Hành trình dài của một câu thơ ngắn- Đinh Nhật Hạnh

Trong quãng đời làm thơ của chúng ta-dù dài ngắn,thành đạt hay âm thầm dẫu thật khác nhau nhưng có những khoảng lặng giữa những bài,những câu dẫu ngắn, dài chắc ai cũng có.

alt

Câu chuyện bắt đầu cách đây 40 năm từ những vần thơ về Mẹ.Dạo ấy,quê hương và Mẹ là những đề tài vô tận,viết mấy vẫn cảm thấy không vừa.Thời đại nào tình mẹ con vẫn cao quý nhưng riêng với gia cảnh chúng tôi-cha mất sớm từ thuở lên ba,mẹ góa bụa ở tuổi hoa niên, chỉ biết nương tựa vào tình thương của Bà Ngoại cùng cảnh ngộ thì Mẹ và Bà thường trực là niềm thiêng liêng tối thượng.Hơn 300 câu thơ trong thời gian qua về Mẹ trong hành trình dài dằng dặc cuộc đời của Người vẫn không thể nào nói hết công lao trời biển qua 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ thần thánh của dân tộc.Chỉ xin được trình bày Khúc III viết năm 2003 như một nén hương lòng tưởng niệm:

Khúc III- Dâng Mẹ

Tôi về quê một mùa mưa
Thăm bao bến nước ngày xưa Mẹ dừng
Tre ngà rợp bóng đò Giăng
Từng che bóng Mẹ mùa măng bạt ngàn
Đò đưa tôi đến Nam Đàn
Nhấp nhô bãi mía, lụt tràn nương dâu
Thuyền xuôi chín khúc sông sâu
Chuyện xưa rợn tóc cọp cầu Ma Ca
Mẹ nghèo chạy chợ nuôi ta
Dặm mòn heo hút đường xa,ngõ gần
Mấp mô đồi núi Cát Văn
Chênh vênh ghềnh đá chợ Năn,chợ Dừa
Nhoáng nhoàng chạy trước cơn mưa
Sáng,ăn chợ Vịnh-xế trưa,chợDùng
Nao nao một bến Đò Cung
Nắng nung bãi cát,bỏng lưng gió Lào…

* *

Tôi về quê dưới trăng sao
Bồi hồi bước thấp bước cao ngỡ ngàng
Tạ ơn tình xóm nghĩa làng
Những dòng sông,chuyến đò ngang sớm chiều
Tạ ơn bãi cát nắng thiêu
Hàng tre râm mát,chợ xiêu xóm nghèo
Đã cùng Mẹ thuở gieo neo
Nuôi con khổ cực,cánh bèo nổi trôi

Tạ Sông,tạ Chợ,tạ Người
Rưng rưng dâng Mẹ mấy lời tâm hương…

Hồ làng Tám 2003

***

Năm 2006,nhân về thăm quê tảo mộ tiền nhân ở Bầu Vạn Đô Lương,mê mải ngắm cảnh sắc khe suối tuyệt vời bỗng vẳng tiếng “cúc cù cu” trên đồi thông vọng xuống; lòng thơ rung động và hình thành ngay một khúc haiku:

“Vẳng tiếng chim gù trưa

lay lắt bóng tre trùm nỗi nhớ

Mẹ chân trần nắng mưa”

Đoản khúc này hồi ấy viết theo đúng luật 5/7/5 cổ điển-là khúc Haiku đầu tiên của tôi sau thời kỳ bế tắc với dòng thơ Trữ tình đeo đẳng tự thiếu thời- trong tập Song Đào 40 khúc,tiền thân của vô số khúc Haiku Việt từ đây..Mãi sau đó 8 năm,khi xuất bản tập Haiku 4 ngữ “TRĂNG BÙA”tôi vẫn giữ nguyên khúc Haiku Việt đầu đời ấy như một kỷ niêm đẹp.Và giờ đây, khi viết bài này ,đọc lại thật kỹ hơn 300 câu thơ dâng Mẹ, tôi bỗng ngộ ra một điều:” Thì ra công ơn trời bể của Mẹ dẫu viết ngàn câu chưa đủ nhưng có lẽ có thể đúc kết lại chỉ trong dăm từ,cực ngắn! Và khúc thơ 17 từ trên đã ngắn, vẫn quá dài! Vẫn có thể ngắn,thật ngắn- có lẽ chỉ cần:

“Mẹ -

Chân trần

nắng mưa

Thưa vâng! Tình của Mẹ và công ơn của Mẹ luôn ngự trong trái tim con,đâu cần chờ tiếng chim gù trưa,ngắm bóng tre hoài niệm mới trở về hiện hữu! Hình ảnh Mẹ suốt cuộc đời bươn bả -chạy 27 chợ,qua 4 con sông nuôi 3 con và mẹ già-mãi năm 1972 ra Thủ đô đoàn tụ với cháu con vẫn không thể nào quen đi guốc, dép vẫn lừng lững trên 5 từ của một khúc Haiku…

Và Mẹ vẫn suốt đời, chân trần mưa nắng-lo lắng …Vì con

Phố Kim Đồng , 23 tháng chạp 2016

Ngày giỗ Mẹ lần thứ 31(1986-2017)

ĐINH NHẬT HẠNH

Sợi tình- Nguyễn Thánh Ngã

alt

bàn tay

ai đón đưa

sợi dây không buộc chặt

(Khả My)

Khả My - cô sinh viên mới ra trường. Ở cái tuổi còn mơ mộng, Khả My đã tự bén duyên với thơ haiku Việt. Trong mấy bài haiku xinh xắn của em, tôi chọn bài thơ trên như một cảm hứng bất chợt.

"Bàn tay ", được hiểu như xúc cảm mạnh mẽ nhất của loài người. Từ khi biết hái lượm, loài người đã nắm tay nhau, dắt nhau qua vô vàn biến đổi để thành người như ngày nay, thì bàn tay vô cùng quan trọng. Nó là năng lực biểu cảm yêu thương, giận ghét trong sự cầm nắm hữu hình và vô hình.

Bàn tay mà Khả My viết, là sợi dây vô hình, là tiếng nói của sự im lặng thiết tha. Riêng trong bài haiku thơ tình này là bàn tay khác phái, có sức hút nam châm dẫn đến hành động "ai đón đưa" hàng ngày, đã in đậm vào cõi nhớ...

Thơ haiku gợi ra đôi bàn tay ưu ái dành cho người yêu, và đón nhận tình cảm đáp lại. Đó là niềm giao cảm bản năng mà muôn loài dành cho nhau. Tuy nhiên, đôi bàn tay mười ngón ấy đã đến lúc biến thành một sợi dây: dây tình! Trong truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du từng viết:" Tu là cội phúc, tình là đây oan"...

Vâng, sợi dây không buộc mà chặt.

Không níu kéo mà vấn vương.

Không dằng co mà đứt nối...

Khả My viết:"sợi dây không buộc chặt", là lúc tình yêu mới chớm, còn thả lỏng, còn tự do...Xét về sắc thì đây là lúc đẹp nhất của một nụ hoa. Về hương, thì đây là thời trinh khiết nhất, con ong chỉ mới bay vòng chưa biết đậu vào đóa trà mi thơ mộng.

Thơ haiku luôn dành cho độc giả một khoảng trống. Thì đây, người đọc thỏa sức tưởng tượng cái khỏang trống ấy dành cho một mối tình. Cái hay của bài thơ chính là ở đó, là những gì kín đáo, khó nói nhất được cất giấu trong cái chưa thành và ...sẽ thành.

Với lần đầu học viết thơ haiku, Khả My đã làm nên điều kỳ diệu mà loại thơ độc đáo này mang lại. Hy vọng em sẽ gặt hái nhiều hoa thơm quả ngọt trong vườn haiku đa sắc màu...

Sài Gòn tháng 12/ 2017

N.T.N

Sắc điệu tâm tư- Trần Năng Tĩnh

Cầm tờ báo Tết Người Hà Nội-Mừng Xuân Ất Mùi 2015, theo thói quen, tôi đọc lướt những trang thơ.Và, chợt dừng lại ở trang 54. Bởi trang thơ này có sự góp mặt của mấy thi hữu thân quen: Phạm Đình Ân,Hàn Khánh,Quang Hoài...

alt

Lại bất chợt nữa, tôi nhận ra có sự xuất hiện của Phan Vũ Khánh-Họa sĩ và làm thơ. Điều mà làm tôi chú ý hơn là Khánh có một chùm 7 bài,viết theo điệu thơ Hai-Kư (Nhật Bản) mà tôi vốn tâm đắc; Ấn tượng ngay từ bài số 1:

Diều chao nắng

Nghiêng ngửa chiều

Rớt giọt chuông.”

Một đặc điểm, cũng là nét đặc trưng của thơ Hai-Kư là sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo;Trực tiếp hoặc gián tiếp ý niệm “Quí ngữ” (Ngôn ngữ-hình ảnh gắn với bốn mùa theo qui luật tự nhiên).Và,thế là tôi như chợt nhận ra vi vu cánh diều trong một chiều mùa hạ-Nơi đồng quê thanh bình Đất-Việt,một thuở...Có sắc mầu thiên nhiên đồng hiện và hòa cùng cánh diều quê.Lời thơ khiến ta mường tượng ra hình ảnh “động” ở tầm cao với bầu trời cao rộng;Khiến ta nhận ra và nhớ lại thú vui có tự thủa ấu thơ: theo cánh diều lên cao mà tâm hồn ta cũng lâng lâng chắp cánh.Mà, vui theo...

Thường thì,trong thơ Hai-Kư, đến dòng thơ thứ 3 (cũng có thể là câu thơ), tạo nên ấn tượng về cấu tứ; về sự đặc sắc của tứ thơ. Với họa sĩ-Thi sĩ Phan Vũ Khánh,từ câu thơ khép lại này lại mở ra những hình ảnh tương phản giầu sức liên tưởng thật thú vị.Ấy là khi anh đem(đặt) cái nhỏ bé, thanh mảnh của cánh diều sóng bên giữa không gian của trời chiều cao lộng mà khiến cho “Diều chao”;Khiến “Nghiêng ngả chiều”...

Hình ảnh tương phản mà hình như cũng tương giao nữa,khi nhà thơ “rớt” vào, thả vào bức tranh-Tâm cảnh chiều giọt giọt thanh âm của tiếng chuông.Và, những “giọt chuông” buông thả rớt ấy khiến cho bức-nhạc-họa đồng quê thêm độ gợi xa-gần, hư-thực...Có lẽ vì thế bài thơ nhỏ kiệm lời, theo điệu Hai-Kư của phan Vũ Khánh bỗng trở thành sắc điệu tâm tư đa chiều của tình thương và nỗi nhớ...

TNT

Người độc ẩm thơ mình- Nguyễn Thánh Ngã

Trong cuộc đời làm thơ, ai cũng phải trải qua nhiều gian nan vất vả mới tìm được câu thơ, bài thơ, thậm chí là một từ vừa ý. Kinh nghiệm cho thấy, bài thơ có thể được làm trong cái chớp mắt, hay dài hơn... 5, 10 năm, hoặc hơn nữa. Vì vậy, ta thấy rằng thơ là vô hạn, và người thơ không có tuổi...

alt

Người thơ đắm mình trong ngôn ngữ thi ca, trải qua nhiều cảnh giới của tưởng thức, giật mình rớt xuống thực tại trần gian, mới biết chỉ là cái chợp mắt...

Cơn mộng thoáng qua như cánh cửa hé, để ta trôi vào một thế giới mới:

chợp mắt

mơ vội bài thơ

trong đêm ngắn ngủi

(Nguyễn Vũ Quỳnh Như)

Quả thật, với vóc thơ "ngắn nhất thế giới", haiku như hạt bụi bay qua mi mắt. Nhưng nếu muốn thử nhìn nó thôi, ta phải ra sức dụng công. Công ấy có khi một đời người không nhìn thấu. Người làm thơ được ví như quyền năng sáng tạo, chỉ qua "mơ" thôi, ảo sẽ biến thành thực. Cái động tác "vội" mà nhà thơ nói đến là cả một công phu, một nghệ thuật đã được tôi luyện, chứ đâu có dễ gì ai cũng "vội" được sao! Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh Như như tôi biết, là người đã miệt mài nghiên cứu haiku tận xứ sở Mặt trời mọc, nơi sản sinh ra thể thơ tuyệt diệu này, chị là người đã sở đắc một số thủ pháp nghệ thuật rất đáng nể phục.

Vậy thì "trong đêm ngắn ngủi" ấy nói gì?

Chẳng nói gì cả, mà chỉ là một cảm thức thời gian. Thời gian như chúng ta biết như "thoi đưa", như "bóng câu qua cửa sổ". Vừa nói ra là đã thành quá khứ. Có phải vậy không, mà tôi cảm nhận trong cái "ngắn ngủi" vô cùng ấy chính là một bài thơ. Bài thơ của khoảng lặng mênh mông...

Bằng trường liên tưởng bao la, thơ cho ta chợt nhận ra đời là phù du, là khoảnh khắc thoáng qua. Trong cơn "mơ vội" kia, bài thơ đã được hoài thai như bí quyết ủ men rượu. Đó là cách nâng chén của Quỳnh Như, người độc ẩm thơ mình...

Tôi đoan chắc, thơ haiku theo kiểu "độc ẩm" của Quỳnh Như, phải có một nội lực tự thẩm thấu vững vàng, trước khi bay ra với gió bụi ngàn khơi hay chợ quán đìu hiu cơm áo...

Cách "độc ẩm" ấy đem lại cho haiku một khai ngộ: kín đáo mà ngẫu nhĩ, nhẹ tênh mà sâu đắm. Đó là minh triết của hiền nhân, chỉ có thể được người thơ tài hoa khơi dậy...

Sài Gòn bão 14 - 19/11/2017

N.T.N

Mối duyên thơ- Đinh Nhật Hạnh

Lâu ngày gặp nhau,TS Lê Đăng Hoan -dịch giả tiếng Hàn nổi tiếng-bạn đồng hương chí thiết của tôi-vui vẻ :” Có quà đặc biệt cho anh đây! Tập thơ mới nhất và cũng lạ nhất của Mai Văn Phấn” Hơi ngạc nhiên về độ mỏng,rất mỏng của sách và cả vẻ dung dị,mộc mạc ít thấy của trang bìa .Tịnh không có một nét hoa văn,màu sắc điểm xuyết như ở bất cứ tập thơ nào .Không một lời nói đầu.Không một dòng cảm nhận.Lạ.Quả chưa hề thấy từ khi bị nàng Thơ mê hoặc.Mai Văn Phấn?Nhà thơ trẻ cách tân nổi tiếng. Đúng là tên tác giả vừa được 2 giải thưởng của Hội nhà Văn thời gian qua.Và tôi liền mở đọc. ngay trang đầu,bài mở đầu phần thơ 3 câu có đầu đề đã khiến tôi sững sờ:

CÁI NHÌN

Vũng nước nhỏ dưới chân núi

Soi

Tận đỉnh

alt

Tôi lặng người.Cô đọng quá.Thật vậy.Và tôi đọc lại,đọc lại.Trí tưởng tựơng của tôi vốn nghèo và thấp bỗng nhiên được nâng lên ,nâng lên rồi bỗng lóe lên một cảnh tượng y hệt tôi đã được bao lần chiêm ngưỡng khi hạnh phúc được 5 kỳ say mê du ngoạn chốn Địa đàng Hồ Ba Bể…Đó là cảnh mây,cây,chim ,núi phản ảnh ngược trên làn nước trong xanh kỳ ảo mà mấy chai nước tôi vục ngay giữa dòng Hồ huyền thoại làm kỷ niệm cách đây đúng 8 năm,9 năm giờ đây lắc mấy vẫn không hề vẩy cặn,minh chứng cho độ tinh khiết kỳ lạ của Hồ Tiên..Vậy mà chỉ một vũng nước nhỏ-vũng đã nông choèn mà còn là vũng nhỏ- trong 3 từ chắt chiu đến giật mình.Hẳn vũng ây rất trong.Không có cọng rác.Không có vẩn bùn.Hoàn toàn tinh khiết.Và cả hình dáng núi đồ sộ cao vút kia,rất cao, bao trùm tất cả bỗng phản ảnh trung thực lên gương nước tí hon,trong veo ngay dưới chân mình như chiếc gương chiếu yêu thần thoại soi tỏ mọi biến động,trạng thái trên cao, xa vời vợi.

Câu thơ ghê quá!

Quả đúng thật! Rồi ngay sau đó ,tôi có dịp trở về thăm lại Hồ xưa ,lần thứ năm-vục chậu nước trong veo giữa lòng hồ,nơi sâu nhất nghe đâu hơn 16 m.Lên bờ,tìm chỗ phẳng sát vách núi cao nhất quả nhiên thấy rõ mồn một nào lá,nào hoa rồi chim trời thay nhau tìm chốn đậu,ríu rít và thú vị chưa !Cả thoáng bóng lũ khỉ đuổi nhau chí chóe.Và tôi hiểu.Không phải vũng nước nhỏ nào cũng có công năng thấu thị như vũng nước tuy nhỏ bé nhưng cực kỳ trong trên câu thỏ cực ngắn kia.Nước dẫu chỉ bó hẹp trong vũng - nếu giữ được trong –quả là không hề dễ,mới thấy được phần nào sôi động kỳ bí tít trên đỉnh núi cao chót vót.Soi tận đỉnh ,hẳn là thấy cả khoảng trời hùng vĩ khi quang mây hay khi dông bão thất thường.Đa chiều không gian hiển thị ngay từ vũng nước nhỏ tầm thường mà nội lực mông mênh.

Thế rồi câu chuyện diễn biến cực nhanh , qua điện thoại tôi đáp lễ nhà Thơ chưa hề gặp -đọc nối ý sắc lẹm của người thơ tài danh trẻ- khúc thơ viết 2 năm trước cho riêng mình,không đề - nhân một chuyến viễn du vẫn nằm trong sổ tay,chưa có dịp chia xẻ cùng ai “đồng sàng đồng… mộng” :

“Vũng trâu đằm-

Mặt trời

lộn ngược

Câu chuyện chỉ ngắn ngủi thế thôi,mà chiếc cầu thơ đôi nhịp chính là 2 đoản khúc Haiku Việt tương phản-bên cực trong ,bên cực đục -bắc qua chiếc điện thoại nối 2 đầu tri kỷ từ đây.Rồi cũng từ buổi ấy ,đôi bạn thơ chênh nhau 30 tuổi đã thành tri âm chí thiết- trên một dòng thơ cực ngắn-đồng hành.

Sức công phá của 2 câu thơ …

Đó là 9 từ đẹp nhất chia đều cho cả hai kẻ đam mê thể thơ ngắn nhất trên đời mà sức gợi mênh mông-Haiku.

Ngõ Bằng lăng

Tiết Trung thu 2017

ĐINH NHẬT HẠNH

Bức thủy mặc Haiku- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Đông về

thuyền neo bến

ngẫm ngợi hành trình qua

(Minh Trí)

Trên đất nước hình chữ S, thì phương Nam không có mùa Đông. Tuy nhiên, lòng vẫn cảm nhận được lúc không khí lạnh từ phương Bắc tràn về. Tôi thích cái cảm giác se se của thời tiết chớm đông, biết rằng hương vị Tết sẽ chạm đầu lưỡi, buộc miệng thốt lên:" Gió heo may đã về!"

Hồn bâng khuâng nhận ra "Đông về", trong bài haiku của nhà thơ - Haijin Minh Trí. Ôi dòng sông nào, mà hình ảnh con thuyền không bến phảng phất trong trí nhớ, để rồi nhận ra "thuyền neo bến" rồi...

Đây là bài haiku có tính gợi rất cao. Hình ảnh mùa Đông mây xám, và con thuyền thả neo trên bến sông xưa, là cảm xúc của bao thi nhân, họa sĩ...

Bài thơ chỉ đôi nét chấm phá, mà hiện ra bức tranh thủy mặc cổ điển. Đẹp tuyệt diệu!

Nhưng tuyệt diệu hơn, vẫn là câu kết của bài thơ, nó như một nét nhòa ở cuối bức tranh, tạo ra dòng suy tưởng mênh mông về đời người. Và câu nói của người xưa "thi trung hữu họa" ,thật vô cùng thích hợp trong ngữ cảnh này.

Lòng chợt nghĩ, "mùa đông đời người" cũng đang về với lớp U50, U60 chúng ta. Ở cái tuổi "tri thiên mệnh" và "nhi nhĩ thuận" này, thân người như con thuyền về bến cũ. Thi hào Tagore cũng từng nói trong bài thơ số 1 rằng: "Thân này thuyền nhỏ mong manh". Đúng vậy, con thuyền nhỏ mong manh thả neo nằm ngẫm ngợi "hành trình qua". Nếu cuộc đời là dòng sông, thì con người như con thuyền, có lúc trôi dạt, có lúc vượt qua bao thác ghềnh sóng vỗ. Hành trình ấy không thể không có mồ hôi, máu và nước mắt, thấm đẫm nỗi đau thương, vỗ về nguồn hạnh phúc. Bao được - mất, hơn - thua, danh vọng và suy sụp vv...đè nặng lên kiếp người mong manh.

Có thể nói, bài thơ trên như bức thủy mặc, được vẽ bởi bàn tay của họa sĩ tài hoa. Khi ngắm tranh, cũng là lúc đọc được những gam màu chìm nổi. Âm thanh của nó tạo ra trường liên tưởng bất tận. Nhà thơ Minh Trí đã lập ngôn bằng cách thể hiện tài tình tính gợi đặc thù của thơ haiku. Cái hay của thơ là những kinh nghiệm vô giá nằm bên trong con chữ...

Sài Gòn tháng 11.2017

N.T.N

Thông điệp lớn trong bài thơ nhỏ- Nguyễn Thánh Ngã

Vô tình đọc bài Haiku nhẹ nhàng, không thể không nói đến như một ám ảnh khôn nguôi.

alt

Ai cũng biết, thơ haiku là thể thơ ngắn nhất thế giới. Ngắn, là nhẹ hóa, là để đạt tới độ toàn bích. Trong sự toàn bích ấy có tính khinh thanh, tôi muốn nói đến bài thơ nhẹ tênh như làn gió thoảng của Haijin Lê Thị Bình:

hòa bình

tìm

trong mong manh

Hòa bình là hai từ lớn như quả đất. Nặng như quả đất!

Thế mà nhẹ nhàng, uyển chuyển, thơ vụt đến như mũi tên, cắm phập vào đời sống. Đó là nghệ thuật dùng từ mà tác giả bài thơ này thể hiện.

Loài người đang tìm?

Và tìm ở đâu, là câu hỏi oằn trĩu gánh đời. Thử tưởng tượng bài thơ như chiếc đòn gánh, gánh hai đầu của nỗi tuyệt vọng.

Hòa bình là thứ mà nhân loại tìm cầu, tốn không biết bao nhiêu mồ hôi, máu, và nước mắt. Nhưng, để được hòa bình, thì hòa bình mong manh...

Vì sao hòa bình lại mong manh đến thế? Bản chất con người là ích kỷ, tham lam, si mê và sân hận. Vì vậy, Đức Phật đã đem ánh sáng giác ngộ răn dạy loài người diệt trừ tam độc: "tham sân si". Nhưng như chúng ta đã biết, để đạt được trình độ ấy là điều bất khả. Thế giới chiến tranh tàn phá, hủy hoại môi trường, vũ khí hóa học, nạn khủng bố vv... luôn đe dọa cuộc sống, ngày đêm làm rạn nứt và phá vỡ hòa bình.

Bài thơ của Lê Thị Bình là một thông điệp cảnh báo. Chất mong manh đóng đinh vào tâm thức chúng ta, hòng nhắc nhở cái bản năng cố hữu là tham sân si dẫn đến cái dễ vỡ, cái bất thường của sự việc...

Chợt nghĩ, muốn có hòa bình chân thật, không gì hơn là chính chúng ta phải tự hòa bình với bản thân, gia đình, cộng đồng rồi mới ra toàn xã hội.

Bài thơ chỉ có sáu từ. Ngắn, mà đầy gợi mở. Phải chăng, tính gợi trong haiku gọn nhẹ như lời tự tình của nắng, đem đến cho kẻ lữ hành một niềm an trú dịu êm.

Thông điệp lớn trong một bài thơ nhỏ chính là: bình thường mà phi thường, nhỏ nhẹ mà lan tỏa biết bao. Đọc nó, ta bỗng yêu quá cái khoảnh khắc hồn nhiên, và trong sáng đến diệu kỳ của hòa bình, nguồn hạnh phúc đem lại sự an tĩnh trong tâm hồn!

Sài Gòn tháng 11.2017

NTN

Nhà thơ họ Cao- Phan Vũ Khánh

Tôi gặp Cao Ngọc Thắng khi anh 35 tuổi. Thế mà đã 30 năm trôi qua.

alt

Lần đầu gặp nhau, ngồi ở quán nước, hóa ra hai anh em cùng chờ một người bạn. Tôi mở cặp vẽ, phác họa nhanh chân dung anh. Rồi anh cũng ký họa chân dung tôi, trong cặp vẽ của tôi. Một kỷ niệm đẹp, không quên. Tôi vẫn giữ hai bức ký họa ấy. Từ đó chúng tôi thường gặp nhau.

Cao Ngọc Thắng vốn xuất thân từ nghề dạy học. Anh tốt nghiệp khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (ở Cầu Giấy), năm 1976. Ra trường anh được phân công về giảng dạy ở khoa Địa lý trường Đại học Sư phạm Hà Nội II – Xuân Hòa, cách Hạ Nội 40 km. Anh bảo: Nếu ngày ấy khoa Địa lý ĐHSP II không giải thể, thì có lẽ anh sẽ dạy học đến khi về hưu.

Năm 1984, Cao Ngọc Thắng chuyển công tác, về làm biên tập viên của Tạp chí Kinh tế vùng (thuộc UB Phân vùng Kinh tế Trung ương) ở 48 Nguyễn Thái Học – Hà Nội. Anh trở thành nhà báo chuyên nghiệp từ ngày đó.

Ngày tôi quen Cao Ngọc Thắng, anh đang là biên tập viên của Tạp chí Thông tin thuộc Bộ Thông tin. Sau này anh thường nói vui: Mình sinh ra đúng thời kỳ nhập-tách rồi tách-nhập, cho đến tận ngày nghỉ hưu. Mà đúng vậy. Bộ Văn hóa-Thông tin-Thể thao-Du lịch hình thành, Cao Ngọc Thắng về làm ở báo Văn Hóa, rồi cuối năm 1995 anh về Đài PT-TH Hà Nội.

Thuyên chuyển nhiều chỗ, nhưng anh em bạn bầu (anh bảo đừng dùng “bạn bè”) vẫn thường xuyên gặp gỡ, trao đổi. Hai anh em giới thiệu cho nhau những người bạn mới, đều là người làm báo hay họa sĩ, nghệ sĩ. Cao Ngọc Thắng thường đăng báo những bài viết có tính ký sự, chân dung, kể cả khi anh làm phát thanh và truyền hình. Những bài viết, và cả sau này khi làm thơ, viết truyện, anh đều vận dụng nhiều tri thức địa lý. Nhiều lần anh tâm sự: Nghề báo, nghề văn rất cần những tri thức địa lý. Anh thich đi và đi nhiều, hầu như khắp đất nước. Đi đến đâu anh cũng có bài viết, bài thơ về nơi đã tới. Anh có nhiều bài thơ viết về các mùa trong năm, về Hà Nội, về ký ức làng quê. Chẳng hạn, một khổ trong bài “Hà Nội yêu”:

Nhớ Hà Nội là nhớ Hà Nội đêm

Ánh đèn vàng vàng sang cây vào lá

Tiếng dương cầm quyện nước hồ sóng sánh

Cánh tay vòng anh mềm mại lưng em

Khi CLB Haiku Việt Hà Nội chuẩn bị ra Nội san, Cao Ngọc Thắng rủ tôi: Cậu vào làm cho vui. Thế là từ đó tôi trở thành họa sĩ của CLB, vẽ tranh minh họa cho Nội san Haiku Việt và cho các hoạt động khác. Anh thường trao đổi với tôi về thơ haiku. Những bài thơ haiku do anh sáng tác cũng rất đậm màu sắc địa lý. Chẳng hạn:

* Quánh bắp chân

Soi

Dấu hỏi cấy mùa

* Đêm thu

Gom bao điều nhung nhớ

Thả vào trăng mộng mơ

* Hơi thở của gió

Gợn sóng vàng lăn tăn

Trăng run bên song cửa

Nhớ nghề dạy học, anh viết:

* con đò cập bến

người lên người xuống

chuyến mới qua sông

* mùa thu vào

phượng nở

bầy chim nhỏ ùa bay cao

* kiến thức vô cùng

chữ nghĩa chiết trung

làm người – thủy chung

Cao Ngọc Thắng là một trong những cây bút bình thơ haiku được bạn đọc Nội san Haiku Việt và trang web. haikuviet.com yêu thích, vì sự dung dị, sâu sắc. Tôi còn thích cái chất nhà giáo vẫn đậm đà trong con người thi sĩ của anh.

Nhân ngày Nhà giáo 20-11-2017

Hs P.V.K

Nỗi nhớ mưa xuân- Vũ Tam Huề

alt

Dạo chơi cùng bướm

Một trời mưa bụi

Rắc hoa lên mình

( Phương Trung )

Trong muôn vàn nỗi nhớ của những người con tha phương gửi về đất Bắc quê xưa, có nỗi nhớ mưa xuân. Trong mưa xuân vô số những hạt nước nhò li ti mong manh như bụi, như phấn, êm êm giăng mắc đầy trời. Mưa xuân làm trời xuân thêm lãng đãng khói sương, làm cho cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, làm cho hoa lá mơn mởn non tơ. Mưa xuân lắng đọng mùi thơm của cây cỏ lá hoa, không gian luôn mơn man một làn hương dịu nhẹ phiêu bồng…

Nào ai nhìn thấy rõ mưa xuân

Tơ nhên vừa chăng sợi trắng ngần

Bươm bướm cứ bay không ướt cánh

Người đi trẩy hội tóc phơi trần.

Mùa xuân là thời gian đồng quê Bắc bộ tươi đẹp hữu tình nhất. Những cánh đồng lúa xanh non chạt thẳng tới chân trời mờ xa bóng núi. Dưới bầu trời lớt phớt mưa bụi, xóm thôn thơm nức mùi hoa bưởi, hoa cam, mùi nhang khói. Bên những bến nước, dọc các đường thôn ….hoa xoan tím rụng tơi bời. Tiếng chim ríu rít trong vườn cây mái lá, trên bãi cỏ, ruộng lúa, bờ đê…

Sau tiết xuân phân, sương phủ dăng dăng mờ mịt trên đồng ruộng xóm thôn, hứa hẹn tiết trời sẽ ấm dần lên. Những hàng xoan tưởng chừng qua bao tháng ngày giá rét, được tiết xuân lay tỉnh, vỗi vã trổ bông. Một sớm mai vừa mở cánh liếp ra sân, một làn hương ngòn ngọt, dìu dịu, ngai ngái như hòa trong hơi sương lạnh chợt òa đến, bao phủ khắp người. Hương hoa xoan đấy !...Ngước mắt trông lên ta sẽ thấy những dải hoa xoan đã phủ kín cành cao cành thấp, tưởng như những áng mây phớt tím đang lững lờ bay qua ngõ trúc. Cánh hoa nhỏ liu riu, kết thành vạt lớn vạt nhỏ, chùm cao chùm thấp, chăng mắc khắp thôn khắp xóm, quanh bờ ao bến nước, bờ ruộng đường làng…Vẻ đẹp thật rưng rưng khó tả….

Hoa xoan nở cũng nhanh tàn cũng chóng. Suốt ngày đêm những tàn xoan dịu dàng đưa hương và lặng lẽ rụng rơi trong bầu không hư ảo bụi mưa. Cánh hoa xoan nở phơn phớt hai mầu trắng và tím, buông mình lả tả rồi nhẹ nhàng vương vào mái tóc, đậu lên vai áo người qua kẻ lại.

Mùa hoa xoan tạo ra cảnh sắc như thực như mơ của bầu trời xuân của quê Chèo đất Bắc, cũng là mùa hội hè đình đám. Những đám rước lộng lẫy cờ quạt xiêm y, rộn ràng kèn trống, uốn lượn dọc theo những triền đê dài hun hút, hay vòng vèo quanh những đường làng ngõ xóm, dưới làn mưa bụi nhẹ như sương.

Ngày xuân, những cô thôn nữ tóc bỏ đuôi gà, áo tứ thân mớ ba mớ bảy đủ màu: đỏ hoa hiên, xanh quan lục, xanh nõn chuối, vàng hoàng yến…thấp thoáng dưới những rặng xoan đang nở hoa phơi phới là toàn cảnh một bức tranh quê đẹp tới nao lòng. Chiều xuân, tiếng chuông chùa khoan nhặt từ các mái tam quan cổ kính, qua lũy tre xanh vọng về các thôn xóm nghe nhẹ lâng lâng. Đêm xuân, tiếng trống chèo giục giã tới khuya bồi hồi náo nức.

Ôi tuyệt diệu làm sao ! Xin hãy ngâm nga….

…Bữa ấy mưa xuân phới phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ

Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay…

Khi đắm chìm trong không gian mùa xuân đất Bắc, ta sẽ cảm nhận từng sợi tơ lòng run rẩy với những vần thơ bất tuyệt của thi sĩ Nguyễn Bính. Không ai có thể cảm tác về mưa xuân, về vẻ đẹp của hoa xoan dưới mưa xuân, về quê Chèo đất Bắc dạt dào cảm xúc thi ca như chàng thi sĩ đồng quê này.

VTH

Năng lượng tỉnh thức- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Mưa

Vỗ mặt bùn

Sen thức

(Phan Vũ Khánh)


Chúng ta có thể hiểu, Thiền Phật giáo là đưa tới nhận thức giác ngộ. Vì vậy, từ lâu thiền đã mang lại cho con người những tri kiến thâm sâu, khả năng đạt tới trí huệ tối thượng. Thơ thiền như mảnh vỡ của vô thức, đánh động chúng ta giữa hoài nghi cuộc sống. Haiku thời trước, cũng có lúc mang tính thiền rất cao, là thể thơ kiệt ngắn, có công năng thâm nhập mọi tầng trí tuệ, đánh thức cuộc đời. Với dáng vóc siêu nhỏ, Haiku như con chíp luồn lách và lóe sáng. Chính lúc đó, "con chíp thơ" vực thức nơi ta cảm thức về thế giới.

Điều đó cho chúng ta năng lượng tỉnh thức!

Thức là ý nghĩa cao nhất mà thơ mang lại, như mưa, thơ mang lại sự hồi sinh các tính giác, làm đâm chồi khả năng tư duy.

Đọc bài Haiku của Phan Vũ Khánh, tôi đang tắm trong nguồn mưa (mưa pháp). Nước mưa vỗ vào mặt bùn "tí tách"... Cơn khát của loài ếch nhái, vi sinh dưới bùn đã được (hay bị) đánh thức. Thối nát thì vỡ ra, héo rủ thì nhuần lại. Có tiếng kêu vô thanh từ mặt bùn thao thức. Không phải tiếng kêu của mưa va chạm bùn...

Đó là tiếng kêu của sinh linh bùn đen!

Chúng ta có thể nghe rất rõ trong tạng thức mỗi người.

Thơ Phan Vũ Khánh là gì? Là sen. Và loài sen đã thức trong tiếng kêu ấy. Vô thanh mà đầy hương vị.

Đọc bài thơ sáu từ thôi, "con chíp thơ" ấy có thể làm lóe sáng vạn vật trong "mặt bùn" chúng sinh, "mặt bùn" cuộc sống!

Nói như Thiền phiền muộn (bùn) là Bồ đề. Phần thơ là chất liệu tạo nên cuộc sống mới. Ngôn ngữ thơ làm từ chất liệu "bùn" ấy mà tỏa hương!

Dalat 2/2017

N.T.N

Nhẹ nhàng Haiku- Nhật Chiêu

Trên khắp thế giới, đông đảo người yêu thơ và làm thơ tìm đến haiku với tình yêu và đam mê, nhìn thấy ở đây một con đường của bóng mát thơ ca, một cảnh quan thu nhỏ của ba nghìn thế giới.

alt

Hình thức một bài haiku thì rất nhỏ. Phải, nhỏ và nhẹ. Thử cầm trên tay, nó nhẹ tênh. Thử nhìn vào nó, nó như bay. Và thử đi vào nó, ôi trời như tiến về chân trời. Chân trời, như ai cũng biết, là vô hạn.

Chính thi hào Bashô đề cao tố chất NHẸ (Karumi) cho thơ haiku vào những năm cuối đời, chống lại cái nặng (Omomi) của thơ ca tập cổ.
Trước mắt ta, mọi điều trôi đi không ngừng, Trôi đi (ryoko: lưu hành) như nước, như mây đưa đến tính nhẹ của sự vật.

Vì vậy, theo cách nhìn của Bashô, thơ haiku hiện thời cần phải được Nhẹ hóa, cần phải thõng tay vào đời, vào chợ, vào cõi tục, không thể nằm hoài với tịch liêu cao khiết. Cái đó nhà thơ gọi là “cao ngộ quy tục” (Kogo kizoku).

Kể từ đó, thơ haiku đi trên con đường khinh thanh, nhẹ nhàng tiêu dao, nhẹ nhàng trong ánh sáng, nhẹ nhàng trong cát bụi.

Cái nhẹ đó đem lại cho haiku một dung dáng mới: hiền minh mà như dại khờ, thông thái mà như trẻ thơ. Điều đó có thể thấy trong bài thơ haiku sau đây của Bashô:


Cánh đinh hương

đong đưa là thế

không rời giọt sương


(Shira tsuyu mo

kobosa nu hagi no

uneri kana)


Cánh đinh hương (hagi) rất nhẹ, chao đảo buông lơi trong gió. Giọt sương (tsuyu) cũng rất nhẹ, long lanh trắng ngời trong nắng. Thế mà sương và hoa vẫn ôm nhau, hiện thành cái khoảnh khắc hiện sinh kỳ diệu giữa đời.
Nhẹ hóa là thế. Nhẹ như một nụ cười. Tình yêu không đánh rơi giọt sương của mình.

Và cái nhẹ nhàng đó biến mọi cái hằng ngày, như “ăn uống sự thường” trở thành hân hoan ngây ngất. Ta có yến tiệc mọi lúc, ta có lễ mừng mọi nơi, ta chúc tụng từng ngày mới. Thơ Bashô cho thấy niềm hoan vui sâu thẳm đó:


Bóng cây thanh thanh

chén canh, dưa cải

đều vương cánh đào


(Kino moto ni

shiru mo namasu mo

sakura kana)


Dưới bóng cây, dường như có đủ “miếng ngon” dân dã, có đủ tương tác giữa con người và thiên nhiên, nghệ thuật và thực tại, trong và ngoài.
Chính vì thế mà Bashô nói: “Bắt được nhịp điệu cảm thức thơ ca khi ngắm hoa đào, tôi trao gởi cái nhẹ nhàng”. Cái nhịp điệu đó thể hiện rất rõ trong âm vận nguyên tác qua hàng loạt nguyên âm “o” (ko, no, mo, to) mà khi chuyển ngữ, chúng tôi cũng thử bắt nhịp qua âm vận “anh” (thanh thanh, canh, cánh).

Ngoài cái nhẹ, Bashô còn hướng về một phong cách gọi là “Ada” (Hồn nhiên). Đó là cái hồn nhiên trẻ thơ mà Bashô muốn đưa vào haiku và nhà thơ ân cần dặn dò môn đệ “chỉ cần quan tâm nhìn ngó cách mà trẻ thơ chơi đùa”. Không chỉ vui đùa, dung dáng nào ở trẻ thơ cũng toát ra niềm vui sống, cái vô tận hân hoan mà Bashô thể hiện trong một bài haiku đề trên cánh quạt:


Tóc để chỏm

vẫn còn thơm

mùi cỏ non


(maegami mo

mada wakakusa no

nioi kana)


Hương cỏ non (wakakusa no nioi) là hương mùi của những gì mới mẻ tinh khôi, những cái ban đầu đầy khả tính sáng tạo, hình thành, nảy nở, truyền lan…

Nhẹ nhàng haiku tương hợp với tuổi trẻ. Học tập và làm thơ haiku là hướng đến tự do trong sáng tạo và tình yêu, giải thoát mình khỏi mọi hệ lụy không cần thiết.

Đó là khi đứa trẻ bên trong chúng ta nhảy múa và ca hát, cười reo với mưa xuống và nắng lên, nhìn đâu cũng thấy điều kỳ diệu. Và thi ca là mê li.

NC

Thơ và Họa của Phan Vũ Khánh- Cao Ngọc Thắng

Là một họa sĩ, nhưng cũng đam mê thơ haiku, Phan Vũ Khánh trở thành hội viên của CLB Thơ haiku Việt Hà Nội. Vũ Khánh đảm nhận công việc vẽ minh họa cho Nội san Haiku Việt Hà Nội từ số đầu, trang trí cho “Gian Haiku Việt Hà Nội” tại Ngày Thơ Việt Nam tổ chức hằng năm ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám vào Rằm Tháng Giêng (Nguyên tiêu) và hai cuộc Tọa đàm Thơ Haiku Việt tổ chức vào năm 2014 và 2016 tại Hà Nội. Phan Vũ Khánh đã đăng thơ haiku trên Nội san Haiku Việt Hà Nội, trên trang web. Haikuviet.com và trên Tạp chí của WHA. Gần đây, họa sĩ Phan Vũ Khánh thực hiện một xê-ri tranh hoa sen trên giấy gió minh họa một số bài thơ haiku của các tác giả thành viên CLB Haiku Việt Hà Nội. Bài viết sau đây giới thiệu những nét chính về họa sĩ Vũ Khánh.

alt
(Họa sĩ Phan Vũ Khánh tặng bức thư pháp cho Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nhật Hà Nội)

Thiên nhiên muôn thuở là đối tượng biểu đạt của (các loại hình và ngôn ngữ) nghệ thuật và là cứu cánh để người nghệ sĩ tìm về sự thanh thản và hòa bình nội tâm. Bởi thiên nhiên luôn vận động trong sự tĩnh lặng và tuân theo quy luật của tạo hóa. Từ xưa đến nay, nghệ thuật đã từng và tiếp tục vai trò tìm hiểu và thể hiện cái đẹp của tạo hóa trong sự thanh thản của mỗi người nghệ sĩ theo từng cung bậc khác nhau, tùy bối cảnh lịch sử của thời đại. Hiện thân của Tạo hóa, Thiên Nhiên biến đổi khôn lường, đồng thời ẩn hiện những chân lý không đổi. Chính điều đó khiến nhận thức của con người bối rối, không chỉ đôi lần mà liên tục ngỡ ngàng, không ngừng thúc giục sự khám phá. Càng khám phá con người càng thấy Thiên Nhiên đầy bí ẩn. Bởi nghệ thuật không khi nào thỏa mãn “lòng mình”. Chỉ để lý giải mối quan hệ CHÂN-THIỆN-MỸ, nghệ thuật đã từng vấp phải biết bao cản trở do các quan niệm/học thuyết nảy nở suốt chiều dài phát triển nền văn minh của nhân loại; và, vì vậy tự mình dựng nên những nghịch lý trong biểu hiện. Ở những “quãng nghỉ mỗi cung đường”, cũng là khi xuất hiện những “đột phá” về nhận thức thế giới khách quan, người ta bỗng nhận ra: thế giới quanh ta thật giản dị!; điều cần thiết tối hậu cũng là cứu cánh cho mỗi đời người, cho xã hội loài người - đó là sự thanh thản, là hòa bình nội tâm. Chỉ có điều, sau “mỗi quãng nghỉ” người ta nhận thấy: con người lại đi chệch hướng dẫn dắt của Tạo hóa, để tiếp tục hành trình lập lại trạng thái thanh thản mới trong bối cảnh mới.

Nguyên gốc ở Bình Định, Phan Vũ Khánh sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Có thời gian xa thành phố, đủ độ cho Khánh thấm nỗi nhớ, nỗi yêu, để khi trở về đắm say nghiệp vẽ.

Phan Vũ Khánh rất say sưa vẽ Hà Nội. Ô Quan Chưởng là một “mảnh” đề tài. Mùa thu là một “mảnh” khác. Khi hai “mảnh” này áp vào nhau đã tạo nên cái riêng của Phan Vũ Khánh. Nét riêng này là sự gắn bó âm thầm và sôi nổi trong tình yêu Hà Nội mà Khánh trằn trọc nhóm ngọn lửa cho những bức họa bứt phá tông màu, đường nét.

Rất đỗi thân quen. Rồi, lại thấy có gì rất mới. Cảm xúc của người họa sĩ cho ta “cái mới” ấy; mỗi người một cách chẳng ai giống ai. Dường như màu thu của  năm tháng nén vào ký ức người trai sinh ra tại Hà Nội bỗng bật lên sắc mới. Do vậy, biểu tả “cái cũ” mà không chìm sâu hoài niệm. Ấy là bởi giọt thu sau không hề giống giọt thu ngày nào thuở trước, khiến cho tình người không cũ theo nhịp bước thời gian. Những nét, những màu không lặp lại trong các bức họa cùng chung đối tượng. Ấy là bởi cảm xúc bắt được sự chuyển hóa mềm mại của màu thu tỏa lan thành cảnh sắc. Phong cảnh mà pha “chất” tĩnh vật, rồi không tĩnh. Vẫn cảm nhận được hơi thở nồng nàn của cuộc sống, sự vận động của cuộc đời. Tranh ấm áp. Sự ấm áp vượt ra ngoài khổ tranh. Cái tình nghệ sĩ hiện ra và giữ căn cốt ẩn tàng trong tranh. Tranh sẽ lâu bền.

Thời gian ngấm vào thành phố lên rêu phong. Mùa đắp đổi thay màu áo. Và, sự cảm nhận của mỗi người lại nhân lên độ tươi rói trong mỗi góc, từng chiều ngẫu hứng. Tranh của Phan Vũ Khánh có độ ngẫu hứng cảm theo mùa. Những giọt thu Hà Nội đằm vào mảng màu hồn nhiên, có phần phóng túng mà không lấn át nét cổ kính. Ô Quan Chưởng còn đây – còn đây dấu tích của những cửa ô trên đất kinh kỳ.

Đam mê vẽ hoa sen. Hoa sen, cũng như mọi sự vật đều tuân theo quy luật nhịp điệu – có sinh có mất. Xem tranh hoa sen của Vũ Khánh, ta có cảm tưởng tác giả đang dõi tìm nguyên nhân tạo nên cái đẹp mà tạo hóa gửi gắm, từ lúc đâm chồi nụ, xòe cánh hồng tươi, tỏa thơm hương ngát, cho đến kết quả thành đài và héo tàn màu đất. Nhịp điệu mùa cũng là vòng đời của một loài hoa đặc sắc của Thăng Long – Hà Nội, nơi “chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” như Lý Thái Tổ đã chọn làm nơi định đô. Nhịp điệu mùa của hoa sen còn mang giá trị nhân sinh, nhân bản; bởi sự tồn tại của hoa sen từ lúc nẩy mầm đến khi rục xuống đều có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc sống con người. Thưởng thức tranh hoa sen của Vũ Khánh, người ta luôn liên tưởng tới ý nghĩa và giá trị của hoa sen đối với tâm thức, với đời sống tâm linh của người Việt.

Khác với ngôn ngữ văn/thơ, ngôn ngữ hội họa “lặp” trong cùng đối tượng biểu đạt lại không “phạm” nguyên tắc, bởi góc nhìn, bố cục, đường nét, màu sắc ở tác phẩm sau không thể “trùng” với tác phẩm trước đó, mà phần nào “tả” được sự biến chuyển, đổi thay của đối tượng qua quy luật nhịp điệu thời gian và không gian. Điều đó có nghĩa: cái đẹp của một đối tượng bất kỳ cần phải được quan sát bằng con mắt tinh tế, linh hoạt của người nghệ sĩ, để bắt được thần thái của sự thay đổi đó, nếu không cái đẹp trong phút chốc tan biến vào vô tận, nhiều khi không trở lại.

Sắc tươi của sự sinh thành có thể đối lập với màu tàn lụi lúc cuối đời của loài hoa, nhưng hãy nhìn vào sắc độ biểu cảm từ trái tim nghệ sĩ thì mới cảm nhận sức sống của loài hoa đó. Hoa sen là vậy. Và, nghệ thuật biểu đạt là vậy. Bởi đời hoa cũng là đời người; mỗi quãng đời là một giá trị sống; ngay cả sự tàn lụi cũng vẫn có giá trị nhân sinh, nhân bản của sự luân hồi...

Có lẽ vì ý thức được điều đó nên trong tranh của mình, họa sĩ Vũ Khánh không quan ngại việc mô tả nhịp bước đời hoa. Âu đó là con đường tìm về sự thanh thản mà thiên nhiên cất giữ . Sự tĩnh lặng ấy là một phương thức vận động quan trọng do chính tạo hóa xác định.

Gần như cũng tâm thế đó, thơ haiku của Phan Vũ Khánh có những nét riêng, pha màu hội họa:

  • Ấy da!/ mây vào nhà/ uống rượu ta
  • Đói lòng đêm/ hương chả quyện/ cặp bánh dày
  • Núp cây rơm/ chia thơm củ ấu/ nụ hôn đầu
  • Lơ ngơ tóc bạc/ phố phiêu/ chiều rấp lối
  • Rặng tre xào xạc/ xước cả mặt trời/ chiều chơi vơi
  • Trong lồng ngực/ giọng oanh, yến/ tìm lại quên
  • Lỡ mai rồi/ hoa loa kèn thổi mãi/ điệu kèn thổn thức sao đêm
  • Chim bói cá/ trong đầm/ chuyện về sen

Và, khi minh họa các bài thơ haiku của các thành viên CLB Thơ Haiku Việt, Phan Vũ Khánh đã chọn hoa sen làm nền. Điều đó không chỉ nói lên ý thích của họa sĩ, mà đó còn là sự đồng điệu giữa người vẽ với người làm thơ, cũng chính là thơ và họa cùng đồng hành, cùng “nâng giấc” cho nhau, cùng chung nhau mục đích tôn vẻ đẹp CHÂN-THIỆN-MỸ.

Đường mưu sinh có thể còn chật vật, nhưng nghiệp vẽ đối với Phan Vũ Khánh thì “tung tăng” khắp phố phường. Trong Khánh luôn bề bộn hối hả để theo nhịp mùa đi trên mảnh đất đế đô ngày ngày đổi khác.

C.N.T

Một chiếc mo cau, ta thấy cả khu vườn- Hồ An Thạch

Mo cau rụng

giật mình chim sẻ

ngưng bay

(thơ Haikư Nguyễn Thánh Ngã)

alt

Một chiếc mo cau, ta thấy cả khu vườn. Hàng cau thẳng tắp. Khát gió. Mo cau héo úa, dai dẳng đeo bám chút nhựa cuối cùng. Bầy chim sẻ tíu tít bay về làm tổ.

Chỉ cần một cơn gió mạnh, mo cau đổ xòa...

Chính cái khoảng khắc ấy, chim sẻ vừa bay về, chưa kịp đậu đã bị mo cau rơi trước mặt. Theo phản xạ tự nhiên, nó ngưng lại. Cái thoáng chốc "ngưng lại" ấy, lọt vào mắt nhà thơ...

Vâng, chim sẻ giật mình "ngưng bay", tức đập cánh tại chỗ. Cái khoảng không chim xòe cánh ấy mới đẹp làm sao!

Giờ này âm vang của mo cau cắm phập xuống mặt đất không còn cần thiết nữa. Có chăng, tiếng động ấy khiến cả khu vườn trở nên lặng phắc. Cả vũ trụ ngưng đọng trong đôi cánh chim sẻ. Không ai có tài đếm nổi bao nhiêu nhịp đập cánh trong giây phút ấy. Chú chim sẻ như đứng trên không trong tư thế xòe cánh. Rồi tan mất.

Chỉ còn tiếng lá vẫy gió lao xao...

Bài thơ như một lát cắt mỏng dánh in trong trí não, in vào câu thơ. Mãi mãi. Dùng động từ "ngưng" ở chỗ này quá đắt. Ngưng chứ không phải "ngừng". Giây phút ngừng dài hơn ngưng một cái đập cánh.

Mong manh và thoát tục.

Ai bảo không? Thoát là không dính mắc. Chỉ vậy thôi mà vĩnh cửu, làm nên cú bay vô ảnh. Độc đáo và tràn đầy.

Bài Haiku nhỏ mà có chiều kích của cái không chiều kích. Khoảnh khắc vũ trụ ngưng đọng như một làn hương, vừa tan ra là không thấy nữa.

Vì vậy mà cánh chim trọn vẹn của Nguyễn Thánh Ngã, in trên nền trời thi ca Haiku, lay cảm được lòng người...

H.A.T

Sinh thái thơ- Nhật Chiêu

Bây giờ, trong thời đại phê bình sinh thái (ecoritical age) đọc lại thơ haiku, đặc biệt là Basho, ta cảm thấy như đang thở hít trong một sinh quyển đầy mê diệu. Đó là thứ thơ ca đưa ta vào sâu thẳm thiên nhiên. Không chỉ là thiên nhiên. Đó còn là sinh thái tâm linh, nơi mọi thứ luôn luôn sáng tạo và chuyển hóa, nơi mọi sinh linh bước đi trong ánh sáng của bình đẳng và vô sai biệt, nơi mọi thứ phản chiếu nhau như những hạt châu.

alt

Khi lang thang từ Edo đến bờ biển Suma, Basho nhìn thấy mình như là một hành giả lang thang theo gió, tựa hồ một tấm lụa tả tơi phiêu lãng (một furabo: phong la pháp). Đó là ông tự xếp mình vào hàng ngũ những tâm hồn phong nhã (fuga) như Saigyo của thơ tanka, Sesshu của hội họa, Rikyu của trà đạo và Sogi của thơ renga. Cảm nghiệm đó Basho ghi lại trong tác phẩm Oi no kobun (Cập Chi Tiểu Văn: Ghi nhỏ trong túi hành hương).

Một linh hồn đã hoạt hóa tất cả tác phẩm của những người này. Đó là linh hồn của fuga (phong nhã), kẻ nào ấp ủ nó đều đón nhận thiên nhiên và trở nên người bạn của bốn mùa. Nhìn thấy gì, người ấy đều nhớ đến hoa; nghĩ điều chi người ấy cũng liên tưởng tới trăng. Nếu nhìn vật mà không nhớ hoa là kẻ man rợ, nếu tư tưởng mà không quay về trăng thì có khác chi cầm thú. Thế nên tôi kêu gọi: Hãy vượt qua man rợ mà đón nhận thiên nhiên, quay về với thiên nhiên.

Đoạn văn lộng lẫy mà thâm u này cho thấy cái nhìn hiền minh của Basho về thiên nhiên. Thiên nhiên không phải là một cõi hoang hay cái man dã. Thiên nhiên không đối lập với văn hóa. Chính vì có văn hóa (phong nhã) thì con người mới là bạn tình của thiên nhiên. Hơn nữa, tư tưởng Basho còn sâu hơn những gì mà trích dịch bất toàn trên cho thấy.

Ngay cả bản Anh dịch của học giả Makoto Ueda cũng không thể hiện đầy đủ độ sâu của tư tưởng ấy:

One thing permeates Saigyo’s tanka, Sogi’s linked verse, Sesshu’s painting and Rikyu’s tea ceremony. That is the spirit of the artist who follows nature and befriends the four seasons. Everything he sees becomes a flower, and everything he images turns into a moon. One who does not see the flower is akin to a barbarian, and one who does not imagine the moon is no different from a beast. Leave barbarians and beasts behind. Follow nature and return to nature.”

(Makoto Ueda, MATSUO BASHO, Kodansha, 132)

Chữ “nature” hay “thiên nhiên” thường được dùng trong các bản dịch tiếng Anh và tiếng Việt trong trường hợp này tuy không sai nhưng trong nguyên văn của Basho đó là chữ “zoka” (tạo hóa). Vậy câu cuối có thể là “đón nhận tạo hóa, quay về với tạo hóa” (“follow zoka, return to zoka”).

Bởi chữ “tạo hóa” Basho muốn nói đến cái huyền diệu, huyền bí, tinh tế, thiện xảo, công phu, tài hoa trong sáng tạo và chuyển hóa của tự nhiên (Hồ Xuân Hương: “Khéo khéo bày trò tạo hóa công”).

Do vậy, về với zoka ở đây là về với cái linh thiêng của sáng tạo chứ không phải về với đồng quê hay chốn lâm tuyền để hái cúc, trồng lan ở ẩn mà nêu cao tư cách “quân tử”.

Basho chỉ muốn học cái cách mà thiên nhiên hay sinh thái đã sáng tạo. Như Goethe ở Đức: “Tác phẩm vĩ đại của Nghệ thuật là tác phẩm vĩ đại của Thiên nhiên” (“Great works of Art are works of Nature”).

Thơ ca và nghệ thuật không phản ánh thiên nhiên mà là vận động trong tinh thần sáng tạo của thiên nhiên.

Họa sĩ kỳ tài Paul Klee trong thế kỷ hai mươi trong tinh thần đó mà nói với một người bạn đang dạy nghệ thuật:

Hãy dẫn sinh viên đến Thiên nhiên, vào trong Thiên nhiên! Để họ học cảm nghiệm một nụ hoa hiện thành thế nào, một cái cây mọc thế nào, một con bướm mở cánh thế nào, làm sao cho các bạn ấy sẽ trở nên giàu có, biến đổi, hào hứng như bản thân Thiên nhiên. Đón nhận đường lối sáng tạo tự nhiên mà biến tạo hình thức. Đó là trường học tuyệt nhất.

(“Lead your students to Nature, into Nature! Let them learn by experience how a bud is formed, how a tree grows, how a butterfly opens its wings, so that they will become as rich, as variable, as capricious as Nature herself. Follow the ways of natural creation, the becoming, the functioning of forms. That is the best school”).

Đối với nhà thơ Basho cũng như họa sĩ Klee, phải là văn hóa mới có thể là thiên nhiên, rất khác với quan niệm nhị đối thường có giữa thiên nhiên và văn hóa, cũng như thiên nhiên và con người.

Phê bình sinh thái (Ecoriticism) đương nhiên đồng tình với Basho và Klee và dị ứng với quan niệm con người tìm hiểu lửa, nước, không khí, tinh tú, bầu trời, môi trường để trở nên “làm chủ và sở hữu thiên nhiên” kiểu Descartes.

Con người dường như không muốn hiểu rằng Thiên nhiên làm ra con người chứ làm gì có con người làm ra Thiên nhiên. Và chỉ có thể con người cần Thiên nhiên chứ Thiên nhiên cần chi con người?

Như cuồng, con người kiêu ngạo tự cho rằng mình đang chinh phục thiên nhiên. Chỉ là vô minh và tội nghiệp!

Thiên nhiên là một thế giới tương tùy và tùy duyên mà sinh khởi, trong đó bất kỳ một sinh thể nào cũng nương tựa vào những sinh thể khác, không có chi ngoại lệ, kể cả con người cuồng ngạo nhất.

Tư tưởng Phật giáo cũng như sinh thái nhìn thấy không có gì là một mình.

Thử đọc bài thơ này của Basho:

Con bướm

một mình bay trên đồng

trong nắng

(chou no tobu

bakari nonaka no

hikage kana)

Một mình (bakari: chỉ có, lẻ có) ở đây không phải là một mình hiện hữu mà là “một mình với”. Với cánh đồng, với ánh nắng. Có thể nói con bướm bay “với” không gian (cánh đồng) và ánh sáng (nắng). Và chỉ có bướm mới biết cánh đồng cần cho bướm thế nào cũng như nắng cần cho bướm thế nào. Học theo bướm, học theo thiên nhiên, Basho cũng dần dà có cái nhìn của bướm.

Nguyễn Trãi trước nhiều thế kỷ cũng đã có cái nhìn hiền minh này:

Lẻ có chim bay cùng cá nhảy

Mới hay kìa nước nọ hư không

Chỉ có chim và cá mới biết nước thế nào, hư không thế nào. Biết ở đây là sống. Chỉ có con người mới thường tách “kiến thức” ra khỏi hiện sinh, và đôi khi đối lập nữa!

Như trong Shobogenzo (Chánh Pháp Nhãn Tạng), thiền sư Dogen nói:

Từ nước cá làm nên đời sống của mình, và từ trời chim cũng thế. Đời sống ấy chim cá làm ra. Đồng thời đời sống làm ra chim cá. Bởi thế, cá, nước và đời sống, cả ba sáng tạo lẫn nhau.”

(Bản Anh dịch trích theo A. Watts trong The Way of Zen:

From the water the fish makes his life, and from the sky, the bird. But this life is made by the bird and the fish. At the same time, the bird and fish are made by life. Thus there are the fish, the water, and life, and all three create each other.”)

Cái quan trọng là mọi hiện tượng đời sống sáng tạo lẫn nhau, chứ không có ưu quyền đặc lợi cho riêng cái nào. Đất và trời tương phản mà tương hợp:

Đất trời

rung chuyển cùng hơi thở

bày trận tuyết rơi

(ame-tsuchi no

iki aite hagheshi

yuki furasu – SETSUKO)

Nhà thơ nữ Nozawa Setsuko (sinh năm 1920) nói rằng đất và trời cùng hợp hơi thở (iki) lại. Cũng như thế, ta và cây, ta và mọi sinh thể khác.

Như lời trong sách Thái Căn Đàm: “Nếu chân tính của ta có sức mạnh sáng tạo của bản thân Thiên nhiên thì dù cho đi đâu, ta đều thấy cá nhảy và nhạn bay”.

Đất, trời, cây, bướm, chim, cá... và ta thở cùng hơi thở, tương tùy, tương duyên, tương hợp, tương tức... Và trong im lặng của thiên nhiên, ta càng thấy rõ điều đó:

Im lặng

cả khách lẫn chủ nhà

cùng hoa cúc trắng

(mono-iwazu

kyaku to teishu to

shira-giku to – RYOTA)

Có cái gì trong thiên nhiên mà không sáng tạo và chuyển hóa, kể cả giọt sương, đá và kim cương; tất cả đều ở trạng thái sống.

Kim cương

trên tảng đá

một giọt sương

(kongou no

tsuyu hito-tsubu ya

shi no ue – BOSHA)

Đó là sinh thái thơ.

N.C

Cách dùng Kigo (Quý ngữ) trong thơ Haiku Nhật Bản

alt

1. Đặt vấn đề

Thể thơ haiku Nhật Bản được Matsuo Basho, Yosa Buson và Kobayasi Issa làm cho trở thành tuyệt mĩ là một trong những thể thơ ngắn nhất thế giới, gồm mười bảy âm tiết, có thể được viết trên giấy thành những bức họa theo nghệ thuật thư pháp hoặc đề vào những bức tranh cổ. Nhưng điểm quan trọng là tâm thái người làm thơ và những gì ẩn chứa phía sau sự tối giản đến kinh ngạc của mười bảy âm tiết ấy. Việc thưởng thức thơ haiku đòi hỏi người đọc phải liên tưởng, tưởng tượng, phải hòa nhập được vào dòng sông đang trôi chảy của đời sống và cùng sáng tạo với người nghệ sĩ thì mới có thể cảm nhận được giá trị thẩm mĩ và ý nghĩa của đời sống ẩn chìm trong đó. Một trong những tín hiệu thẩm mĩ độc đáo của thơ haiku là kigo.Hiểu được kigo và cách dùng kigo sẽ giúp người đọc có khả năng thâm nhập được vào thế giới sâu thẳm của thơ haiku.

2. Cách dùng kigo (quý ngữ) trong thơ haiku

2.1. Kigo và những quy ước trong cách dùng

Kigo là quý ngữ, là từ chỉ mùatrong thơ haiku Nhật Bản. Nói cách khác, tất cả những từ ngữ liên hệ đến mùa đều được gọi là kigo. Thời gian được miêu tả trong thơ haiku chủ yếu là thời gian hiện tại, thời gian sinh hoạt. Đó là thời gian của vũ trụ tự nhiên: nước chảy, mây trôi, hoa nở, chim hót, ngọn đồi phủ sương... Đó là thời gian xảy ra sự kiện hoặc thời gian hoạt động của sự vật và con người trong thời điểm hiện tại. Và thời gian hiện tại đó luôn gắn với bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông của xứ sở mặt trời mọc. Haiku là thể thơ không đòi hỏi chặt chẽ về vần, niêm luật, bằng trắc hay đối nhau, nhưng nó có những quy định riêng về kigo: Một bài haiku phải có kigo (phải có từ chỉ mùa).

Yếu tố "mùa" là yếu tố khá quan trọng trong thơ haiku.Các nhà thơ haiku hầu như lúc nào cũng đưa mùa vào thơ. Bốn mùa qua đi đều để lại cho haiku một dấu chân nào đấy, có khi là bóng hoa anh đào, có khi là những cơn mưa hay chiếc lá phong chuyển sang sắc đỏ...

Khí hậu của Nhật Bản khá phức tạp. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Nhật Bản khoảng 14,6 độ c, tuy nhiên, khí hậu ở các vùng khác nhau khá rõ do hình dáng thon dài của nước Nhật. Ngay ngày nở của hoa anh đào ở các vùng khác nhau của Nhật Bản cũng khác nhau. Hoa anh đào là quốc hoa, là biểu tượng của nước Nhật, nở vào mùa xuân, có màu trắng và màu phớt hồng, rất đẹp. Khi nở rộ, hoa anh đào giống như áng mây trắng hoặc hồng, bồng bềnh trong sương khói, rất lãng mạn, chỉ cần một cơn gió thổi qua là những cánh hoa thi nhau rụng xuống, phủ kín mặt đất tạo nên một thảm hoa tuyệt đẹp. Hoa anh đào rơi ngay khi còn tươi rói, một cái đẹp mong manh, gợi cảm. Người Nhật thường chờ đón ngày hoa anh đào nở với một niềm háo hức lạ lùng và vô tuyến truyền hình thường đưa tin ngày bông hoa anh đào đầu tiên nở ở các vùng trên đất nước. Mặc dù vậy, khí hậu của Nhật vẫn có bốn mùa rõ rệt: xuân. hạ, thu, đông. Mùa đông ở Nhật khá lạnh và trên thực tế thì cái lạnh bắt đầu ngay từ cuối mùa thu. Ở Tokyo, mùa đông thỉnh thoảng tuyết có rơi nhưng không nhiều. Mùa hè ở Nhật khá nóng và ẩm, mưa nhiều. Mùa xuân và mùa thu là hai mùa đẹp nhất trong năm. Nhật Bản cũng có rất nhiều lễ hội gắn với các mùa trong năm: lễ hội mừng năm mới, lễ tiết phân, lễ tảo mộ, lễ hội vu lan, lễ hội mùa hạ, lễ hội nông nghiệp, lễ hội Tanahata...

Các nhà thơ haiku luôn có ý thức đưa mùa vào thơ. Trong thơ haiku, yếu tố mùa rất quan trọng tuy với thời gian nó bớt đi sự quan trọng quyết định của buổi đầu. Bài haiku thường có một chữ liên quan đến mùa ở ngay câu đầu hoặc một câu nào đó trong bài. Nó có thể suy diễn từ khí hậu nóng, lạnh, ngày dài hay ngắn, thời tiết, địa lý đến tên chùa chiền, quần áo, lễ hội, các loại cây cối, chim chóc, hoa cỏ...

Cách dùng kigo có những quy ước nhất định, những quy ước này giúp nhà thơ tiết kiệm được chữ dùng trong việc thông tin trong thơ mà vẫn chuyển tải được đúng ý đồ của người nghệ sĩ sáng tạo tới bạn đọc. Khi nói "trăng" (tsuki) thông thường thì phải hiểu là trăng tròn mùa thu, nếu không, phải nói cụ thể, chính xác hơn nữa như oborozuki (trăng mờ mùa xuân) hay kangetsu (trăng lạnh mùa đông). Nói "hoa" (hana) phải hiểu là hoa anh đào, chỉ mùa xuân; nói “gặt lúa mạch” để chỉ mùa đông... Ví dụ:

Một đám mây hoa

Chuông đền Ueno vang vọng

Hay đền Asakusa.

Khi đọc bài thơ này của Basho, người Nhật hiểu ngay ông đang nhắc đến tiếng chuông mùa xuân, vì “một đám mây hoa” (Hana no kumo) chỉ hoa anh đào đang nở rộ, đó là biểu tượng của mùa xuân, là “từ chỉ mùa” – một quy ước của người Nhật trong sáng tạo thơ haiku.

Những từ chỉ mùa rất thông dụng trong thơ haiku. Trong thơ ca Nhật Bản nói chung, kể cả tanka hay haiku, thiên nhiên đóng một vai trò rất quan trọng, như một kỹ thuật, như một quy ước trong sáng tác, trong nghệ thuật giữa tác phẩm với bạn đọc. Nắm được quy ước này người đọc mới có thể hiểu được bài thơ. Lòng yêu thích thiên nhiên và sự nhạy cảm của người Nhật đối với thời tiết là một điều dễ nhận thấy trong tâm hồn người Nhật. Những quy ước về mùa có làm phong phú nội dung thơ ca nhưng một mặt nó cũng tạo ra những câu thúc và khuôn sáo.

Những từ chỉ mùa rất phong phú trong thơ haiku. Sau đây là một số loài động vật và thực vật thông dụng trong thơ haiku, vì haiku còn nói đến nhiều giống chỉ sống ở vùng ôn đới và đôi khi chỉ sống ở Nhật Bản:

Mùa xuân (tháng giêng đến tháng ba âm lịch):

Thực vật: Mơ (ume), lan tím (sumire), anh đào (Sakura), hải đường (tsubaki), lê (nashi), tử đằng (fuji), đào (momo), liễu (yanagi), hồng vàng (yamabuki), ngải cứu (yomogi), cây đuôi chồn (waraki).

Động vật: Chim oanh (uguisu), cú (tsubakurame), sơn ca (hibari), ong (hachi), ếch (kawazu), tằm (kaiko), bướm (cho), sẻ con (susume no ko).

Vụ mùa: Ngày dài (hinaga), đêm 88 (hachijuhachiya) để chỉ mùa hái trà, tiết xuân (haruoshimu), vãn xuân (yukuharu).

Thiên văn - Địa lý: trăng mờ sương (oborozuki), tuyết tan (yukidoke), sương lam (kasumi).

Sinh hoạt - hội hè: Bánh nếp bọc lá (kusamochi), diều (tako), vỡ ruộng (hatakeuchi), ngắt lá chè (chatsumi)...

Mùa hè (tháng tư đến tháng sáu âm lịch):

Thực vật: Hoa xương bồ (ayame), hoa diên vĩ (kakitssubata), hoa sơn chi (kuchinasshi), sen (hachisu), kim tước chi (hahakigi), mẫu đơn (botan), hoa lưu ly thảo (wasurenagusa).

Động vật: Chim bói cá (u), gà nước (kuina), cò (sagi), cuốc (hototogisu), đom đóm (hotaru), kiến (ari), muỗi (ka), cá hương (ayu), ve (semu), cá vàng (kingyo).

Vụ mùa: Đêm vắn (mijikayo), đầu mùa mưa hè (nyuubai), cái nóng (atsusa), kề thu (akichikashi).

Thiên văn - Địa lý: Sấm (kaminari), mống trời (niji), mưa rào (yuudachi).

Sinh hoạt - hội hè: Gặt lúa mạch (mugikari), áo mát (yukata), mùng (kaya), cấy lúa (taue)...

Mùa thu (tháng bảy đến tháng chín âm lịch):

Thực vật: Lau sậy (ashi), cúc (kiku), chuối (basho), lau già (ogi), quả hồng (kaki).

Động vật: Chuồn chuồn (kagero), dế mèn (kirigirisu), dế tùng (matsumushi), chim cút (uzura), ngỗng trời (kari), chim "cát" (sandpiper, shigi), hải âu (miyakodori), gà gô (yamadori).

Vụ mùa: Đêm lạnh (yosamu), hơi nóng còn sót (zansho), trung thu (chuushuu).

Thiên văn - Địa lý: Sông ngân (Amanokawa), chớp nháng (inazuma), trăng (tsuki), sương thu (kiri), tiếng thu (aki no koe).

Sinh hoạt - Hội hè: Thất tịch (tanabata), chày (kinuta), ngắm trăng (tsukimi), tảo mộ (hakamairi), được mùa (honen)...

Mùa đông (tháng mười đến tháng chạp âm lịch):

Thực vật: Tầm gửi (yodoriki), lá rụng (ochiba), hành (negi), thủy tiên (suisen), sơn trà (sazanka), củ cải trắng (daikon).

Động vật: Vịt trời (kamo), chim óc cau (chidori), hạc (tsuru), thỏ (usagi), sò (kaki), một loại chim cú (mimizuku).

Vụ mùa: Lập đông (ritto), cuối năm (toshi no kure), trừ tịch (oomisoka).

Thiên văn - Địa lý: Đồng khô lá (kareno), sương giá (shimo), lửa ma trơi (kitsunebi), tuyết đầu mùa (hatsuyuki).

Sinh hoạt - Hội hè: Tất (tabi), ho (seki), nệm (futon), đốt than (sumiyaki), quét bồ hóng (susuhaki)...

2.2. Các nhà thơ haiku có khi dùng kigo qua các hình ảnh chỉ mùa, cũng có khi dùng kigo trực tiếp - nói rõ là mùa nào

Mùa trong thơ haiku có khi thể hiện qua các hình ảnh chỉ mùa:

Fuku tabi ni

cho no inaoru

yanagi bana.

(Trên cành liễu nghiêng/con bướm đổi chỗ/mỗi lần gió lên). (M. Basho)

Basho đã dùng kigo: cho (bướm), yanagi (liễu) để chỉ mùa xuân. Dùng kigo như vậy giúp người đọc có thể thấy được không gian mùa xuân tươi đẹp, lãng mạn với hình ảnh rực rỡ sắc màu của bướm bên cành liễu đang đâm chồi nảy lộc xanh mướt trong làn gió nhẹ và tiết xuân mát dịu… đúng như ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ mà ông vẫn tiết kiệm được từ ngữ, không cần phải miêu tả cụ thể.

Bài thơ sau dùng kigo chỉ mùa đông qua hình ảnh tuyết (yuki):

Futari mishi

yuki wa kotoshi mo

furikeru ka.

(Đã rơi năm nào/ tuyết mà ta ngắm/ bây giờ lại rơi). (M. Basho)

Nhiều bài thơ nói đến tháng, qua đó ta thấy mùa:

Mưa tháng năm rơi

Và những con ếch

Bơi đến cửa nhà tôi. (Sanpu)

Trong bài thơ này Sanpu miêu tả cơn mưa mùa hè.

Ở những ví dụ trên, tác giả đã dùng kigo qua các hình ảnh chỉ mùa, còn nhiều bài thơ khác tác giả dùng kigo trực tiếp - nói rõ là mùa nào. Ví dụ:

Mùa xuân đến rồi

vô danh ngọn đồi ấy

sáng nay khoác áo sương mù. (M. Basho)

hay: Gió mùa thu

làm sao em bé hái

hoa tím bây giờ! (K. Issa)

2.3. Kigo thường nằm ở câu đầu bài haiku

Hototogisu

naku ya goshaku no

ayamegusa.

(Vang tiếng chim cu/ và lá diên vĩ/ vươn năm bộ cao). (M. Basho)

Hototogisu là chim cu (chim đỗ quyên), loài chim báo hiệu mùa hè.Đây là quý ngữ chỉ mùa hè.

Tuy nhiên, cũng có một số bài kigo nằm ở câu hai hoặc câu ba:

Moro moro no

kokoro yanagi ni

makasubeshi.

(Trao cho cây liễu/ mọi niềm ước vọng/ mọi điều chán chê). (M. Basho)

Kigo: cây liễu (yanagi) nằm ở câu thơ thứ hai chỉ mùa xuân - loại này ít gặp nhất.

Na batakeni

hanami gao

naru suzume kana

(Trong đồng rau cải/ trăm mắt ngắm hoa/ một bầy chim sẻ). (M. Basho)

Kigo: chim sẻ (suzume) ở câu ba chỉ mùa xuân.

Có khi kigo ở cả câu hai và câu ba:

Fuku tabi ni

chô no inaoru

yanagi kana.

(Trên cành liễu nghiêng/ con bướm đổi chỗ/ mỗi lần gió lên). (M. Basho)

Kigo: bướm (chô) nằm ở câu hai và liễu (yanagi) nằm ở câu ba đều chỉ mùa xuân.

3. Kết luận

Cách dùng kigo có những quy ước nhất định, những quy ước này giúp nhà thơ tiết kiệm được chữ dùng trong việc thông tin trong thơ mà vẫn chuyển tải được đúng ý đồ của người nghệ sĩ sáng tạo tới bạn đọc, đồng thời giúp người đọc hiểu được điều tác giả muốn nói, thấy được giá trị thẩm mĩ sâu sắc của bài thơ. Các nhà thơ haiku có khi dùng kigo qua các hình ảnh chỉ mùa, cũng có khi dùng kigo trực tiếp - nói rõ là mùa nào. Thông thường kigo nằm ở câu đầu bài haiku, có khi nằm ở câu hai hoặc câu ba. Ở Nhật, cách dùng kigo đã trở thành quy luật và hầu như các tuyển tập thơ haiku đều quen sắp xếp các bài thơ theo từng mùa. Các hình ảnh về mùa cho thấy quan hệ của con người với thiên nhiên, với đất trời, tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ, tương thông, lí tưởng: thời gian – không gian – con người.

ThS. Hà Thị Hải

(Lê Thị Bình gửi đăng)

Thơ Haiku trong cõi thơ Việt- Nhật Chiêu

Thơ Haiku tuyệt ngắn, ca dao trong hình thức lục bát hai câu cũng rất ngắn. Cả hai thể thơ này (Haiku và lục bát) đều thích ca hát về cái bình thường chứ không phải những đại tự sự. Cả hai đều long lanh những hình ảnh của cỏ hoa vô thường chứ không phải những thần tượng bất tử. Và cả hai đều ca hát bằng giọng điệu nhỏ nhẹ thanh thoát với một tâm hồn bình dị (bình thường tâm).

alt

Cả hai đều không ca tụng quyền lực hay danh vọng. Chỉ ca ngợi thiên nhiên với trăng, hoa, mây, núi, cỏ dại, đom đóm, côn trùng, nắng sớm mưa chiều… Thế thôi.

Cả hai đều biết rằng con người vừa hướng vọng “cái thiêng” nhưng cũng ham mê “cái phàm”. Tâm hồn con người vừa muốn đi tới bờ bên kia lại vừa muốn giữ lấy bờ bên này. Tâm hồn ấy thường rất trẻ dại, trẻ thơ, trẻ mãi.

Thể hiện điều đó, thơ Haiku nói như sau:

ちょうちょうや・巡礼の子・遅れ勝ち

Chôchô ya- Mê bướm

junrei no ko- đứa bé hành hương

okure ga chi- lùi lại cuối đường

SHIKI

Đứa bé thì ngây thơ, chỉ thích chơi. Với bướm, với hoa, với dế… Hành hương thì từ từ cũng được, vội gì! Không phải chỉ “đứa bé” mà nhiều người lớn cũng “bé” như thế, thật mà! Lục bát hai câu thì nói như thế này:

Đêm rằm nghe vạc trở canh

Nghe sư gõ mõ nghe anh dỗ nàng

Ca dao Việt Nam

Để các bạn Nhật dễ nắm bắt ý tứ, thử mạo muội sắp xếp bài lục bát này theo hình thức Haiku xem sao:

Tiếng vạc trở canh

nghe sư gõ mõ

nghe anh dỗ nàng

Tiếng vạc kêu như đẩy thời gian vào canh thâu, vào đêm thiêng khi hòa với nó là tiếng gõ mõ tụng kinh từ ngôi chùa nào đó nhắc nhở rằng đời là một cuộc hành hương. Thế nhưng “anh” thì đang làm gì? A, anh đang “dỗ” nàng, dỗ, từ này mới tuyệt diệu làm sao. Nó có lắm nghĩa. Ví dụ, anh muốn lôi cuốn nàng vào cực lạc ngay giữa đêm đời này, ngay tại đây. Và tiếng gõ mõ sẽ là nhịp điệu thiêng liêng hòa với nhịp điệu trần thế giao hoan. Khi Haiku nói về cô đơn của tình yêu thì:

芙蓉咲いて・古い池の鷺・やもめなり

Fuyou saite- Phù dung nở

Furuike no sagi- cái vạc cô đơn

Yamome nari- bên đầm nước cũ

SHIKI

“Cái vạc cô đơn” trong nguyên ý là cái vạc góa phụ (sagi yamome nari), cái vạc còn lại một mình bên bờ ao cũ khi bạn tình đã ra đi mà đời thì vẫn nở rộ phù dung.

Lục bát hai câu thì nói:

Ai như con nhạn bơ phờ

Sớm ăn tối đậu cành tơ một mình

Ca dao Việt Nam

Phải, con nhạn ấy cũng chỉ một mình và xơ xác, buồn phiền. Mà cành đời thì vẫn cứ “tơ” cứ chồi xanh lộc biếc.

Qua đó, có thể thấy Haiku và lục bát có thể bắt nhịp với nhau, hòa âm với nhau.

Cả hai đều nhỏ như những giọt sương. Mà có thể phản ánh bao nhiêu là tia nắng của thiên nhiên và tình.

N.C

Một bài thơ rất trẻ thơ- Cao Ngọc Thắng

Trong mảng thơ haiku của haijin Lê Đình Công, tôi rất thích các bài ông viết về/cho thiếu nhi. Thông thường, thơ viết về/cho thiếu nhi là rất khó, mặc dù bất kể ai cũng đã từng trải qua và chất đầy ký ức về tuổi thiếu thời. Trở lại với tuổi thơ bằng văn chương dường như có sự ngăn cách khó vượt qua, bởi rất nhiều lý do, trong đó có cả lý do tâm lý. Vậy mà, không chỉ ở các thể thơ thuần Việt (lục bát, bốn chữ, năm chữ), Lê Đình Công “dám” thể hiện tâm tình con trẻ bằng thể thơ haiku, thể thơ được người Việp tiếp nhận thành phong trào chưa lâu.

alt

Bài sau đây mới dừng lại ở sự quan sát trực diện của người ngoài cuộc (hoặc sau khi sự kiện đã kết thúc)

Chị em giành nhau/ một món đồ chơi/ mẹ rơi nước mắt

Hay:

Vườn nội lắm ổi/ quả chín thơm vàng/ chào mào ríu ran

cũng vẫn là cảm xúc tức thời, nhưng đã bắt đầu có cái nhìn tươi trẻ. Cái nhìn ấy chuyển sang cái cảm từ ngoại cảnh dần đi vào hành động:

Gà gọi mặt trời/ chim chích học bài/ mình đến trường thôi

“Chim chích học bài” tuy được nhân cách hóa, song cái “hành động” này dẫn đến việc “đến trường” có vẻ khiên cưỡng; có thể dùng “hành động” khác cho tự nhiên hơn, để câu kết có được sự bất ngờ cần thiết.

Nhưng:

Bà nội đã già/ em thương bà quá/ chẳng được đi chơi

là rất thơ ngây, đúng tâm trạng của trẻ. Nào, ai có thể khẳng định việc “chẳng được đi chơi” là nhân vật nào, bà hay cháu? Cái lửng lơ ấy thật đáng yêu. Cũng không thể bảo bà già rồi thì chẳng đi chơi nữa. Trong ý thức còn non nớt, việc đi chơi đối với con trẻ là một nhu cầu, một nguyện vọng chính đáng. Vì thương bà nên “nó” không nỡ để bà ở nhà một mình, nhưng vẫn thèm đi chơi lắm; hay “nó” muốn bà cùng đi chơi cùng nhưng không thể được. Cài lòng thương của trẻ xuất phát tự bên trong mà vẫn bị dằn vặt. Đó cũng coi là một hy sinh ham muốn của trẻ.

Bài thơ trên đây của Lê Đình Công gieo vào người đọc những liên tưởng thú vị, làm sống dậy nhiều kỷ niệm của thời niên thiếu.

CNT

Thơ Haiku và những bờ bến mở- Nhật Chiêu

Thơ haiku tự bản chất là loại thơ ca không bờ cõi, mở cho tất cả mọi người, mọi xứ và mở cho tất cả mọi đề tài, mọi phong cách, mọi ngôn ngữ, ngoài ra nó còn vượt qua cái biện chứng gọi là nhã / tục (beyond the ga / zoku dialectic) kể từ khi Bashō du hành với thơ haiku.

alt

Do đó, thơ haiku dễ dàng hòa nhập với mọi nền văn hóa, cả Đông lẫn Tây. Ở Việt Nam hiện nay, đón nhận và sáng tác thơ haiku đã trở nên một trào lưu.

Khi viết về haiku, nhà thơ lỗi lạc Octavio Paz xứ Mexico cho rằng nghệ thuật thơ haiku cũng giống như vườn đá ở chùa Ryōanji lừng danh, “nó mời ta tái sắp đặt vườn đá ấy và mở ra cho chúng ta những cánh cửa tham chiếu.” (the garden of Ryōanji… invites us to reorganize it and opens to us the doors of participation.)

Bản thân Octavio Paz (giải Nobel văn chương 1990) từng dịch Bashō cũng như từng sáng tác thơ haiku. Đây là một bài haiku tuyệt diệu của ông:

Ngày mở bàn tay

bay ra ba áng mây

và những lời thơ này

( The day opens its hand

three clouds

and these few words )

Thơ haiku thường nói bằng những hình ảnh trong vắt như thế mà lại đầy gợi mở và cuốn hút ta vào một thế giới như mới vừa được sáng tạo. Đấy là bàn tay của ai? NGÀY (the day) nhưng ngày vừa có thể là khoảnh khắc vừa có thể là vĩnh cửu, trong đó mây được sáng tạo và thơ được sáng tạo.

Nếu như Bashō biết được có “ngày” trên thế giới, người ta làm thơ haiku như thế này thì tôi tin ông sẽ hoan hỷ vô cùng!

Cũng có nhiều nhà thơ lớn khác bên ngoài Nhật Bản sáng tác thơ haiku trên một tầm cao, như Tomas Tranströmer xứ Thụy Điển (giải Nobel văn chương 2011). Và bài thơ của ông cũng liên quan đến những hình ảnh “mở”:

Nhà, đường sá, bầu trời

và núi đồi, vịnh đá

mở toang cửa sổ rồi

( Houses, roads, skies,

fjords, mountains

have opened their windows )

Những cánh cửa của Paz cũng như của Tranströmer đều mở như chính linh hồn thơ haiku. Ở đấy, những hình ảnh nhân tạo và thiên nhiên hòa lẫn vào nhau, vô sai biệt. Nhà và đường phố có cửa để mở nhưng cả núi, vịnh đá và bầu trời cũng có những ô cửa sổ để mở. Tâm hồn con người cũng có những ô cửa như thế, mở và nhìn ra bốn phương.

Ở Việt Nam, một câu thơ Kiều đôi khi có thể sắp xếp (tái sắp xếp) theo hình thức một bài haiku:

Cửa trời

rộng mở

đường mây

Khi ta sắp xếp như thế, đưa câu thơ ra khỏi văn bản Truyện Kiều, cho đứng độc lập lối này, nó bỗng khơi gợi nhiều ý nghĩa mới bất ngờ. Trời mở cửa, ngày mở cửa và mây bắt đầu lên đường, bắt đầu phiêu du, tự sáng tạo con đường và hình thể của chính mình. Đây cũng là một cách tập Kiều.

Thơ ca là cánh cửa của tâm linh. Nhưng tâm linh ở đây không mang tính siêu hình gì cả vì cánh cửa ấy gắn liền với đời sống mỗi ngày.

Với số từ ít ỏi, một bài haiku đọc lên nghe như một dư âm, một tiếng vang. Thế mà ở Nhật, trong thế kỷ hai mươi, thà thơ Santōka đôi khi rút gọn thể haiku truyền thống 17 âm tiết thành một câu tuyệt ngắn, như bài sau đây chỉ có đúng 7 âm:

Oto wa shigure ka

Âm vang ấy là mưa thu chăng?

Âm vang ấy, tiếng ấy có thể là sấm mùa thu đi trước mưa rào mà cũng có thể không, ai biết được? Đó có thể là thứ âm thanh có thể sáng tạo ra mưa thu hoặc là một thứ âm thanh vô nghĩa nhưng ai biết “vô nghĩa” là gì? Có một âm thanh từ xa và nó đang đến với ta, đem đến hy vọng hoặc u buồn. Có một âm thanh như thế mỗi ngày nếu ta chịu lắng nghe, thế thôi. Bài haiku chỉ có 7 âm tiết ấy cũng là một âm vang báo biểu thơ haiku có thể hóa thân thành nhiều dạng thể khác nhau.

Vì thơ ca là sáng tạo.

haiku là thơ của những ô cửa mới, thơ của những bờ bến mở.

NC

Thiên nhiên trong Haiku Việt- Cao Ngọc Thắng

Theo haikuviet.com ngày 2/11/2017, năm nay CLB Haiku Việt Hà Nội có 10 thành viên gửi thơ, mỗi người một chùm 5 bài, gia nhập WHA. Đây là những hội viên đã có “thâm niên” sáng tác thơ haiku và một số đã từng có thơ đăng trên tạp chí của WHA những số trước đây, như Đinh Nhật Hạnh, Lý Viễn Giao, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Hoàng Lâm, Lê Văn Truyền, Nguyễn Thị Mai Liên. Năm nay, các haijin Việt chọn trong số những sáng tới mới nhất của mình, thể hiện chiều sâu trong cách chọn đề tài, cách cảm nhận và biểu hiện sự khoáng đạt một cách nhuần nhị, tinh tế và đậm sắc thái, tâm hồn Việt có sức lan tỏa rộng và hội nhập sâu vào haiku thế giới.

alt

Đã ở cái tuổi tám mươi, haijin Phan Hữu Cường vẫn có tâm hồn rất trẻ trung, dụ được bướm theo chân mình:

Nước hoa tóc anh / cảm mùi hương lạ / bướm theo về nhà

Cả khúc thơ là một ẩn dụ về sức hút của tình yêu. Người ta nói: gái yêu bằng tai, trai yêu bằng mắt, chứ nào ai lại cảm nhau bằng vị, bằng mùi (?). Nếu loài bướm thật sự như trong thơ Phan Hữu Cường, thì chúng đã bỏ đồng quê đầy hoa thơm cỏ lạ để kéo vào những đô thị cơ man những loại nước hoa đắt tiền của các hãng nổi tiếng trên thế giới (!). Vả lại, nam giới ít dùng nước hoa hơn phái đẹp. Chính cái “nghịch” này khiến bài thơ lộ ra tình ý của thi sĩ, rằng: không phải nước hoa đâu, mà là sự “mới” ở mỗi con người làm nên hương lạ khiến đồng loại khác giới phải chú ý, phải theo bước anh ta, chưa hẳn là về nhà… Chữ thơ có vẻ làm điệu một chút, cố tình giấu đi ý thơ hàm ẩn nội dung khác, từ đó bật ra tứ thơ lạ!

Ngược lại, haijin Minh Trí, ở tuổi còn nhiều sức bật, hướng tới “địa phận” của sự đúc rút những chặng đường đã trải qua:

Đông về / thuyền neo bến / ngẫm ngợi hành trình qua

Sự neo bến của con thuyền là hình ảnh chấm dứt một chuyến đi đầy sóng gió. Hơn nữa, lại vào mùa đông – mùa cuối trong một năm, cũng là bước vào đoạn cuối của đời người. Việc ngẫm ngợi, theo trình tự, là điều tự nhiên dù là người vô tâm vô tính đến đâu. Đó là sự lo xa cho những chặng đường tiếp theo. Cái được và chưa được ở mỗi hành trình đều là những bài học kinh nghiệm có ích, cũng đều là động lực thúc đẩy những phẩm chất tốt đẹp ngày tốt đẹp hơn, điều chỉnh sự nghĩ suy và hành động chưa thật sự phù hợp đi vào quỹ đạo. Nhà thơ không chỉ nói cho riêng mình là vậy.

Thiêu thân là loài côn trùng, hễ thấy ánh sáng là lao vào một cách mù quáng, bất chấp cả cái chết. Người ta ví thiêu thân là xác chết. Haijin Nguyễn Thánh Ngã có cách nhìn khá độc đáo về con thiêu thân:

Sau cái chết / con thiêu thân sống lại / trước ánh đèn

Một xác chết sống lại trước ánh đèn! Cái chết thực của con thiêu thân chỉ khi nó lao đầu vào cái đèn đang tỏa sáng. Ánh sáng của cây đèn đã rọi chiếu vào hình ảnh rẫy chết của con thiêu thân, trước khi nó gục xuống. Sự sống ấy thật ngắn ngủi và điêu tàn, chỉ có ánh đèn mới tỏ tường được. Trong cuộc sống vị vật chất, ham hố tiền, địa vị, không ít kẻ có cuộc sống như con thiêu thân. Đức Phật khuyên con người buông bỏ tham-sân-si, nhưng lòng tham khiến không ít kẻ mù quáng, lao đầu vào những dục vọng để gánh lấy những món nợ đời liên miên, không còn khả năng thanh toán. Rõ ràng, giáo lý nhà Phật luôn luôn đem lại chân-thiện-mỹ, song việc thực hành ở con người khó đi đến nơi, đến chốn cũng chỉ vì không tự thân thoát khỏi sự tung hoành quấy đảo, phỉnh lừa của bọn lục súc

Nữ haijin Nguyễn Thị Kim biểu cảm sự quan sát rất thật mà cũng rất tinh tế:

Bông sen rời cuống / tơ vương / ánh chiều

Bông sen rời cuống mà để lại những sợi tơ là có sự tác động bên ngoài, có thể do người bẻ/ngắt. Hình ảnh tơ vương rõ ràng là ngược sáng. Ánh chiều tà hắt ngược mới tạo nên vẻ đẹp ngời sáng, lung linh lên những sợi tơ óng mượt, chứ buổi sáng hay buổi trưa không tạo được hiệu quả ánh sáng như vậy.

Hãy đọc phiến khúc haiku dưới đây của haijin Phùng Gia Viên một cách ngẫm ngợi:

Chiếc lá rơi / thời gian / thành góa bụa

Ba hình ảnh rất xa cách mà lại cụm vào thành tứ thơ. Sự góa bụa này dành cho chiếc lá hay dành cho thời gian? Không, không dành cho cái cụ thể nào cả, mà dành cho mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên, trong xã hội, vừa thực vừa ảo, vừa có vừa không, vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chiếc lá thuộc cây, rơi khỏi cây, mà cây chẳng đoái hoài. Thời gian là ngày-đêm, là bốn mùa, là năm tháng. Lá lìa cành cũng thể hiện thời gian, thời gian của sự luân chuyển có sinh có diệt. Vậy, thời gian là nguyên cớ của sự rụng lá. Cô đơn chẳng dính vào cây, cũng chẳng dính vào thời gian. Chỉ có lòng người trở nên góa bụa (!). Người cùng thời gian đi trong không gian, đau đáu tìm sự thanh nhàn cho đầu óc thảnh thơi, cho thân thể bớt giày vò. Con đường ấy là vô tận, càng đi càng thấy chân trời ở phía trước. Mỗi khi nhìn thấy lá rơi, lòng người quặn thắt, vận vào cuộc đời. Lá lìa cành tựa như chiếc đồng hồ đếm ngược, đưa con người vào chu trình luân chuyển của trời đất. Vậy, không góa bụa làm sao, dù cho thân xác vẫn còn, vẫn ở trong vòng quay thời cuộc, nhưng nhiều trắc ẩn biết tỏ cùng ai…

Đây nữa, cùng đồng hành trạng thái góa bụa:

Ngàn trang sách / mỏi mắt tìm / một trái tim

Làm bạn tri kỷ với sách cốt tìm thấy một trái tim để yêu, mà không được. Cuộc đời là vậy. Haijin Lý Viễn Giao thổ lộ cái cô đơn của người mải miết đi tìm. Nếu như những bài học lịch sử được con người tiếp nhận một cách thật tâm, thấu đáo, thì cuộc đời sau phải tất nhiên tốt, đẹp, bớt đau khổ, bớt bùng nhùng hơn những cuộc đời trước. Nhưng, thế giới loài người không bao giờ chấp nhận hai chữ “nếu như”, do vậy chiến tranh vẫn liên miên, tội ác không giàm mà còn ở quy mô lớn hơn, kỹ xảo hơn, tỷ lệ người nghèo ngày càng gia tăng, thiên nhiên ngày càng kiệt quệ, thảm họa ngày càng mở rộng… Lý Viễn Giao mỏi mắt tìm trái tim nào đây? Đó là trái tim người nhân hậu! Mặt bằng xã hội cả thế giới này đang bị xáo trộn, đang bị tha hóa bởi những lực lượng vật chất đồ sộ, con người trở nên lãnh đạm, thờ ơ, xa rời, tách biệt khỏi chân-thiện-mỹ, mọi giáo lý đẹp đẽ đều bị lãng quên, coi thường. Bản thân sách chứa đựng biết bao điều cần thiết cho cuộc sống, nay cũng là đối tượng của sự lùi tàn trước cơn lốc bùng nổ internete. Bao nhiêu nỗ lực của loài người chẳng qua là nhanh đến đích diệt vong…

Phiến khúc haiku sau đây của haijin Lê Văn Truyền làm rõ thêm sự lệ thuộc của con người vào công nghệ thông tin:

Trên xe buýt / đám đông lặng im / dán mắt vào màn hình điện thoại

Có lẽ thói quen lệ thuộc, ỷ lại và chuộng lạ, chuộng ngoại đã đưa con người đi từ cái lười lười này đến cái lười khác. Số đông bây giờ không ngại ngần thể hiện lòng ích kỷ, chẳng quan tâm đến nhau, đến cộng đồng, cho thấy sự băng hoại tâm hồn, tự làm nghèo đi tính linh hoạt, sôi nổi, tiếp cận cái tốt đẹp, sự đổi thay theo chiều hướng tích cực. Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng vừa đem lại những điều hay, giúp con người, giúp xã hội tiến nhanh, gạt bỏ những rào cản, xóa đi mặc cảm để đi sâu vào các lĩnh vực tiên tiến, nhưng nó cũng đem lại những hậu quả, trực tiếp hay gián tiếp, vô cùng không có lợi cho sức khỏe, cho túi tiền, cho những mối quan hệ gia đình, xã hội… Dán mắt vào màn hình điện thoại chỉ là một hình ảnh cụ thể trong muôn vàn tiêu cực mà internete đưa lại. Phải chăng con người đang tự trói buộc mình để rồi gỡ ra không nổi?

Nữ haijin Nguyễn Hoàng Lâm đặt vấn đề:

Hỏi nguồn / dòng suối / ngước lên trời

Một vấn đề có tính quy luật tự nhiên. Dòng suối chỉ là một hình ảnh cụ thể, đại diện cho tất cả các sự vật khác tồn tại trong thiên nhiên, bởi cái gì chẳng có nguồn, có gốc, cái gì chẳng có thể ngước lên trời để hỏi – trời là nguồn sống của vạn vật. Nhưng, trời cao và xa lắm, “ông” còn phải điều khiển, điều tiết nhiều thứ lắm, nên mỗi cá thể phải tự mình tìm lấy câu trả lời.

Thì câu trả lời là đây:

Đời như dòng sông / phải vượt thác ghềnh / mới về biển cả

Haijin Đinh Nhật Hạnh nói về một quy luật khác – quy luật tự vận động, phổ biến trong cả tự nhiên cả trong xã hội. Vạn vật sinh ra vốn dĩ đã mang trong mình sự tự vận động. Có vận động mới tồn tại. Sự vận động tất yếu không bằng phẳng. “Sông có khúc, người có lúc”. Thăng trầm là không thể tránh được. Không nghich lý khi nói rằng: đường quanh co là lối đi ngắn nhất để đến đích. Mở đầu bài thơ, tác giả ví đời người như dòng sông là muốn nhấn mạnh sự tự vận động của mỗi người, là con người sinh ra có nghĩa vụ phải đấu tranh, đấu tranh với sự cám dỗ, đấu tranh với chính bản thân mình. Cuộc đấu tranh ấy tất yếu phải phù hợp với quy luật thì mới mong chinh phục được thiên nhiên phục vụ lợi ích chung của loài người, mới mong đương đầu với những lực lượng luôn kéo văn minh thụt lùi, để vươn lên những điều tốt đẹp.

Nữ haijin Nguyễn Thị Mai Liên biểu cảm cũng quy luật ấy bằng cách tư duy khác:

Sóng gió / đẩy thuyền ra khơi / về phía mặt trời

Vị trí địa lý của Việt Nam cho hay rằng, mỗi khi bình minh lên gió từ đất liền thổi ra phía biển (quy luật gió thổi từ vùng áp cao tới vùng áp thấp – sáng sớm nhiệt độ trong đất liền hạ thấp hơn so với ngoài biển, nơi nước biển giữ được độ ấm), nên người dân chài tận dụng lợi thế đó going buồm ra khơi, hướng về phía mặt trời đang mọc. Đấy là nguyên lý phổ biến. Nhưng, ngụ ý của tác giả còn ở chỗ: ra khơi, các con thuyền cùng chung sức để cùng hướng tới mục đích chung, hướng tới lợi ích chung. Mặt trời là trung tâm, hội tụ những mục tiêu chung để cùng tới đích.

Qua sự lựa chọn những phiến khúc haiku để bình phẩm như trên, tôi muốn bày tỏ rằng, từ thực tế đất nước mình, bằng những cảm nhận và thể hiện khác nhau, các tác giả đã đưa vào thể thơ haiku một thiên nhiên đặc trưng với tâm hồn Việt khó trộn lẫn. Thiên nhiên Việt Nam và con người Việt Nam luôn luôn hòa nhập trong mối quan hệ gắn bó từ lâu đời, là nền tảng cho tính cách Việt, cho nền văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển, tạo nên những truyền thống quý báu và bền vững, vừa hướng vào nội tâm vừa rộng mở ra thế giới. Đặc trưng của thiên nhiên Việt Nam không đơn phương, trái lại luôn là sự ẩn dụ tinh tế, nói lên tâm tư, nguyện vọng và cả tậm sự kín đáo về nhiều mặt của con người Việt Nam trong hoạt động văn học nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca. Vì thế, việc tiếp nhận và sáng tạo thể thơ haiku đối với người Việt Nam khá nhanh chóng, và cũng nhanh chóng khẳng định hướng đi của haiku Việt trong cộng đồng haiku thế giới.

Láng Hạ - Vào đông 2017

C.N.T

Quên- Nguyễn Thánh Ngã

Quên cạo râu

Tay xoa cằm

Thấy cuộc đời lởm chởm

(Cao Ngọc Thắng)

Cái ngắn của thơ Haiku là cái ngắn thâm nhập. Và đã trở thành thú đam mê sâu thẳm của các Haijin Việt khi đặt bút viết. Điều đó trả lời rằng, vì sao thơ Haiku hấp dẫn chúng ta.

alt

Chỉ cần một khoảnh khắc xoa cằm, đã hiện ra trong ta hình ảnh của đời sống. Rất thực. Một chút quên đáng yêu thôi, mà hình thái biển đổi. Quên thêm chút nữa ta trở thành người khác. Nhưng quên chính là để nhớ! Nhớ mình quên cạo râu! Nhớ mình từ một thế giới khác đến đây. Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn đã từng viết : "ta thấy em trong tiền kiếp, như cọng buồn cỏ khô". Tay xoa cằm là cái thấy hiện kiếp, thấy mình biến đổi theo quy luật vô thường. Ở đây, nhà thơ Cao Ngọc Thắng đã nhìn thấy mình cũng bất thường trong cái nôi vô thường ấy. Thấy cuộc đời lởm chởm như râu mọc là một tứ gợi rất hay. Nó đánh thức những cảm thức về thời gian trong thơ, khiến ta tỉnh táo đón nhận niềm vui nỗi buồn, như là một món quà mà Thượng đế trao tặng. Lởm chởm của râu, và lởm chởm đường đời không khác. Đó là nhận thức. Nhận thức cho ta hiểu biết cuộc sống, xóa tan đi bao điên đảo, mộng tưởng. Sự biến đổi của râu không cho phép ta từ bỏ mình, mà nhận diện chính mình giữa cuộc mưu sinh lởm chởm này!

Đọc để thấy tầng thức ngôn ngữ trong Haiku tuyệt diệu. Sức gợi ghê gớm của nó vượt ra ngoài con chữ. Người xưa gọi ý tại ngôn ngoại là vậy.

Mười một từ thôi. Đầy đặn.

Có lúc thèm như Cao Ngọc Thắng. Quên cạo râu....

Đà Lạt tháng 3/2017

N.T.N

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay100
mod_vvisit_counterHôm qua468
mod_vvisit_counterTất cả87163
Hiện có 58 khách Trực tuyến