tràn đầy vẻ đẹp dịu dàng nữ tính thì văn học trung đại thấm đẫm tinh thần võ sĩ đạo với chất anh hùng cao thượng. Điều này cũng dễ hiểu bởi từ thế kỉ XIII, trên văn đàn trung đại hầu như không có đỉnh cao nào thuộc về phái đẹp. Các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh chiếm vị trí chủ yếu trong đời sống văn học. Người ta gọi đó là quân kí (gunki) hoặc chiến kí (senki). Chẳng hạn Truyện Heike (Heike monogatari), Thái bình kí (Taiheiki)… Nếu ở thời Heian, văn học chú tâm miêu tả tâm lí đời thường phong phú của con người thì thời trung đại lại hướng tới thế giới tâm linh huyền bí sâu thẳm. Vì thế cái đẹp, theo quan niệm của văn học thời kì này là cái u huyền (yugen). Yugen là cảm xúc trước cái u ẩn và huyền diệu của thế giới. Nó không giống cảm thức aware của văn học thời kì trước. Aware là sự rung động sâu lắng trước vẻ đẹp dịu dàng của chính bản thân sự vật, nỗi buồn trước số phận chớp bóng vô thường của chúng. Còn yugen để tâm nhiều đến linh hồn sự vật, tức là cái ẩn giấu bên trong hình tướng sự vật. Sự xa hoa, trau chuốt gọt rũa trong văn văn học Heian được thay thế bằng sự dung dị, đơn giản của văn học thời nội chiến. Lí tưởng thẩm mĩ của văn học giai đoạn đầu trung đại này ngoài yugen còn có thể quy vào chữ wabi sabi. Wabi sabi thường được viết liền nhau với ý nghĩa: “Đó (wabi sabi) là một trải nghiệm về cái đẹp nằm ở sự chuyển tiếp thoáng qua giữa sự đến và đi của cuộc sống, cả niềm vui và nỗi buồn tạo nên đa số chúng ta. Wabi sabi là một lí tưởng thẩm mĩ và triết học thể hiện rõ nhất rằng triết lí Thiền đã nuôi dưỡng và hun đúc sự phát triển của nó trong hàng ngàn năm qua” (Andrew Juniper, 2003). Tuy nhiên, khi tách riêng, wabi có thể hiểu là sự đơn sơ, thanh tịnh, đạm bạc, chất phác mà nhờ đó ta có thể chạm vào cái cốt tuỷ của thực tại. Sabi là cái tịch liêu, hiu hắt, trống vắng.

Thơ haiku cổ điển nói chung và haiku của Basho nói riêng thể hiện rõ nét nhất những lí tưởng thẩm mĩ triết học này. Kenneth Yasuda đã khẳng định điều đó: “Đối với haiku, một hình thức thơ chính ở Nhật Bản, tôi thấy rằng nó có thể thâm nhập vào các nước khác, đem đến sự hiểu biết về bản chất, mĩ học và phần nào sức mạnh của nó, sức mạnh tương tự trong một số phương diện của nghệ thuật hội họa” (Kenneth Yasuda, tr 3).

Trước hết là vẻ đẹp giản dị (侘び wabi):

山路きてなにやらゆかしすみれ草

yamajikite naniyara yukashi sumiregusa (Basho, 1685)

Dọc theo đường núi / ngọt ngào và duyên dáng sao / đóa hoa tím nở

(Mai Liên dịch)

Cảnh vật trong bài thơ rất đơn sơ, thanh đạm: dọc theo con đường nhỏ ven núi, một bông hoa cỏ tím khiêm nhường nở. Hình ảnh chỉ có vậy thôi nhưng đã là tâm điểm thu hút sự chú ý của thi sĩ bởi theo quan niệm của người Nhật “chính sự giản phác trong hình ảnh sẽ làm nên vẻ đẹp tự nhiên cho bài thơ”. Quan niệm này được chuyển hóa vào trong các loại hình nghệ thuật truyền thống như hoa đạo, trào đạo, non bộ, bonsai, đình viên, haiku... Để trang trí trà thất, người ta chọn những bông hoa dại khiêm nhường lẻ loi cắm vào một bình nhỏ bởi người Nhật lí luận rằng: “Hoa phải được xem như đang mọc ngoài đồng”. Bông hoa cỏ dại màu tím nở trong bài thơ trên của Basho mang vẻ đẹp tự nhiên như vậy.

Còn khung cảnh trong bài thơ Basho viết năm 1865 sau đây mang vẻ đẹp vắng lặng, tịch liêu (寂び sabi):

春なれや名もなき山の薄霞 (Basho, 1865)

harunareya namonaki yamano usugasumi

Mùa xuân ở đây / một ngọn núi không tên / làn sương nhẹ

(Mai Liên dịch)

Bài thơ phác hoạ cảnh một ngọn núi vắng người lại qua, mùa xuân hiển hiện qua một làn sương nhẹ như chiếc khăn voan lơ lửng. Vẻ đẹp tỏa ra từ chính sự hoang sơ, hiu quạnh ấy.

Bài thơ về tiếng ve nổi tiếng của Basho diễn tả cái tịch tuyệt đối trong tâm chủ thể trữ tình. Với cái tâm hoàn toàn yên tĩnh, nhà thơ lắng nghe sáng suốt mối tương giao hòa hợp vô cùng bí ẩn của vạn vật. Basho sử dụng thủ pháp ẩn dụ dạng chuyển đổi cảm giác để diễn tả những vận động, tương tác vi diệu của vũ trụ:

Tịch liêu / thấm vào đá / tiếng ve

閑さや岩にしみ入る蝉の声

Shizukasaya iwani shimiiru seminokoe.

(Basho, 1689) (Nhật Chiêu dịch)

Bài thơ được sáng tác trong một lần Basho viếng thăm chùa Riusakuji. Yên tĩnh tuyệt đối. Đây là sự tịch lặng của không gian sơn tự hay là của không gian nội tâm tác giả - một nội tâm mà mọi xôn xao vọng động của dục vọng đã tắt, trở nên trong sáng như gương? Với cái “tâm vô tạp niệm” đó, nhà thơ đã sáng suốt nghe được mối tương giao bí ẩn của vạn vật trong vũ trụ. Trong yên ắng, tiếng ve chợt vang lên như xé toang cái tịch lặng. Thành ngữ tiếng Nhật semishigure ví tiếng ve (蝉の声seminokoe) như tiếng trời đổ mưa rào (時雨shigure) khiến nhà thơ nhận thấy có sự tương liên giữa âm thanh của dàn đồng ca mùa hạ với âm thanh của cơn mưa rào. Tiếng ve như mưa tuôn rơi làn nước lạnh thẩm thấu vào từng thớ đá. Giữa hai sự vật tưởng chừng như không có mối liên hệ: đá (岩- iwa) vật thể hữu hình, cứng, rắn, thô nháp và tiếng ve (蝉の声seminokoe), âm thanh vô hình trong cái nghe của Basho lại có mối tương tác kì diệu. Đấy cũng là đặc điểm của vạn vật trong vũ trụ. Chúng tồn tại trong một mối quan hệ mật thiết nhưng lại vô cùng bí ẩn, huyền nhiệm như thế. Rõ ràng, “bắt nguồn vững chắc trong tư tưởng Thiền, nghệ thuật wabi sabi sử dụng sự ngắn ngủi của cuộc sống để truyền đạt cảm giác về vẻ đẹp u buồn mà sự hiểu biết đó mang lại” (Andrew Juniper, 2003).

Bài thơ nổi tiếng của Basho về con quạ thể hiện rõ nét vẻ đẹp u huyền (幽玄 yugen) trong thơ haiku:

かれえだに烏のともりけり秋の暮 (Basho, 1680)

Kareedani karasuno tomarikeri akinokure

Cành khô / quạ đậu / chiều thu

(Lê Thị Bình dịch)

Trong bài thơ trên, Basho đơn thuần liệt kê ba sự vật thể hiện ba phương diện cần minh định trong một bài haiku là: địa điểm (cành khô 枯れ枝 - kareeda) - thời gian (chiều thu 秋の暮 - akino kure) - sự việc (quạ đậu 烏のとまりkarasuno tomari) để trả lời cho ba câu hỏi: Nơi nào? Khi nào? Vật/ việc gì? Việc liệt kê rồi đặt cạnh nhau ba sự vật, tạo nên một bức tranh tĩnh nhưng lại có hiệu ứng đầy ám ảnh. Màn sương xám bao trùm chiều thu; cánh quạ đậu cô liêu trên cành khô khẳng khiu, in trên nền trời. Điểm đáng chú ý của bài haiku là ở sự dừng lại (động từ tomaru) của cánh quạ trên cành, của thời gian (chiều thu) và cả của không gian (cành khô) ấy. Sự dừng lại “lớn lao” và “bao trùm” đã nhẹ nhàng đánh thức tâm trí đang vận động của dòng chảy bên trong con người, khiến thi nhân (và cả người đọc) phải “dừng lại”, để thoát khỏi những vọng động không ngừng mà cuộc sống bên ngoài đang tác động. Sự trải nghiệm khoảnh khắc tỉnh thức, đi vào bên trong chính mình, từ đó cũng được tạo ra nhờ hiệu ứng của những hình ảnh trong bài thơ. Thế giới bình lặng, tĩnh tại và như siêu việt trên vạn vật trong bài haiku ấy thật khác với nỗi niềm sầu bi của một tuổi già hiu quạnh, cô độc trong hai câu thơ của Nguyễn Khuyến:

Đời loạn đi về như hạc độc

Tuổi già hình bóng tựa mây côi.

(Cảm hứng - Nguyễn Khuyến)

Thơ haiku của Basho mang hơi thở của Thiền trước hết bởi nó luôn cố gắng vươn tới để chạm vào những tinh túy của Thiền, đó là những lí tưởng thẩm mĩ mang tính triết học hướng tới những giá trị cốt tủy của đời sống. Đó là cái hư không nhiệm màu cũng là chân như, Phật tính, bản lai diện mục vốn có trong mỗi con người. Từ đó dẫn đến những lí tưởng thẩm mĩ khác như cái đơn sơ, tịch liêu, u huyền... Đề cao những vẻ đẹp này, Thiền dẫn ta về chứng ngộ vẻ đẹp nguyên sơ vốn có trong ta.

Hình thức nghệ thuật Thiền trong thơ haiku của Basho

Điểm độc đáo gây ấn tượng đầu tiên của thơ haiku chính là hình dáng bé nhỏ, đơn sơ. Mỗi bài haiku chỉ có 17 âm tiết, thi thoảng mới có bài 19 âm. Với số lượng âm tiết như vậy, thơ haiku trở thành thể thơ mini nhất trong kho tàng thơ ca nhân loại. Tuy nhiên, hình thức này gợi ta liên tưởng tới những bài thi kệ của Phật giáo. Thi kệ là một loại thơ ngắn, xuất hiện ở cuối những câu chuyện ngụ ngôn có tính giáo huấn tín đồ của đạo Phật. Nội dung là những triết lí rút ra từ chính những câu chuyện ngụ ngôn được kể. Hình thức thi kệ ngắn gọn, đơn giản, không cầu kì. Đặc điểm này thể hiện quan điểm của Thiền tông đề cao vai trò của thực hành Thiền để đạt tới mục đích chứng ngộ Phật tính Chân như hơn là qua kinh sách giáo điều. Thực tế, ngôn từ có vai trò quan trọng trong việc biếu đạt ý tưởng, là công cụ chính để con người giao tiếp hàng ngày. Vì thế hầu như đã trở thành thói quen, con người luôn hình dung cuộc sống qua phương tiện ngôn từ. Tuy nhiên, lời nói chỉ là lời nói, không hẳn là thực tại sinh động. Quá lệ thuộc lời nói, ngôn từ sẽ trở thành tấm màn ngăn cách con người với thực tại mà bản chất vốn là sự im lặng thẳm sâu. Chính vì vậy, Thiền tông chủ trương “bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” (không lập văn tự, đạo truyền ngoài kinh điển). Bài thơ hàm súc của Basho phảng phất yếu tính của Thiền nói riêng, của các tôn giáo nói chung. Đây cũng là điều mà Trang Tử từng viết trong Nam Hoa Kinh: “Có lời, là vì ý; được ý, hãy quên lời. Ta tìm đâu được người biết quên lời, hầu cùng nhau đàm luận!” (Trang Tử 2001: 281).

Thiên nhiên bốn mùa là đề tài duy nhất của haiku cổ điển nói chung và haiku của Basho nói riêng, và được gọi là quý đề, tạo nên một không gian luân chuyển không ngừng – thể hiện tính chất vô thường (mujo 無常) của cuộc sống. Thời gian nghệ thuật được phản ánh trong thơ haiku thuộc về các mùa xuân, hạ, thu hay đông. Đặc trưng này thể hiện trong bài haiku ở chỗ một bài haiku bao giờ cũng có quý ngữ (季語kigo) - tức là từ chỉ mùa. Có loại quý ngữ trực tiếp là tên mùa, có loại quý ngữ gián tiếp là hình ảnh tiêu biểu cho mùa chẳng hạn: quý ngữ chỉ mùa xuân là anh đào, hoa mơ, hoa mận, hoa bìm bìm, liễu xanh, chim oanh, chim yến, chim hồng tước, chim chiền chiện, chim choi choi, con ếch, vết bùn, con bướm…; quý ngữ chỉ mùa hạ là hoa diên vĩ, chim quyên, ve sầu, mặt trời…; quý ngữ chỉ mùa thu là trăng, hoa hagi, hoa cúc, lá phong, dế, gió thu, sương, quạ, ngỗng hoang…; quý ngữ chỉ mùa đông là tuyết, cánh đồng hoang, thông, tùng…

Hơn nữa, hình ảnh được gọi tên trong thơ thuộc về khoảnh khắc thực tại chợt hiện ra trước mắt nhà thơ, không phải là hình ảnh quá khứ trong kí ức hay hình ảnh tương lai trong mộng tưởng. Nhà thơ không bộc lộ cảm xúc mà thuần tuý ghi lại khoảnh khắc hiện hữu “ở đây, ngay lúc này” của đời sống. Bài thơ: “Tôi buồn / khi thấy / con mèo chết” không phải haiku, bởi nhà thơ đã thổ lộ trực tiếp cảm xúc qua từ “buồn”. Bài thơ: “Con mèo chết / Cái miệng há ra /Trong cơn mưa đổ (M.McClintock) mới là haiku. Nói cách khác, công việc của haijin giống như công việc của nghệ sĩ nhiếp ảnh, cầm ống kính ghi lại hình ảnh của khoảnh khắc trước mắt đang vụt trôi. Đặc điểm này của thơ haiku thể hiện rõ sự chi phối của tinh thần Thiền. Thiền vốn coi giây phút thực tại là tài sản qúy giá nhất của mỗi con người. Bởi vì chúng ta không thể sống lại dù một phút của quá khứ, cũng chẳng sống trước dù một phút của tương lai. Thế nhưng chúng ta hay hoài niệm những chuyện đã qua hoặc mơ mộng về những chuyện chưa xảy đến và làm mất đi năng lượng và trí huệ ta có trong khoảnh khắc thực tại mà ta thực sự sống. Thế giới đổi thay trong chớp mắt. Vì thế nếu chúng ta xao lãng phút giây sống thực tại, có thể ta sẽ bỏ lỡ bao điều. Chỉ sau cú hắt hơi, thế giới đã đổi khác:

Tôi hắt hơi và mất bóng

Con chim chiền chiện

(Yayu – Thanh Châu dịch)

Thổ lộ cảm xúc trực tiếp của chủ thể trữ tình hòan toàn không có trong haiku. Các nhà nghiên cứu khác cũng đều nhất trí rằng: thơ haiku “là trữ tình nén sâu, tối giản, thoáng nhẹ, đạm trên nguyên tắc gợi, bút pháp của tượng trưng, siêu thực (Nguyễn Thị Thanh Xuân 2011). “Mỗi bài haiku là sự ghi nhanh trong vài từ khoảnh khắc bừng ngộ (satori), khoảnh khắc vụt sáng của Minh Triết cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc siêu việt thấu thị mọi vật (Harold Stewart 1973: 122). Rõ ràng, các nhà thơ haiku đã tinh giản cả cảm cảm xúc, sự tinh giản mà Tagore gọi là “sự tinh giản của tâm hồn”. Sự giản lược này mang đến cho haiku một vẻ đơn sơ lạ lùng, đến mức khiến nhiều người không nghĩ haiku là thơ.

Trong bài viết, Thời gian, không gian trong thơ Đường, Trần Đình Sử chỉ ra năm phạm trù thời gian là thời gian sinh mệnh cá thể, thời gian vũ trụ - tự nhiên, thời gian lịch sử, thời gian sinh hoạt, thời gian siêu nhiên trong thơ Đường. Dù đề cập nhiều dạng thời gian nhưng cảm thức bao trùm của các thi nhân đời Đường là sự sùng bái cái cao cả của thời gian vô tận vốn đã hoá thân vào không gian bất biến “trường không đạm đạm”, “thảo liên không”, “xuyên đồ vô hạn”,…

Đi đến chỗ nước tận,

Ngồi xem lúc mây trôi.

Ngẫu nhiên gặp ông cụ,

Nói cười chẳng muốn rời.

(Vương Duy - Chung Nam biệt nghiệp)

Đi đến chỗ nước tận, ngồi xem lúc mây trôi là biểu trưng của quá trình không gian hoá thời gian, từ không gian mà hoá nhập vào thời gian vô hạn (Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử 1997: 16). Cảm hứng này hoàn toàn khác với hứng thú của thi sĩ haiku vốn dành trọn vẹn hiện hữu cho khoảnh khắc thực tại của đời sống.

Trong thơ Đường, về cơ bản, “không gian vũ trụ bao trùm, lấn át không gian gia tộc, nhà cửa, quê hương, thân xác, trở thành phạm vi hầu như duy nhất và cuối cùng để con người cảm thụ nhân sinh”, không gian vũ trụ “biểu trưng cho tâm hồn con người”; “không gian thơ Đường là hào khí nhưng cũng là mối sầu của thơ Đường”. “Nhớ nhà là nhớ về nơi mây trắng (Địch Nhân Kiệt), nhìn trăng mà nhớ cố hương (Lí Bạch - Tĩnh dạ tư), nhìn khói sóng trên sông mà nhớ quê (Thôi Hiệu - Hoàng Hạc lâu), nhìn trăng mà nhớ người vợ tào khang (Đỗ Phủ - Nguyệt dạ)” (Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử 1997: 22, 24)… Không gian nghệ thuật trong thơ haiku hết sức phong phú, đa dạng ôm trùm vẻ đẹp của xứ sở Phù Tang tạo nên một đặc điểm nghệ thuật của haiku cổ điển là bao giờ cũng có quý đề (季題kidai - tức đề tài thiên nhiên qua bốn mùa). Tuy nhiên, các haijin cổ điển không miêu tả những hình ảnh vũ trụ hùng vĩ, tráng lệ như:

Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước

Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây.

(Lí Bạch - Vọng Lư Sơn bộc bố)

mà chú trọng vào những cảnh vật bình dị, đơn sơ, những con vật nhỏ bé, chẳng hạn ở biển là vỏ sò, vỏ ốc…; ở cánh đồng là chim choi choi, chim sẻ, chim chiền chiện, hồng tước, bướm, dế, đom đóm, chim quyên…, núi có  hoa mơ, mận, anh đào, hoa dại tím, hoa diên vĩ, cây tre..); sông có bùn, liễu, thuyền; hồ; bầu trời có vầng trăng, những vì sao, những đám mây; đường mòn trên cánh đồng, trên núi… Những địa danh trong thơ haiku cũng là địa danh của Nhật Bản như núi Haguro, Arashi, sông Sumida, Mogami, Kiyotaki, hồ Nio… không hề ước lệ mà luôn cụ thể về mặt địa danh. Tất nhiên, trong thơ Đường ngoài không gian vĩ mô cũng có không gian vi mô. Điểm nhìn của nhà thơ có thể đậu trên từng ngọn lá (Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu), từng cánh bướm, cánh chuồn (Bươm bướm ẩn hiện trong khóm hoa, Chuồn chuồn điểm nước bay thong thả - Đỗ Phủ, Khúc giang 2) nhưng tần số không nhiều, hơn nữa hình ảnh hiện lên trong thế đăng đối có phần ước lệ, sang trọng, không tự nhiên, hiện thực, gần gũi, đơn sơ như hình ảnh của thơ haiku.

Bên cạnh những hình ảnh thiên nhiên cũng có những cảnh vật mang dấu ấn của con người như lều cỏ, đền, chùa; kinh đô… Nhưng những công trình nhân tạo này cũng thường hoà quyện với thiên nhiên, trở thành một phần của thiên nhiên, xa lánh cõi tục luỵ:

Trên mái ngói đền Phúc Thần / Tôi thấy/ Mây hoa

観音の甍見やりつ花の雲

Kannon no iraka miyaritsu hananokumo (Basho, 1686 – Mai Liên dịch)

朝顔や昼は錠おろす門の垣ばせを

Asagaoya hiruwa jouorosu kadono kaki (Basho, 1693)

Hoa bìm bìm / bên bờ dậu / cổng khóa suốt ngày (Lê Thị Bình dịch)

Bài thơ này có ý giống một số bài có hình ảnh “cửa khép” của Vương Duy:

Nhàn môn tịch dĩ bế Cửa nhàn vắng đã đóng

Lạc nhật chiếu thu thảo Nắng chiều chiếu cỏ thu

(Vương Duy - Tặng Tổ tam vịnh)

nhưng hàm súc hơn. Nhà thơ haiku đơn thuần ghi lại sự tình, tuyệt không bộc lộ cảm xúc, thái độ.

Nghệ thuật cảm nghiệm mang tính Thiền

Thơ haiku “là trữ tình nén sâu, tối giản, thoáng nhẹ, đạm trên nguyên tắc gợi, bút pháp của tượng trưng, siêu thực” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2011). “Mỗi bài haiku là sự ghi nhanh trong vài từ khoảnh khắc bừng ngộ (satori), khoảnh khắc vụt sáng của Minh Triết cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc siêu việt thấu thị mọi vật” (Harold Stewart: 122). Sự giản lược này mang đến cho haiku một vẻ đơn sơ lạ lùng khiến nhiều người không nghĩ haiku là thơ, khiến haiku giống như “một cô gái giản dị, không nữ trang lấp lánh” nhưng lại tỏa sáng vẻ đẹp của nội tâm. Mỗi bài haiku thường được so sánh với một công án Thiền. Công án (koan) Thiền là một đề án mà thiền sư giao cho thiền sinh giác ngộ. Đó có khi là một từ, một câu nói, một hành động, cử chỉ... hàm ngôn ẩn ý của thiền sư. Thiền sư phải tập trung tinh lực của “3600 khớp xương, 84000 lỗ chân lông đúc thành khối đại nghi – tập trung cao độ” (D.T. Suzuki) - công phá vào công án Thiền và đốn ngộ trong khoảnh khắc.

Từ đây dẫn đến một cách cảm nghiệm haiku cũng như tác phẩm của nhiều ngành nghệ thuật khác đặc biệt là tranh thủy mặc là bằng trực giác – phương thức đốn ngộ của Thiền. Khẳng định điều này, Kenneth Yasuda viết: “Trực giác là tức thì, giống như sự nhận thức màu sắc là tức thì. Bản chất của nó là không-phán xét-tinh thần, không có tính chất lí trí, vô ngôn, không phê phán, mặc dù sau khoảnh khắc trực giác, người xem có thể tự lấp đầy bằng sự coi thường hoặc bằng sự ngợi ca… Tôi tán đồng với Croce, Deway, và các tư tưởng gia khác về những vấn đề mĩ học rằng bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào cũng có thể được thưởng thức qua hành động tiếp nhận tức thì mà không cần sự nỗ lực nhận thức hay suy đoán. Điều này cũng đúng với thơ ca... đặc biệt là thơ haiku” (Kenneth Yasuda: 4). Để cảm nghiệm thơ haiku, người đọc cũng cần tập trung tinh lực của toàn bộ cơ thể công phá vào bài thơ và thức nhận trong khoảnh khắc (đốn ngộ).

Cảm nghiệm thơ haiku cũng yêu cầu đồng sáng tạo. Nhà thơ haiku rất kiệm lời. Trong mỗi bài, nhà thơ chỉ cất lên khoảng trên dưới 10 tiếng, còn lại là khoảng không im lặng: khoảng không bên ngoài bài thơ, khoảng không giữa các hình ảnh trong bài, khoảng không từ những hình ảnh đầy tính tượng trưng. Đây là khoảng không nhà thơ dành cho độc giả đồng sáng tạo. Nên muốn lặn sâu vào lòng bài thơ, người đọc phải dùng kinh nghiệm, tưởng tượng để kết nối các hình ảnh trong bài. Khoảng trống này chính là sự thể hiện khái niệm hư không – một khái niệm của triết học Thiền chuyển hóa vào mĩ học. Hư không (間 ma) là một lí tưởng thẩm mĩ trung tâm của nghệ thuật Nhật Bản nói chung và thơ haiku nói riêng. Trong các loại hình nghệ thuật Nhật Bản như hội họa mặc hội, cắm hoa, vườn cảnh, kịch Noh, kịch Kabuki… các nghệ sĩ luôn đi tìm và cố gắng biểu đạt cái đẹp trong những khoảng hư không. Trong bài viết này, chúng tôi dùng thuật ngữ hư không thay cho chân không vẫn được dùng trong nhiều tài liệu bởi lí do, chân không là thuật ngữ vật lí dùng để chỉ khoảng không trống rỗng tuyệt đối như khoảng chân không trong bóng đèn sợi tóc, còn hư không (虚 空) là thuật ngữ của Thiền tông, chỉ cảnh giới tịch lặng trong tâm hành giả lúc nhập định, một cái tâm trong sáng, không tạp niệm, do đó có khả năng tri kiến sáng suốt. Trong triết học Thiền, “không” (空) và “vô” (無) là các khái niệm rất gần nghĩa với nhau. Cả hai phạm trù này đều hướng đến cảnh giới của cái tâm rộng mở, “vô ý”, vượt qua mọi trở ngại để đạt đến sự tự do; cảnh giới mà con người có thể tương thông với mọi sự vật, hiện tượng trong thể tính nguyên sơ. Những khái niệm này đều được các thiền sư nổi tiếng trong lịch sử tư tưởng, triết học Nhật Bản vận dụng trong các sáng tác của mình, tiêu biểu như thiền sư Dogen (道元), Saigyo (西行) và Myoe (明恵)… và sau này, Yasunari Kawabata - nhà văn Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel văn học năm 1968, cũng đã thể nghiệm rất thành công trong sáng tác của mình. Những khái niệm này, như Kawabata đã nói, nội hàm ý nghĩa nó không giống như “chủ nghĩa hư vô” (nihilism) của phương Tây mà phải hiểu nó chính là tinh thần “chân không diệu hữu”, “không có” nhưng lại dung chứa cả vũ trụ nhiệm màu, ôm trọn trong lòng những thứ mà mắt thường không nhìn thấy, và tiềm tàng khả năng thâu nhận sáng suốt. Theo thiền sư D.T. Suzuki thì “về ý nghĩa cuối cùng, Triết học của các thiền sư là muốn đạt đến “không” (空) hoặc “niết bàn” (涅槃) trong Phật pháp” (D.T. Suzuki, 2013). Từ đó, khái niệm hư không đã thâm nhập vào nhiều loại hình nghệ thuật Nhật Bản như hoa đạo, vườn cảnh, tranh mặc hội sumie và thơ haiku… Chính những khoảng trống trong bài thơ là vẻ đẹp ẩn mật của haiku. Những khoảng hư không hoàn toàn không phải trống rỗng tuyệt đối, không có nội dung gì mà ngược lại tiềm tàng rất nhiều ý nghĩa mà người đọc, với kinh nghiệm, tưởng tượng, tri kiến khác nhau sẽ có những cảm nghiệm khác nhau từ những khoảng hư không đó.

Hư không hiện diện cả bên ngoài, bên trong bài thơ và ngay trong chính hình ảnh cấu tứ của bài thơ. Thứ nhất, hư không là khoảng trống cực đại bên ngoài bài thơ. Mỗi bài haiku chỉ gói gọn trong 17, thi thoảng có bài 19 âm tiết phân bố thành ba dòng 5-7-5 (5-9-5). Ngôn từ cực tiểu đã tạo ra khoảng trống tối đa bên ngoài bài thơ:

一家に遊女もねたり萩と月

Hitotsuieni yuujomo netari hagito tsuki (Basho, 1689)

Du nữ / ngủ cùng quán trọ / Hoa hagi và trăng (Lê Thị Bình dịch)

Bài thơ về các du nữ chỉ có 17 âm tiết, tương đương với khoảng 10 từ nên nhà thơ chỉ có thể phác hoạ hay gọi tên một cách khách quan một hay một vài hình ảnh hoặc âm thanh (quán trọ 家- ie, du nữ 遊女- yuujo, trăng月- tsuki, hoa hagi萩) mà không thể diễn giải, lí luận dông dài hay biểu cảm.

Thứ hai, hư không là khoảng trống ngay giữa các hình ảnh, từ ngữ trong bài. Nhà thơ sáng tác haiku giống như là nhẹ thả những hình ảnh, âm thanh giữa hư không trong suốt, rồi để chúng tự bồng bềnh trôi. Điều này khiến ngay chính giữa các hình ảnh, từ ngữ trong bài cũng có khoảng trống. Người đọc phải dùng kinh nghiệm, kiến thức, tưởng tượng để kết nối chúng lại. Trong bài thơ trên, bằng kinh nghiệm, chúng ta biết du nữ là những người bị coi là đã “lặn ngụp dưới đáy sâu cuộc đời”, trăng và hoa hagi tượng trưng cho sự thanh tao, cao quý. Ấy vậy mà chúng lại được đặt cạnh nhau, tồn tại bên nhau một cách bình đẳng. Bằng thủ pháp liệt kê, Basho đã trân trọng nâng các cô du nữ vốn bị người đời khinh rẻ lên địa vị tôn quý cùng với trăng, sao, hoa, cỏ. Khi ngủ, họ trở về với Phật tính an lạc, hòa làm một với trăng sao, hoa lá thanh tao. Vạn vật đều đóng vai trò là yếu tính của vũ trụ. Mọi sự phân biệt cao thượng hay thấp hèn, thiện hay ác, phải hay trái đều chỉ tồn tại trong duy kiến của chúng ta. Bài thơ khẳng định tính chất vô sai biệt của vạn vật trong vũ trụ như tinh thần vô sai biệt trong bài thơ ngắn của R.Tagore:

Trong sân chầu vũ trụ,

Chiếc lá cỏ bình thường

Cũng ngồi chung một thảm

Với ánh mặt trời và sao sáng trong đêm.

(R.Tagore)

Thứ ba, hư không là vẻ đẹp của những vòng sóng ý nghĩa vô hình vô cùng phong phú lan tỏa từ hình ảnh đầy ắp tính tượng trưng. Trong bài thơ về du nữ của Basho, danh từ cũng chiếm số lượng chủ yếu; trạng từ, động từ, tính từ bị hạn chế tối đa, đúng như tinh thần mà một haijin đời sau chủ trương: “Cần hết sức cắt bỏ các trạng từ và động từ” (M.Shiki 1867-1902). Điều này khiến những hình ảnh, âm thanh trở nên khái quát, đa nghĩa, giàu tính tượng trưng hơn là cụ thể, đơn nghĩa, trực tiếp. Phần còn lại là khoảng trống dành cho sự chủ động tưởng tượng, đồng sáng tạo của độc giả. Khoảng hư không là nơi gợi lên biết bao điều thú vị. Nhận xét về đặc điểm ngắn gọn của haiku, nhà phê bình người Pháp R. Barthes đã viết: “Sự ngắn gọn của haiku không phải là vấn đề hình thức. Haiku không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn mà là một sự tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình” (Nhật Chiêu 1994: 54). Ý kiến trên đúng ở chỗ trong thơ haiku, một “sự tình vắn tắt” thực sự đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình. Tuy nhiên cũng cần thấy rằng bản thân “sự tình vắn tắt” ấy lại hàm ẩn một “tư tưởng phong phú”, một ý tứ sâu xa rộng mở chứ không giới hạn chỉ ở sự tình ấy nên haiku vẫn là “một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn”. R. Tagore đã nhận xét tinh tế về đặc điểm này của thơ haiku: “Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước tránh sang bên… Lí do khiến nhà thơ rút lui nhanh chóng thế vì người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2011). Rõ ràng các nhà thơ haiku đã tinh giản cả cảm xúc, sự tinh giản mà Tagore gọi là “sự tinh giản của tâm hồn”. Sự giản lược này mang đến cho haiku một vẻ đơn sơ lạ lùng khiến nhiều người không nghĩ haiku là thơ.

Không chỉ có một ngoại hình giống như một thi kệ Phật giáo, một công án Thiền, thơ haiku của Basho còn mang tâm hồn rất Thiền. Bởi từ mỗi bài haiku tỏa ánh sáng lấp lánh của vẻ đẹp từ những lí tưởng thẩm mĩ đậm chất Thiền: sự tich liêu, đơn sơn, u huyền; từ nghệ thuật tái hiện sự vật trong khoảnh khắc thực tại và trong dòng chảy vô tận của thời gian, trong sự hòa hợp với vũ trụ; từ nghệ thuật cảm nghiệm đồng sáng tạo từ những khoảng hư không trong thơ đến sự trực nhận mang tính đốn ngộ. Không nghi ngờ gì nữa, Thiền giống như một thần chú: “Vừng ơi, mở ra”, khai môn thế giới haiku, giúp độc giả có thể thâm nhập vào một vùng không gian kì diệu được phong kín tưởng chừng bất khả xâm phạm.

Tài liệu tham khảo

R.H.Blyth (1960), Japanese Life and Character in Senryu, Hokuseido, Tokyo.

Nhật Chiêu (1994), Bashô và thơ haiku, Văn học, Trường ĐHTH Thành phố HCM.

Nhật Chiêu, “Thế giới thơ haiku, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 1.

Nhật Chiêu, “Tìm hiểu thơ haiku Nhật Bản”, Tạp chí Sông Hương, 7/5/2012.

Nguyễn Thị Bích Hải, “Những nét tương đồng và dị biệt của ba thể thơ tuyệt cú, haiku và lục bát”, https://phebinhvanhoc.com.vn, 21/09/2013 - 04:33.

Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (1997), Về thi pháp thơ Đường, NXB Đà Nẵng.

D.T. Suzuki (2013), Thiền và văn hóa Nhật Bản. Công ti sách Thời đại và NXB Hồng Đức.

Trang Tử (2001), Nam Hoa Kinh, Nhượng Tống dịch, NXB Văn học, H.

Andrew Juniper, 2003, Wabi sabi – the Japanese Art of Impermanence, Tuttle Publishing.

Suzuki Setsuko: 英語で話す日本の心 / Keys to the Japanese Heart and Soul, Kodansha International Ltd, 1996, Hoàng Long dịch.

Nhật Chiêu- Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868, Gíao dục, tr 6

S.Kato - Lịch sử văn học Nhật Bản, tập 1, chương 3, Tài liệu tham khảo Viện Văn học, Trần Hải Yến dịch, trang 137

Kenneth Yasuda, The Japanese Haiku Its Essential Nature, History, and Possibilities in English, Charles E.Tuttle Company; Tokyo, Japan, p 3

Nguyễn Thị Thanh Xuân, Thơ haiku và lục bát, đôi điều ghi nhận, Kỷ yếu hội thảo Văn học Nhật Bản và Việt Nam trong bối cảnh Đông Á, 2011, ĐHKH XH & NV, ĐHQG TPHCM.

Harold Stewart, A Net of Fireflies Japanese Haiku and Haiku Paintings, Charles E.Tuttle Company; Tokyo, Japan, p 122.

NTML

Tình yêu vị tha - Lâm Long Hồ

alt

Trong lồng

không có chim

vẫn nghe tiếng hót

(Si Tâm)

Người ta nhốt chim lại cũng chỉ vì yêu chim thôi. Nhưng đó là tình yêu vị kỷ. Đôi cánh tự do đó có hạnh phúc không khi được nâng niu và nuôi dưỡng trong một chiếc lồng. Hạnh phúc của ta lấy nguồn từ niềm vui của ta hay từ niềm vui của kẻ khác. Tình yêu nào mới thực sự là yêu.

Trong thời đại ngày nay, con người sống thiên về vật chất nhiều. Cho nên chúng ta thường nghĩ cho mình hơn là nghĩ cho người khác. Lấy định kiến bản thân để áp đặt cho người khác. Nghĩ rằng việc ta làm sẽ mang lại điều tốt đẹp cho người khác mà ít khi đứng về phía tha nhân để suy tư. Vì yêu tiếng hót mà nhốt cả một sinh linh, tước đoạt quyền tự do của sinh linh ấy.

Haijin Si Tâm đã chọn cách mở lồng, buông tay, không níu kéo. “Trong lồng/ không có chim/ vẫn nghe tiếng hót”. Khúc haiku tự nhiên và thanh thản, tràn ngập niềm vui và năng lượng tích cực. Đó mới là chân ái, lấy hạnh phúc của người làm hạnh phúc của mình. Nếu cứ giữ lại tiếng hót ấy trong lồng thì người hạnh phúc chỉ có ta và ta hạnh phúc bằng sự khổ đau của kẻ khác. Thả chim đi, đối với người yêu chim chẳng dễ dàng gì. Hơn nữa trong thành kiến của chúng ta chiếc lồng và nâng niu ấy cũng đâu phải ngục tù hay đọa đày.

Khúc haiku ấy đã chỉ ra cách để chúng ta yêu thương và cách để chúng ta hạnh phúc.

LLH

Âm nhạc của mùi hương- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Canh khuya

tấu khúc vô thường

quỳnh hương vương vấn

(Song Khê - Đặng Kim Thanh)

Đây là bài haiku mang đầy cung điệu. Cảm xúc trong phiến khúc này là dòng dư ba, xao động, bâng khuâng, sầu cô, và thanh vắng lạ. Nhà thơ đã nghe được thứ âm thanh trầm bổng, xiêu lạc của đất trời trên cây đàn muôn điệu ấy. Nào tiết tấu cỏ hoa, nào hổn mang tạp khúc, điệu côn trùng rền rỉ như xé rách màn đêm...

Âm nhạc lúc xao động, lúc gần, lúc xa.

Lặng lẽ.

Buồn ...

Ai đã tấu lên khúc bi ai đó?

Đất trời, sinh vật?

Dù ai, thì đây cũng là khúc bi ca vô thường. Như có như không...

Thoảng trong gió mùi quỳnh hương, đóa bạc mệnh đã nở nhụy, khai hoa. Người thưởng thức nghe tiếng lòng mình vương vấn. Dường như tiếc nuối cho phận hoa, và tiếc nuối cho mình...

Nhà thơ Song Khê, trong lần chắp bút này đã khai triển nhạc tính của thơ lên cao độ, cho nó tràn mọi thính giác của ngũ quan. Nghĩa là tai cũng có thể thấy được, mắt cũng có thể nghe được. Âm nhạc đã chiêu cảm nghìn sợi nơ-ron trong cơ thể nhân vật trữ tình, cô đơn và trống trải, xoáy sâu và tỏa ra ở câu cuối...

Đó chỉ có thể là âm nhạc của mùi hương...

N.T.N

Haiku song tấu- Đào Thị Hồ Phương

Tính Thiền đậm chất sabi, wabi nhưng cũng tràn đầy tình yêu thiên nhiên là những đặt trưng vốn có của Haiku ở khởi nguồn là Nhật Bản. Và cái “chất” ấy là một dòng chảy trongm mát ấy đang thẩm thấu đến những vùng đất mới, những mạch đất mới và “bám rễ “ ở đó, trong đó có Việt Nam.

alt

Đúng như quy luật hấp dẫn “ đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, Haiku Nhật Bản đến Việt Nam đã làm phong phú thêm truyền thống thơ ca của Việt Nam, đặc biệt là sự kết hợp, gần gũi kỳ lạ giữa Haiku và thể thơ Lục bát.Có thể nói Haiku và Lục bát chính là hai khúc song tấu thể hiện rõ bản sắc văn hóa đặc trưng của Nhật Bản và Việt Nam. Tuy nhiên, khi chúng kết hợp cùng nhau thì vẫn có thể tạo nên một bản “song tấu” đặc biệt đầy chất nhạc, thơ. Ví dụ một hình ảnh quen thuộc trong câu ca dao của người Việt là hoa sen:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng”

Biểu tượng hoa sen cũng xuất hiện trong rất nhiều bài thơ truyền thống Tanka và Haiku của Nhật Bản:

蓮の香に目をかよはすや面の鼻 (Basho)

Hasu no kaori/ me wo kayohasu ya/ men no hana

The scent of lotus flowers
Is taken through the nose hole of
The mask to the eyes!
(translated by TOSHIHARU OSEKO)

Hương sen

Chui vào lỗ mũi

Xông lên tận mắt

Hai bản song tấu Haiku- Lục Bát như thế này cũng như tiếng ve “ thấm vào đá” của Basho hay tiếng ve “rụt rè” của Đinh Nhất Hạnh đều là những cung bậc về tình yêu thiên nhiên nên đã cộng cảm sâu sắc.

閑さや岩にしみ入る蝉の声

Sabishi ya/ iwa ni shimiireru/ semi no koe

Tịch liêu
thấu xuyên vào đá
tiếng ve.

(Basho )

Một tiếng ve

rụt rè

mở hạ

(Đinh Nhật Hạnh)

蝉の一声 おもしろて 夏を開く

Haiku của Nhật Bản và Thơ Lục Bát của Việt Nam với những điểm tương đồng sẽ chắc chắn dễ gần nhau hơn và sẽ tương chiếu cùng nhau để tạo thêm những sắc màu mới, cung bậc cảm xúc với trên sân chơi thơ ca. Sự kết hợp Haiku- Lục Bát cũng chính là con đường mà câu lạc bộ Haiku Việt chúng tôi đã và đang hướng tới.

ĐTHP

Nụ cười viên mãn- Lê Đăng Hoan

alt

Kính mến tặng chị Đỗ Tuyết Loan

alt

Chúng tôi đến, chị nằm yên. Tất cả sinh hoạt phải nhờ đến người giúp việc. Ăn bằng ống xông, tay buộc nhẹ vào thành giường tránh cử động cào xước mặt mũi!! Chúng tôi cố hỏi mỗi người một câu xem chị có biết ai không, nhưng chị chỉ mấp máy môi, không biểu lộ cảm xúc nào!

Nhìn chị, ai có thể tưởng tượng cách đây không lâu, chị vẫn cười nói, vẫn cùng chúng tôi vào tận khu Hoàng cung Cố Đô Huế!

Chị rất hay cười, nụ cười hiền hậu có đôi lúm đồng tiền sâu cân đối trên má, dễ nhớ dễ mến trên gương mặt rất Thái Bình- phúc hậu, cởi mở chịu thương chịu khó!

Một phụ nữ tự tin, tự mình xây dựng sự nghiệp. Nghề làm cô giáo đã hun đúc cho chị đức tính mô phạm cởi mở và nhất là tự tin vào bản thân. Chồng mất sớm, một mình nuôi ba con trai và chăm sóc cha mẹ, mẹ chị sau nhiều năm nằm liệt giường, nhận sự chăm sóc tận tình của chị vừa qua đời cách đây 3 năm. Chị đã vượt qua tất cả vất vả của đời người. Thế mà chị luôn tự tin, về hưu, chị tham gia nhiều CLB thơ, nhưng trong đó CLB thơ Hai-ku đưa đến cho chị nhiều niềm vui và nhiều đóng góp nhất.

alt

Tập thơ “ Bên cầu giặt lụa” là tập thơ đầu tiên và có lẽ cũng là tập thơ cuối cùng của chị. Chỉ một tập thơ để lại cho đời, nhưng đó là “ “những lát cắt sắc sảo mà đằm thắm, thầm thì mơ màng, minh họa bước đường đời đã qua, đang đi của chị..”. Đó là tập thơ “thấm đậm tiếng lòng” là tâm sự của chị về cuộc sống, quê hương, tình yêu thương gia đình, nhưng “ đau đáu nhất là nỗi lòng một người đàn bà đẹp đơn chiếc còn xuân sắc ngời ngời, tràn trề nỗi yêu đời, vẫn thao thức vì giấc mơ trần thế khi trăng lên hoa nở…” (Đỗ Kim Ngân).

Chị làm thơ từ hồi còn đi dạy học, nhưng đến khi bắt đầu tiếp cận với thơ Hai-ku từ người bạn tri kỉ của mình, chị mới thật toả sáng và cống hiến cho thơ!

Riêng bài thơ:

“Tôi đứng ngoài tôi

Nhìn tôi

Viên mãn”

có thể xem là một tuyệt tác của chị và một hạt ngọc trong thơ Hai ku Việt!

Trước đây tôi cảm phục và nói với chị “sao chị có thể có bài thơ Hai-kư tuyệt vời đến thế?”, chị chỉ cười.

Hôm nay sau khi đến thăm chị về đọc lại tôi cảm động đến trào nước mắt! Một hồn thơ như vậy, sao tạo hóa lại có thể lấy đi một trí tuệ, một tâm hồn trong suốt nhanh đến thế!

Bài thơ sáng tác năm 2014, lúc chị không còn trẻ, lúc trên khuôn mặt đã in vết thời gian, lưng đã không còn bước thẳng như ngày xuân, duy chỉ có nụ cười tươi và lan toả tình đồng cảm sự hoà đồng là vẫn như xưa..

“Tôi nhìn tôi

Viên mãn”!

Phải có một sự tự tin, pha chút tự hào về cơ thể và tri thức, phải có một cách nhìn yêu quí bản thân thoả mãn với cuộc đời đã qua để vứt bỏ mọi lo âu, nỗi vất vả mà có khi còn là nỗi đau, vứt bỏ mọi sân si thù hận thì mới có thể " viên mãn" với chính mình.

Rất rất nhiều người cho đến cuối cuộc đời, nhìn lại vẫn chưa hiểu hết mình là ai!

Trong nhà, ta đã thực sự là người cha người mẹ người con đúng nghĩa hay chưa?

Với bạn bè, hay người gặp ta dù chỉ một lần, ta đã thể hiện đúng là ta hay chưa! Hay gặp mỗi người, cách nói cách hành xử khác nhau, có khi ta bỏ cả ta, ăn nói và hành động như một người khác ta!

Một người đứng trước vách đá mà hét lớn: " Ta là ai!" Từ vách đá cũng chỉ vọng lại:" Ai! Ai! Ai..." mà không có câu trả lời.

Đó là cách trả lời của một nhà thơ nổi tiếng khi tôi ca ngợi ông là người nổi tiếng thế giới.

Ta chỉ hiểu ta khi ta đứng " ngoài ta", hay khi ta nhìn vào gương nhìn ta thật tỷ mỉ, nghiêm khắc.

Những phụ nữ xinh đẹp, nhìn gương tự cho mình đẹp để thoả mãn với cái bề ngoài tưởng như hoàn mỹ của mình, nhưng người phụ nữ đã luống tuổi khi nhìn mình trong gương phải thật tự tin, tự tin vào trí tuệ vào những gì mình đang có, không hổ thẹn về phẩm hạnh, đạo đức và tự hào về những gì mình làm được trong đời mới thấy thật sự " viên mãn".

Tôi cứ tưởng tượng khi làm bài thơ này, chị Loan nở nụ cười rạng rỡ, như nụ cười của chị mỗi lúc tôi nhìn thấy!

Ai đã gặp chị Loan đều cảm nhận được nụ cười ấy của chị!

Thật đẹp và "viên mãn"!

Chị Loan thân mến!

Hôm nay đến thăm chị, không thể đừng được, tôi vội vàng viết về chị qua bài thơ ngắn mà ý nghĩa sâu lắng chi để lại cho đời!

Cuộc đời thật khó lường!

Mong chị luôn viên mãn trong mọi tình huống mà cuộc đời dành cho chị!

Một ngày Hà Nội nắng nóng 39 độ

LĐH

Nỗi khổ niềm đau- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Wind blowing rain / rain hitting face / the homeless curling up on pavement

Gió quất mưa

Mưa quất mặt

Co quắp vỉa hè

(Phương Anh)

Vô tình đọc bài haiku của Phương Anh, tôi rùng mình tưởng tượng: một trận đòn quất vào người nào đó... Thật xót xa, bởi sự nghiệt ngả đổ xuống một sinh linh, mà tự thấy mình cũng đau xót khắp mình mẩy...

Khi nhìn lại thì thấy "gió quất mưa", chỉ với ba âm tiết mà rào rạt, mà quật đổ cây cối tứ tung, quang cảnh của trận bão càn quét một vùng nào đó vô cùng dữ dội...

Không những thế, còn "mưa quất mặt". Thế là, xuất hiện một con người! Phương Anh dùng cảm thức bi cảm, (Aware) để diễn tả sự hiện diện của nhân vật ẩn trong thơ. Điệp từ "quất" dội vào từ "mặt" là cách cấu tứ giác quan, nó hằn lên trong trí người đọc một cảnh tượng ghê gớm của cơn bão trần gian.

Và cuối cùng, cơn bão để lại một hình hài hiện ra trong thơ Phương Anh:"co quắp vỉa hè"!...

Với thủ pháp tượng trưng, đẩy bật sự "co quắp" lên, thổi hồn vào thơ, bật ra câu thơ hay xa xót, đẫm lệ...

Vâng, câu thơ hay, chỉ bốn từ mà đồng vọng, mà xốn xang cả bài thơ. Có thể nói thi pháp Hàn Mặc Tử nhập vào đây chăng, mà sao nghe cả cơn đau của kiếp người trầm luân đến thế?! Một đứa trẻ, một lão ăn mày, một người khốn khổ nào đó trên vỉa hè nhân thế, đơn lạnh, đói khát, đầy thương tích thể xác và tâm hồn. Người ấy không kêu rêu, nhưng thơ kêu rêu, thơ gởi một thông điệp cho những người đang sống thời hiện đại trong nỗi khổ niềm đau:"tiền nhiều để làm gì?"...

Thế đấy, bài thơ như cơn bão, ám ảnh, mãi mãi ám ảnh cho những ai có lòng bi cảm về thế giới vô thường đầy nước mắt...

Tôi cho đây là một bài thơ hay, đạt về cách kiệm lời, đạt về cách gợi, đạt về khoảng không trong thơ haiku một cách tuyệt diệu...

Sài Gòn mùa hạ 2020

N.T.N

Bông lúa đời người- Lê Văn Truyền

alt

Bông lúa

ngẩng mặt lúc còn xanh

cúi đầu khi đã chín

Lưu Đức Hải

Nói đến tuổi trẻ là nói đến nhiệt huyết, lòng tự tin. Tự tin là một tố chất quan trọng của người trẻ, khi thể chất đang cường tráng, trí tuệ đang phát triển, các nơron thần kinh đang hoạt động hết công suất … Người trẻ tuổi cũng giống như một bông lúa lúc còn xanh, luôn luôn “ngẩng mặt” lên trời cao để đón năng lượng từ ánh nắng, hấp thu dưỡng chất từ khí trời, thậm chí nguồn oxid nitơ từ sấm sét của cơn giông, để làm đòng và ngậm sữa … Nhưng ít ai biết được có một ranh giới rất mong manh giữa lòng tự tin và thói kiêu căng.

Theo thời gian, tuổi tác và trải nghiệm đường đời, những người trưởng thành sẽ thấy ngoài sự tự tin, ta còn cần đức khiêm tốn: Biết kính trên nhường dưới, không tự mãn về những gì mình có, không kiêu ngạo về những gì mình làm, luôn cẩn thận giữ gìn những giá trị mình nhận được. Bởi vì họ biết rằng những gì mình đã làm được chỉ là một phần nhỏ bé trong cuộc đời và luôn ý thức được rằng cuộc sống hết sức bao la, rộng lớn cũng như “biển học vô bờ”. Một người trưởng thành và từng trải cũng giống như bông lúa lúc chín vàng “đã biết cúi đầu” vì sức nặng của những hạt lúa sau khi đã tích lũy được tinh túy của Đất Trời để trở thành hạt ngọc thực quý giá nuôi sống con người. Dân gian đã tổng kết rất đúng đặc điểm của người trẻ và những người từng trải: “Khôn không đến trẻ, khỏe không đến già”. Các bậc trưởng lão không có sức mạnh của tuổi trẻ, nhưng đổi lại họ có sức mạnh của tri thức và kinh nghiệm sống. Phiến khúc haikư của haijin Lưu Đức Hải đã lấy hình tượng của một bông lúa trong chu kỳ sinh trưởng của nó để biểu đạt hình ảnh của con người từ thời thanh niên xốc nổi cho đến khi trở thành một bậc trưởng lão khiêm nhường. “Ý tại ngôn ngoại” của thơ là thế đấy, và với haikư cũng không có biệt lệ.

Nói về sự khiêm tốn, trong lịch sử Việt Nam, vua Tự Đức triều Nguyễn đã để lại cho đời một tấm gương lớn. Tại Khiêm Lăng, nơi nhà vua yên nghỉ có tấm bia đá nặng 20 tấn, được coi là tấm bia lớn nhất ở Việt Nam, khắc bài văn bia “Khiêm Cung Ký” do đích thân nhà vua soạn thảo gồm 4.935 chữ, là một bản tự thuật của nhà vua về cuộc đời và vương nghiệp. Khác với các bậc đế vương thường khẳng định sự nghiệp và công trạng hiển hách của mình trong tấm bia “Thánh đức thần công” tại các lăng mộ, trong bi ký của mình Nhà vua đã tự nhận tội: “Không sáng suốt trong việc biết người, ấy là tội của ta; dùng người không đúng chỗ, cũng là tội của ta; hàng trăm việc không làm được, đều là tội của ta cả...”. Với “Khiêm cung ký” Vua Tự Đức đã nhường lại cho sử sách đời sau đánh giá công, tội của mình.

Người xưa thường ví đức khiêm tốn với phẩm chất của nước: “Làm người phải giống như nước, luôn mang trong mình phẩm chất khiêm tốn”. Thế nhưng “Thiên hạ không có gì mềm mại bằng nước, mà cũng không sức công phá nào mạnh hơn được nước”. Người xưa cũng từng nói “Kim dĩ cương chiết, thủy dĩ nhu toàn” có ý rằng kim loại vì cứng mà gãy, nước nhờ mềm mại mà vẹn toàn. Đức khiêm tốn cũng chính là đức tính mềm mại của những bậc đại trí vậy.

LVT

Lá vàng rơi nghiêng- Lê Đăng Hoan

alt

Tôi nhớ trong tập thơ "Nheo mắt nhìn thế giới" của nhà thơ Bằng Việt, có bài thơ “Ngô đồng”, trong đó anh trích mấy câu:

"Một lá ngô đồng rụng

Cả thiên hạ hay thu"…

Mùa thu bắt đầu từ lá cây ngô đồng! Chỉ cần một lá rụng, cả thiên hạ đã cảm nhận được mùa thu.

Mùa thu ở các nước ôn đới đẹp lắm.

Người ta nói " mùa thu là mùa đọc sách" vi nó êm đềm, nó thoang thoảng hương hoa, vàng vàng cây trĩu quả và ngan ngát vị ngọt của tình yêu.

Việt Nam ta không có hay ít khi, ít nơi có dấu ấn của " mùa thu vàng", cho nên, ta càng quý, càng mong, càng khao khát được chiêm ngưỡng lá vàng rơi, và khi đã được một lần dù vô tình hay cố ý thì nó gây ấn tượng như một cuộc gặp kỳ ngộ, khó phai, khó quên đeo đẳng cho đến già.

"Lá vàng rơi nghiêng từng chiếc

Heo may

Năm nào!",

(Nghiêm Xuân Đức)

Bác sĩ, nhà thơ, nhà nghiên cứu thơ Nghiêm Xuân Đức, năm nay đã ngoài 80 tuổi, hiện là Chủ nhiệm CLB thơ Hải Thượng nổi tiếng. Tôi thường gọi ông là nhà lý luận về thơ, vì ông có thể giải thích rõ ràng, cụ thể về thi pháp của nhiều loại thơ ca của Việt Nam và thơ chữ Hán.

Với thơ Hai- ku Việt, ông là một thành viên có công đưa lý luận Hai-ku Nhật áp dụng vào Hai- ku Việt. Là một trong những người sáng lập CLB Thơ Hai-ku Việt Hà Nội, một haijin( người làm thơ Hai-ku) vững nhất, được nhiều người tôn vinh!

Bài thơ Hai-ku trên đây của ông được nhà thơ, nhà thư pháp Thiện Niệm ( Tp Hồ Chí Minh) minh hoạ bằng những nét thư pháp uốn lượn tài tình, bao phủ bởi một bầu trời lá thu đã mòn theo ngày tháng, lá thu tuy chỉ còn cành xương, nhưng bộc lộ cho ta một ký ức " thu xưa" đầy mơ mộng!

Bài thơ gây ấn tượng với bao người đọc, đã gieo vào lòng tôi bao nhiêu kỉ niệm về "lá vàng rơi!"

Mùa thu ở ta thường đi kèm với gió heo may, mùa cốm thơm mà không ở đâu trên thế gian này có được!

"Lá vàng rơi nghiêng từng chiếc"...

Tôi nhớ đến một ngày mùa thu trên đất Praha. Trước cổng vào căn biệt thự đoàn Việt Nam ở ( đoàn nghiên cứu khoa học về làm giàu quặng của Viện nghiên cứu Mỏ và Luyện kim) có một cây ngân hạnh, cả mùa thu vàng ươm, không có gì vàng hơn và đẹp hơn thế. Mỗi sáng dậy tập thể dục hay mỗi chiều đi làm việc về chúng tôi luôn đứng dưới gốc cây nhìn xuống đất thì một thảm vàng, nhìn lên thì một trời lấp lánh trộn lẫn giữa ánh sáng mặt trời và ánh vàng lá cây, tạo thành một tuyệt cảnh của thiên nhiên mà ít khi chúng tôi nhìn thấy!

Thế rồi, một buổi sáng, khi thức dậy, mọi người nhìn ra thì một cảnh tượng thật lạ lùng! Cây ngân hạnh không còn một lá nào, cành cây gày guộc trơ ra trước gió.

Thẩn thờ nhìn xuống gốc cây, một lớp vàng lấp lánh, trên từng lá long lanh giọt sương, phản chiếu ánh mặt trời sáng sớm!

Các bạn ơi! Tôi nói điều này không hề tô màu thêm chút nào, vì tôi càng cố tô màu sẽ làm hỏng cái đẹp rất thực mà chúng tôi được chứng kiến !

Tôi đã nhiều lần thưởng thức mùa thu vàng ở một số nước, rất đẹp, rất lộng lẫy, nhưng ấn tượng này níu đọng trong tôi chẳng khác gì “lá vàng rơi nghiêng " và "gió heo may " níu đọng trong lòng nhà thơ Nghiêm Xuân Đức!

Sự khác ở Việt Nam là thế! Mùa thu gió heo may, lá có thể " rơi nghiêng từng chiếc" nhưng ít khi ta được chứng kiến cái cảnh sau một đêm, cây trụi lá trơ cành, để lại trên mặt đất một thảm vàng long lanh như thể!

Hình ảnh "lá rơi nghiêng từng chiếc" được nhà thư pháp miêu tả màu vàng trên cao đang hướng dần về gốc, và dưới đó là màn sương mờ ảo, như trong gió heo may!

Về lá vàng- mùa thu, Tôi có bài thơ thế này:

"Chiếc lá phong thu

Từ vùng đất lạnh

Rụng vào phòng tôi"

Mỗi lần đi Hàn Quốc vào mùa thu, tôi thường nhặt về một ít lá phong vàng, đỏ về làm kỉ niệm!

Mỗi lần lấy ra ngắm nghía, vô tình hay hữu ý, đều gây nỗi nhớ lá vàng và mùa thu Hàn Quốc!

Nguyễn Du nói về mùa thu khi Thúy Kiều và Thúc Sinh chia tay nhau bằng mấy áng thơ thế này:

" Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san!

Dặm hồng bụi cuốn chinh an

Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh..."

Tôi cứ tưởng tượng khi Thuý Kiều “trông” theo bóng ngựa khuất dần của Thúc Sinh, có rất nhiều, rất nhiều " lá vàng rơi nghiêng"!!!

Cảm ơn nhà thơ Nghiêm Xuân Đức và nhà thư pháp Thiện Niệm! Bài thơ hay, sâu sắc, được nâng tầm bởi thư pháp có hồn làm toả sáng bài thơ!

LĐH

Điệu Haiku Đất Việt- Trần Nguyên Thạch

alt

Những năm gần đây nhiều vấn đề cơ bản về thơ Haiku và sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam đã được khá nhiều người bàn đến. Tiêu biểu như GS Lưu Đức Trung, GS Nhật Chiêu, TS Lê Từ Hiển… và những người khác nữa. Quả thực để nắm được hồn cốt của Haiku Nhật là điều cực khó đối với đa số người Việt Nam, chứ chưa nói đến sáng tạo. Dẫu thế, trong bài viết nhỏ này, chúng tôi xin được bàn thêm về sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam.

1. Trước hết, chúng tôi muốn gọi những bài thơ Haiku của người Việt viết bằng tiếng Việt (chữ quốc ngữ) là điệu Haiku đất Việt. Chữ “điệu” và chữ “đất Việt” ở đây mang hàm nghĩa là điệu tâm hồn người Việt và hồn đất Việt (mảnh đất, thiên nhiên, không gian, tổ quốc, quê hương v.v). Nó phải có chỗ, có cái phân biệt với thể điệu Haiku của Nhật Bản và thế giới. Đương nhiên, đã là Haiku thì phải đúng “chất” Haiku.

Bởi vậy theo chúng tôi điệu Haiku đất Việt (hay thơ Haiku Việt) cần có và nên đặt tiêu đề cho mỗi bài. Điều này đối với một số người Việt và nhiều nhà thơ thế giới không phải là mới. Họ đã từng làm thơ Haiku theo thể điệu Nhật Bản nhưng có đặt tiêu đề. (1) Đối với việc đặt tiêu đề nhiều người cho là không cần thiết, thậm chí là quá rườm rà. Chúng tôi không nghĩ thế. Một mặt, thơ Haiku Nhật đến Việt Nam khá muộn. Đa số người Việt đọc, hiểu thơ Haiku Nhật còn bỡ ngỡ, khó khăn. Cái khó không đơn thuần là ngôn ngữ. Cái khó là ở chỗ phải hiểu đúng, hiểu sâu thế giới hình tượng thơ Haiku trong 17 âm tiết. Để bình được cái hay, cái đẹp của thơ Haiku Nhật còn diệu vợi lắm. Mặt khác, đặt tiêu đề cho một bài Haiku tiếng Việt không phải là làm cho bài thơ ấy rườm rà thêm. Trái lại, tiêu đề thơ sẽ giúp cho người đọc Việt tập trung vào đề tài, cảm hứng thơ của tác giả, tránh được những suy diễn phi lý. Nếu tiêu đề đặt đúng, hay, tự nó có khả năng gợi mở chiều sâu ý tứ và cái đẹp của bài thơ Haiku. Chẳng hạn bài “Cô liêu” (dẫn theo Nhật Chiêu trong “ Tư liệu tham khảo thơ Haiku”):

Cô liêu

Đêm thăm thẳm

Chỉ còn hình nhân tuyết

Đứng nhìn sao xa xăm.

David Lloyd.

Người viết bài này, khi gửi thơ in Nội San của CLB TP HCM, bài nào cũng đặt tiêu đề (tất nhiên là có ý riêng người viết). Thế nhưng, chỉ Nội San số 1 (Hương cau) là giữ nguyên tiêu đề, còn từ đó về sau các bài thơ chỉ đánh số. Thật buồn. Xin dẫn một bài:

Ký ức mùa thu

Hoa cúc vàng năm cũ

Nắng rơi đầy ngõ xưa

Mùa thu còn giấu một làn hương.

Trần Nguyên Thạch

*

Về số chữ trong bài thơ Haiku Việt..

Người Nhật khi sáng tác Haiku nhất thiết phải theo nguyên tắc 17 âm tiết xếp thành 3 dòng 5 – 7 – 5 là lẽ đương nhiên. Người Việt khi sáng tác/ dịch thơ Haiku bằng/ sang tiếng Việt có nhất thiết phải theo như thế không? Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm. Ta cứ coi mỗi âm tiết là một chữ (không phải từ) thì bài thơ Haiku Việt theo chúng tôi nhiều nhất không thể quá 17 âm tiết (chữ). Vẫn giữ đúng 3 dòng nhưng không bắt buộc phải theo thông lệ 5 – 7 – 5. Khi người đọc và sáng tác thơ Haiku Việt đã thành thục hơn, số chữ trong bài thơ có thể ít hơn 17 nhưng không nên ít hơn 10. Chúng tôi nói như vậy bởi điều này có liên quan đến vần điệu và tính nhạc trong thơ. Thơ Haiku Việt có thể không vần song, rất cần có tính nhạc cao. Tính nhạc trong thơ Việt, đặc biệt là thơ truyền thống, biểu hiện ở hai bình diện chính. Đó là vần, là hài thanh và tính nhạc trong tâm hồn. Nó có thể làm nên vẻ đẹp riêng của hồn thơ, điệu thơ.

Chúng tôi thích một bài thơ Bashô, Nhật Chiêu dịch: “Mưa tháng năm rơi/ Hoa quỳ còn vọng/ Đường đi mặt trời”. Có gì đó như thanh âm của hồn nhạc, của vẻ đẹp Tiêu phong vang lên rất sâu, rất xa, rất cao của một Bashô khao khát ánh mặt trời, khao khát cái Đẹp của khoảnh khắc dã quỳ nở trong mưa. Chất nhạc của hồn thơ Bashô rung lên thẳm sâu trong tâm hồn người đọc làm lên sự hòa điệu huy hoàng.

Nhìn chung thơ Haiku Việt còn ít tính nhạc quá bởi xét đến cùng như ai đó đã nói, thơ là đi giữa hình và nhạc vậy. Hình ở đây vừa là hình ảnh vừa là hình tượng, là cái tứ toàn bài. Thi thoảng trong thơ Haiku Việt, có lúc ta gặp ở thơ Đông Tùng những bài thơ có chất nhạc. Xin đơn cử: “Rời cành hoa mơ/ Một hạt sương nhỏ/ Ngân vang mặt hồ”. Đọc Haiku Nhật ta từng nghe đâu đó âm vang cánh hoa rơi trên mặt hồ như tương đồng tiếng vang giọt sương trong thơ Đông Tùng.

*

2. Đọc, cảm thụ thơ Haiku khó. Sáng tác thơ Haiku còn khó hơn. Cái đích mà chúng ta vươn tới là làm nên những tứ thơ hay và đẹp một cách giản dị như hồn cốt của Haiku. Về điều này các bậc thức giả đã nói nhiều, ở đây chúng tôi xin được bàn thêm đôi điều. Muốn làm thơ Haiku hay tầm kiến văn phải rộng, tri thức Thiền học phải uyên thâm. Đó là lẽ đương nhiên. Nhưng đến được điều đó không phải dễ. Bởi người xưa từng quan niệm: “Thơ là chiếc áo gấm thêu hoa của Thiền khách. Thiền như là con dao gọt ngọc của nhà thơ”.(2)

Theo chúng tôi, người làm thơ Haiku Việt rất cần đọc nhiều và hiểu sâu những công án trong bể học mênh mông của Thiền. Công án trong Thiền học giúp ta nắm được bản chất và tinh thần của Thiền. Hơn thế, công án trong Thiền giúp chúng ta rất nhiều trong việc cấu tứ, xây dựng bài thơ Haiku giầu chất Thiền. Điều này đòi hỏi người sáng tác phải kiên trì và rất công phu. Bên cạnh đó nói như GS Nhật Chiêu, chúng ta cần hiểu sâu hơn “nguyên lý làn hương” trong sáng tác của Bashô. “Và tất nhiên Bashô chủ trương phương thức “kết hương”. Điều đó làm nên phong cách Bashô. (Shôfu: Tiêu phong). Chúng ta nhận ra Tiêu phong do mỗi bài thơ của Bashô đều dường như ẩn chứa một làn hương”. (3)

Để mở rộng biên độ sáng tạo cho thơ Haiku Việt chúng ta cũng rất nên trở về với thơ Haiku của Issa. Bởi theo Nhật Chiêu, “có một trái tim trần xao xuyến đập sau mỗi dòng thơ ấy”. Rằng “… thơ Haiku của Issa vẫn tường được xem là “phi Haiku” ”. Và “thơ Issa đậm đặc cái tôi trữ tình, vốn là điều ít thấy trong thơ Haiku”. (4)

3. Đến với một trường phái và đi khỏi trường phái đó.

Ý trên, nếu chúng tôi không nhầm thì đó là quan niệm về sự ảnh hưởng trong văn chương nghệ thuật của một nhà văn nước ngoài. Chúng tôi cho rằng, Chúng ta đến với thơ Haiku Nhật không đơn giản chỉ là mô phỏng, bắt chước họ hay làm theo một khuôn mẫu, dù cho đó là khuôn vàng thước ngọc đi chăng nữa. Ta học vẻ đẹp độc đáo của Haiku, học cái tinh túy của Haiku Nhật để từ đó mà làm nên điệu Haiku đất Việt, như ý ban đầu chúng tôi đã nêu trên. Đây là một vấn đề lớn của sáng tác thơ Hauku Việt. Xin được trở lại ở một lần khác.

Điều quan trọng đầu tiên và cuối cùng là ở năng lực và ý chí sáng tạo mạnh mẽ, kiên trì của mỗi chúng ta. Hình như Bôđờle, nhà thơ vĩ đại của Pháp từng nói, đại ý: Không phải nhào vào cõi bất tận để tìm cái mới mà vào cái hữu hạn để tìm ra điều vĩnh hằng.

TNT

Chú thích

(1) Xem thêm “Tư liệu tham khảo thơ Haiku” – CLB thơ Haiku TP HCM

Thơ Haiku Việt – Đặc san kỷ niệm 5 năm thành lập CLB – mục thơ dịch

“Bài ca đom đóm” – Điệu Haiku đất Việt – NXB Hải Phòng 2003 – 2004 của Trần Nguyên Thạch

(2) Dẫn theo “Thơ Thiền Đường Tống” của Đỗ Tùng Bách. NXB Đồng Nai – 2000 tr. 16 - 17

(3) Dẫn theo Nhật Chiêu trong “Matsuô Bashô và nguyên lý làn hương” – Nội san Thơ Haiku Việt – số 8 – 2013. tr. 37.

(4) Xem thêm Nhật Chiêu, bài viết, “Kobayashi Issa hay bi ca của trái tim trần” trích “Haiku – Hoa thời gian” của Lê Từ Hiển – Lưu Đức Trung. NXB Giáo dục – 2007. tr. 73

Rong chơi- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Trên đám bèo trôi(*)

đậu con cò trắng

một mình rong chơi

(Nhật Chiêu)

Sau năm 1975, nhà thơ Nhật Chiêu là một trong những người có công đưa thơ Haiku vào Việt Nam. Ông được công chúng phong là ông Hoàng thơ Haiku. Phong cách thơ Nhật Chiêu linh hoạt, con mắt tinh đời, biến hóa. Chỉ cần một đám bèo trôi dạt trên sông, thì đó là dòng đời đang vận hành, sinh mạng các loài đều gắn trên ấy mà gập ghềnh, mà sinh diệt". Ông viết:"Trên đám bèo trôi", một cách thanh thoát, ý sâu mà như không...

Và trong cái như không ấy, xuất hiện một "con cò trắng". Đám bèo trôi vì chở nặng, con cò trắng cũng trôi mà phiếu diễu, đậu mà dường như chẳng đậu..., để thực hiện cuộc du hành độc lập. Trong hằng sa những đôi chân cò, đạp lên bùn sình mà "lặn lội"; và chiếc mỏ dài lùng sục kiếm ăn, thì "con cò trắng" của Nhật Chiêu chỉ rong chơi! Vì thế, cái màu trắng toát lên ánh đạo. Con đường cò trắng đang "rong chơi", là "vô vi nhi vô bất vi" của Lão Tử. Không làm gì, nhưng không gì là không làm. Ấy là biết sống thuận theo tự nhiên, hợp Đạo. Chu trình của đất trời vẫn hoạt động bình thường, mà không bị tác động sai. Con cò trắng rong chơi, là biết vượt qua vòng cương tỏa, hình ảnh ám gợi cái cô đơn tuyệt diệu của thiền quán.

Từ đó, mở ra tâm thế "một mình" đầy nội lực. Hãy biết rong chơi một mình, để làm nên điều kỳ vĩ cho thế giới đau thương này, là một hành động minh triết. Thơ haiku vì thế mà bùng vỡ, đem lại niềm cảm thụ sâu sắc, bao la...

N.T.N

...

(*) bài thơ tác giả đọc cho tôi viết tại nhà haijin Vũ Tam Huề

Thời gian không còn là thời gian- Lê Đăng Hoan

Mấy hôm nay không biết tại sao tôi cứ tìm những bài thơ Hai ku nói về thời gian. Đọc đi đọc lại tuyển tập thơ Hai ku “ 12 năm ấy”, bổng nhiên bắt gặp bài thơ của anh Thiện Niệm, nhà thơ Hai ku, nhà thư pháp ở thành phố Hồ Chí Minh.

alt

Tôi đọc đi đọc lại, cảm động đến rơi nước mắt. Nước mắt tuổi già, nước mắt ân hận về những việc ta đã bỏ qua một cách vô tình mà đáng ra ta có thể làm được.

“Cuối năm thăm bạn

Hương khói vật vờ

Đôi bờ cách trở” (trang 129)

Không biết trong năm nhà thơ Thiện Niệm có đến thăm người bạn của anh được lần nào hay không! Để rồi cuối năm anh viết bài thơ này như một sự tiếc nuối.

Tôi có đọc đâu đó, có người nói rằng “ Anh đến với tôi, tức là anh đã dành một phần thời gian trong cuộc đời của anh cho tôi”!

Tính cả cuộc đời ta đã dành cho ai và dành bao nhiêu thời gian cho họ!

Một câu thơ tôi thường hay đưa vào các cuộc trao đổi với mọi người về thời gian, đó là “ Bãi bể nương dâu ai biết trước/ Bên nhau xin chớ tiếc thời gian”.

Trong một lần tôi tìm đến tận Long Khánh, Đồng Nai, gặp người bạn thân từ thời còn nhỏ ở quê, xa nhau 25 năm, lúc chia tay anh bạn tôi nói một câu: “ Hai mươi lăm năm rồi, biết đâu còn lần nữa gặp lại trên đời!”!

Lại một người bạn học với tôi thời ở Bình Nhưỡng, bị tai nạn. Cứ tưởng cũng chẳng trầm trọng, tồi chỉ đến thăm được một lần. Không lâu sau, mở Facebook của anh bạn, tôi đọc được cái “ tin buồn”…

Vừa rồi một anh bạn tôi bị tai nạn gãy xương bả vai khi đi bộ trên đường. Anh bạn này nhiều lần bị tai nạn, to nhỏ khác nhau, tôi an ủi bằng câu thơ thế này:

“Sự đời may rủi, rủi may,

Như thằng ăn trộm ở ngay cạnh mình” (theo ý của nhà văn Nam Cao)

Người ta nói rằng, người Hàn Quốc là gấp gấp, vội vàng trong mọi lúc mọi nơi. Họ có thứ văn hóa gọi là “văn hóa nhanh nhanh”. “ ăn nhanh”, “ đi nhanh”, “làm nhanh”. Thế rồi trong sách Giáo khoa tiếng Hàn họ có bài nói về cái văn hóa “nhanh nhanh”, đại ý “ cái gì cũng muốn nhanh, riêng cái chết thì không ai muốn nhanh”!

Kể cũng là một cách nói hóm hỉnh!

Tôi cũng có một bài thơ Hai ku như thế này.

“Bạn mời đến chơi nhà

đi- không đi,

vào ra thơ thẩn”

Bài thơ được hình thành trong một lần tôi mời một người bạn đến chơi nhà. Tuy nhà không xa nhau lắm, tôi thường đến thăm nhà anh, nhưng anh nhiều việc nên lần lữa chưa đến chơi nhà tôi lần nào, với lí do chưa sắp xếp được thời gian.

Sau khi nhận bài thơ này, anh đến nhà tôi, ngồi suốt cả buổi, cùng nhau ăn uống chuyện trò,…và không ít lâu anh bị ung thư…

Bài thơ Hai-ku của nhà thơ Thiện Niệm như một lời nhắc nhở, ở cái tuổi trên 70, hay dù có chỉ trên 60 đi nữa, thì thời gian không còn là thời gian nữa mà mỗi ngày mỗi phút là một vật báu, trời dành cho ta để ta biết thương yêu, biết trân trọng biết sử dụng khi cần thiết. Cái may, cái rủi, cái được, cái mất có thể đến bất cứ lúc nào, có thể đến vào lúc ta hoàn toàn không ngờ tới. Có thể tiết kiệm thời gian, nhưng với tình thương yêu, với con người, xin đừng quá đắn đo để “vào ra thơ thẩn”. Hãy dùng cái thời gian để “vào ra thơ thẩn” ấy mà chạy ngay đến vời người thân, bạn bè và những người yêu quý quanh ta. Hãy xem như đó là “ lần cuối”!

Tôi vốn thuộc dạng người rất tôn trọng bạn bè đồng nghiệp. Mỗi lời mời của họ với tôi là một cơ hội để gặp nhau, không có việc gì quan trọng thì cũng là để dành cho nhau một ít thời gian.

“Lý do”, “vì sao”.. thì nhiều lắm…

“Trên trời muôn vạn ‘vì sao’

Ngôi sao sáng nhất là ‘sao không vì’! ”

L.Đ.H

Một hồn thơ lãng mạn yêu đời- Hoàng Ngọc Khôi

alt

Tôi rất may mắn được biết bác Đinh Nhật Hạnh từ hơn chục năm nay và được đọc nhiều thơ văn của bác, như tập: "Quầng trăng", hay "Bụi thời gian"…; từ ngày đầu tập văn thơ "Bạch Ngọc bên dòng Lam" ra đời đến nay đã có 6 tập, tập nào bác cũng có bài mà là những bài tiêu biểu, góp phần nâng cao chất lượng của tập sách. Gần đây nhất năm 2018 bác đã có bài "Miên man hoài niệm" là một trong những bài hay nhất của tập 6, "Bạch Ngọc bên dòng Lam" mà tôi đã có dịp giới thiệu trong ngày hội thơ Bạch Ngọc.

Nói đến bác Đinh Nhật Hạnh là nói đến một hồn thơ lãng mạn, yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên và cuộc sống tươi đẹp:

Xin làm một nét bút

Xin làm một cung đàn

Quê hương bao màu sắc

Chuyện đời bao âm vang.

(Lời bạt tập "Bụi thời gian")

Những tưởng nguồn riêng chảy một dòng

Đời vui trăm suối hợp về sông

Mùa qua, hoa nắng vườn hương ngát

Mùa lại, quầng trăng vọng tiếng lòng

(Lời bạt tập "Quầng trăng")

Thơ của bác Đinh Nhật Hạnh gắn liền với cuộc sống sinh hoạt thường ngày, cảnh và người hòa quện vào nhau, điều đó phần nào thể hiện qua tiêu đề của từng bài: Vành trăng đáy giếng, truyền thuyết Nhị Hồ, cổ tích mới, trăng nơi Tây Hồ, Thơ…trăng, hoa…trăng, nhị độ lan, hương láng giềng, trăng xa, chiều tím, nắng thu, bến Hai Quai, dâng mẹ, giọt đời, hồ Ba Bể, gửi chàng Trương, biển Hạ Long, con đò vẫn đợi, bát nước chè Gay…

Tôi xin lấy vài bài làm thí dụ:

Trăng nước Hồ Tây

Sóng gợn… sầu dăng

Trăng mới lên

Bờ xa khắc khoải tiếng chim đêm

Dạt dào gió lộng - se se lạnh

Mấy chiếc thuyền câu lướt êm đềm

Một mình trên bãi mờ sương

Mà da diết nhớ

Mùa thương cháy lòng

Anh là bóng, em là hồn

Xa nhau chỉ biết mỏi mòn nhớ nhau

Giá mà có chiếc thuyền câu

Dập dềnh trăng nước đêm sâu… giá mà

Trời thì cao, sao thì xa

Khổ đau đành chịu… cho ta với mình

Cầm canh tiếng vạc não lòng

Trăng buồn sương lạnh, không cùng nhớ nhau

Ước gì trên chiếc thuyền câu

Bập bềnh sóng nước đêm thâu một lần.

(Quầng trăng 15)


Hè về táp cánh ve kêu

Ngát hương nhài rộ, nắng thêu lụa vàng

Xanh non cốm rải ngọn bàng

Vành khuyên quấn quýt, rộn ràng lứa đôi

Ve sôi đã nẫu phượng rồi

Bằng lăng lại tím.. hai trời, nhớ nhau!

(Bụi thời gian - 27)

Như vậy là nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã rất thành công với thơ trữ tình truyền thống.

Thế nhưng, như một mối duyên nợ, một định mệnh khi bắt gặp Hai Kư là bác mê luôn, say luôn. Cùng với đồng nghiệp, bác lao vào nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác. Với trái tim ấy, hồn thơ ấy, bác đã thổi hồn vào thơ Hai Kư. Cùng với các tác giả khác bác đã góp phần Việt Hóa Hai Kư, biến Hai Kư mang hồn Việt - xin mở ngoặc nói thêm, phải chăng đó là cốt cách của người Việt, bản lĩnh của người Việt, điều này góp phần lý giải rằng trải qua trên 1000 năm Bắc thuộc người Việt không bị đồng hóa mà còn ngược lại, ngót 80 năm đô hộ của người Pháp, vốn ngôn ngữ của tiếng Việt được bổ sung phong phú thêm, người Việt biết cách đưa tinh hoa của thế giới để làm giàu cho nền văn hóa, kho tàng ngôn ngữ nước nhà.

Tập thơ Hai Kư "Trăng bùa" của tác giả Đinh Nhật Hạnh là một minh chứng.

Với sự nhạy cảm của một trí tuệ uyên bác, tâm hồn lãng mạn, thích khám phá, ưa đổi mới, nhà thơ Đinh Nhật Hạnh một trong những con chim đầu đàn của Hai Kư Việt Hà Nội, một biểu tượng của ngọn lửa nhiệt tình, lao động nghệ thuật nghiêm túc, vì thế "Trăng bùa" đã là niềm tự hào của Hai Kư Việt.

Gần 300 trang sách, in bằng 4 thứ tiếng: Nhật, Việt, Anh, Pháp, "Trăng bùa" làm người đọc phải kính nể, 146 bài được tuyển chọn trong tổng số gần 500 bài thực sự là những viên ngọc quý. Bài nào cũng có tứ thơ hay bất ngờ, thú vị.

Có lẽ sự thành công của tập thơ trước hết là nhà thơ đã Việt hóa tài tình thể thơ Hai Kư Nhật cho người Việt. Ở đây đúng là tâm hồn Việt, tình cảm Việt, phong tục tập quán, thẩm mỹ, phong cách, nhân sinh quan của người Việt đích thực. Đối tượng được nhắc đến trong thơ xuất hiện hàng ngày trong đời sống Việt: cây đa, bến nước, con đò, hoa đào, nụ tầm xuân, gốc nhãn, tán bàng, Ngõ Trúc, Tây Hồ, sóng Bara, con chuồn, con dế, tu hú, én, vành khuyên… và ánh trăng xuất hiện nhiều cũng là điều thường thấy trong thơ truyền thống của người Việt.

Tôi đặc biệt thích thú những bài nói về tình yêu đôi lứa. Tác giả rất tài tình khi sử dụng phương pháp ẩn dụ, nhân cách hóa của ca dao Việt:

"Nỉ non chú dế

Bờ đê

Gợi tình"

Hoặc:

"Đôi sẻ mùa yêu

Nhấp nha

Nhấp nhổm"

"Nhấp nha nhấp nhổm" đúng là lời ăn tiếng nói của người Việt.

Không có bóng người nhưng câu chuyện của con người:

"Nụ đào tủm tỉm

Bướm ơi!

Gượm nào"

"Nụ đào" - tượng trưng cho người con gái đẹp đang ở tuổi dậy thì.

"Tủm tỉm" - là sự yêu đời, tuổi của "hoa nở đầu môi, sông cười trong mắt".

"Bướm ơi" - vẫy gọi tình yêu, tình yêu đang đến.

"Gượm nào" - đưa tay giữ mình khi bạn tình lân la muốn khám phá "nhị đào".

"Nhị đào" - chỉ dành "cho người tình chung".

Từ "Gượm nào" sao mà hay đến thế, đáng yêu đến thế: tình tứ, tinh tế, kín đáo, nhẹ nhàng, e ấp, nhưng cũng rất mạnh mẽ. Đó cũng là một đức tính nổi bật của người phụ nữ Việt Nam. Tôi liên tưởng đến câu Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. "Tình trong như đã, mặt ngoài còn e". Với 8 âm tiết, bài thơ lột tả được bề trong vẻ ngoài của nhân vật. Khả năng biểu đạt cái hồn Việt của tiếng Việt thật tuyệt vời.

Cũng như các thể loại thơ khác, Hai Kư có độ nén đến tối đa, có khi một bài chỉ vẻn vẹn 5 từ: "Trăng tàn/ khản/ tiếng ve". Sao trăng tàn lại khản tiếng ve, ở đây ý không nằm trong từ ngữ, mà ý nằm ngoài lời, ta thường gọi là "Ý tại ngôn ngoại". Đó cũng là một đặc điểm của thơ ca Việt Nam:

Ăn đi con, nào mau cho mẹ xới

Mẹ vẫn giấu con chuyện này xóm dưới

À thôi chẳng vội để mai sau

Giặc tan rồi nắng nở chín buồng cau.

(Phạm Ngọc Cảnh)

Chuyện xóm dưới với buồng cau có gì liên quan với nhau. Đó là tâm trạng, cách xử sự, đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa tình nhà và nợ nước, khi nước nhà còn giặc của người mẹ Việt Nam anh hùng.

Hoặc là: "Nắng đã chiều, vẫn muốn hắt tia xa".

(Phạm Ngọc Cảnh)

Nói chuyện nắng với tia nhưng là nói chuyện con người, mà là người đã già, nhưng vẫn còn hoài bão lớn, ước mơ lớn.

Với "Trăng bùa" nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã rất thành công trong việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật này.

"Bờ sương

Trăng xế

Nhạc dế vào thu"

Sương, trăng, dế và thu có gì liên quan với nhau đâu nhưng lại là một bài thơ hoàn chỉnh, chỉ với 8 âm tiết, một bức tranh thu, chiều thu sinh động: có cảnh, có tình, có họa, có nhạc.

Hoặc là:

"Én đan

Khung trời

Lạnh"

Một bức tranh đẹp, báo hiệu mùa đông sắp kết thúc, một mùa xuân mới đang về. Đó là sự rung động của một hồn thơ, với con tim Việt đích thực.

"Dìu dặt cúc cù cu

Thả hồn quê

Vời vợi"

Cái hồn quê trong tiếng cúc cù cu sao mà vời vợi đến thế, chỉ có người Việt, mang hồn Việt mới cảm nhật hết cái hồn quê thân thương khi nghe tiếng chim gù trong buổi trưa hè nơi xóm vắng…

Không nghi ngờ gì nữa, với "Trăng bùa" thi sĩ Đinh Nhật Hạnh đã "làm xiếc" trên tiếng Việt, hay nói cách khác, tiếng Việt đã thăng hoa lung linh "nhảy múa" dưới bàn tay điêu luyện của "Nghệ nhân xiếc thơ" Đinh Nhật Hạnh - một hồn thơ Việt - thuần Việt không pha trộn!

Vì thế "Trăng bùa" là của người Việt, cho người Việt, góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt.

Tiếng Việt đã chắp cánh cho hồn Việt, cùng hồn Việt bay cao bay xa, giao lưu cùng bạn bè năm châu.

Tôi yêu tiếng Việt - tôi yêu Ha Kư.

HNK

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2013
mod_vvisit_counterHôm qua2260
mod_vvisit_counterTất cả5934283
Hiện có 113 khách Trực tuyến