Khúc Haikư của Haijin “nhí” Fitz B. Ireland- Lê Văn Truyền dịch và giới thiệu

alt

Corona virus

we eat we sleep we stay at home

thrilling it is not


Virus Corona

chúng ta ăn, ngủ, ngồi nhà

chẳng có gì mà sợ

Lời giới thiệu: Fitz B. Ireland là bút danh của cậu bé 8 tuổi Samuel, con của Jennifer Anne Garner (sinh năm 1972), nghệ sĩ Mỹ nổi tiếng, nhà hoạt động xã hội và là nhà kinh doanh. Sau khi đóng một vai phụ trong bộ phim Cảng Trân Châu (Pearl Habor, 2001), Garner trở nên nổi tiếng và được giao vai nữ điệp viên CIA trong bộ phim nhiều tập Alias (2001-2006). Garner đã được tặng nhiều giải thưởng danh giá: Giải Golden Globe (Quả Cầu Vàng) và Primetime Emmy Award. Garner là một trong những nghệ sĩ đi đầu trong cuộc vận động mang khẩu trang phòng chống Covid-19 ở Mỹ. Khúc haikư của cậu bé Samuel sau khi được mẹ đưa lên Instagram đã có 75.183 lượt thích (like) và 695 bình luận (comment).

alt

Khúc haikư của Samuel trên Instagram của mẹ

alt

Samuel và mẹ

Một phát hiện tưởng chừng ai cũng biết- Lê Đăng Hoan

Bài thơ gây sự ngạc nhiên của Lâm Long Hồ (An Giang)

alt

“Nhân loại

có chung một kẻ thù

không phải là nhân loại”

Hôm nay qua trang thơ của “haiku Viet.com”, tình cờ đọc được một bài Hai-ku Việt của tác giả Lâm Long Hồ, ở An Giang, tôi bổng thấy sững sờ! Một điều cứ tưởng như ai cũng biết mà hóa ra đó lại là một phát hiện, vì ai cũng biết, nhưng ai cũng không nói ra nên nó mới, như một điều bên cạnh ta mà ta không bao giờ biết.

Từ xa xưa, từ khi loài người bắt đầu phân chia ra từng bộ lạc, thì cũng bắt đầu có mâu thuẩn về quyền lợi, quyền lợi vật chất và quyền lợi quyền lực…, hình thành lợi ích cá nhân, lợi ích giữa bộ lạc này và bộ lạc khác mà sinh ra chiếm đoạt, giết chóc, tàn phá để gây dựng những vùng đất mới, những bộ lạc to lớn hơn, phát triển hơn..rồi hình thành khu vực riêng và đất nước riêng..

Có lần nói chuyện với một chuyên gia nước ngoài về chủ đề sự phát triển của xã hội loài người, ông ta nói tỉnh bơ rằng “ Chúng ta là con cháu của những kẻ giết người giỏi nhất”. Tôi ngạc nhiên với ý nghĩ như “ xúc phạm” đó của anh ta. Nhưng rồi sau được anh ta giải thích, tôi cũng hiểu được rằng đó là một “phát hiện”, một phát hiện ra điều ai cũng biết.

“Đấu tranh sinh tồn” là quy luật tất yếu của sự phát triển. Cái mới được hình thành, lâu dần cũ đi, các mới khác lấn át, phá đổ cái mới đã cũ để thiết lập một trật tự mới có tính chất tiến bộ hơn, phát triển hơn (nói chung).

Trong cuộc đấu tranh sinh tồn đó, thường hình thành 2 hoặc nhiều thái cực, thái cực này là kẻ thù của thái cực kia. Không có, hoặc có cũng rất hiếm khi hai thái cực đó lại là một phe. Khái niệm kẻ thù có thể hình thành từ “đấu tranh sinh tồn” mà ra.

Nhân loại là “tổng thể nói chung những người sống trên trái đất”. Trên trái đất có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu cá tính, cách suy nghĩ và hành vi riêng.

Kẻ thù là người có quan hệ thù địch. Trong xã hội biết bao nhiêu loại kẻ thù!

Trong đó khái niệm “kẻ thù chung” lại càng đa dạng. Nhưng khái niệm kẻ thù chung có thể hiểu vắn tắt là kẻ thù của bản thân ta và của những người cùng chung lợi ích với ta. Trong đó kẻ thù có thể là một nhưng ta là của số nhiều (từ hai trở lên).

Trong xã hội loài người (nhân loại) có biết bao nhiêu tầng lớp, có vô số nhóm, vô số tập đoàn tập thể, thì cũng có bấy nhiêu kẻ thù, cho nên khái niệm “kẻ thù chung của cả nhân loại” có vẻ khó chấp nhận.

Tác giả bài thơ tuyên bố rất rõ :

“có chung một kẻ thù/không phải là nhân loại”.

Bài thơ hay và là một chủ đề cho nhiều học giả tranh luận.

Riêng tôi đồng ý với quan điểm trong “phát hiện” của Haijin Lâm Long Hồ./.

L.Đ.H

Suy tư mùa dịch “gián cách xã hội”- Lê Văn Truyền

Hình hài gián cách

để tâm hồn chúng ta

xích lại gần hơn.

alt

Đã hơn 1/3 thời gian trôi qua kể từ khi có lệnh “gián cách xã hội” trong 15 ngày (1/4/2020 – 14/4/2020) như là một biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn dịch Covid-19 không trở thành thảm họa cho đất nước. Hà Nội từ “vắng như Tết” đã tiến lên một cấp độ cao hơn thành “vắng hơn Tết”, để trở về với vẻ đẹp nguyên sơ của nó từ giữa thế kỷ trước mà đến nay chúng ta mới gặp lại.

Trong những ngày này, tốc độ cuộc sống hầu như bị hãm lại một cách bất ngờ nhờ một “chân phanh” vô hình và vô tiền khoáng hậu – con virus SARS-Corona. Đã đóng cửa những quán bar, vũ trường sặc mùi rượu mạnh, mùi da thịt trộn lẫn với son phấn, nước hoa và bóng cười, cần sa, ma túy. Đã đóng cửa những quán nhậu nồng nặc mùi xào nấu, mùi rượu thật, rượu giả cùng âm thanh hỗn độn xô bồ, đinh tai nhức óc “chỉ có người nói, không có người nghe” thâu đêm suốt sáng. Không còn tiếng gầm rú, nẹt pô của những “gã điên đường phố”. Không còn cảnh bao người vợ trẻ, bao đứa con thơ đêm khuya chờ chồng, chờ bố sặc sụa mùi rượu trở về, phun ra “hậu quả” của bữa nhậu rồi lăn ra ngủ như chết … Chỉ mới đây thôi, người ta nói với nhau ngoài xã hội nhiều hơn trong nhà, hỏi thăm: “Hello, how are you?” những người xa lạ mang tên “đối tác” nhiều hơn hỏi thăm sức khỏe đấng sinh thành. Người ta đánh giá tình thân hữu bằng giá tiền của những “quà tặng” (từ vài trăm ngàn đến vài triệu US$ hoặc những tòa biệt thự), nhưng thật ra đó chỉ là những món “hàng hóa trao đổi ngang giá” (Karl Marx). Người ta sẵn sàng rủa xả, hành hung, thậm chí giết hại những người thầy thuốc “lực bất tòng tâm” vì một “sự cố y khoa” khó lòng tránh khỏi, và đôi khi những con người thầm lặng cứu người lại trở thành những kẻ “tội đồ” trong con mắt của xã hội.

Những ngày “gián cách xã hội” này là “cơ hội vàng” (nói theo ngôn ngữ của các nhà dịch tễ học đáng kính) để cho ta có thời gian bình tâm suy ngẫm lại cuộc sống của mình - hình như luôn bị những thế lực vô hình nào đó xô đẩy về phía trước mà không chống cự lại nổi - để nhận ra những chân giá trị trong xã hội quá khứ hầu như đã tàn phai trước cuộc tấn công cuồng bạo của cái gọi là “xã hội hiện đại” đã và đang tấn công “não trạng” của ta. Ta hãy nhớ lại những ngày đầu mùa dịch năm nay khi chiếc “khẩu trang y tế” bé nhỏ, nhẹ tênh giá chỉ một ngàn đồng - đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - đã trở thành món quà vô giá. Biết bao chàng trai rồng rắn xếp hàng nửa ngày - như trong thời bao cấp - để cố mua được hộp khẩu trang tặng người yêu trong ngày Tình nhân hay ngày Phụ nữ thay cho hộp kẹo sô cô la hoặc đóa hoa hồng, biểu tượng của tình yêu. Và cũng không thiếu cảnh tượng người ta chen chúc, xô đẩy, chửi mắng nhau, thậm chí “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với người già và phụ nữ để sở đắc nó với bất cứ giá nào. Vì sao vậy? Vì chính lúc này đây, cái vật dụng bé nhỏ mang tên khẩu trang giá chỉ một ngàn VNĐ - mà không phải những cái túi xách hàng ngàn US$ - mới là cái “cái khiên” bảo vệ sự sống quý báu trong cơn khổ nạn của nhân loại mang tên đại dịch Covid-19 này.

Và tự nhiên, không phải vì sự rao giảng của một nhà đạo đức học cao siêu nào đó, trong những ngày “gián cách xã hội” tại nhà, ta bỗng có nhiều thời gian để suy ngẫm lại về những giá trị thật sự của đời ta mà “lối sống gấp”, “lối sống ảo” suốt mấy chục năm qua đã làm ta quên lãng. Đấy phải chăng là “giá trị tích cực phái sinh ngoại ý” (?!) mà con virus bạo tàn phát xuất từ Vũ Hán đã đem đến cho chúng ta?

LVT

Nói về việc “Học” trong một bài thơ Haiku Việt- Lê Đăng Hoan

Học để làm thầy

Làm thầy để học

"Biển học không bờ"

Đây là bài thơ Hai-ku Việt, tôi viết kết hơp hai sự kiện, đó là một kỉ niệm trong chuyến đi Huế tháng 5 -3029 và nhân ngày 20 tháng 11 năn 2019, khi có học sinh đến mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam.

Hai sự kiện đều liên quan đến một chữ “ HỌC”

Từ xưa việc học hầu như tất cả mọi thế hệ, mọi tầng lớp xã hội đều đã nói đến.

Nào là “ Nhân bất học bất tri lí”, nào là “Học, học nữa hoc mãi”, rồi “Đi một quãng đàng, học một sàng khôn”v.v đều khuyên người ta phải học, luôn học và học mọi nơi mọi chốn…

Vừa rồi cùng Câu lạc bộ thơ Hai Ku Việt vào Huế giao lưu với các nhà thơ ở Huế, chúng tôi có vào thăm chùa Quang Viên (Quang Viên tự). Trước khi về, mọi người đều Thầy Sư chủ trì mỗi người một chữ “Nho” để đưa về nhà treo. Người thì xin “Phúc”, xin “lộc”, xin “tài”..Tôi nghĩ mãi, cuối cùng xin chữ “HỌC”. Vị sư Trụ trì, Thích Phước Cẩn, cẩn thận lấy giấy, rồi chấm mực tàu viết như “Phượng múa rồng bay” một chữ “Học” thật to, bên phải ông điền thêm một câu cũng bằng chữ Nho, mà khi tôi hỏi ông mới giải thích: “ Đây là câu thành ngữ “Học hải vô nhai”, tức là “Biển học không bờ”. Tôi lại được thêm một khái niệm về chữ “Học” mà trước đó tôi chưa từng được nghe. Xong Ông đưa cho tôi. Tôi đứng dậy giang hai tay trên dưới nhận một cách kính cẩn.

alt

“Học”! Thời xưa ở Cho-Seon (Hàn Quốc bây giờ), có một bà mẹ gửi con vào chùa học chữ, người con thông minh học được 3 năm, nhớ mẹ quá, về nhà nói với mẹ rằng” Con không cần học nữa mẹ ạ, con học hết chữ rồi, bây giờ có thể kiếm tiền nuôi mẹ, mẹ không còn vất vả nữa!”. Bà mẹ nhìn con lo lắng. Tối hôm ấy, bà lấy bút mực đưa cho con bảo “ Mẹ sẽ tắt đèn, con viết chữ, còn mẹ sẽ làm loại bánh mà mẹ vẫn thường làm cho con ăn”. Sau khi xong việc, bà mẹ bật đèn lên, thấy hàng chữ của con xiên xẹo, chữ lên chữ xuống, còn bánh mẹ làm tròn trĩnh mười cái như một, xếp hàng thẳng tắp. Để cho con xem xong mẹ nói “ Thế này mà con bảo là con đã học hết rồi sao!”.

Rồi mẹ bảo con lên chùa học tiếp.

Sau này con trai của bà trở thành người viết chữ đẹp nhất nước, gọi là “Minh bút”.

“ Học hải vô nhai”, ngẫm chuyện xưa, nghĩ đến hôm nay. Trong sử sách sử nước ta cũng biết bao câu chuyện về người tài nhờ học, những câu chuyện học của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trạng Quỳnh, Lê Quý Đôn, Mạc Đỉnh Chi, Lương Thế Vinh..rồi bây giờ những nhà phát minh, những nhạc sĩ nổi tiếng, những tuyển thủ tài ba, những thiên tài đất Việt đều do học mà nên.

Ở Nghệ An quê tôi, nổi tiếng về “Ông Đồ Nghệ” và “con cá gỗ”. Tất cả cũng nhờ và vì việc học. Học trò đi học, không có thức ăn, phải dùng “con cá gỗ” làm mồi mà xin nước mắm, thì giá trị về “hiếu học” đáng để lại cho đời, nó không có ý nghĩa “keo kiệt” mà người ta thường đặt không đúng chỗ cho người dân xứ Nghệ quê tôi.

Ai đó có thể cười khi nói dân Nghệ An chúng tôi là “ dân Cá gỗ”, nhưng tôi cảm thấy tự hào được mang trong mình biệt danh đó.

Tôi còn mong rằng có nhà họa sĩ hoặc nhà điêu khắc nào đó vẽ hay khắc một bức chân dung con cá gỗ và anh học trò xứ Nghệ thật đặc trưng, có hồn của lòng “hiếu học” để biếu cho khách du lịch hoặc tất cả người trong ngoài nước đến đất Nghệ An.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, chỉ cần không học một ngày, kiến thức đã lỗi thời.

Các thầy giáo nhiều tuổi, nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng không sử dụng máy tính, phần

mềm tin học bằng học sinh của minh, cũng không nắm bắt thông tin nhạy bén bằng các học

sinh có kiến thức tin học và ngoại ngữ hơn mình. Cho nên càng làm thầy càng phải học.

Ngẫm ra thơ Hai-ku ngắn mà chứa hàm ý rộng!

" Học để làm thầy/Làm thầy để học/" Biển học không bờ" ./.

L.Đ.H

( Những ngày tại gia, đề phòng Co-vit 19)

Lúa mạch này sinh ra từ xác thịt nàng- Lê Văn Truyền

SATOH ONIFUSA*

hoto-ni naru mugi tohtokere aosanga

Satoh Onifusa

alt

Born from her flesh

this barley, a blessing

the verdant hills

Dhugal J. Lindsay** dịch


Đồi yến mạch xanh tươi

phúc lành sinh ra từ cơ thể

Nữ thần phồn thực

Lê văn Truyền dịch

LỜI BÌNH (Dhugal J. Lindsay)

Câu “born from her flesh – this barkley” (Lúa mạch này sinh ra từ xác thịt Nàng) ngụ ý về một câu chuyện thần thoại Nhật Bản. Trong tập sách Koijichi (năm 712, Sách ghi những chuyện cổ), Nữ thần Ohketsuhime, giữ quyền về cung cấp lương thực và thực phẩm, khi bị nam thần Susanoo-no-mikoto giết hại thì từ cửa mình của nàng tuôn trào những hạt lúa mỳ và lúa mạch, để các loại cây lương thực này không chết theo nàng mà luôn tồn tại, sinh sôi trên Trái đất nuôi sống nhân loại. Mùa hè đang đến sớm, những cánh đồng lúa mạch xanh tươi tràn đầy thung lũng, gió rì rào thổi tạo nên những làn sóng xanh trải tận đến chân trời. Đã gần cuối tháng Năm, gần đến mùa gặt, những ngọn đồi vẫn tràn ngập màu xanh. Liên tưởng đến câu chuyện thần thoại, nhà thơ bỗng nhận ra mỗi hạt lúa thực sự là một món quà của Thượng Đế và Thần Linh ban cho chúng ta.

Có thể nhà thơ đã cảm nhận được quá trình sinh trưởng của hạt lúa với cảm thức sâu sắc rằng cửa mình của Nữ Thần đã chết đem đến cho chúng ta cảm xúc như thế nào. Nói cách khác, nhà thơ đã được sinh ra và nuôi dưỡng bởi những cánh đồng và đồi nương lúa mạch ở một tỉnh phía Bắc Nhật Bản, đôi chân luôn cảm nhận sự ấm áp và sức mạnh sinh sôi ẩn mình trong lòng đất. Không nghi ngờ gì nữa, đó cũng là cảm nhận của mỗi chúng ta đối với Vũ trụ.

...

* Onifusa Sato (1919 -2002): Một trong những haijin lớn nhất của Haikư Nhật Bản hiện đại.

** Dhugal J. Lindsay (Australia): Tiến sĩ sinh học biển, Nhà nghiên cứu (Cơ quan Nhật Bản về Khoa học – Kỹ thuật Biển và Trái đất: JAMSTEC)

Suy tư mùa dịch- Lê Văn Truyền

alt

Thiên nhiên cuồng nộ

virus bạo tàn

chúng ta đang trả giá

Lê văn Truyền

Con siêu virus có cái tên mỹ miều Corona (Vương miện) đang quét một cơn bão đại dịch qua toàn thế giới, cũng giống như cơn thủy triều “cái chết đen” dịch hạch do vi khuẩn Yersinia pestis gây ra trong những năm 541 - 750 sau C.N. đã giết chết khoảng 50 triệu người khắp vùng Trung Á, Trung Đông, Bắc Phi, bằng 50% dân số thế giới thời bấy giờ. Và rồi một lần nữa, từ năm 1347 đến năm 1351, dịch hạch từ Trung Quốc qua những con chuột trên những chiếc thuyền buôn lại lan rộng khắp châu Âu, giết chết khoảng 25 triệu người. Cái chết đen thời Trung cổ là khởi đầu cho "sự suy tàn của chế độ nông nô" ở Châu Âu mà không cần đến một cuộc cách mạng đẫm máu. Giờ đây, dịch Covid-19 với tốc độ siêu nhanh, chỉ sau ba tháng từ Vũ Hán cũng đã lan ra gần như khắp các quốc gia trên 5 Châu lục, gần triệu người từ dân thường đến giới tinh hoa đã là nạn nhân của một đại dịch chưa biết khi nào kết thúc.

Mấy hôm nay, trên mạng xã hội lan truyền một thông điệp được cho là của Bill Gates, một trong những bộ óc vĩ đại của nhân loại đương thời, nêu lên những điều mà con virus Corona buộc chúng ta phải suy ngẫm về thế giới của “loài người thông minh”, về các giá trị chúng ta thường tôn sùng và mưu cầu, về cách hành xử của chúng ta đối với đồng loại và đối với muôn loài, dù là loài hữu tình hay vô tình, với thiên nhiên, trái đất – ngôi nhà chung chúng ta đang cộng sinh cùng với bao loài sinh vật khác. Và rồi, chỉ sau mấy hôm, truyền thông thế giới lại cho rằng bức thông điệp nói trên chỉ là tin giả (fake news) của một người ẩn danh nào đó, muốn mượn tên tuổi của Bill Gates để “đánh bóng” mình.

Công bằng mà nói, mười ba thông điệp trong bức thư, dù không phải là của Bill Gates, dù là của “một kẻ thích đùa” nào đó thì cũng đáng để chúng ta suy ngẫm. Điều đáng cho ta suy tư nhiều nhất là: “Trái đất của chúng ta đang bị bệnh. Chúng ta cũng bị bệnh vì ngôi nhà của chúng ta đang bị bệnh” và “Hãy kiềm chế bản ngã của mình lại. Nó đang nhắc nhở chúng ta rằng cho dù chúng ta vĩ đại đến đâu thì chỉ một con virus cũng có thể làm cả thế giới của chúng ta bế tắc”.

Khi những “siêu đô thị” – niềm tự hào của nhiều quốc gia - đang trở thành những thành phố chết, khi những sân băng trở thành những “nhà ướp xác” mênh mông, khi những lò hỏa táng đỏ lửa hết công suất 24 giờ mỗi ngày, khi những thầy thuốc tận tâm và giỏi giang nhất cũng trở thành người bệnh bất lực chờ Thần chết đến đem mạng sống của mình đi, ta hãy trân quý cuộc sống, yêu thương đồng loại, yêu thương muôn loài và thiên nhiên độ lượng mà chúng ta đang sống cùng như một cách sám hối cho những sai lầm mà ta đã mắc phải.

LVT

Khiếm khuyết và hoàn hảo- Lê Văn Truyền

Her face is disfigured

my eyes are blind

we make a perfect couple

Tanuj Khosla* (Singapore)

Horizon: The Haiku Anthology

Edited by Santosh Kumar 2018

alt

Mặt em biến dạng

mắt tôi thì mù

chúng ta- một cặp đôi hoàn hảo

Lê văn Truyền dịch

Tất cả chúng ta sinh ra trên đời không ai là hoàn hảo. Kể cả Thượng Đế, vì đôi khi Người cũng nhầm lẫn, để người tốt phải chịu kiếp đọa đày và kẻ xấu dương dương tự đắc. Âu đó cũng là lẽ công bằng của trời đất. Không ai có được tất cả và cũng không ai không có gì cả. Đôi khi chúng ta khác biệt với mọi người chính là ở sự khiếm khuyết của mình. Chúng ta thường nhìn vào vẻ ngoài “hoàn hảo” của một “thần tượng” nào đó để buồn phiền, thậm chí than thân trách phận tại sao mẹ cha ta không cho ta một cơ thể hoàn hảo như các “hoa hậu” và “nam vương”. Đặc biệt, ở thời buổi vẻ đẹp bên ngoài đang được đề cao hơn bao giờ hết trong cái xã hội “sống ảo” và xã hội “tiêu thụ” đương thời, sự khiếm khuyết về vẻ ngoài của cơ thể thường đem lại cho ta những dằn vặt khôn nguôi.

Khúc haikư của Tanuj Khosla cho ta một cách nhìn khác về sự khiếm khuyết. Một chàng trai mù đem lòng yêu thương một cô gái mặt bị biến dạng, có thể do một tai nạn hay là hậu quả của một vụ bạo hành. Vấn đề không phải là do bị mù nên vẻ đẹp của khuôn mặt người yêu không là điều quan trọng đối với chàng trai. Vấn đề ở đây là trái tim của chàng trai mù đã “thấy được” tất cả vẻ đẹp nội tâm người yêu của mình, và đó là vẻ đẹp trời cho mà chàng trai đang mưu cầu.

Nếu chúng ta có gì khiếm khuyết, xin hãy đừng “bới móc” những khiếm khuyết của người khác để tự an ủi. Hãy phát hiện và suy ngẫm về vẻ đẹp sâu kín, tiềm ẩn của những người chung quanh để mưu cầu sự an lạc trong tâm hồn ta.

...

*Tác giả: Tanuj Khosla (Singapore), ban ngày là một nhân viên tài chính, ban đêm là một nhà thơ, đang làm việc cho một Quỹ bảo hiểm ở Singapore. Ông đã sáng tác hàng trăm truyện ngắn, thơ, bài báo… đa số được xuất bản trên những tờ báo hàng đầu ở Ấn Độ.

Bài thơ Haiku từ một bức ảnh- Lê Đăng Hoan

alt

Tấm ảnh này chụp ngày 20/11/2018.

Đây là TS. Nguyễn Thị Thu Vân, học sinh của tôi ở trường ĐHKH Nhân văn- Hà Nội.

Từ bức ảnh này, tôi làm bài thơ:

" Hoa nở

trò cũ đến thăm

thơm lừng trang sách".

Hôm nay lên Google, mở "Lê Đăng Hoan", thấy có một nhà bình luận văn học ở Đà Lạt, chưa quen biết, viết bài bình luận rất ấn tượng.

Mời các bạn đọc nhé!

Cảm ơn nhà bình luận Nguyễn Thánh Ngã.

Hoa tri ân bật nở

Nguyễn Thánh Ngã

hoa nở

trò cũ đến thăm

thơm lừng trang sách

(Lê Đăng Hoan)

Đọc bài haiku của nhà thơ - Haijin Lê Đăng Hoan, chợt nhớ cụ Nguyễn Du từng viết:"Khi chén rượu, khi cuộc cờ/ Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên", tức nhà giáo đã về hưu rồi. Vì vậy, "hoa nở" ở đây được viết với phong thái "hạ nhàn". Ta có thể hiểu, nhà giáo đang vui hưởng cảnh thong dong nhàn nhã, sau khi đã cống hiến cả đời trên bục giảng.

Và những hạt "bụi phấn bay bay" rơi trên tóc thầy, đóa hoa tuổi tác đã nở trắng. Màu trắng của đám mây phiêu lãng, trôi qua dòng sông của "người đưa đò" dày dạn nắng sương, dày dạn kinh nghiệm "trồng người", khiến ta cúi đầu ngưỡng mộ...

Hiểu được như vậy, nên "trò cũ đến thăm" là cách thể hiện "tôn sư trọng đạo". Nét đẹp văn hóa đó, được người đời truyền tụng mãi mãi. Thầy đã dạy dỗ biết bao thế hệ, bao lớp học trò đỗ đạt, đem sức trẻ cống hiến cho đất nước quê hương. Báo đáp ân thầy dạy dỗ, là một trong tứ ân mà người học trò phải biết, phải thực hiện cho "thơm lừng trang sách"...

Sách ở đây là sách nhân học, sách dạy làm người. Thầy trò mở lòng ra với nhau, người biết ơn, người độ lượng, chính là giềng mối làm nên hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc ấy, khiến những đóa hoa lòng thơm thảo bật nở và lan tỏa hương thơm. Đó là đạo lý "uống nước nhớ nguồn", đã được cha ông ta gìn giữ. Lòng chợt buồn, khi biết rằng ngày nay mối quan hệ đó đã bị rạn nứt. Cảnh học trò "đánh thầy", đối xử vô ơn bạc nghĩa với thầy cô đã từng diễn ra. Và cũng có những thầy cô lợi dụng chức năng nhà giáo, tăng thu nhập quá mức cho phép, làm phiền lòng phụ huynh vv...

Tuy nhiên, cảnh ấy chỉ là "con sâu làm rầu nồi canh". Tất cả chúng ta đang hướng tới một nền giáo dục nhân văn, chất lượng hơn.

Xét về ý tưởng, câu thơ:" thơm lừng trang sách", đã bắt theo mạch trên, nên dù là ba ngắt ý khác nhau trong ba dòng thơ haiku, vẫn thể hiện một mạch văn nhất quán, logic.

Thái độ biết ơn thầy hợp với lòng trời, thuận theo lẽ tự nhiên. Và cái gì thuận theo lẽ tự nhiên sẽ đem lại an hòa cho cuộc sống.

Có thể nói, bài thơ nhỏ bé của nhà giáo Lê Đăng Hoan là một trong những bài thơ hay tiêu biểu, rất đáng trân trọng. Thế mới biết, công năng của thơ đã góp phần giáo dục không nhỏ trong thời đại chúng ta...

Đà Lạt tháng 11/2018

Nguyễn Thánh Ngã

Mộng dưới hoa- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"khóm hồng nở hoa

nào anh, khe khẽ

khi ngỏ lời yêu"

(Zlatka Timenova - Đinh Nhật Hạnh dịch)

alt

Trong những cuộc rượu dưới trăng, tôi đã hiểu thế nào là giây phút tuyệt diệu khi đợi hoa quỳnh nở. Zlatka Timenova cũng vậy, tuy không giống tôi, một cuộc thưởng quỳnh, nhưng giống nhau ở chỗ, cùng ngắm một loài hoa đẹp đang bật nở!

Có lẽ, bài thơ này Bà ghi lại chuyện tình của thời yêu đương, hay hư cấu để làm cái cớ cho giây phút trọng đại, cũng đều đạt mục đích. Vì khi chàng trai ngỏ lời yêu dưới khóm hồng, cũng là lúc vô cùng hồi hộp, thậm chí là cơ duyên có một không hai của sự tỏ tình. Thế mà, nàng vội lấy tay bụm miệng chàng lại:"nào anh, khe khẽ" thôi!

Đây là ý thơ hay nhất và nhân văn nhất, được dồn nén lại như cú nín thở của đôi tình nhân dành cho đóa hồng trong lúc mãn khai. Đó là sự tôn trọng cái đẹp một cách cao cả, không những yêu người, nàng còn yêu thiên nhiên và tôn trọng thiên nhiên. Vì thế, nàng xin gác lại cái khoảnh khắc dành cho mình, để dành cái khoảnh khắc ấy cho tình yêu của một đóa hồng!

Chắc rằng, chàng trai cũng đã cảm nhận được trái tim nàng cùng nhịp đập với đóa hồng kia, không khác. Bởi hoa hồng luôn mang ý nghĩa của tình yêu, tặng hoa hồng là cách ngỏ lời thầm kín, nhờ hoa nói hộ lòng mình vậy. Cho nên trong tình huống này, không có gì đẹp hơn là hãy để hoa nói hộ chuyện tình, chàng không cần nói nữa...

Thơ haiku kín nhiệm là thế, đọc thơ, cũng là cách thưởng ngoạn "khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên"(*), hương tình yêu sẽ tỏa thơm, ngào ngạt cả cuộc tình thơ mộng ấy của đôi tình nhân...

N.T.N

(*) Nguyễn Du

Vũ điệu thời gian- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"Tôi cùng thơ

khiêu vũ

trên sàn thời gian"

(Thạch Lựu)

Giữa thời kinh tế thị trường, con người ta có xu hướng nghiêng về đồng tiền, cuộc sống theo nhịp ồn ào, gấp gáp. Các giá trị tinh thần không còn được như xưa, trong đó có thơ, nên việc duy trì cuộc sống với thơ là công việc không dễ dàng gì. Tuy nhiên, nhà thơ Thạch Lựu đã hạ bút:"Tôi cùng thơ...", tôi cho đây là một khẳng định có dũng khí, đậm chất Haiku Việt.

Thật thế, ai dám khẳng định như chị? Một khẳng định trí tuệ và hùng biện, khi cuộc sống đến lúc cần quay về với thế giới nội tại, cứu rỗi tâm hồn!

Thơ haiku là vẻ đẹp của sự kiệm lời, bùng vỡ với ngữ nghĩa thâm sâu, đã chảy vào tâm hồn chúng ta, chảy vào tâm hồn Thạch Lựu và cùng nhà thơ, Haijin Thạch Lựu "khiêu vũ..."...

Vâng, chúng ta biết khiêu vũ là một loại hình nghệ thuật cao cấp, kết hợp giữa âm nhạc và hình thể uyển chuyển. Thơ cũng là những cung bậc cảm xúc của tâm hồn. Ở đây, thơ được nhân hóa lên thành người, có đầy đủ các giác quan. Con người và thơ cùng dìu nhau đi vào chiều sâu của vũ điệu, làm nên tác phẩm độc đáo dành cho cuộc sống. Sự hài hòa đó là tài hoa của nhà thơ, nó khiến chúng ta vừa cảm thụ cũng vừa giao thoa trên bước nhảy hoàn vũ.

Và khi cảm thụ bài thơ, người đọc dễ dàng nhận ra tác giả đang mời gọi chúng ta nhập cuộc "trên sàn thời gian"...

Trên sàn thời gian ư? Tôi cho đây là tứ thơ hay, và đầy sáng tạo; làn đầu tiên tôi được chạm vào nó, và thả những bước nhảy cảm xúc của mình về phía ngôn từ. Nó vô hình mà hiện hữu, nó chắc chắn mà mong manh...

Thơ hay làm cho người ta sảng khoái, như gặp người đồng điệu, tìm ra kẻ tri âm. Càng đọc càng có nhiều dư vị thấm đẫm, nhiều hàm ẩn ngoại ngôn...

Sài Gòn tháng 3.2020

N.T.N

Mời bạn bước vào vườn haiku- Nguyễn Văn Lanh

alt

Trăng khuyết/ sương lừng/say dạ hương

Không biết tự bao giờ,trong kho tàng văn học Việt Nam trăng đã là nguồn cảm hứng vô tận của các bậc thi nhân. Trăng có lúc tròn lúc khuyết, giống như việc đời, việc người luôn chuyển động và thay đổi. Thường thì trăng tròn trong khoảng ba đêm, còn lại là trăng khuyết. Ở đây, nhà thơ Đinh Nhật Hạnh vẽ nên hình ảnh một mảnh trăng lưỡi liềm cho câu thơ đầu.Chính điều này đã tạo ra một sức hút nhất định, người đọc thông qua hình ảnh trừu tượng này đã liên tưởng tới sự không đầy đủ,không trọn vẹn. Bằng sự vật thường nhật, tác giả làm cho người đọc bắt đầu cảm nhận và liên tưởng. Gía trị biểu cảm của thị giác trong haiku rất cao và thị giác cũng là một trong những liên tưởng quan trong nhất. Đêm trăng khuyết còn chứa đựng 1 sự chờ đợi hay một lời tỏ tình nào đó của tri kĩ-chờ để được tròn! Người đọc thì đang chờ đợi điều sắp xảy ra, còn đang mãi đi tìm nguyên cớ làm cho vầng trăng kia khuyết thì tác giả đưa người đọc bước vào haiku chứ không bước vào trữ tình bằng câu thơ thứ hai

Không phải nói về một tình yêu không trọn vẹn,hay sự tiếc nuối của chàng trai khi cô gái tỏ tình trong một đêm trăng khuyết. Lúc này khứu giác của người đọc đã tràn ngập 1 mùi hương, một cảm giác rất mạnh và tràn ngập. Cơ thể cũng đồng thời nghe có chút hơi sương lạnh, đêm dần trôi về khuya. Thiên nhiên, chính là thiên nhiên và sự việc-cả một đêm trăng đang thu gọn trong mùi hương của hoa. Rồi điều gì đến cũng đã đến, mùi hương gọi mời một trái tim đa cảm và nhạy cảm, đang làm thức tỉnh mọi giác quan và đã làm sống lại những gì chôn sâu trong trong kí ức.

Cái hay của haiku là đây, người đọc đang tự mình hình dung rồi cảm nhận. Cái cảm xúc ấy vỡ òa,ngây ngất. Tác giả và người đọc thấy say và cứ say sưa thưởng thức thôi. Cảm giác ấy, quen mà lạ, lạ mà quen. Đúng là dạ hương rồi, đúng cái kết trọn vẹn nằm trong câu thứ ba.

Haiku là thể thơ ít lời, ít từ. Mỗi từ, mỗi câu đều được đem ra cân, đo, đong, đếm và chọn lọc tỉ mĩ. Haiku là không dư, không thiếu, ý tứ sâu xa,đó chính là sự ảo diệu đỉnh cao của hai ku. Với chỉ bấy nhiêu chữ thôi mà nhà thơ Nhật Hạnh đã làm cho trí tưởng tượng của người đọc cùng giao hòa với mình, cùng rung cảm với thiên nhiên. Vậy nên haiku là thể thơ nhỏ gọn nhất thế giới-là sự toàn bích trong từng đường kim mũi chỉ!...

NVL

...

Họ và tên: Nguyễn Văn Lanh

Bút danh: Gia Bảo

Năm sinh: 1982

Nguyên quán: Điện Bàn, Quảng Nam

Khúc tam tấu haiku- Nguyễn Thánh Ngã

Bất chợt đọc chùm Haiku của Haijin Đinh Nhật Hạnh gởi, như một nghệ sĩ già bật lên tấu khúc về "tiếng lòng" rất đỗi thâm sâu.

alt

Nghe câu "thức đêm mới biết đêm dài" chính là tấu khúc thứ nhất khiến cảm giác tôi rờn rợn:

1.

"Khuya

mỏi mòn

cánh vạc"

Chỉ với năm từ tối giản, nhà thơ đã vẽ ra một bầu trời đen thẳm, cũng là bóng tối vô minh của cuộc đời. Con người, kẻ đã đến thế giới này và gánh vác trên vai mình bao thứ nghiệp nặng nề, cũng không thoát khỏi màn đêm ấy. Như cánh vạc kia bay "mỏi", bay "mòn" cả đêm khuya chỉ để kêu lên một tiếng kêu sương sầu thảm! Và nỗi vô vọng là cảm thức thẩm mỹ của tấu khúc Haiku cô độc này, chiều hướng của nó dẫn ta đến cuộc hội ngộ thứ hai:

2.

"Thủy triều tùy trăng

sóng lòng

trăng nào rọi?"

Đây là bản sonate về ánh trăng, mà nhà thơ là kẻ đứng sau khung cửa của căn nhà hoang trên bãi biển. Chúng ta biết rằng, sự thay đổi lực hấp dẫn từ mặt trăng đã tạo ra hiện tượng thủy triều lên xuống, cho nên nhà thơ mới viết "thủy triều tùy trăng", là cái tùy thuộc về khách thể mà nhân vật trữ tình đã được ẩn giấu sau tiếng sóng. Phải rồi, dùng tiếng sóng thực để ám chỉ tiếng sóng vô hình, là một gợi mở rất lý thú, cho nên nhà thơ tự hỏi:"trăng nào rọi" được đây...? Quả là câu hỏi vô cùng kỳ bí!

Vâng, bởi mang vẻ kỳ bí, tấu khúc ấy đã đưa người thưởng ngoạn đến câu trả lời. Tấu khúc thứ ba:

3.

"Quỹ thời gian vơi

như giọt lệ đá

rơi trong hang đời"

Hóa ra tiếng sóng dội trong lòng chính là cái lo toan về "thời gian". Tiếng sóng như tiếng kêu, tiếng thét gào trong biển tối, rằng thời gian như một loại quỹ để dành cho đời người, lại có nguy cơ biến mất bất cứ lúc nào, con người không thể đo đoán được... Nó như giọt lệ chắt lọc từ trong nhũ đá của hang động "đời người"... Hai chữ "hang đời" được sử dụng ở đây như một từ đắc địa, nó logic với bầu trời đêm mỏi mòn cánh vạc, và tiếng sóng lòng gào thét. Từ đây, người đọc có thể hình dung phạm trù sống của đời người tùy thuộc vào môi trường nhận thức, tức thứ ánh sáng trí tuệ đem lại cho mỗi loài linh trưởng.

Tôi cho đây là khúc tam tấu Haiku rất hay, hay không đại ngôn, hay không xảo thuật mới kỳ tài. Bởi sự dung dị là sau khi đã bí hiểm, xa vời cuộc sống...

Thật vậy, khúc tam tấu này chỉ như một khúc ca huyền ảo, được tấu lên bởi bàn tay kẻ lãng du dạn dày kinh nghiệm. Nó ngân lên rồi biến mất, nhưng người am hiểu sẽ thấy nó còn đang dội vào những hang động thăm thẳm mênh mông của đời người...

Sài Gòn tháng 2.2020

N.T.N

Luận đàm bài thơ Haiku của Đinh Nhật Hạnh- Võ Khoa Châu

alt

Mưa vẫn tầm xuân

lất phất

nắng còn say lắm hoa cau

Như chúng ta đều biết, thơ haiku có 17 âm tiết theo ngắt nhịp 5-7-5 âm, là thể thơ ngắn nhất của Nhật Bản. Thơ haiku giữ một vị trí hết sức quan trọng trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học đất nước Phù Tang, và đang tiếp tục phát triển rộng rãi tại nhiều quốc gia. Tùy vào mỗi thời đại của lịch sử phát triển, mà thơ haiku có các tên gọi khác nhau như hokku発句, haikai俳諧, haiku俳句, và cấu trúc giản lược, còn lại 8, hoặc thấp hơn 17 âm vị. Bài thơ của Đinh Nhật Hạnh – Chủ tịch CLB Haiku Việt – Đại diện Hiệp hội Haiku Thế giới WHA, có thể xem như một dẫn chứng.

Mưa vẫn tầm xuân/ lất phất/ nắng còn say lắm hoa cau

Mưa, cho ta nhiều ý tưởng - Il pleut dans mon cœur comme il pleut sur la ville - Pault Verlaine (1844 – 1896) - mưa trong tim tôi như mưa trên phố. Mưa còn là hoài niệm, là lãng mạn thi ca – Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ), Em tan trường về/Đường mưa nho nhỏ - Ngày xưa Hoàng Thị (Phạm Thiên Thư), Nhưng “mưa” của Đinh Nhật Hạnh là “mưa tầm xuân” – mưa xanh biếc. Ở đây, tác giả dùng chữ “vẫn”, xem như một dụng ý tạo ngữ “nhãn tự”. Nếu giả sử chúng ta bỏ đi âm tiết “vẫn” này, thì câu thơ trở nên bình thường. Vì chữ “vẫn” có nghĩa nó là như thế, cái đang là, sự tiếp nối, tính muôn thưở của “mưa vẫn tầm xuân” trong thơ Đinh Nhật Hạnh. Cũng có thể là “mưa bay lất phất và mây tím giăng giăng” (Trần Thiện Thanh)…

Mưa lất phất – it’s springkling - hạt mưa bụi rơi rất nhẹ và tựa như bay nghiêng theo chiều gió. Lất phất - hình ảnh lay bay – lay phay không những tạo tính vận động nhẹ nhàng cho toàn thể 12 âm tiết quý ngữ (mùa xuân), mà còn “làm dáng”, làm đẹp câu thơ chỉ với hai âm ngữ định vị. Tác giả đặt “chỗ đứng” thứ hai trong bài thơ ba câu nói trên, là một sự chọn lựa nghệ thuật thi ca Haiku.

“Nắng còn say lắm hoa cau” – Nắng. cho ta hàm ý của dung nhan. Nắng rực rỡ, nhưng rồi sẽ tàn, cũng như dung nhan, một ngày nào đó cũng phai sắc theo thời gian. Nhưng nắng ở đây - trong câu thơ của tác giả là cái nắng “còn say lắm”, là cái nắng vẫn đang say màu “hoa cau rụng trắng bên thềm”, của vườn quê Việt - “Một cõi vườn cao vút những thân cau”. (Vũ Quần Phương)

Ta cũng nên để ý nhà thơ Đinh Nhật Hạnh sử dụng từ “lắm” trong “say lắm”, thật ý vị. Đó là một cái say thanh khiết, thắm thiết, tao nhã nồng nàn xuân. Ý vị ở chỗ không phải là say đắm. Vì say đắm, là cái say “lụy”, một sự say chìm đắm vào…

Thơ Haiku kiệm lời mà ý thơ sâu sắc, thâm trầm, nhu nhuyễn; vì thế cho nên tác giả luôn hết mực cẩn trọng “cân đo” tự vựng, chọn lọc âm tiết, đa tầng ngữ nghĩa. Bài thơ trên của Đinh Nhật Hạnh đã nắm bắt được cái “quý ngữ”,và sự tinh lọc văn chương xứ sở Mặt Trời mọc

Để minh chứng thêm điều này, lời viết mượn những bài thơ sau đây của các tác giả Haiku đã đạt giải cao trong các kỳ thi thơ Hai ku, làm một xác tín.

Xó chợ/ chiếc lon trống/hạt mưa mồ côi (Nguyễn Thánh Ngã – tp Hồ Chí Minh)

Người đàn bà/ neo minh lên khói bếp/ đêm xuân (Mai Trinh Phượng Uyên – Bạc Liêu)

VKC

Say thơ Haiku với bạn vong niên- Dương Quang Minh

“Nhà thơ Haikư Việt đang ở phương trời nào đó?” – qua điện thoại, tôi cất tiếng gọi. “Mình đang ngắm hoa ở Chợ Hoa Tết Trương Định đây. Mời bạn đến nhà chơi nhé. Mươi phút nữa gặp nhau nhé” - Bác Đinh Nhật Hạnh U 100, bạn vong niên của tôi đáp. Thế là chúng tôi lại thêm dịp ngồi bên nhau  thưởng thức trà ngon, đàm đạo thế sự. Trong niềm vui tiễn năm Kỷ Hợi (2019) đón năm Canh Tý (2020), bác Hạnh trao tặng tôi cuốn Tuyển tập thơ Haikư Việt của Câu lạc bộ Hakư Hà Nội. “Quý hóa quá, đẹp quá” - tôi reo lên đón báu vật có tên “12 năm ấy” (bằng 3 ngôn ngữ Việt, Anh, Nhật), Nhà xuất bản Văn Học ấn hành.

alt

Theo thói quen, tôi đọc ngay lời tựa ở trang đầu ấn phẩm, liền được tiếp nhận thông tin từ nhà thơ Nhật Chiêu: “Thơ Haikư dù ban đầu mang tính đặc trưng Phù Tang, nhưng càng ngày càng mang tinh quốc tế. Không ai tính nổi trên thế giới đến thời điểm này có bao nhiêu người  sáng tác thơ Haikư. Đủ màu da cho thơ Haikư. Đủ phong cách cho thơ Haikư. Đủ lứa tuổi, đủ đề tài…”. Tiếp đến, nhà thơ ngợi ca sự đóng góp và thành công của các nhà thơ Haikư Việt từ năm 1975 đến nay. Lật mở trang mục lục, tôi đếm được 59 tác giả cung cấp tới 590 bài thơ (mỗi người 10 bài) kết thành ấn phẩm dày tới 220 trang.

“Bác Hạnh ơi - tôi ngỏ lời - Em hiểu với thơ Haikư, người đọc phải suy ngẫm từng câu từng chữ, chứ không thể “cưỡi ngựa xem hoa”. Dù vậy, vừa lướt qua ấn phẩm thôi, em có duyên bắt gặp bài hợp với ý mình”, rồi giải bày: “Với 8 từ “Đậu - gió vẫn thổi - đôi cánh vẫn rung” bài thơ của Mai Văn Phấn  mang đậm tính thời sự. Những kẻ tham nhũng, hư hỏng thời đương chức, những tưởng khi về hưu sẽ thoát búa rìu pháp luật. Thực tế diễn ra không thế, họ run rẩy, lo sợ. Đã gây tội thì phải đền tội. Cuộc sống thật công bằng”. Thấy bác Hạnh gật đầu, tôi hào hứng nói tiếp: “Em còn thích bài cũng chỉ 8 từ “Con giun – chui xuống vườn – đất bao la” của Phan Hữu Cường”. Được bác Hạnh hỏi lý do, tôi thưa: “Bài thơ ấy chứa bài học lớn. Ai hiểu rõ mình, hiểu rõ môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên nơi mình sống, ắt hành động phù hợp và luôn luôn thấy mình thênh trang, hạnh phúc”. Nhận thêm cái gật đầu của người bạn vong niên, tôi nồng nhiệt trải lòng: “Bác Hạnh ơi! Em thú lắm khi đọc bài thơ của Lê Đình Công 3 dòng, đều đặn mỗi dòng 4 từ  “Mông lung đêm dài – chợt vang gà gáy – ô kìa ban mai”. Phải chăng nhà thơ  diễn tả tâm huyết của những vĩ nhân, luôn luôn mang tinh thần tìm tòi khám phá vì sự nghiệp chung. Khi ánh sáng trí tuệ bùng phát, các vị ấy sung sướng  đến cao độ, do khẳng hoạch định được bước đường thành công phía trước. Em xếp bài này vào mục “Gương sáng nhân tài”, liệu có được không ạ?”. Bác Hạnh thủng thẳng nói: “Nước gặp họa thì xuất hiện tôi trung để ứng cứu! Cổ nhân từng tổng kết!”, rồi thêm lời gợi ý: “Nhà báo ơi! Viết thành văn ngay đi những suy tư buổi đầu anh vừa nói khi mới lướt qua “Tuyển tập thơ Haikư - 12 năm ấy”, và nhớ đọc kỹ, viết tiếp về những điều hay ý đẹp ẩn mình trong mấy trăm bài thơ Haikư khác nữa nhé”. Tôi liền đáp “Em xin sẵn sàng”.

DQM

Con chuột máy- Hồ An Thạch

alt

Click...click...

tiếng chuột giao thừa

mở toang

(Nguyễn Thánh Ngã)

Cuối năm, sau nhiều bề bộn cuộc lữ, tôi lại có dịp gặp thơ, đọc nhau nghe những sáng tác mới. Không thể không động bút, khi có bài thơ hay lay động tâm hồn. Bài haiku của Nguyễn Thánh Ngã là một bài như vậy, làm tôi đặc biệt chú ý. Anh gởi tôi mảnh giấy, đọc qua một lần là tôi nhớ không thể nào quên. Bởi bài thơ lạ lắm! Nghe thì hay đấy, cũng khó hiểu đấy...

Tôi về thư phòng ngẫm ngợi, tiếng chuột kêu trên xà nhà "chút chít", gần với tiếng click , tức lá cái nhấp chuột của máy tính. Phải rồi, kèm theo chiếc laptop là con chuột, kích hay bấm chuột, tiếng Anh gọi là click...

Vâng, thuật ngữ con chuột làm tôi liên tưởng đến dáng dấp của động vật nhỏ bé, linh hoạt, hẳn con chuột máy tính cũng vậy, nhanh nhẹn để con người thao tác. Và đoạn dây điện cũng giống cái đuôi chuột, tôi thầm khen ai đó đã nghĩ ra cũng thật hay. Đã vậy, câu thơ :"tiếng chuột giao thừa", là nói về thời khắc năm cũ chuyển dần sang năm mới, cách nhau một tiếng chuột kêu thôi...

Chỉ cần một động tác click, cánh cửa tri thức của nhân loại sẽ được mở toang. Và chân trời mới xuất hiện...

Bài thơ có năng lực ghê gớm, đã mở ra thời đại ánh sáng cho con người chiếm lĩnh không gian internet.

Thơ haiku kiệm, kín, nhưng cũng mở toang, nếu ta biết kích vào con chuột thông minh trên vỏ não. Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã đã làm công việc kích thích trí tò mò của người yêu thơ, để cuối cùng vỡ òa trong sự đồng cảm bao la...

H.A.T

Haiku Việt- Bản hòa ca của tâm hồn Việt- Nhật

Thơ haiku là sản vật trân quý của xứ sở Phù Tang. Thơ haiku giống như loài hoa bồ công anh, đẹp một vẻ đẹp dung dị, đơn sơ, khiêm nhường, và khi vào độ chín, theo gió bay đi muôn phương. Những hạt giống haiku Nhật dù ở mảnh đất nào cũng nảy nở, sinh sôi thành vườn thơ đẹp bất chấp những hàng rào ngôn ngữ, văn hóa… Có một vườn thơ haiku như thế trên mảnh đất Việt Nam. Hạt giống haiku Nhật Bản được gieo trồng trên mảnh đất của xứ sở mà con người từ ngàn đời nay vẫn dành trọn tình yêu cho thi ca nên chẳng bao lâu đã đơm những nụ hoa, kết những trái ngọt đầu mùa. Kể từ những bỡ ngỡ buổi đầu khai sinh đến nay, haiku Việt do Câu lạc bộ haiku Việt Hà Nội sáng tác đã trải qua mười hai mùa hoa với rất nhiều thành tựu. Hoa trái đầu mùa của haiku Việt kết tinh những hạt phù sa tâm hồn Việt, tỏa một hương sắc rất Việt Nam. Đọc haiku Việt, độc giả được sống giữa một không gian thiên nhiên, một không gian văn hóa, gặp gỡ những tâm hồn rất đỗi Việt Nam.

alt

Vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người và văn hóa Việt Nam

Thơ haiku Nhật Bản cổ điển thường viết về đề tài thiên nhiên qua bốn mùa được gọi là quý đề (kidai). Để biểu đạt mùa, thơ haiku thường dùng quý ngữ (kigo). Đó có thể là những từ trực tiếp chỉ mùa (gọi là quý ngữ trực tiếp) hoặc những hình ảnh, âm thanh đặc trưng biểu tượng cho mùa (gọi là quý ngữ gián tiếp). Quý ngữ chỉ mùa xuân trong haiku Nhật Bản thường là hoa anh đào, hoa mai, hoa mơ, hoa mận, liễu xanh, chim oanh, chim yến…, mùa hạ là tiếng ve, chim quyên, hoa diên vĩ…, mùa thu là trăng, sương, tiếng dế, tiếng côn trùng, lá phong…, mùa đông là cây tùng, tiếng ngỗng hoang, tuyết, cánh đồng hoang… Tiếp thu tinh thần ấy, thơ haiku Việt cũng viết về thiên nhiên bốn mùa nhưng là những cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam, là những hình ảnh, âm thanh rất đỗi thân thương đối với mỗi người dân Việt. Những âm thanh, hình ảnh dung dị của làng quê Việt từ Bắc vào Nam, từ miền núi, đồng bằng đến miền biển… chợt hiện lên trước mắt nhà thơ và bước vào trong thơ hết sức tự nhiên.

Vẻ mĩ lệ của những chân ruộng bậc thang lúa đang thì con gái xanh tươi trên vùng núi phía Bắc đã lay động tâm hồn lữ khách phương Nam Mộng Hòa. Liên tưởng thú vị những khu ruộng bậc thang với “thang ai bắc / lúa lên trời’ của nhà thơ đã giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng cũng như sức mạnh sáng tạo trong lao động của những con người nơi vùng cao:

Ruộng xanh

thang ai bắc

lúa lên trời (Mộng Hòa)

Cũng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của núi rừng, nhà thơ Lê Khắc Huy lại rung động trước một cánh cò trắng về tổ lúc chiều muộn trên nền núi tím biếc. Hai hình ảnh đối lập về kích thước, về màu sắc: ngọn núi hùng vĩ tím biếc – cánh cò trắng nhỏ bé, mong manh gợi lên một vẻ đẹp cô liêu. Hai chữ “thân cò” trong thơ xưa giúp nhà thơ thể hiện được nỗi niềm xót xa cho những chút phận lênh đênh, nhọc nhằn:

Núi tím biếc

chấm trắng lớn dần

thân cò về muộn (Lê Khắc Huy)

Sapa – “thành phố trong sương” - làm say đắm nhà thơ Lê Thị Kim bởi vẻ đẹp của một thiếu nữ cuộn mình say giấc nồng trong tấm chăn bông mây núi, bởi rượu được chưng cất từ táo mèo đặc biệt lên hương.

Sapa cuộn mây

táo mèo ủ rượu

thơ ngả nghiêng say (Nguyễn Thị Kim)

Nhà thơ mượn những câu thơ say để nói lên nỗi niềm say đắm của lòng mình. Phan Vũ Khánh, Nguyễn Kì Anh dẫn người đọc đến với những đêm hội của đồng bào vùng cao với bếp lửa trên nhà sàn, điệu hát then hòa trong tiếng đàn tính, với vườn đào bừng nở khoe sắc cùng thiếu nữ sơn cước:

Bếp lửa nhà sàn

rung ran đàn tính

điệu then mướt đồi (Phan Vũ Khánh)


Củi cháy

hồng má em cô gái vùng cao

đào ngoài vườn bung nở (Nguyễn Kì Anh)

Hà Nội – chốn kinh kì hào hoa, thanh lịch bậc nhất – giờ đây đã hiện đại hóa hơn nhưng cũng trở nên xô bồ, náo nhiệt hơn. Những người vốn gắn bó với Hà Nội xưa như Phùng Gia Viên luôn hoài niệm về hình ảnh Hà Nội ngày cũ. Một chiều thả bộ trên cầu Long Biên, nhà thơ như ngược chiều cuộc sống ồn ào tìm về một Hà Nội xưa êm đềm:

Cầu Long Biên

lối bộ hành

ngược chiều xe cộ (Phùng Gia Viên)

Nếu cầu Long Biên là cây cầu tiêu biểu của Hà Nội thì cầu Tràng Tiền lại là biểu tượng của xứ Huế mộng mơ. Cây cầu sáu vài mười hai nhịp trong tưởng tượng của nhà thơ làng quê Nguyễn Bính đẹp lãng mạn và trữ tình, mang thần thái của đất kinh kì xưa: “Cầu cong như chiếc lược ngà / Sông dài mái tóc cung nga buông hờ”. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi lữ khách Hồng Đào ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của cây cầu huyền thoại, cây cầu đã góp phần hoàn thiện vẻ diễm lệ u hoài của xứ Huế:

Tràng Tiền

Sáu nhịp cầu cong

ngẩn hồn lữ khách (Hồng Đào)

Vẻ đẹp của biển quê hương cũng đi vào thơ haiku Việt. Đi đón mặt trời trên biển sớm mai, nhà thơ Phương Anh bắt gặp một hình ảnh rất gần gũi, thân thương mà cũng rất lung linh thơ mộng:

Ban mai

sóng nắng

tròn căng cánh buồm (Phương Anh)

Nắng mai chiếu trên mặt biển sóng gợn tạo thành ngàn lớp sóng nắng lấp lánh rực rỡ. Cánh buồm no gió đưa thuyền về đất liền. Bình dị mà đẹp nao lòng!

Quan sát cửa biển, Minh Trí có một phát hiện thú vị:

Cửa biển

sông tìm ra khao khát

tàu về bến bình yên (Minh Trí)

Cửa biển - đó là nơi những dòng sông hòa nhập vào biển lớn, thỏa nỗi khát khao suốt một đời sông từ lúc khởi sinh trên núi biếc. Nhưng đó cũng là nơi bình yên để trở về của những con tàu sau những ngày lênh đênh trên biển mà hiểm họa luôn rình rập. Cùng một sự vật, hiện tượng nhưng sẽ được cảm nhận theo những cách khác nhau bởi những chủ thể khác nhau.

Một bến sông trong hàng ngàn bến sông quê Việt Nam đẹp như trong cổ tích, qua nét vẽ đơn sơ của Hồ Phương, hiện lên như một bức tranh thủy mặc có thể đặt tên là Thủy nguyệt. Bức tranh ấy hội tụ những nét đẹp mà mĩ học Nhật đề cao như sự tĩnh lặng (tịch - sabi), đơn sơ (đà - wabi) và hài hòa (hòa). Trong bức tranh ấy, vạn vật trong trạng thái tĩnh tuyệt đối; soi chiếu và hòa hợp với nhau.

Hoàng hôn

bến vắng

trăng soi (Hồ Phương)

Nắng chói chang trên sa mạc khô cằn là đặc điểm nổi bật của những vùng đất Nam Trung bộ. Nhưng Lương Thị Đậm vẫn chắt chiu tìm được vẻ đẹp riêng của miền quê ấy. Đó là những bông hoa xương rồng màu đỏ rực như lửa trên cát cháy. Hình ảnh ngọn lửa như là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt, và ý chí kiên cường của con người trên vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt này:

Nắng chói chang

sa mạc khô cằn

hoa xương rồng rực lửa (Lương Thị Đậm)

Vẻ đẹp trong lao động của những con người bình dị cũng là một đề tài đáng trân trọng trong thơ haiku Việt. Nếu trong thơ Basho, hình ảnh người nông dân gánh khoai sọ giống đi bán vào lúc hoa anh đào nở rộ vẫn mang một vẻ lãng mạn:

Gánh đi bán

Khoai sọ giống

Vào lúc anh đào nở rộ. (Basho – 1690 – Lê Thị Bình dịch)

thì trong haiku Việt, nhà thơ tái hiện hình ảnh người lao động vất vả, cay đắng với tất cả hiện thực như nó vốn vậy:

Nụ cười trên mặt nạ

nước mắt sau cánh  gà

tiếng vỗ tay. (Lê Vũ)

Bài thơ của Lê Vũ thể hiện sự thấu hiểu, cảm thông của anh đối với những người lao động nghệ thuật. Để có những màn diễn xuất thần, nhận được tiếng vỗ tay tán thưởng của khán giả, người nghệ sĩ phải giấu đi biết bao nỗi niềm, nhiều khi là cay đắng. Tuy nhiên, công việc của những người lao động, dù là ở ngành nghề, lĩnh vực nào, cũng đều chứa đựng một ý nghĩa hết sức lớn lao. Giọt mồ hôi của người nông dân đổ xuống đánh thức đất đai, sinh thành những mùa màng bội thu:

Giọt mồ hôi

giật mình

đất thức. (Lại Duy Bến)

Những người lao công làm công việc quét rác đêm thầm lặng đem lại những ban mai trong lành cho phố phường:

Hai người quét rác

tạm biệt nhau

ngày mới bắt đầu (Nguyễn Hoàng Lâm)

Những cô giáo vùng cao cắm bản, vượt qua rất nhiều khó khăn để mang đến tri thức cho các em thơ:

Cô giáo cắm bản

trò chân đất vượt núi đồi

tìm cái chữ (Ngọc Vân)

Những người lính từ biệt gia đình, quê hương, dấn thân vào gian khổ, hiểm nguy vì độc lập dân tộc, hòa bình cho nhân dân:

Đoàn quân xa đi ngang

nhớ câu thơ cũ

lá rụng từ cành ngụy trang (Nghiêm Xuân Đức)

Vẻ đẹp của con người Việt Nam còn thể hiện trong những tình cảm nhân bản như tình yêu ông bà, tình yêu cha mẹ, tình yêu đôi lứa... Khói bếp gợi nhớ đến hương rơm rạ từ bếp của bà, gợi nhớ đến đôi mắt nhuốm màu sương:

Khói quẩn thơm

nhớ hương rơm rạ

mắt bà sương pha (Thu Sang)

Haiku Việt cũng nhắc nhớ nhiều về mẹ - hình tượng mang những phẩm chất tiêu biểu cho con người Việt Nam. Hình ảnh mẹ trong thơ haiku không phải là những tượng đài kì vĩ mà nhỏ bé, dịu dàng, chịu thương chịu khó, âm thầm hi sinh, hết lòng vì con. Trong thi ca, tấm lòng, tình cảm bao la mà lặng lẽ của người mẹ thường được so sánh với vô tận nước trong nguồn: “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” (Ca dao), với mênh mông thăm thẳm biển:

Ôi! Biển khơi

Khi tôi nhìn thấy biển

Mẹ tôi ơi! (M. Basho)

Trong thơ Thiện Niệm, hình ảnh nước suối nguồn trong trẻo tận tụy vượt qua bao ghềnh thác lại được liên tưởng tới mái tóc màu mây trắng của mẹ - mái tóc lặng im không lời mà thổ lộ rất nhiều về những vất vả, hi sinh thầm lặng của người mẹ:

Nước trong nguồn

qua bao ghềnh thác

tóc mẹ màu mây. (Thiện Niệm)


Mẹ cõng nắng mưa

trên đồng lúa chín

gió trưa thì thầm (Thanh Vân)

Nhìn di vật đơn sơ của mẹ, Vũ Phượng xót xa:

Cơi trầu còn đó

hồn trong gió

mẹ tôi (Vũ Phượng)

Vật còn đây mà người thì đã phiêu du cùng mây gió. Bài thơ gợi nhớ nỗi niềm của M. Basho khi cầm trên tay di vật của mẹ là nắm tóc có pha những sợi bạc:

Tóc mẹ còn đây

Tan trong lệ nóng

Sương mùa thu bay. (M. Basho – Nhật Chiêu dịch)

Tình yêu trai gái là một đề tài mới mẻ, chỉ xuất hiện trong haiku Nhật hiện đại, hình thành nên dòng thơ tình haiku. Thơ tình haiku Nhật Bản có phần thiên về vẻ đẹp nhục cảm:

Bóng tối nhoà

Nàng buông xiêm áo

Diên vĩ nở hoa

Thơ tình haiku Việt thiên về những rung động tâm hồn, có khi mới chỉ là những rung động dịu dàng trước một hình bóng thiếu nữ thướt tha:

Thướt tha dáng hoa

tim ai

lạc lối (Ánh Thu)

là nỗi nhớ bâng quơ mà bồi hồi một đêm trăng trong khu vườn lấp lánh. Nỗi nhớ ngổn ngang, chồng chất đan dệt thành vòm lá dát ánh trăng:

Lá trăng

đan vòm nhớ

bồi hồi đêm (Phương Anh)

Cũng có khi là tình yêu nồng nàn đến độ hòa quyện bóng hình trong một đêm trăng:

Đêm trăng

hai người

chung một bóng (Phan Phượng Uyên)

hay là sự trở lại của tình yêu như hoa nở trong mùa đông sau những ngày lạnh giá:

Sự tĩnh lặng của mây

hoa vẫn nở trong mùa đông

anh đã trở lại yêu em (Như Quỳnh de Prelle)

Những người lính biển có cách thể hiện tình yêu thật giản dị, mộc mạc. Anh gửi rất nhiều lời yêu thương chưa kịp nói trong những cánh hoa bàng vuông – loài cây mạnh mẽ, có sức sống kiên cường, mãnh liệt - biểu tượng của Trường Sa:

Tặng em yêu

chỉ có hoa Bàng vuông

người lính đảo (Lê Thị Bình)

Nhà thơ Lí Viễn Giao lại thổ lộ nỗi chông chênh cô đơn khi “người ấy” sang ngang qua hình ảnh sóng vỗ chênh chao nơi bến nước cuối làng. Tình yêu không thành bao giờ cũng để lại dư ba buồn bã, trống vắng mãi không nguôi như thế:

Người ấy sang ngang

bến nước cuối làng

chênh chao sóng mãi. (Lí Viễn Giao)

Những vấn đề xã hội Việt Nam đương đại

Nếu haiku cổ điển Nhật Bản chỉ viết về thiên nhiên qua bốn mùa thì đến thời kì hiện đại, sau những cách tân của nhà thơ Shiki (1867-1902), haiku đã viết về những đề tài khác như đề tài xã hội, tình yêu… Haiku Việt đã tiếp thu tinh thần hiện đại của haiku Nhật mà đề cập những vấn đề nóng hổi trong đời sống xã hội Việt Nam. Những bài thơ haiku nhỏ bé là nơi các nhà thơ trải tấm lòng nhiệt huyết, những suy tư, trăn trở về vận mệnh đất nước, dân tộc mình, về những nỗi niềm của con người nhỏ bé trong xã hội hiện đại.

Chủ quyền biển đảo là một trong những vấn đề khiến các nhà thơ trăn trở nhất. Bằng nhiều hình thức khác nhau, các nhà thơ bày tỏ suy tư, tình cảm của mình đối với vùng lãnh hải của Tổ quốc. Hình ảnh “biển Đông cuộn sóng” trong thơ Lê Thị Bình gợi lên nhiều tầng ý nghĩa. Đó là biển dậy sóng hay là sóng dậy trong lòng người?

Lưỡi bò liếm

biển Đông

cuộn sóng (Lê Thị Bình)

Mượn hình ảnh ẩn dụ “bóng cú vọ đen ngòm trên biển đảo”, nhà thơ lão thành Đinh Nhật Hạnh bày tỏ thái độ căm giận trước những thế lực hắc ám rình rập xâm chiếm vùng lãnh hải và mong muốn giữ cho biển đảo quê hương vĩnh viễn mùa xuân:

Mùa xuân

giữ bằng được mùa Xuân!

bóng cú vọ đen ngòm trên biển đảo (Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ Minh Trí gửi tấm lòng của đất liền tới những chiến sĩ đang canh giữ hải đảo của Tổ quốc qua những cánh thư. Những cánh thư như nhịp cầu nối ánh mắt yêu thương, tình cảm thương nhớ mong của người hậu phương với biển đảo xa xôi:

Đảo xa

cánh thư giăng mắc

ánh mắt người đất liền (Minh Trí)

Nhà thơ Đỗ Tuyết Loan lại gửi đến các chiến sĩ tấm lòng thương mến bao la mà thầm lặng của một người mẹ. Thương con, mẹ ngày đêm nguyện cầu, vỗ về biển cả gió yên sóng lặng để những người con bớt đi phần gian khó, hiểm nguy:

Sóng dữ lặng nào!

gió bão êm nào!

con tôi đang giữ đảo (Đỗ Tuyết Loan)

Biển hiền hòa “cho ta cá như lòng mẹ” (Huy Cận) nhưng biển cũng như mụ phù thủy cay nghiệt đã hàng ngàn năm nay biến nhiều thiếu phụ thành những Vọng Phu hóa đá chờ chồng. Có một Vọng Phu như thế trong thơ của Phương Anh:

Bão tan

người mẹ bồng con trên cát

khát một cánh buồm (Phương Anh)

Hình ảnh người mẹ bồng con nhỏ đăm đăm hướng ra biển cả tìm kiếm, mong chờ một cánh buồm sau cơn bão làm tim ta nhói đau.

Trong những năm qua, hiện tượng đô thị hóa tại các thành phố lớn diễn ra với tốc độ chóng mặt. Một mặt, nó mang lại cho con người cuộc sống văn minh, hiện đại, tiện nghi hơn; nhưng mặt khác, nó cũng khiến đô thị trở nên bức bối, ngột ngạt, khiến con người ngày một xa cách với thiên nhiên hơn. Có lẽ, đó là cảm giác chung, thường trực trong tâm trí nên nhiều nhà thơ haiku, không hẹn mà nên, thổ lộ trong thơ. Ngọc Căn, Hồ Hoàng Hoa, Nguyễn Đăng Minh bâng khuâng luyến tiếc vẻ đẹp của đường chân trời, của ráng chiều, của cánh đồng lúa chín đã bị mất đi trước sự xuất hiện của những tòa cao ốc chọc trời:

Toà nhà mới dựng xong

ta mất

một chân trời thăm thẳm. (Ngọc Căn)

Gợn sóng hồ Tây

nhấp nhô cao ốc

khuất cả ráng chiều. (Hồ Hoàng Hoa)

Đêm chìm trong sương lạnh

Khu chung cư lấp đồng lúa chín

tiếng cuốc xưa vọng về. (Nguyễn Đăng Minh)

Đô thị hóa cũng có nghĩa là những con đường quê rợp mát bóng tre, những mảnh ruộng quê màu mỡ bờ xôi ruộng mật biến mất, chỉ còn trong kí ức, thay vào đó là sự xuất hiện của những con đường bê tông, đường nhựa nắng rẫy vô hồn:

Ngõ quê xưa

lắt lẻo chìa vôi

trượt dài đường bê-tông (Nguyễn Kì Anh)

Con đường lớn chạy qua

Hương rạ rơm kí ức

Nền ruộng mật chìm sâu (Cao Ngọc Thắng)

Ánh đèn xanh đỏ nhấp nháy loang loáng từ hàng quán, từ ánh đèn cao áp chói gắt trên đường nơi phố thị đã át đi ánh sáng trong trẻo, dịu dàng của trăng. Giữa phố thị sáng choang, vầng trăng trở nên lạc lõng, nhạt nhòa, rồi rơi vào quên lãng:

Làng lên phố

ai nhớ

trăng quê? (Nguyễn Hoàng Lâm)

Làng lên phố nhưng dường như những hình ảnh thân thương của làng quê xưa êm đềm, an hòa giữa thiên nhiên tươi đẹp, giản dị trong tình người mộc mạc vẫn hiện hữu trong hoài niệm của những người yêu quê. Đó có thể là hình ảnh cổng làng dưới tán đa cổ thụ xe ngựa chạy qua:

Đưa con về quê cổng làng

dưới tán đa cổ thụ

xe ngựa thoáng qua (Trần Chiến)

là con sông quê nơi ta đùa vui với sóng mỗi chiều, có bến sông “nơi ta ngồi ngóng mẹ” (An Thuyên):

Sông quê

tuổi thơ

đùa vui với sóng (Mộng Hòa)

là triền đê thanh bình tràn đầy sức thanh xuân với tiếng chim hót, sóng cỏ thầm thì dưới bước chân thôn nữ:

Bờ đê chim hót

cỏ non thầm thì

bước đi thôn nữ. (Thạch Lựu)

Nếu nhà thơ Thu Sang bâng khuâng trước hình ảnh nón trắng chênh chao nghiêng trong gió trên đồng quê rất đỗi nên thơ, lãng mạn:

Nón trắng

chao nghiêng

vạt gió đồng. (Thu Sang)

thì tác giả Lương Sơn lại rung động, ấn tượng trước vẻ đẹp khỏe khoắn trong lao động của những thiếu nữ giữa hiện thực đời thường:

Trên đồng thôn nữ cấy mạ non

sông chở phù sa

nuôi lúa đơm bông (Lương Sơn)

Đôi khi, những thức quà quê đơn sơ, chứa đựng hương vị, ân tình quê nhà mà ta từng đắm mình trong đó thuở ấu thơ cũng gợi biết bao nhớ thương. Củ khoai, củ sắn, bát cơm, ấm chè dân dã đã đánh thức những tình cảm cội rễ nhân bản trong trái tim mỗi người. Đó là tình yêu quê hương, nguồn cội:

Khoai lang, sắn luộc

đưa ta về

kỷ niệm tuổi thơ (Hồ Hoàng Hoa)


Cơm chiều

đất khách

lòng quê (Lê Đăng Hoan)


Quanh ấm chè quê

mọi người ngồi

dệt tình yêu gốc rễ. (Nguyễn Đức Thiêm)

Xã hội hiện đại cũng dẫn đến một hệ lụy là tình trạng cô đơn của con người nhất là người cao tuổi ngày một nặng nề hơn. Con người không giao lưu, tiếp xúc với nhau trong thực tại mà chìm vào một thế giới ảo. Đây không chỉ là hiện trạng ở Việt Nam mà còn là thực trạng chung của các nước trong xã hội hiện đại:

Trên xe buýt

đám đông cô đơn

dán mắt vào màn hình điện thoại (Lê Văn Truyền)

Tình trạng này càng trở nên phổ biến và nặng nề hơn đối với những người cao tuổi. Phần lớn các thành viên Câu lạc bộ Haiku Việt Hà Nội là các cán bộ từng công tác trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau nay đã đến tuổi nghỉ ngơi. Các cụ đã nói lên nỗi niềm của mình, cũng là nỗi niềm của một lớp người già trong một đô thị hiện đại:

Gác cao

người già cô đơn

ong đến làm tổ (Ngọc Căn)

Chân yếu, sức khỏe hạn chế nên các cụ chỉ còn biết giao lưu chia sẻ với bạn bè qua facebook:

Tuổi già yếu chân

Facebook nối gần

Bè bạn (Lê Đình Công)

Tuy vậy, qua những vần thơ, những nhà thơ cao niên vẫn hết sức lạc quan. Mượn hình ảnh ẩn dụ chỉ một quy luật tất yếu “bình minh đợi phía bên kia”, Lê Đình Công đã thể hiện niềm tin tưởng vào những điều tốt đẹp đang chờ đợi phía trước:

Tôi đi về hoàng hôn

ráng chiều rực rỡ

bình minh đợi phía bên kia (Lê Đình Công)

Trong truyện ngắn Trăng sáng, nhà văn Nam Cao đã từng khẳng định sứ mệnh của nghệ thuật rằng: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than”. Những tiếng đau khổ của những kiếp lầm than đã vang lên trong haiku Việt, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và trái tim chan chứa yêu thương dành cho những số phận bất hạnh của các nhà thơ. Giọng hát chua khàn của một em bé dắt mẹ đi hát rong trên đường phố:

Bé cầm tay dắt mẹ

giọng hát nghe chua khàn

nón chao nghiêng hè phố (Phan Hữu Cường)

tiếng cười ngu ngơ của một em bé thiểu năng trí tuệ - nạn nhân của chất độc màu da cam - trong tiếng khóc lặng lẽ của người mẹ:

Thằng bé cười ngu  ngơ

Bà mẹ khóc lặng lẽ

nỗi đau màu da cam (Vũ Tam Huề)

là những âm thanh trầm buồn trong bản nhạc haiku nhiều cung bậc.

Sống hòa hợp với thiên nhiên, yêu cái đẹp bé nhỏ, mong manh là một đặc điểm nổi bật của người phương Đông. Người phương Đông không coi thiên nhiên là nô lệ, phải phục tùng, cung phụng con người mà là một người tình của con người:

Người nghệ sĩ không phải là ông chủ mà là người tình của thiên nhiên

(R. Tagore).

Tô Thức (Tô Đông Pha) thương hoa, tiếc vẻ đẹp của hoa chả mấy mà phai tàn nên đã thắp đèn ngắm hoa:

Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ

Khêu ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng. (Hải đường – Tô Đông Pha)

Nguyễn Trãi không dám động tay chèo vì sợ làm tan vỡ ánh trăng, không dám quét hiên vì sợ làm tan tác hoa tàn, nâng niu bợ cây:

Viện có hoa tàn chăng quét đất,
Nước còn nguyệt hiện sá thôi chèo
(Mạn thuật 10 – Quốc âm thi tập)

Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén

Ngày vắng xem hoa bợ cây. (Ngôn chí 10 – Quốc âm thi tập)

Người Nhật yêu thiên nhiên, trân trọng những tạo vật nhỏ bé bởi họ tôn thờ kami – linh hồn của vạn vật - khái niệm then chốt của Thần đạo. Kami tồn tại trong mỗi con người, trong cỏ cây hoa lá… Mặt trời là kami mà bùn đất, muông thú cũng là kami. Thơ ca Nhật Bản, từ thể đoản ca (tanka) trong Vạn diệp tập đến thơ haiku đều thổ lộ tình yêu ấy. Các nhà thơ haiku Việt dường như đồng điệu với các thi sĩ Nhật Bản ở tâm hồn nhạy cảm trước vẻ đẹp đơn sơ của cỏ cây hoa lá. Một nụ hoa vàng tỏa hương dưới đám cỏ xanh:

Dưới đám cỏ xanh

nụ hoa vàng

tỏa hương. (Kiều Lam)

một cánh bướm nhẹ rung trong làn sương lạnh buốt:

Sương lạnh buốt

cánh bướm rung rất nhẹ

rét cóng hay say hoa? (Ngô Ngọc Liễn)

một nụ hoa đào bé xinh gắng nở trong gió đông:

Gốc đào rét hại

gắng nở nụ hoa

ngượng ngùng cánh nhỏ. (Đỗ Tuyết Loan)

một làn hương hoa vương vấn trong gió heo may:

Heo may thầm thì

người đi

vương hương hoa sữa. (Phạm Ngọc Liễn)

cũng khiến nhà thơ xúc động, cúi đầu:

Im lặng

ta cúi đầu

ngưỡng phục mùi hương. (Nguyễn Thánh Ngã)

Đó là cái cúi đầu trước cái đẹp – cái cúi đầu cao khiết của Cao Bá Quát trước hoa mai: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”.

Tuy nhiên, cái đẹp lại thường mệnh yểu mong manh dễ tàn phai, và vì vậy, thường gợi lên trong lòng người nỗi buồn luyến tiếc. Bâng khuâng trước cái đẹp bình dị thoáng qua là một mĩ cảm mà người Nhật gọi là mono no aware – niềm bi cảm nhân sinh. Đó là nỗi buồn, là niềm luyến tiếc cái đẹp tàn phai ở đỉnh cao của nó. Thi tuyển đầu tiên trong văn học Nhật Bản Vạn diệp tập (Manyoshu) tràn ngập cảm xúc này:

Ôi mưa xuân

Đừng mưa như thế

Vì gặp mưa

Những cánh anh đào rơi lặng lẽ

Mà tôi thì buồn khi hoa rơi. (Manyoshu – Thái Bá Tân dịch)

Đọc những bài thơ trong thi tuyển Mười hai năm ấy này, độc giả sẽ thấy sự gặp gỡ, đồng điệu giữa tâm hồn Việt Nam với tâm hồn Nhật Bản nhạy cảm, luôn tiếc ngọc thương hoa. Nhà thơ Lê Đình Công bâng khuâng khi một bông hoa giấy rụng nhẹ nhàng đậu xuống vai:

Một bông hoa giấy đổ

Bay xuống đậu vai tôi

không lời (Lê Đình Công)

Ngô Ngọc Liễn thương lá vàng lìa cành, cũng thương cả cỏ xanh nơi lá rụng, sợ lá làm cỏ đau:

Chiếc lá úa vàng

rơi nghiêng lìa cành

e đau cỏ xanh (Ngô Ngọc Liễn)

Qua lăng kính của Nguyễn Đức Thiêm, gió như người yêu hoa, mải miết nhặt những đóa hoa rơi trên mặt nước, gom góp, chi chút cái đẹp lìa cành:

Mặt nước

gió thổi qua

gom hoa rụng. (Nguyễn Đức Thiêm)


Những suy tư, triết lí, những tư tưởng triết học sâu sắc mà gần gũi, bình dị

Haiku Nhật Bản thoát thai từ thể thơ liên ca hài hước (haikai no renga) nhưng chính chiều sâu tư tưởng triết học Thiền tông đã nâng haiku thành một thể thơ lừng lẫy trên thi đàn thế giới. Thơ haiku Việt cũng bộc lộ những suy tư, triết lí, những tư tưởng triết học sâu sắc thể hiện cảm quan chung của nhân loại về vũ trụ, cuộc sống và con người.

Hình ảnh bông lúa quen thuộc trong thơ Lưu Đức Hải hàm chứa một triết lí, một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: con người càng chín chắn, càng hiểu biết bao nhiêu thì càng khiêm nhường bấy nhiêu:

Bông lúa

ngẩng mặt lúc còn xanh

cúi đầu khi đã chín (Lưu Đức Hải)

Đinh Trần Phương, Nhã Trúc là những nhà thơ trẻ nhưng thơ họ có chiều sâu suy tư, chiêm nghiệm lại có những tứ thơ độc đáo, mới mẻ thể hiện những đam mê tìm tòi, vì thế, không hề dễ cảm nghiệm. Cũng hình ảnh dòng sông, con thuyền nhưng trong thơ Đinh Trần Phương, chúng hiện lên với một diện mạo mới lạ:

Một con thuyền che giấu

sự rỗng không

lơ đãng của dòng sông (Đinh Trần Phương)

Có phải con thuyền cùng dòng sông như một cặp bài trùng, con thuyền làm nên vẻ đẹp, sự sinh động cho dòng sông? Có phải thiếu con thuyền, dòng sông sẽ trở về với sự rỗng không, lơ đãng của nó? Độc giả sẽ là người điền vào những khoảng trống của bài thơ. Còn bài thơ của Nhã Trúc lại có ý vị tư tưởng nhân sinh của triết học Phật giáo:

Qua cơn mê

chiều nay giũ bụi

phong sương ta về (Nhã Trúc)

Con người luôn mê chấp lầm tưởng về cái tôi, từ đó mà nảy sinh thói vị kỉ, ý thức tư hữu, cá nhân. Đó là mảnh đất màu mỡ cho tham, sân, si khởi sinh rồi mọc ra nhánh cành đau khổ. Muốn hết khổ, con người phải thức tỉnh khỏi cơn mê ngã chấp, giũ hết mọi bụi bặm trần tục, trở về với bản ngã nguyên sơ:

Theo quan niệm của Thiền tông, vạn vật và con người tồn tại trong một mối tương giao, hòa hợp. Chúng hài hòa, soi chiếu, tương tác và chuyển hóa lẫn nhau. Biển đêm thực sự là một bức tranh hòa hợp, tương tác lên nhau của vạn vật. Những vì sao soi mình trên mặt biển thành một tấm chăn lấp lánh. Thủy triều dâng lên như kéo tấm chăn lộng lẫy đắp lên lồng ngực đất:

Biển kéo tấm chăn sao

đắp lên lồng ngực đất

thủy triều dâng cao (Mai Liên)

Ban mai, giọt sương đọng trên những chiếc lá đang lay động trong gió được ánh nắng mặt trời soi chiếu lấp lánh sinh động như đang khiêu vũ điệu tăng-gô:

Mặt trời

hạt sương

điệu tăng-gô trên lá (Lưu Đức Hải)

Không chỉ hài hòa, tương tác lên nhau, vạn vật còn chuyển hóa lẫn nhau trong một chu trình vô cùng bí ẩn và kì diệu. Giữa những sự vật tưởng chừng như không có mối liên hệ nào thực ra vẫn có liên hệ, tương tác, thậm chí có thể chuyển hóa thành nhau. Tư tưởng biện chứng sơ khai này bắt nguồn từ Lão Trang và được các nhà thơ haiku Nhật Bản say mê thể hiện. Quả ớt đỏ thon dài chắp thêm đôi cánh là thành chuồn chuồn ngô:

Quả ớt

Chắp đôi cánh

Chuồn chuồn ngô. (M. Basho)

Giọt sương đọng trên cành hồng thêm chút nắng là thành hạt kim cương:

Giọt sương đọng

trĩu cành hồng

hóa hạt kim cương (Nguyễn Sương)

Mảnh gỗ tích tụ trong mình thời gian triệu năm có thể hóa đá:

Lặng câm

mảnh gỗ hóa thạch

nói lời triệu năm (Lương Thị Đậm)

Quy luật vô thường là một phát hiện của Phật giáo về bản chất vốn có của tự nhiên. Hoa nở, chim hót, mây bay, nước chảy..., tất thảy đều không ngừng biến đổi theo quy luật thành, trụ, hoại, không. Con người thức ngộ lẽ vô thường để an nhiên, thường lạc trước mọi thăng trầm, đổi thay của cuộc sống:

Mây thiêng Yên Tử

hóa giọt sương bậu trên mi mắt

thức ngộ lẽ Vô Thường. (Lê Văn Truyền)

Con người cũng không nằm ngoài quy luật vô thường. Một buổi chiều trên bước đường hành hương, ngắm cánh chim sa nơi cuối trời, M. Basho không khỏi giật mình thảng thốt:

Mùa thu năm nay

Sao tôi chóng già quá

Chim sa ở mây trời. (M. Basho – Vĩnh Sính dịch)

Bước qua tuổi cửu thập, nhà thơ lão thành Đinh Nhật Hạnh cũng không khỏi ngỡ ngàng khi thấy thời gian trôi đi nhanh quá. Nhưng nhà thơ không buồn bã, bi lụy khi tuổi già ập đến mà cảm thấy hạnh phúc vì “tre già măng mọc”, bốn thế hệ cùng chung sống đầm ấm, hạnh phúc dưới một mái nhà. Quả là một giấc mơ trong đời sống đô thị hiện đại vốn thiên về xây dựng gia đình hạt nhân:

U100 rồi ư!

bốn thế hệ chung mái nhà

ngỡ như mơ, mà thật (Đinh Nhật Hạnh)


Những tương đồng và những thể nghiệm cách tân nghệ thuật

Về mặt hình thức, haiku Việt, cũng tương tự haiku Nhật ở chỗ đều toát lên vẻ đẹp của một cô gái giản dị, ít đeo đồ trang sức mà thần thái ngút ngàn. Nhưng haiku Việt có nhiều cách tân so với haiku Nhật để phù hợp với ngôn ngữ Việt Nam. Trước hết là sự phá vỡ cấu trúc 5/7/5 của haiku Nhật. Rất ít bài haiku Việt xuất hiện với cấu trúc này. Ngay cả bài từ thế chi ca của nhà thơ Chế Lan Viên học tập nghiêm ngặt haiku Nhật mà viết:

Anh chỉ là nắm tro trong bình

Em ơi em! Đừng khóc

Ngoài vườn hoa cỏ mọc.

thì cấu trúc cũng đã thay đổi. Toàn bài vẫn bao gồm 17 âm tiết nhưng trật tự không phải 5/7/5 mà là 7/5/5. Đa số các bài haiku Việt trong thi tuyển này có số lượng âm tiết ít hơn 17 nhưng vẫn diễn tả rất trọn vẹn ý thơ.

Cũng có những thể nghiệm thú vị về cấu trúc mới cho haiku Việt. Haiku Nhật với cấu trúc 5/7/5 rất kiệm lời, không bài nào có nhan đề. Tuy nhiên, người Nhật vẫn dùng câu đầu gọi thay tên bài thơ, chẳng hạn:

Ao cũ

con ếch nhảy vào

tiếng nước. (M. Basho)

sẽ được gọi là bài thơ Ao cũ. Nhà thơ Mai Văn Phấn vẫn viết những bài thơ ba câu nhưng thêm cho mỗi bài một câu ở đầu như thể thêm nhan đề cho bài thơ đó:

Mặt trăng sau mưa

Được rửa sạch

gác lên tán lá

còn ướt


Ngắt trái bưởi

trên cây

quay lại nhìn


Trên đường

Gặp hoa cúc trắng

chưa hẹn trước

không dám nhìn lâu (Mai Văn Phấn)

Haiku Nhật có vần nhưng không đòi hỏi nghiêm cẩn nhất thiết phải có. Vần trong haiku Nhật là cước vận, cứ hai dòng bắt vần với nhau không nhất thiết là dòng nào. Vần giúp bài thơ luân chuyển nhịp nhàng, như mạch nổi (cùng với mạch ngầm là mạch cảm xúc) kết nối toàn bài thơ thành một tổng thể hài hòa. Haiku Việt cũng có nhiều bài thơ tuân thủ luật gieo vần chân của haiku Nhật:

Chiều đông

mắt bếp lửa hồng

chờ mong (Lê Vũ)


trọ nhân gian

chỉ vầng trăng sáng

cùng ta đêm tàn (Nhã Trúc)


Hơi mưa mát lạnh

nỗi lo xa xôi

heo may đến rồi (Nghiêm Xuân Đức)

Tuy nhiên cũng có tác giả phối cước vận với yêu (eo) vận khiến bài thơ man mác âm điệu của lục bát:

Mẹ cõng nắng mưa

trên đồng lúa chín

gió trưa thì thầm (Thanh Vân)

Sử dụng quý ngữ - từ chỉ mùa - là một yêu cầu bắt buộc của haiku Nhật cổ điển. Quý ngữ là hình ảnh tiêu biểu cho mùa. Quý ngữ thể hiện tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó với thiên nhiên bốn mùa của con người. Qua quý ngữ, haiku Nhật cho thấy con người – không gian – thời gian là một thể thống nhất gắn bó hữu cơ. Quý ngữ giúp con người thấy mình tồn tại trong không gian và đang vận động trong thời gian:

Một tiếng ve

rụt rè

mở hạ (Đinh Nhật Hạnh)

Qua quý ngữ, con người cảm nhận bước đi của thời gian vô hình qua cái hữu hình hiện hữu trong không gian. Bầy chim én cho ta cảm thấy mùa xuân:

Cáp treo du xuân

bồng bềnh gió mây

chào bầy chim én! (Vũ Tam Huề)

Đóa sen trắng cho ta nhận thức mùa hạ:

Vườn kiểng lung trời

đóa sen trắng nở

ngôi sao ban ngày. (Vũ Tam Huề)

Màu tím thạch thảo báo hiệu thu đã rất thật là thu:

Lang thang đồng hoa

màu tím thạch thảo

mùa thu xa nhà (Vũ Tam Huề)

Sắc vàng nhạt phai của hoa dã quỳ giúp ta biết mùa đông đã tàn:

Đông tàn

sắc vàng nhạt phai hoa

dã quỳ nở muộn (Vũ Tam Huề)

Cứu cánh tối thượng của Thiền tông là chứng ngộ Phật tính. Phật tính là kho tàng riêng sâu thẳm trong mỗi người. Ai trong chúng ta cũng có Phật tính. Cũng không giới hạn trong loài người, cỏ cây hoa lá chim muông cầm thú cũng đều có tính Phật. Vạn vật bình đẳng với nhau trong ánh sáng Thiền. Xuất phát từ tinh thần “vô sai biệt” đó, thơ haiku cổ điển Nhật Bản chủ yếu viết về những cảnh vật đơn sơ, những con vật nhỏ bé: một con dế hiền lành giữa đám tôm cá, tiếng ve thấm vào đá, một cánh chuồn ngô mong manh, một ánh đom đóm lập loè trên chiếc chuông chùa, một cánh bướm say giọt sương trên hoa cúc, một con châu chấu dưới chiếc mũ chiến binh, thậm chí là cả bọ chét, chấy, rầy, hay nước đái ngựa…

Đầu giường

Nước đái ngựa

Rận và bọ chét (M.Basho - Lê Thị Bình dịch)

Tương truyền, câu này M.Basho sáng tác khi nghỉ lại nhà một người lính già vào ban đêm. Phòng của ông cách chuồng ngựa khoảng chục mét nên không thể có nước đái ngựa ở đầu giường được. Tuy nhiên, do rất thích bầy ngựa của gia đình nên nhà thơ mấy lần chạy xuống ngắm. Cảm hứng sáng tác bài haiku trên xuất hiện từ đây. Qua bài thơ, Basho muốn nói con người hay con ngựa, rận và bọ chét cũng đều là những sinh vật cùng sống dưới một mái nhà, có gì khác nhau đâu. Đồng điệu với cảm hứng trân trọng, nâng niu sự vật nhỏ bé của haiku Nhật, các tác giả Việt đã đưa vào trong thơ những sự vật bị coi là hèn mọn, nâng chúng lên tầm cao bát ngát trong ánh sáng Thiền:

Nằm trong màn

tôi với đôi chân co

vo ve chú muỗi (An Hải)


Sườn núi đá khô cằn

nở chùm hoa dại

dịu hẳn nắng (Thạch Lựu)

Bên cạnh những hình ảnh dung dị được tái hiện chân thực như thể chúng đang tồn tại ngoài cuộc sống, các thi sĩ haiku Việt cũng dùng các thủ pháp tu từ nghệ thuật, khiến hình ảnh hiện lên mới mẻ, độc đáo và thú vị, thể hiện năng lực liên tưởng dồi dào. Ngắm bờ biển trong một ngày gió, Lương Thị Đậm thấy tàu dừa như chiếc lược cài lên mái tóc sóng, biển trở thành một thiếu nữ rất dễ thương:

Gió tạt ngọn dừa

những chiếc lược thưa

cài tóc sóng (Lương Thị Đậm)

Ngắm trời đất trong một ngày mưa, Nguyễn Hoàng Lâm thấy mưa như vô số chấm than vạch từ vô định. Một hình ảnh so sánh thôi mà chất chứa bao nỗi niềm:

Mưa!

vô số chấm than

vạch từ định (Nguyễn Hoàng Lâm)

Ngắm cây tỏa ra nghìn cành, nghìn lá, Nguyễn Thánh Ngã có liên tưởng thú vị đến nghìn cánh tay, nghìn con mắt của Phật bà đã cứu độ bao mùa quả:

Lá nghìn mắt

Cành nghìn tay

cứu độ bao mùa quả (Nguyễn Thánh Ngã)

Ngắm những cánh én chao liệng gắn bó thiết tha với bầu trời, Phạm Đạo thấy tương đồng với niềm say mê công nghệ cao, say mê được sống trong một thế giới phẳng:

Chim én say bầu trời

tôi say máy tính

thế giới phẳng (Phạm Đạo - 1940)

Yêu thiên nhiên, tương thông với thiên nhiên, con người nhận thấy thiên nhiên có những tương đồng với con người. Thủ pháp nhân hóa đã thổi linh hồn vào vạn vật khiến vật vô tri bỗng trở nên sống động, đáng yêu. Vầng trăng tựa một thiếu nữ xinh đẹp thẹn thùng, bẽn lẽn bước vào nhà qua ngòi bút nhân hóa của Lưu Đức Hải:

Gió đẩy

mành xao

trăng vào bẽn lẽn. (Lưu Đức Hải)

Vầng trăng đang tỏa sáng trên mặt biển, chợt mây kéo đến che khuất được nhân hóa trở thành thiếu nữ ngắm mình trong gương nhưng thấy mình vẫn còn khiếm khuyết nên ngượng ngùng kéo mây che. Thiên nhiên qua cái nhìn trìu mến trở nên duyên dáng, đáng yêu biết nhường nào:

Trăng soi gương biển

chợt thấy mình còn khuyết

ngượng ngùng kéo mây che. (Mai Liên)

Với cái nhìn vạn vật tương giao và hòa hợp, các nhà thơ haiku sử dụng nhiều ẩn dụ chuyển đổi cảm giác – dùng từ ngữ vốn chỉ cảm nhận của giác quan này để chỉ cảm nhận của giác quan khác trên cơ sở mối quan hệ tương đồng nào đó. Hoa cỏ may ven những con đường mòn - nơi hò hẹn buổi ban đầu – thường gợi những hoài niệm về tình đầu dang dở:

Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may
Áo em sơ ý cỏ găm đầy
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Ai biết lòng anh có đổi thay
(Hoa cỏ may – Xuân Quỳnh)

Tìm về lối cũ, những bông hoa cỏ may găm đầy trên áo nhưng nhà thơ lại thấy như là nỗi trống vắng găm đầy. Hoa cỏ may hữu hình biểu đạt cho nỗi trống vắng vô hình: hoa cỏ may vẫn vô tình găm vào vạt áo như những ngày hò hẹn cũ mà người xưa không còn:

Lối cũ tìm về

mùa hoa cỏ may

găm đầy trống vắng (Vũ Tam Huề)

Nỗi nhớ cũng vốn vô hình nhưng lại được cảm nhận với nhiều hình hài khác nhau:

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ,
Em thử quay xem được mấy vòng.
Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ,
Em thử lào xem được mấy thưng!
(Nhớ I – Nguyễn Bính)

Cao Ngọc Thắng đã hình tượng hóa nỗi nhớ, gom lại gửi vào vầng trăng. Tứ thơ hay diễn tả được nỗi nhớ bâng quơ, không thể kìm giữ trong lòng mà cũng không biết chia sẻ cùng ai:

Đêm thu

Gom nhung nhớ

Thả vào trăng mộng mơ (Cao Ngọc Thắng)

Mai Văn Phấn là một nhà thơ có sức sáng tạo không mệt mỏi, năng lực liên tưởng, tưởng tượng dồi dào. Bài thơ:

Gần sáng

ngủ say không biết

nằm cạnh mùa hè (Mai Văn Phấn)

sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác tạo nên một hình tượng độc đáo để diễn tả cảm nhận về một mùa hè chợt đến. Nguyễn Kiên cũng có một liên tưởng táo bạo trên cơ sở ẩn dụ chuyển đổi cảm giác:

Một cánh chim

sa vào tầm mắt

chia đôi trăng rằm (Nguyễn Kiên)

Trong thực tế, vầng trăng không thể xẻ làm đôi, nhưng cánh chim sa vào tầm mắt tạo thành một vết đen do hiệu ứng ngược sáng nên nhà thơ có cảm giác như vầng trăng bị chia làm hai nửa.

Đặt hai hình ảnh đối lập cạnh nhau trong mối quan hệ nhân quả:

Đất nước giàu hạt nhân

cho dân

nghèo hạt gạo! (Lê Đăng Hoan)

Lê Đăng Hoan đã bày tỏ quan điểm cá nhân phê phán chủ trương tăng cường hạt nhân của các quốc gia. Sử dụng năng lượng, vũ khí hạt nhân… có rất nhiều mặt trái. Hạt nhân là nguyên nhân gây ra những thảm kịch kinh hoàng cho nhân loại: bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagazaki của Nhật (1945), thảm họa Trecnobyl ở Nga (1986), thảm họa điện hạt nhân ở Fukushima, Nhật (2011)… Vậy nhưng, nhiều chính phủ vẫn theo đuổi chính sách phát triển năng lượng hạt nhân. Đó là một trong những nguyên nhân khiến cuộc sống người dân đói nghèo.

Người Việt trên cơ sở tiếp thu một thể thơ độc đáo của Nhật Bản đã biến đổi phù hợp với ngôn ngữ và cảm thức Việt Nam, để ca hát về vẻ đẹp Việt Nam, về cái đẹp của thiên nhiên gấm vóc, của tâm hồn, tính cách và tình cảm con người Việt Nam trọng tình, trọng nghĩa, yêu thiên nhiên và cái đẹp. mNhiều phẩm chất, tính cách và tình cảm của con người Việt Nam thể hiện trong thơ haiku có sự đồng điệu với con người Nhật Bản. Vì thế, có thể nói thơ haiku Việt là bản hòa ca tâm hồn Việt – Nhật. Những âm giai Nhật Bản và tâm hồn Việt Nam hòa quyện tạo thành một bản “hòa âm” mới “đa thanh”, đem đến cho con người tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đất nước mình.

ハイクーベトナム・日本の心の歌

俳句は日本人の貴重な独特の物産であり、たんぽぽのように謙遜で簡易な綺麗で、日本人が大好きな花で、熟になると各方に飛んで何処にも日本のたんぽぽの核は元気に育て、世界の何処にも綺麗な花公園になり、どの言語にもどの文化にも発展され、ベトナムに入っても同じです。ベトナムは元々詩を愛する民族なので 12 年を経過して 今かなり成長しています。ベトナム語俳句を読めばベトナムの心一杯。ベトナムの故郷の自然がはっき表され、人々が ベトナムの自然と文化の雰囲気を厚く感じられる。昔の俳諧は四つのシーズンを主題として「季題」であり、日本人の俳句は シーズンを指す言葉、「季語」は必ずあることです。日本の俳句は常に春を指す言葉なら桜の花、スモモの花、梅の花、ツバメの鳥、鶯の鳥など、夏を指す言葉なら蝉の声、あやめの花、子規の鳥など。秋なら月、露、昆虫の声、紅葉。 冬なら松の木、野生のガチョウの声、雪など。ベトナムの俳句もその精神でベトナムの四季を歌い、国の自然、人間などを歌う。ベトナム詩人にとって、北から南まで、山岳から平野までの田舎の各地方の色、音声、型、姿など 詩に大変自然的に入ります。

ベトナム人にとって さぎの姿は 生活のために困難で犠牲的で不安定な生活の表現であり、普通女性の運命である。

次はマイ・リエン博士は 自分の観点を証明するために選集のベトナム俳句と ベトナムの有名な詩人の詩や日本の有名な俳人である松雄芭蕉の通訳文を幾つ発表した。

結論として、マイ・リエン博士は 日本の俳句とベトナムの俳句は一緒に人間の心と自然を歌う、互いに調和して互いに補完している。ベトナムの俳句は ベトナム人の言語と情感を表すことで日本の俳句と調和し自然と綺麗さを歌うことである。

和訳(大略)者:レー・テイ・ビン


Thơ Haiku 12 mùa xuân- Nhật Chiêu

Thơ Haiku dù ban đầu mang tính đặc trưng Phù Tang nhưng hiện thời càng ngày càng mang tính quốc tế. Không ai tính nổi trên thế giới đến thời điểm này có bao nhiêu người theo đuổi sáng tác thơ haiku. Đủ màu da cho thơ haiku. Đủ phong cách cho thơ haiku. Đủ lứa tuổi, đủ đề tài...

alt

Sau 1975, bắt đầu giới thiệu thơ haiku, viết haiku, đến nay tôi cũng không ngờ thể thơ này lan truyền nhanh đến thế ở Việt Nam. Được đưa vào trường học và hàng loạt thơ haiku ra đời, tất nhiên trong đó có Câu lạc bộ Haiku Việt Hà Nội tiếp ngay sau Sài Gòn.Mười hai năm ấy biết bao nhiêu tình. Trong đó có bao nhiêu là tìm tòi lay động, bao nhiêu điều tự làm mới mình, bao nhiêu ra sức đưa thể thơ xa lạ kia vào tâm hồn Việt cho nhuần thấm. Đó là công sức nhiều người ở cả ba miền mà Câu lạc bộ Haiku Việt Hà Nội có đóng góp lớn lao.

Bài haiku sau đây của nhà thơ U100 Đinh Nhật Hạnh có thể kết đọng tình hình thơ haiku ở Việt Nam:

“Mưa vẫn tầm xuân

lất phất

nắng còn say lắm hoa cau”

Phải, thơ haiku vẫn còn non tơ tầm xuân nhưng đã ấm nồng say đắm nắng. Và hoa cau Việt đã đi vào thơ haiku. Tình tứ thế. Tuyển tập thơ Haiku 12 năm đáng yêu đáng quý!


VIETNAMESE HAIKU THROUGH 12 SPRINGS

Nhat Chieu

Haiku, originally typical of Japanese, is now becoming more and more globalized. It is not known to us how many people the world over write haiku now. No doubt, it has been written by people of all skin colours and age groups with various styles and in many topics.

I have been writing haiku ever since 1975, when it was first introduced into Viet Nam. I cannot believe that haiku is so popular here now. It has been brought to schools and clubs have come into being, first of all, Sai Gon Vietnamese Haiku Club followed by one in Ha Noi.How much feeling there has been during those twelve years! Much exploration, much renewal, much effort has been made so that the strange haiku style is imbued with Vietnamese soul. This is shared by poets from Northern, Central and Southern parts of Viet Nam of which Ha Noi Vietnamese Haiku Club is in the lead.The present status of haiku in Viet Nam can be seen in this poem by U100 poet - Dinh Nhat Hanh:

Eglantines still / in sprinkles of rain / areca flowers in drunk sunlight

Indeed, young Vietnamese haiku is now flourishing. Vietnamese areca-flowers go into haiku in such a subtle way!The haiku collection entitled “Those Twelve Years” is so lovable and valuable!


「俳句選集その12年間」

ニャト・チエウ

俳句は初め日本の独特の詩ですが現在段々国際化され、今、誰も計算できない程世界の何人が俳句作るか? あらゆる肌の色、黒人、白人、黄色の人、インディアンの人など、あらゆる年齢、男婦老幼も俳句作る。その内容も豊かである。その俳句もあらゆる風、性格をもつ。そのタイ目もあらゆるです。

日本の俳句は1975年にベトナムで紹介は初めとした。私も想像できない程、今、ベトナム語で俳句作る人は素早く広げた。学校に導入して、(サイゴン)ホー・チ・ミン市の俳句クラブの直後、ベトナム語俳句ハノイクラブも生まれている。

その12年間はいくらの情があるそうであるが知らない俳句という詩をベトナム人の心にしみ込むためにいくら工夫、いくらの発見が出て自分を新しくするか。それはベトナム全国、北部、中部、南部の努力で、ベトナム語俳句ハノイの大きな貢献である結果でもあった。

100歳近いデイン・ニャト・ハインさんの次のベトナム語俳句はベトナムの俳句発展の現状を反映している。

雨はあいかわらず春を探す/

ぷらぷらした

日光はすでにビンろの花を大変酔うかな

そうである。ベトナム語俳句の歴史はまだ若く、春を探しているがすでに温かい日光が酔う。そしてベトナムのビンろの花は俳句と言う詩に入る。思情溢れたな。12周年間の選集は本当に貴重なです。

NC

Xuân vẫn là- Cao Ngọc Thắng

Basho [1644-1694], từ thế kỷ XVII là người tiên phong khẳng định haiku là một thể thơ độc lập giữa rất nhiều thể thơ truyền thống của Nhật Bản, khi giới thiệu tuyển tập thơ haiku Đất Hoang (Arano) lần đầu tiên xuất bản năm 1690, đã viết: “Tại tỉnh Owari, bên tả ngạn sông Hôrai, thầy Kakei miền Kyubôkudo đã dệt nên tuyển tập mang tên Đất Hoang này. Vì sao lại là đất hoang, quả tình tôi không rõ”. Basho cho biết, tuyển tập ban đầu định đặt tên là Những ngày mùa đông, nhưng “dưới bầu trời lộng lẫy của vầng trăng tháng hai, tháng ba, gấm vóc lệ liễu và hoa anh đào đua khoe sắc huy hoàng, bướm và chim tuân theo bản năng, bên chân lý thẳm sâu ấy có phần nào nhạt phai, biến đổi? Như những làn sóng nắng mông lung, tim ta lãng du giữa hư và thực, sắc sắc không không, như bông huệ kia phất phơ không điểm tiết, như cánh sơn ca nọ lạc giữa trời bao la, cũng như trên nẻo đường ngập cỏ hoang không tiên lộ, hẳn người ấy sẽ mong đặt vào cột mốc và vì thế nên chăng gọi ông là người gìn giữ trảng đất này”.

alt

Basho vinh danh việc tiên phong tuyển những phiến khúc haiku của Kakei là một buớc đầy ý nghĩa trong bối cảnh nền thơ Nhật Bản đương thời với nhiều khuynh hướng và trào lưu khác nhau. Kakei mong và đã “đặt vào cột mốc” ấy một sự kiện quan trọng của tiến trình khẳng định haiku như một thể thơ chính danh. Vì thế, Basho gọi Kakei “là người gìn giữ trảng đất này”, một mảnh đất còn hoang vu cần được canh tác để tiến tới thâm canh. Cái sự “quả tình không rõ” của Basho thực ra là đã sáng tỏ. Ông đồng cảm với Kakei những suy tư để làm sao xác định những đặc trưng cơ bản của thơ haiku, hướng người làm thơ và người thưởng thức thơ haiku đi đến sự đồng điệu cảm xúc về mối quan hệ nhân-quả không thể tách rời giữa con người và thiên nhiên. Thiên nhiên luôn luôn đẹp và cũng luôn luôn biến đổi. Sự mong manh của cái đẹp hiện hữu trong thiên nhiên đòi hỏi con người phải giữ được cái tĩnh lặng trong tâm hồn, để tinh tế cảm nhận thật sâu sắc, đi đến tận cùng của chân-thiện-mỹ. Điều đó cũng có nghĩa rằng, con người luôn cần thức nhận về sự hòa quyện trong bản thân cả hai: duy cảm và duy lý khi đứng trước thiên nhiên kỳ vĩ. Ranh giới giữa hư và thực, giữa sắc và không đều chẳng dễ gì phân biệt. Chỉ hoàn duy cảm hay chỉ toàn duy lý, con người không có đủ khả năng cần thiết để nhận ra lằn ranh chấp chới đó. Cái khoảnh khắc ta có thể nắm bắt sự biến chuyển ấy chỉ là tích tắc, nếu tâm thế không sẵn sàng nó vụt biến mất ngay lập tức. Vì vậy, khi được biểu hiện, những phiến khúc haiku như một lát cắt mỏng manh, chớp lấy cái ánh sáng lóe lên trong chốc lát và cũng trong chốc lát nhòe vào vô cùng tận. Sự biểu hiện ở mỗi phiến khúc haiku đồng thời thức tỉnh rằng trong tâm hồn nguời đã xuất hiện cái gì đó lớn lao bắt đầu cựa quậy và lớn lên, dịch chuyển về hướng trong trẻo, an lành, tự tại, nhi nhiên, điều mà cũng khiến cho người đọc cùng ngẫm suy về những gì đang tồn tại và cả những gì đã và sắp mất đi trong không gian bao la, theo thời gian dằng dặc.

Chỉ có ba hình ảnh làm nên tứ thơ mà sao mỗi phiến khúc haiku lại làm nguời ta xao xuyến để rồi ngẫm ngợi. Trong Tuyển tập Đất Hoang, Kisei “chớp” được hình ảnh, quen thuộc đấy mà cũng thật bất ngờ:

Mạng nhện

Mưa xuân

Đính đầy giọt ngọc

Kisei khiến người đọc phải” “lục lại” trong ký ức quan sát của mình và so sánh mưa xuân với mưa ở các mùa còn lại trong năm. “Mạng nhện” và “Mưa xuân” là hai hình ảnh, hai sự vật và hai hiện tượng khác nhau, quan sát của người đã kéo chúng lại gần nhau, hiện lên nét chấm phá cho một bức tranh sắp hiện ra. Bức tranh ấy chỉ hoàn thiện khi một quan sát khác có khả năng tạo nên một mảng màu hài hòa, nhòa đi sự tương phản, là “giọt ngọc”. Cái “mạng” kia hoàn toàn chẳng ai muốn để ý, vì nó giăng ra chỉ có tác dụng săn mồi của chú nhện, một làn gió hơi khác thường đã có thể làm nó rách. Nhưng, mạng nhện này thật may mắn, bởi nó “gặp” mùa xuân, tiết trời ấm áp, mưa lất phất, gió khẽ khàng. Mưa xuân chứ không phải mưa ở mùa khác, trở thành tác nhân cho mối kết duyên giữa “mạng nhện” và “giọt ngọc”. Đọc từng cặp câu: “Mạng nhện/ Mưa xuân”  (dòng 1 và 2) ta thấy hình ảnh mô tả sự vật/ hiện tượng này trong/ sánh đôi cùng sự vật/ hiện tượng kia; chuyển sang cặp tiếp theo: “Mưa xuân/ Đính đầy giọt ngọc” (dòng 2 và 3) hình ảnh mô tả đã dịch đến một trường cảm nhận thú vị hơn bởi cái đẹp bất ngờ hiện lên. Cái đẹp ấy chỉ có mưa xuân mới tác thành nổi. Hơn nữa, là mưa xuân mới đính được nước thành “giọt”, chứ không phải “hạt”, tiết xuân mới đem đến cái lung linh, huyền ảo hiện vào giọt nước thành “giọt ngọc”. Nhưng, khi ta đọc cặp câu “Mạng nhện/ Đính đầy giọt ngọc” (dòng 1 và 3), tưởng chừng chúng ở cách nhau thì hóa ra biến thành bện chặt; mạng nhện, không chỉ vẻ đẹp của nó được nhân lên, mà còn biểu hiện một “sức khỏe” khác thường – cưu mang những giọt nuớc trên sợi mảnh tang, điều chẳng bao giờ có khi nó gặp mưa mùa hạ, mùa thu hoặc mùa đông. Diễn giải nôm na là: mưa xuân đã đem đến cho người ta hình ảnh mạng nhện đính đầy giọt ngọc, một sắc thái thuần khiết, đẩy thi tứ, vừa hoài niệm vừa hiện hữu, trào dâng trong tâm hồn Kasei, và ông cho ra đời phiến khúc haiku súc tích, khơi gợi sự liên tưởng ngọt ngào từ ký ức và tiếp tục tiếp diễn.

Một tác giả khác có thơ trong Tuyển tập Đất Hoang là Shôhô cũng đã góp phần vào sự canh tác “trảng đất” còn hoang vu này. Phiến khúc haiku của ông có một cách nhìn, một góc nhìn “kéo” ba hiện tượng và sự vật rất khác nhau vào một tình huống ít người để ý:

Lèn gió thoảng qua

Chim ưng rạp xuống

Khi cành liễu nghiêng

Hình dung theo chiều xuôi (đọc từ trên xuống) hay theo chiều ngược lại (đọc từ dưới lên), đều cảm nhận một điều: ba hiện tuợng và sự vật này có chung giá trị thông báo trong mối quan hệ kết hợp đồng điệu ở một nơi xác định – lèn (hẻm núi hai bên vách đá cao), trong thời điểm nhất định – mùa xuân, mùa xuất hiện chim ưng và cây liễu sau khi mùa đông lạnh lẽo đã tan nhường chỗ cho cảnh và vật hân hoan giao hòa (người Nhật coi chim ưng và cành liễu là quý ngữ chỉ mùa xuân). Cảm thấy được gió thoảng qua lèn là nghĩ ngay tới cánh chim ưng chao từ núi cao xuống thấp, và những cành liễu nghiêng theo chiều chim bay. Cũng vậy, nhìn thấy chim rạp cánh hoặc cành liễu nghiêng chắc chắn lèn núi kia không còn im phăng phắc, khiến cả không gian chuyển động, thoát xác khỏi im lặng mông lung. Trong phiến khúc này, các cặp câu 1-2, 2-3 và 1-3 đều có “ý thức nâng đỡ nhau”, tôn vị thế của nhau. Và, ở mỗi câu đều có một từ rất động: “thoảng”, “rạp”, “nghiêng”, gây cảm xúc ý vị và xôn xao.

*

“Trảng đất hoang” mà Kakei và các đồng sự xới lên, được Basho khuyến khích và tôn vinh, sang thế kỷ sau tiếp tục được đông đảo haijin (người làm thơ haiku) bồi đắp thêm màu mỡ, trong đó Buson (1716-1783) là một đại diện xuất sắc. Thơ Buson làm nổi bật tâm thế và phận đời của con người giữa thiên nhiên, từ đó và mượn nó phát biểu nhân sinh quan của mình đối với hoàn cảnh đương thời.

Chua sót cho mình phận đắng cay

Lên giuờng nằm vậy

Đêm xuân này!

Buson không hề than thân trách phận và cũng chẳng trách hoàn cảnh, mà ông trải nỗi cô đơn trước mọi người. Cái tôi bản thể trong ông trỗi dậy. Tâm trạng “chua xót, đắng cay” của ông “rơi” ngay vào “đêm xuân”, cái đêm mà đáng lẽ lòng người hà tất phải co ro trong xó nhà. “Này” đi liền sau “đêm xuân”, có thể hiểu là một đêm nhất định, nhưng cũng có thể là những đêm của một mùa xuân nào trong cuộc đời nặng cô đơn của ông? Ông “mượn” chiếc giường, cũng là một vật cô đơn, nằm khoèo trên đó, vắt tay lên trán mà ngẫm ngợi, mà suy tư về nỗi niềm của mình, của nhân tình thế thái. Ở câu 2, nằm nhưng không hề tĩnh bởi nó được phận mình và đêm xuân bao bọc. Các cặp câu 1-2, 2-3, 1-3 tạo thế liên hoàn cho toàn bài và gợi mở nhiều ngẫm suy. “Đêm xuân này!” là một cái kết định vị sự quy chiếu của thi sỹ về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, hoặc ngược lại.

“Tựa” vào mùa xuân Buson biết nương vào và học được từ thiên nhiên hào phóng, một thiên nhiên biết tự điều chỉnh mình theo quy luật của riêng nó, để tự điều chỉnh mình cân bằng cùng thiên nhiên. Vẫn cùng trạng thái tâm tư ấy, Buson an nhiên bộc bạch:

Phải chăng hoa mơ

Xông huơng đỉnh trời

Thành quầng trăng xuân?

Quầng trăng xuân” trong tâm niệm Buson đuợc dệt nên bởi bản thân “hoa mơ” hay “hương” của nó? (có lẽ cả hai). Điều đó không quan trọng, chỉ biết rằng, một cảnh đẹp, “quầng trăng xuân” ấy, đã hiện hữu, đã in vào tâm khảm thi nhân, đã để lại dấu ấn ám ảnh về nỗi cô đơn của con người trước bao la trời đất. Cái ánh sáng mờ ảo nhìn thấy từ “quầng trăng xuân” có màu trắng tinh khiết, có cả hương vị ngọt ngào của hoa mơ, thì cái ánh sáng ấy đã chứa đựng cả tâm hồn rộng mở, một tình yêu cuộn trào trong cơ thể nhỏ nhoi, ẩn khuất. Nhà thơ thực hiện sự quan trắc độc lập và độc đáo để nhận biết, để thể hiện sự độc lập và độc đáo của hiện tượng thiên nhiên biến thiên liên tục. Đó là tầm vóc của một thi nhân lớn. Cả bài thơ là một câu hỏi không có câu trả lời xác thực, chỉ biết rằng sự tĩnh của tâm hồn thi sỹ mới thu nạp đầy đủ và sâu sắc cái biến dịch muôn màu muôn vẻ và không ngừng nghỉ của thế giới tự nhiên mà con người khó thoát khỏi sự cưu mang và ràng buộc của nó.

*

Trong truyền thống, thi sỹ Buson viết nhiều bài thơ haiku về các mùa trong năm, trong đó chủ đề mùa xuân ông có nhiều phiến khúc haiku độc đáo.

Đêm xuân

Tâm tư ai cũng thế

Bay xa khỏi mái nhà

Bài thơ 3 câu, 12 chữ. Đọc rồi phải ngẫm. Ngẫm rồi đọc lại. Đọc nhiều lần mới dần dần cảm được. Cảm sự tinh tế. Cảm triết lý sâu xa. Cảm cái tình người rất người. Người thơ trải nghiệm. Và, người thơ nói lên tiếng nói không còn của riêng mình. Nói cái điều của quy luật hiển nhiên, nhi nhiên, mà phải đâu nhận thức ngay được.

Đêm xuân” là một ước lệ. Nhưng ước lệ ấy có chủ ý. Bởi, mùa xuân, tâm trạng con người ta thư thái hơn. Mùa xuân là dấu hiệu một vòng quay mới của đất trời. Con người cũng bước vào một tuần hoàn mới của tư duy, của nhận thức, của khát khao, mơ ước. Trạng thái, tâm tư của con người hòa hợp với cảnh sắc, với sự trỗi dậy của muôn loài, với thiên nhiên cựa quậy đầy sức sống. Ban đêm, khi lắng xuống mọi điều vất vả, lo toan, là lúc thức dậy những trằn trọc, trở trăn. Nhưng đêm xuân, nỗi trằn trọc, trở trăn ấy không bị dằn vặt, vật vã, đối đầu với cuộc mưu sinh, giảm bớt sự toan tính tầm thường. Đêm xuân, ánh sáng của trí tuệ bừng lên, thả bay trong lãng đãng, mơ màng về cõi nào đấy của thanh thản, trầm lắng. May ra, chỉ có “đêm thu” mới có thể sánh được với “đêm xuân”, nhưng “đêm thu” trí tuệ thiên về việc “gói” lại để trầm ngâm những gì đã qua nhiều hơn (?).

Tâm tư ai cũng thế” là sự khái quát của một tâm hồn thơ, vừa nhân tình, nhân tính, vừa nhân văn, nhân loại. Cá thể người thơ thấu hiểu tâm sự chung nhiều người.

Thật bất ngờ khi người thơ “buông” câu kết rất… bất ngờ: “Bay xa khỏi mái nhà”! Cái gì bay xa khỏi mái nhà? “Đêm xuân” hay “tâm tư”? Và, tại sao lại phải bay đi? Câu thơ này khiến tôi bật nhớ lại. Nhiều lắm những ví dụ từ thực tế cuộc sống. Ngồi một mình hay cùng bầu bạn quây quần, những suy nghĩ, những câu chuyện cứ dần dần loang ra, loang ra đến lúc các thứ trước mặt ta bỗng nhòa đi, biến mất, nhường chỗ cho những thứ xa tắp mù khơi. Thực tại chỉ còn bóng dáng mờ nhạt. Quá khứ, ẩn náu nơi nào, được khơi dậy. Thì tương lai thả sức bung ra trong tưởng tượng. Chuyện của trí nhớ và chuyện của trí tưởng tượng đan cài, móc nối, thành thử “chuyện nọ xọ chuyện kia”. Ban đêm, nằm một mình, dĩ chí nằm bên vợ/chồng, thì ý nghĩ càng không dừng lại ở thực tại. Biết bao chuyện ập tới. Tâm tư không còn ở dạng trạng thái nữa. Nó đã thoát xác, bay khỏi thân thể tới thế giới khác. Mái nhà chỉ là một ước lệ. Thực tại cũng ước lệ mà thôi. Không có khuôn khổ nào, ranh giới nào ngăn cản nổi sức bay của tưởng tượng, của ước mơ và khát vọng. Không gian rộng lớn mới là nơi gặp gỡ, giao hòa, cảm thông và tiếp tục nâng cánh những bay lượn đó, để tạo nên miền cực lạc/thượng giới, mà con người thực tại hướng tới như một thiên đường để kết thành niềm tin.

Bài thơ haikư của Buson, vào thế kỷ XVII, khiến người đọc ngày nay “tương tư”, đặc biệt câu kết. “Đêm xuân” hay “tâm tư” vừa bay vừa không bay, đó chỉ là “điểm tựa” cho tư duy, cho tưởng tượng bay lên hòa vào không gian vô định.

Hai phiến khúc haiku của Buson viết về mùa xuân dưới đây cũng rất đặc biệt:

Xuân đang qua

chầm chậm, ngập ngừng

trên những cánh anh đào nở muộn

Một gốc anh đào

xem chừng lơ đễnh

khi mùa xuân sang

Hai bài thơ trên đây đều có hình ảnh mùa xuân-hoa anh đào và một tâm trạng ẩn sâu trong đó.

Ta chưa nói tâm trạng đó là gì.

Trước hết, cả hai bài thơ đều đem đến cho ta “cái nhìn thấy được”. Ở bài thứ nhất: “xuân đang qua” – đang dần đi đến kết cục, chuẩn bị chuyển mùa, khác với “khi mùa xuân sang” ở bài thứ hai – sự bắt đầu của tiếp diễn. Hai khung cảnh khác nhau về thời điểm, nhưng vẫn là xuân – mùa sinh sôi nảy nở của muôn loài, mùa của tươi xanh mơn mởn, của sức sống trỗi dậy. Dù đọc riêng từng bài, ta vẫn thấy cả không gian và cả thời gian dịch chuyển, bởi ở từ đang hoặc từ khi. Đó chính là cái khoảnh khắc của thiên nhiên (đối tượng) mà thi sỹ “thấy có vấn đề” để ghi nhớ vào tâm khảm của mình. Chỉ khác một điều, khoảnh khắc xuân ấy được cảm nhận lúc mở đầu (bài 1) hay khi kết thúc bài thơ (bài 2).

Dụng ý của nhà thơ đặt vào “cái thấy được” tiếp theo: “cánh (hoa) anh đào” và “gốc (cây) anh đào” – một hình ảnh của tươi non, còn hình ảnh kia nhắc tới già cỗi đến gần. Cả hai hình ảnh đều có thật, song không phải ai cũng để ý, cũng “chớp” được. Chúng cũng là những khoảnh khắc khuấy động tâm hồn thi sỹ trong Buson.

Xuân đang qua/…/trên những cánh anh đào nở muộn” và “Một gốc anh đào/…/khi mùa xuân sang” là những hình ảnh khi đặt vào cấu trúc mỗi bài thơ đã chuyển hóa các đối tượng trong mối quan hệ ràng buộc, tạo nên “tứ” sinh động, có sức liên tưởng sâu xa. Nếu, xuân đang qua trên gốc cây anh đào, hoặc mùa xuân sang trên những cành anh đào, thì chẳng có gì để bàn, vì nó thông thường đến thông tục, và, nếu như vậy sẽ không bật ra tâm trạng nhà thơ.

Vì không có “cái nếu” ấy nên mới có câu thứ hai trong mỗi bài thơ với các cụm tù “ngập ngừng” hoặc “lơ đễnh”. Chính câu thứ hai trong mỗi bài là nơi thi sỹ gửi gắm cái tình, cái tâm trạng và có vai trò “đưa đẩy”, gắn kết các ý thơ thành bài thơ hoàn chỉnh.

Ở bài thứ nhất, cái “chầm chậm, ngập ngừng” chia cho cả hai: mùa xuân và cành anh đào. Xuân cũng ngập ngừng không muốn/không thể trôi nhanh, mặc cho sự kết thúc đang hối thúc, vì “nó” không nỡ để những cành đào nở muộn kia chưa kịp vươn tới đỉnh cao của sắc đẹp mà cả loài anh đào được hưởng. Những cánh anh đào, vì nở muộn, cũng ngập ngừng, không biết xuân có đợi mình không, có hiểu cho nỗi chậm chạp của mình không. Chỉ một khoảnh khắc, hai đối tượng - mùa xuân và những cánh anh đào, hiện ra đã khiến nhà thơ rung động và bật ra trạng thái tâm tư lan tỏa cả ba dòng thơ.

Ở bài thứ hai, trạng thái “lơ đễnh” cũng thật đặc sắc. Gốc anh đào cũng lơ đễnh. Mùa xuân cũng lơ đễnh. Thực ra cả hai, xuân và gốc anh đào, đều cần đến nhau, cần nương tựa vào nhau để xác định giá trị đích thực của mình trước người mẹ thiên nhiên. Song, cái “lơ đễnh” ấy nảy sinh bởi sự thờ ơ, có thể đi đến hắt hủi trong thế sự, trong nhân tình thế thái. Ở đây, hai từ “xem chừng”, tức là chưa khẳng định sự lơ đễnh, đã xóa đi cái mặc cảm “hắt hủi” ấy.

*

Những phiến khúc haiku trên đây của thi sỹ Buson cách chúng ta hơn ba thế kỷ - người tiếp tục thi sỹ Basho khẳng định vị thế thể haiku trong nền thơ Nhật Bản và vươn ra thế giới - cho thấy sự thâm trầm, sâu sắc của thể thơ haiku. Dù ngày nay thơ haiku đã nhiều cải tiến, nhưng cách cấu trúc ba dòng (hay ba ý, hoặc ba hình ảnh) vẫn thu hút sự sáng tạo hướng tới sự tinh tế. Cách cấu trúc này, mà câu thứ hai – cũng là một ý độc lập, luôn là chất kết dính hai ý bên cạnh thành bài thơ hoàn chỉnh, vững vàng. Nó, câu thứ hai, có giá trị làm bật lên tâm trạng chung của cả bài thơ mà nhà thơ gửi một cách kín đáo vào từng ý/từng dòng/từng câu thơ.

Phân tích một vài phiến khúc haiku trên đây mới hay rằng, thể thơ haiku, trong một giới hạn xác định về câu chữ, nhưng rất khoáng đạt trong cấu tứ, lấy điểm nhìn và xúc cảm trong một khoảnh khắc tĩnh tâm để khai thác triệt để vẻ đẹp từ thiên nhiên một cách chân thực và diễn tả nó thật diễm ảo. Đặc tính này của thể thơ haiku rất gần gụi với tâm lý và thi pháp của người Việt thể hiện trong thể thơ lục bát, khác chăng là ở cấu trúc ngôn từ. Trong khi haiku nghiêng nhiều về phía duy lý thì lục bát đậm chất trữ tình (duy cảm), mặc dù cả hai đều hướng về triết lý nhân sinh. Một đằng (haiku) thiên dùng quý ngữ để chỉ mùa, hạn chế dùng tính từ, một đằng (lục bát) nghiêm cẩn về luật bằng-trắc, gieo vần và, vì thế, sử dụng tối đa điệp vần, láy tiếng, làm bật lên sự bóng bảy, nhuần nhuyễn của nhịp và điệu. Mỗi thể thơ của mỗi dân tộc đều có mặt mạnh và mặt hạn chế: ba câu haiku (một phiến khúc) trong cấu trúc 5-7-5, gồm 17 âm tiết (truyền thống), nay đã biến cải, làm “bong” ra ý-định rõ rệt trên bề mặt ngôn từ, có khả năng chuyển (dịch) sang ngữ khác; nguợc lại, cặp câu lục bát, gồm 14 tiếng theo nhịp chẵn hay lẻ, lại ẩn chứa sự bóng bảy, thực và hư trộn hòa, xen lẫn, cũng là ẩn chứa khó khăn cho công việc chuyển ngữ, nhất là khi muốn giữ được thể loại đúng với dạng ban đầu vốn có (điều mà thực tế đã nhiều lần chứng minh).

Tiếp nhận thơ haiku của người Nhật, người Việt muốn ứng dụng một thể thơ ngắn, hàm súc, có sức liên tưởng mạnh, bổ sung cho tư duy thơ của mình thêm phong phú, đa dạng, mong muốn hội nhập hồn thơ Việt vào các nền thơ của thế giới một cách nhanh chóng mà vẫn giữ được cốt cách, bản sắc một cách bền-vững. Sự tiếp nhận ấy, với dụng ý ấy, tất đòi hỏi một quá trình chọn lọc, biến cải không chỉ ngày một ngày hai, cũng không chỉ ở một nhóm người làm thơ theo kiểu haiku, mà thơ haiku mang tâm hồn Việt cần thời gian thấm vào người đọc như thơ Đường luật, thơ Pháp đã từng thâm nhập và trải qua quãng đường tiếp biến lâu dài như từng thấy. Những gì mà hai lần tiếp biến trước đã từng trải nghiệm, là những bài học trực tiếp và gián tiếp cho lần tiếp biến thứ ba này. Học hình thức và niêm luật thơ Đường, người Việt sáng tác “kiểu” thơ không còn nệ vào điển tích, mà bộc lộ tình cảm và lý trí một cách trực tiếp, khỏi cần những chú thích, giải nghĩa dài dòng, luẩn quẩn. Tiếp thu thơ Pháp (và thơ phuơng Tây nói chung), người Việt thổi hồn của mình bằng lối riêng, lý lẽ riêng để thể hiện cấu trúc tự do theo tư duy và phong cách thơ với tiếng nói đa tầng, nhiều nghĩa, nêm chặt câu bằng những gián cách, tạo khoảng trống cần thiết mà vẫn giữ được vần và nhịp trong điệu thức hoàn chỉnh của cấu tứ, không đóng lại trường liên tưởng của người đọc.

Dịp xuân mở đọc thơ xuân càng thấm thía chất xuân, tình xuân trong tâm hồn thi nhân. Mùa xuân vẫn là và mãi mãi vẫn là đối tuợng, chất liệu không thể thiếu cho cảm xúc tuôn trào cùng sự giao hòa của trời đất, gió mây: “núi dìu dặt núi-sông luồn vào sông” (thơ Cao Ngọc Thắng), mở ra tầm nhìn, tầm nghĩ cho thơ bốn mùa, quanh năm đượm hương ngọt ngào, thi vị và tinh tế…

CNT

...

Những bài thơ haiku trong bài bình luận này do Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt từ các bản tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.

Niềm cô đơn lộng lẫy- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"về thôi

bờ sông níu gió

chân trời níu mây"

(Lương Thị Đậm)

Đọc tập thơ của Lương Thị Đậm, tôi nhận từ phố biển những tiếng reo của sóng. Tiếng reo thì thầm trong vỏ ốc.

Lòng chùng lại khi nghe sóng gọi :"Về thôi"!

Biết là ai cũng về thôi, nhưng "về thôi" của Lương Thị Đậm dâng lên một nỗi buồn. Buồn mà mạnh mẽ. Một cái cớ có ý thức, có xác tín rõ ràng, chứ không bi lụy vì ngán ngẫm cuộc chơi.

Về là tự dặn lòng, như một mệnh lệnh. Hãy buông những gì không phải của mình, không thuộc về mình.

Đúng vậy, ai mà không về tay không!

Về với nội tâm đã kiên định, về với chính mình để nghe nỗi buồn kia trong sáng lạ. Một nỗi buồn mà chỉ có sự trải nghiệm đớn đau mới dám mở lòng...

Nhất định rồi, đang sống tức là đang về...

Thơ haiku luôn chạm vào cái khoảnh khắc, để từ khoảnh khắc bật lên niềm xung động hương thơm. Thơ Lương Thị Đậm có làn hương đó, làn hương của yêu thương dang dở...

Nơi "bờ sông níu gió" là níu vào hương xưa. Những kỷ niệm khó phai mờ còn dành hương cho một thời mộng đẹp.

Đọc mà không cầm lòng được, ắt phải níu gió mà hỏi bờ sông sao vắng người? Chợt nhớ một vầng trăng lệch, thì hãy níu chân trời cho cân bằng trạng thái. Yêu cũng làm ta mất cân bằng, như cánh chim trúng thương chới với, chơi vơi...

Giá mà trên chiếu chèo, thì người ta có cớ níu vạt áo người thương mà tỏ:

"Người ơi, người ở đừng về!..."

Đằng này...

"chân trời níu mây" ra đời trong tâm thế đó. Một nỗi cô đơn được đẩy đến tận cùng lộng lẫy!

Đà Lạt tháng 01/2020

N.T.N

Nhà khoa học đen- Lê Văn Truyền

alt

tạo hai bé gái chỉnh sửa gen

“nhà khoa học đen” ngông cuồng

định “thế thiên hành đạo”

Lê Văn Truyền

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, trên Associated Press, Hạ Kiến Khuê, Phó Giáo sư di truyền học tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Nam Trung Quốc tuyên bố rằng ông ta đã cho ra đời hai bé gái sinh đôi Lộ Lộ và Na Na được chỉnh sửa gen bằng kỹ thuật CRISPR. Và vẫn đang còn một bà mẹ mang thai chỉnh sửa gen chờ ngày lâm bồn.

Ngay ngày hôm sau, 30 tháng 11 năm 2018, hơn 100 nhà khoa học Trung Quốc đã cùng ký vào một bức thư được phát hành trên trang mạng xã hội Weibo lên án thí nghiệm chỉnh sửa gen trên người của Hạ Kiến Khuê. Ký tên vào bức thư còn có cả các nhà khoa học đến từ những trường đại học hàng đầu thế giới như Massachusetts Institute of Technology (MIT - Hoa Kỳ). Hạ Kiến Khuê được mạng xã hội phong tặng ngay lập tức danh hiệu “nhà khoa học đen” và ông đã biến mất một cách kỳ bí sau đó. Có nhiều nguồn tin cho biết, có thể Hạ Kiến Khuê đang bị chính quyền Bắc Kinh quản thúc nghiêm ngặt. Sau đó, ngày 21 tháng 1 năm 2019, Tân Hoa Xã chính thức thông tin: Theo một nhóm điều tra viên “Hạ Kiến Khuê và những người tham gia vào thí nghiệm này sẽ bị trừng phạt theo pháp luật Trung Quốc”.

Hôm nay vào những ngày cuối cùng của năm 2019, Tân Hoa Xã và Reuteurs đã công bố một thông tin mà đa số nhân loại và những nhà khoa học chân chính chờ đợi: Tòa án thành phố Nam Sa (Quảng Đông) tuyên án nhà khoa học sửa gene người He Jiankui (Hạ Kiến Khuê) ba năm tù và nộp phạt 3 triệu NDT (430.000 USD). Zhang Renli và Qin Jinzhou, đồng phạm của He, cũng nhận án tù và phạt tiền nhưng ở mức thấp hơn. Zhang Renli bị kết án 2 năm tù và nộp phạt một triệu NDT (143.000 USD). Qin Jinzhou nhận mức án 18 tháng tù và nộp phạt 500.000 NDT (71.500 USD).

"Ba bị cáo không có chứng chỉ hành nghề y hợp pháp. Nhằm đạt được danh tiếng và tiền bạc, họ đã vi phạm các quy định nhà nước về nghiên cứu khoa học và điều trị y tế", tòa tuyên bố. Âu đó cũng là cái giá cho sự ngông cuồng.

LVT

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2340
mod_vvisit_counterHôm qua2800
mod_vvisit_counterTất cả5461897
Hiện có 95 khách Trực tuyến