Tuế thời ký (Saijiki歳時記) - bách khoa toàn thư thơ haiku

Tại Nhật Bản, người mới học làm thơ haiku được các bậc thơ haiku tiền bối khuyến khích đọc và tìm hiểu thơ haiku từ các sách liên quan đến bốn mùa như “Nihon Saijiki” (Tuế thời ký Nhật Bản), “Kotoba no Saijiki” (Thuật ngữ Saijiki)…và xem đó như là cẩm nang khi đến với thơ haiku.

alt

Saijiki là gì? Nói đến Saijiki, không ít người liền liên tưởng ngay đến thơ haiku, cho rằng đó là tuyển tập quý ngữ để dùng khi sáng tác thơ haiku. Thật ra, Saijiki đã được ra đời từ trước khi thơ haiku xuất hiện. Được du nhập vào Nhật Bản, lưu truyền từ thời kỳ tiền thơ haiku, Saijiki tập hợp những thuật ngữ liên quan đến đời sống văn hóa gắn liền với thiên nhiên.

Khi nhà thơ Basho và thơ haikai ra đời, bộ sách “Nihon Saijiki” (Tuế thời ký Nhật Bản) được biên soạn. Hình ảnh cuộc sống trong dân gian, phong tục tập quán, đời sống dân dã…hòa quyện với thiên nhiên bốn mùa được khắc họa bằng những bài thơ haiku xuất hiện trong các bộ sách Saijiki này. Từ đó các thuật ngữ trong Saijiki trở thành Kigo (Quý ngữ) – một trong các quy ước không thể thiếu trong thơ haiku. Với vai trò quan trọng về nội dung lẫn hình thức, kigo còn được gọi là sinh mệnh của thơ haiku:

Theo thơ haiku truyền thống, kigo là cần thiết và chất liệu này phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên. Nét quyến rũ của thơ haiku là thông qua kigo luôn nắm bắt được hình ảnh thiên nhiên, cô đọng sự vĩnh hằng của thiên nhiên vào một thể thơ cực ngắn. Kigo phản ánh sự chuyển động của thiên nhiên, nhờ vay mượn sự rộng lớn của thiên nhiên được thể hiện thông qua quý ngữ, thơ haiku đã khắc phục được tính bé nhỏ vốn có của riêng mình[1].

Đời sống văn hóa phong phú hòa mình với thiên nhiên đã ban tặng cho ngôn ngữ tiếng Nhật một kho tàng đồ sộ các thuật ngữ nói về kigo. Từ thế kỷ XVII, các bộ sưu tập kigo đã được tập hợp và soạn thảo, cho đến nay nhiều từ điển kigo được xuất bản, tiêu biểu nhất là bộ sưu tập Saijiki tập hợp các kigo được phân loại theo địa lý, động vật, thực vật…qua sự thay đổi bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Theo lời Fuji Kunihito, “Nhật Bản có thể hãnh diện với tự điển Saijiki duy nhất trên thế giới này”[2].

Nói đến đây, có thể có nhiều ý kiến cho rằng, đó là những gì thuộc về thơ haiku truyền thống, là những quy luật của ngày xưa. Còn ngày nay, nhất là từ sau thời kỳ Minh Trị Duy tân, thơ haiku đã được thay đổi, thoát khỏi những quy định mà đã từng lầm tưởng khi cho rằng chúng ràng buộc, làm vướng sự thăng hoa của thơ haiku. Chính nhờ sự thay đổi thần kỳ của thơ haiku thời kỳ nhà thơ Masaoka Shiki (1867-1902), các thuật ngữ mới du nhập từ phương Tây xuất hiện trong thơ haiku hòa quyện với vẻ đẹp truyền thống của Nhật Bản đã đưa thơ haiku ngày càng được thăng hoa cùng thời đại.

子供がちにクリスマスの人集ひけり(Masaoka Shiki)

Kodomogachi ni kurisumasu no hitoatsuhi keri

Đám trẻ nhỏ

tụ tập vây quanh

bên cây Noel
(Quỳnh Như dịch)

Cũng chính nhờ đó, thơ haiku như được vươn mình ra với thế giới bên ngoài, mở rộng đề tài để thoát khỏi những giới hạn vốn có[3]. Cũng chính nhờ đó, thơ haiku như kính vạn hoa phát triển đa dạng, nhiều sắc thái, nhưng vẫn đi theo con đường “vừa biến đổi để phù hợp với thời đại vừa kế thừa bản sắc truyền thống”. Do đó thơ haiku - Cũ mà mới là thế.

Nhờ thế, ngày nay, tại Nhật các nhà thơ haiku tuy đến từ nhiều trường phái khác nhau từ thơ haiku từ truyền thống đến hiện đại, từ nội địa đến hải ngoại, từ giới trẻ đến tiền bối...vẫn luôn mang theo mình các cẩm nang về Saijiki, hoặc tuyển tập Kigo - quý ngữ khi sáng tác và bình luận thơ haiku.

Tham dự các buổi sinh hoạt sáng tác và bình chọn thơ haiku của các hội thơ haiku khác nhau tại Nhật, mỗi lần đến là mỗi lần đem về thêm một kiến thức của một nền văn hóa phong phú từ cổ truyền đến hiện đại qua những bài thơ haiku. Bởi, mỗi lần sinh hoạt thơ haiku, dù là hội thơ hiện đại của giới trẻ, dù không bó buộc phải có quý ngữ kigo, nhưng vẫn nhắc nhau trong thơ haiku nên có thuật ngữ nói về thời tiết của ngày hôm nay, của mùa này, tháng nọ...Ấy thế, có người đã nói rằng, đọc thơ haiku là đọc được kiến thức văn hóa tiềm ẩn đằng sau nó.

Nhờ thế, ngày nay, tại Nhật các nhà thơ haiku tuy đến từ nhiều trường phái khác nhau từ thơ haiku từ truyền thống đến hiện đại, từ nội địa đến hải ngoại, từ giới trẻ đến tiền bối...vẫn luôn mang theo mình các cẩm nang về Tuế thời ký (Saijiki), hoặc tuyển tập Kigo - quý ngữ khi sáng tác và bình luận thơ haiku. Gần đây, Bộ “Tuế Thời ký Haiku mới nhất” (Saishin Haiku Saijiki) được biên soạn, phân loại chi tiết các đời sống văn hóa xã hội qua các mùa như Thiên nhiên, Đời sống, Văn hóa, Địa lý, Lễ hội, Trang phục, Ẩm thực, Ăn - Ở - Mặc...khá chi tiết và xem đó như là cẩm nang khi đến với thơ haiku”[4]. Nhiều người còn ví von rằng các Bộ Tuế Thời ký haiku (Haiku Saijiki) có thể được xem là Bộ Bách khoa toàn thư thơ haiku.

Ví dụ, nói đến ánh trăng chẳng hạn. Trăng thì lúc nào cũng có thể nhìn thấy được cơ mà. Có gì lạ đâu. Nhưng với Nhật Bản, “trăng” quý ngữ của mùa thu bởi vì đêm trăng thu là đêm đẹp nhất. Hoặc nói đến “Hana” (hoa), có thể liên tưởng đến biết bao nhiêu là hoa, nhưng với Nhật Bản, mùa hoa đẹp nhất là mùa hoa anh đào.

監視カメラ映像に花降りしきる[5](Sugiura Keisuke)
kanshi kamera / eizo ni hana /ori shikiru
Camera giám sát

ghi hình

những cánh hoa rơi
(Quỳnh Như dịch)

Bài thơ mang đậm phong cách hiện đại với cấu trúc 6 – 7 – 6, sử dụng hình ảnh rất thời đại “Camera quan sát” (camera giám sát) trong bối cảnh đông người chen chúc ngắm hoa mùa hoa anh đào. Dù vậy, bài thơ vẫn không quên đưa vào quý ngữ “hana”. Trao đổi với tác giả của bài thơ nói trên, mới biết “hana” (hoa) trong bài thơ nghĩa là hoa anh đào (sakura). Tác giả bài thơ còn nhấn mạnh rằng khi nói đến “Lễ hội hoa” thì hầu như người Nhật Bản nào dù không phải dân chơi thi ca đều ý thức đó là “đi ngắm hoa anh đào”. Thơ haiku Nhật Bản ngày nay dù hiện đại đến đâu đi nữa nhưng vẫn luôn chú trọng cái “chất” như thế. Nhờ vậy dù thơ haiku đang được lan tỏa ra khắp mọi miền trên thế giới, nhưng haiku vẫn là haiku và luôn được bảo tồn.

Khi Nhật Bản bước vào thời kỳ hiện đại, các bộ thuật ngữ Saijiki cũng được biến đổi. Nếu trước kia, các thuật ngữ được phân loại dựa theo bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông thì nay đã thành năm mùa “Năm mới, Xuân, Hạ, Thu, Đông”. Nếu trước kia, bộ Saijiki chỉ là “Nihon Sakiji” (Tuế thời ký Nhật Bản), thì nay đã xuất hiện “Sekai Saijiki” (Tuế thời kỳ Thế giới). Tất nhiên thôi vì thơ haiku ngày nay đã được lan truyền rộng rãi hơn 70 quốc gia trong đó có Việt Nam.

Lật xem thử bộ Sekai Saijiki (Tuế thời kỳ Thế giới), thật ngỡ ngàng, khi những hình ảnh đời sống văn hóa của thế giới của các quốc gia từ Đông Á, Đông Nam Á, Thái Bình Dương, đến Trung Đông, châu Mỹ, Châu Âu...Tất cả đều được minh họa bằng các thuật ngữ của “kigo” (từ nói về mùa) phân chia theo các thể loại theo các mùa: thực vật, văn hóa, đời sống...và cụ thể hóa bằng những dòng thơ haiku nói về các quốc gia đó. Đúng là thơ haiku đã được “Quốc tế hóa”.

Trong bộ “Sekai Dai Saijiki - Đại Tuế Thời ký Thế giới” đã bắt gặp những bài thơ haiku của các nhà thơ haiku Nhật Bản viết về Việt Nam. Đây là những bài thơ có thể là ký ức, hoài niệm về một thời đã từng đặt chân hoặc từng được biết đến Việt Nam. Đọc đi đọc lại, kìa là thành phố Hồ Chí Minh dưới những cơn mưa dông cùng hình ảnh thiếu nữ áo dài với chiếc nón lá, Huế yên bình bên cầu Nhật Bản, lễ hội bên bờ hồ Hà Nội, và hình ảnh miền quê thân thương của cánh đồng cỏ, vi vu gió tại các tỉnh miền Nam như Tây Ninh, Mỹ Tho, Vĩnh Long...

スコールに自転車洗ふ街の子ら[6] (Takahashi Kenichi)

Cơn mưa dông

lũ trẻ

rửa xe đạp
(Quỳnh Như dịch)

Rõ là hình ảnh của thiên nhiên, của đời sống văn hóa quen thuộc của thành phố Hồ Chí Minh vào mùa mưa được các tác giả khắc họa thật là sinh động. Các thi sĩ thơ haiku người Nhật thật tinh tế khi đã làm giàu Bộ Bách khoa toàn thư Saijiki của họ bằng những thuật ngữ kigo (quý ngữ) mới bằng hình ảnh của một nơi vượt ngoài biên giới.

Nhưng chỉ một số ít bài thơ haiku để nói về quý ngữ của Việt Nam từ Nam chí Bắc như thế quả là quá khiêm tốn. Cũng không lạ, bởi bộ sách được xuất bản năm 1995, khi ấy thơ haiku Việt chưa nở rộ như ngày nay. Nhưng điều đó không thể cho rằng thế giới thiên nhiên, văn hóa đời sống truyền thống của người Việt cũng chỉ gói gọn trong một ít bài thơ haiku như thế.

Thơ haiku Việt đã trải qua chặng đường khoảng hơn 10 năm kể từ khi cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần đầu tiên được tổ chức vào hè năm 2007. Từ những bước đi bỡ ngỡ ban đầu, chưa quen thuộc với các quy luật, nguyên tắc... nay thơ haiku đã nở rộ khắp mọi miền đất nước. Nên chăng, thơ haiku Việt cũng cần xây dựng bộ chuẩn Tuế thời ký Saijiki Việt. Nhờ có Saijiki Việt, các nhà thơ haiku Việt sẽ có thêm nguồn tư liệu thuật ngữ để làm giàu đề tài sáng tác.

Và biết đâu, đến một lúc nào đó, các nhà thơ haiku Nhật phải vay mượn các thuật ngữ quý ngữ Việt để sáng tác thơ haiku Nhật từ chính bộ Saijiki Việt. Bởi khi đó, Saijiki Việt sẽ trở thành nguồn tài liệu quý báu cho các thi sĩ haiku Nhật tham khảo vô vàn những tinh túy về đời sống văn hóa từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam qua những từ khóa, quý ngữ được minh họa bằng chính những bài thơ haiku Việt của thi sĩ Việt.

Mưa Rước Cá[7]

Mãi rơi trên cánh đồng

Biệt tăm bóng cá

(Hồ Trường)

Giải ba Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần 3 năm 2011[8]

Chuồn chuồn kim

Kết đôi trên cánh đồng

Lúa trĩu bông

(Nguyễn Xuân Tấn, Đồng Nai)

Giải nhì Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần 5 năm 2015[9]

Chuồn chuồn kim là hình ảnh quen thuộc trong đời sống và của nền nông nghiệp Việt Nam, mà ngay từ thuở nhỏ chắc hẳn ai cũng nhớ đến.  “Chuồn chuồn kim kết đôi trên cánh đồng trĩu hạt phải chăng còn là thể hiện niềm tin có tính phồn thực giáo từ ngàn xưa của cư dân trồng lúa nước của cư dân chúng ta?[10]

Khi tham gia sáng tác thơ haiku tại Nhật, đã thử đóng góp bằng một bài thơ nói về những cánh hoa phượng khô được ép vào từng trang nhật ký thưở học trò.

火炎樹を飽きずに拾い押し花に (Quỳnh Như)

kaenju wo / akizu ni hiroi / oshi hana ni

Chùm phượng vĩ

lượm ép mãi không thôi

những cánh hoa

(Quỳnh Như dịch)

Bài thơ sau đó được tờ báo “The Kumano Shimpun” đánh giá “Với những đặc trưng gắn với đời sống mùa hè, Phượng vĩ có thể trở thành một quý ngữ của thơ haiku Việt lắm chứ. Vì thế những bài thơ haiku về Phượng vĩ hoàn toàn có khả năng trở thành bài thơ haiku sáng giá”. [11]

Với tham vọng đó, ao ước sao về một hành trình mới nghiên cứu thơ haiku: đi tìm Saijiki Việt (Tuế Thời ký Thơ haiku Việt). Và cũng chính nhờ từ tuyển tập các bài thơ haiku dự thi các Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt, từ các tuyển tập thơ haiku của các nhà sáng tác thơ haiku Việt có thể xây dựng được Bộ Saijiki Việt này chứ. Được chứ tại sao không!


[1] Yamashita Kazumi (1998), 『俳句への招待 (Xin mời đến với thơ haiku), Shogakukan, Japan, tr.15.

[2] Fuji Kunihito (1998), 「俳句の授業・俳句の技法  どう教え どう作るか」 (Giờ dạy thơ haiku thi pháp thơ haiku cách dạy và cách làm thơ), Meiji Tosho Co, Japan, tr.201.

[3] Yamamoto Kenkichi (2016), 「ことばの歳時記 」 (Từ vựng của Saijiki), NXB Kadokawa, tr312.

[4] Yamamoto Kenkichi (2016), 「ことばの歳時記 」 (Từ vựng của Saijiki), NXB Kadokawa, tr.318.

[5] 「草樹」 Tạp chí Soju”, Số 70 tháng 6 năm 2017, tr.60.

[6] Kaneko Tota (Chủ biên)「世界大歳時記」(Sekai Dai Saijiki - Đại Tuế Thời ký Thế giới, NXB Kadokawa Shoten, Năm 1995, tr. 273)

[7] Tên gọi những cơn mưa cuối mùa ở miền Nam, thường gọi Tiết Mang Chủng, tháng 10 âm lịch, cũng là lúc cá trên đồng tìm đường ra sông. (Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, tr.17).

[8] Giải ba Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần 3 năm 2011.

[9] Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, tr.44

[10] Đoàn Lê Giang 「Kỷ yếu Cuộc thi sáng tác thơ haiku Nhật – Việt lần thứ 3 năm 2011」, Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP.HCM, tr.45

[11] Sugiura Keisuke, Báo Kumano Shimpun, ngày 14/5/2017, tr.3

* Nguyễn Vũ Quỳnh Như, TS. Khoa Nhật Bản học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.

Tản mạn thơ haiku bốn mùa tại Nhật Bản

Nguyễn Vũ Quỳnh Như

Trong thời gian nghiên cứu thơ haiku tại Nhật Bản, nhiều bài thơ haiku đã được sáng tác bằng tiếng Nhật theo từng mùa, theo các quy định thơ haiku truyền thống Nhật như: quý ngữ, từ ngắt (mỗi bài chỉ được 1 quý ngữ, 1 từ ngắt)…Dưới đây là các bài thơ haiku được dịch từ các bài tự sáng tác bằng tiếng Nhật khi tham gia Hội thơ tại Nhật
* Bốn mùa tại Nhật được tính từ tháng 4 là tháng của mùa xuân.

alt

1.
Ngày nhập học
Lũ trẻ xúng xính
Áo kimono
(Nhập học: Quý ngữ đầu xuân)


2. Đường trơn trượt
Ve thôi kêu
Đền Chuson-ji
(Con ve – Semi: Quý ngữ mùa xuân)

3.
Hoa cải vàng
Mãi rung rinh
Vẫn ngủ vùi
(Hoa cải: Quý ngữ tháng 5)

4.
Trước sân ga
Vắng bóng người
ah mùa Obon
(Obon: giống Lễ Vu Lan, quý ngữ mùa hè)

5. Bên sông Sumida
Nhớp nháp ướt át
Pháo hoa Tokyo
(Pháo hoa Hanabi: Quý ngữ mùa hè)

6.
Bước ngang đường
Nghe như thoảng
Hương gừng quê tôi
(Gừng: Quý ngữ mùa thu)

7.
Quả vả tây
Như sao trên trời
Đang rạn nứt
(Quả vả tây: Quý ngữ mùa thu)

8.
Bóng bầu dục rugby
Lăn tròn, lăn tròn
Trước sân ga
(Rugby: Quý ngữ mùa đông – Được du nhập thời hiện đại)

9.
Đông tàn
Đền Miidera
Dòng người tản bộ

10.
Dâng trào
Nỗi nhớ
Món hầm Oden
(Oden: món ăn sưởi ấm, quý ngữ mùa đông)

11.
Đông về
Tán lá thông Basho
Bên đền Ukimido

12.
Ngày giỗ Basho
Ngâm từng bài thơ
Cô đơn mình tôi
(Basho: trở thành Quý ngữ mùa đông)

NVQN

Haiku- Dòng sông trong giữa biển thơ dữ dội

Đinh Nhật Hạnh

Trong vòng xoáy hiện đại đời thường, thế giới quanh ta vừa vô biên, vừa nhỏ hẹp. Tưởng chỉ cần ngồi êm trên máy bay siêu thanh chợp mắt trong vòng 24 giờ đã kịp chu du một vòng quả đất. Hoặc chỉ việc nhấp con chuột thông minh, trong nháy mắt đã thâu tóm được mọi số liệu, mọi sự kiện phức tạp đang- đã và sẽ diễn biến trong và ngoài vũ trụ, trên hành tinh này. Riêng về thơ, tưởng cũng vậy. Nhưng cái thế giới vô thanh ấy xuất hiện kỳ ảo như ánh trăng, như vệt sao băng khó mà đọng lại trong tâm thức ngỡ chỉ cần nhắp máy là hiện lên chóng mặt- đọc không xuể, hiểu không kịp, nhớ không nổi- bằng bất kỳ ngôn ngữ nào, thể loại nào, thời đại nào mình muốn biết. Và rồi mệt mỏi, chán ngán như sau các bữa tiệc linh đình thì dù có chỉ số IQ cao như Bill Clinton cũng không sao nhớ nổi- dẫu chỉ một khổ thơ ngắn nhất của mỗi nước trên thế giới phức tạp này.

alt

Xin hãy cùng cánh thơ lượn lờ giữa biển thơ mênh mông ấy- bay lướt qua lãnh địa thơ 3 quốc gia cổ đại. Nào, ta bắt đầu từ tập Hùng ca GILGAMESH có cách đây 45 thế kỷ bằng chữ AKKAD- loại văn tự có họ xa với chữ Ả Rập và Do Thái khắc trên ngói nung, gồm 3.300 câu thơ trên 11 bảng, đang được bổ sung lần thứ 12 từ các mảnh đất nung rải rác, tập hợp được 2/3 nội dung ban đầu với nỗi trăn trở tuyệt vọng: tìm giải đáp cho câu hỏi ghê gớm nhất, khắc khoải nhất của loài người “Làm sao đương đầu với cái chết” tấn bi kịch về thân phận nhân sinh qua cuộc đời của lão tướng URUK trong bao cuộc phiêu lưu mạo hiểm với ước ao, hy vọng, chiến đấu gian nan cuối cùng vẫn dẫn dắt đến kết cục bi thảm không ai tránh khỏi.

Tiếp đó là Trường ca sử thi, có lẽ đồ sộ nhất xưa nay: KATHA SARITSAGARA (Đại dương truyện) gồm 22.000 khổ thơ, dày gấp đôi 2 tập ILIADE (trường ca chiến trận) và ODYSSÉE (tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm) của HOMER vĩ đại. Chuyện thơ kỳ vĩ này xoay quanh một Hoàng tử Ấn Độ có vợ yêu bị bắt cóc, quyết đi tìm nàng. Trải qua bao hiểm nguy, đói khát, tai nạn khôn lường, Hoàng tử đã gặp lại vợ mình trong 350 câu chuyện thuộc đủ loại: phiêu lưu, tình ái… có kết cấu chặt chẽ hơn nhiều so với “1000 lẻ một đêm” với nàng SHEHERAZADE tinh quái, tài hoa - ĐẠI DƯƠNG TRUYỆN tiêu biểu cho cảm hứng thi ca đặc trưng Ấn Độ. Ngoài tư tưởng, luân lý và tôn giáo còn là bức tranh sinh động muôn màu của xã hội Ấn Độ xa xưa.

Xin mời rán thêm chút nữa, điểm qua thiên “Sử thi của các đấng quân vương SHHANMÉ”, tượng đài của nền văn học IRAN (Ba Tư) từ thuở khai thiên lập địa. Câu chuyện dài xung quanh cuộc xung đột 1.000 năm của hai vị vua – một thiện là FARIDAN, một ác là ZAHHAK. Rốt cuộc, cái ác bị bại vong – vua ác bị xiềng vĩnh viễn trên núi DAMAVAN để xám hối đời đời. Dân IRAN, người không biết chữ văn chung một nhận thức tổng quan của sử thi này: “Người tốt cũng như kẻ xấu chẳng ai sống mãi”. Đẹp đẽ nhất là để lại việc tốt cho đời”.

Hẳn bạn đọc cũng như kẻ viết dông dài này đã phát mệt vì những con số, những thân phận, biến cố khôn lường… kể sơ lược trên đây dù chỉ mới dám lướt qua vài áng sử thi cổ đại nổi tiếng. Trong thực tế, thơ ca nhân loại hiếm khi hiền hòa, bình lặng mà thường bị cuốn vào vòng xoáy nhân sinh, chao đảo dữ dằn của ĐẠI BI KỊCH CON NGƯỜI thể hiện qua muôn mặt đời thường của dòng đời bươn bả cuồng động vẫn chỉ xoay quanh các trục Giàu - Nghèo, Sống - Chết, Tốt - Xấu, Tình yêu. Nhiều cuộc chiến xưa nay đều kéo dài bao thế hệ, sự giành giật hạnh phúc bị cướp đoạt, sự mưu cần hạnh phúc - quyền sống… cùng bao mưu ma chước quỷ đã dìm bao thời đại trong biển tuyệt vọng, căm giận, hãi hùng đâu giành cho người đọc một phút bình yên mà trí óc phải quay cuồng xáo trộn giữa tấn trò đời khốc liệt.

Những lớp người đương thời chúng ta từng trải bao biến cố lịch sử qua 2 thế kỷ long trời lở đất sau những tháng ngày lao vào cuộc chiến đấu một mất một con với các thế lực đối nghịch, nay đã vui hưởng không khí thanh bình này, đã có thể thư gian suy ngẫm về một cuộc sống nội tâm yên ả, nắn nót ít vần thơ, thả hồn mơ màng về những chân trời xa xanh vẳng tiếng chim gù, có cánh bướm vẽ vòng, ngút trời một màu bằng lăng hoài niệm.

Trên thuyền thơ mong manh cánh bướm ấy ta bỗng lạc vào một dòng sông êm ả, tĩnh lặng, hình như không có tiếng đời chao chát. Có khoảng trời riêng, con đò nhỏ cắm sào đợi khách, có nhạc ve tụng ca mùa hạ ấm, có đàn sếu bay về phương Nam… cánh cò chao phân vân trên màu nắng khói sương Hồ Ba Bể, có đàn cá lượn lờ đông đặc suối Cẩm Thủy đất Thanh. Tiếng võng kẽo kẹt ấm lời mẹ ru năm nảo năm nào bỗng vọng về nhịp với bóng tre ngà lay lắt đưa ta về tuổi thơ êm đềm. Ta bỗng nhẹ người như đã trả về quá khứ những bon chen, bức xúc, khổ cực của cuộc đời vừa hôm qua thôi, soi bóng mình phản chiếu trong gương nước Ao Tiên muôn đời xanh ngọc bích. Cuộc đời sao đẹp đến thế, chỉ cần ngắm một giọt sương mai đọng trên lá cỏ:

“Mải chơi, mải chơi

trên từng lá cỏ

sương và sương ơi”

H.RANSETSU (1654-1707)

(Nhật Chiêu dịch)

Có thể thấy thu nhỏ hình ảnh quê hương:

* “Trong mỗi giọt sương

lung linh

quê mình”

ISSA (1763-1827)

… Một dòng sông đôi bờ mưa nắng:

“Một bờ sông nghiêng nắng

và bờ kia đang rơi

vài giọt mưa lấm tấm”

BUSON (1716-1783)

(Nhật Chiêu dịch)

… Và hổn hển làn sóng biển xuân thì khêu gợi:

“Xuân thì biển

một ngày dài hổn hà hổn hển

hổn hà hổn hển”

BUSON

(Lê Thiện Dũng dịch)

… Trong vòng xoáy của cuộc đời muôn mặt - dẫu trong hào quang nhung lụa hay giữa tột cùng đói khổ, tuyệt vọng ai mà chẳng có lúc nghĩ giống nhau - “lòng vả như lòng sung”:

*“Thiên đường -

một người đàn bà

một bông sen đỏ”

M.SHIKI (1867-1902)

… Rồi bất chợt trước vẻ đẹp nõn nà đến mềm lòng, tạo một tình huống phân vân khó nghĩ, khó quyết cho bất kỳ bậc tu mi nào:

* “Đôi gò bồng đảo,

tuyệt trần

một con muỗi”

OZAKI HOSAI (1885-1926)

… Kể cả với cầm thú - tưởng vô tình vẫn:

* “Hoảng loạn

Cầu thang đổ sập

tình yêu lũ mèo”

SHIKI

… Trăm năm phù thế - dẫu ở thời đại nào vẫn tinh tế đầy tính nhân văn qua mấy câu:

* “Trên cầu treo

đời ta xoắn cuộn

vào thân leo thường xuân”

BASHÔ (1644-1694)

* “Bùn trôi

tự

lọc”

TANEDA SANTÔKA (1882-1940)

… Và đau đớn đến nỗi:

* “Nước mắt xèo xèo rơi

bếp than hồng

tắt ngấm”

BASHÔ

* “Này bướm đập cánh

mình cũng như cậu

chỉ là bụi thôi”

ISSA (1763-1827)

… Cứ thế, vòng mùa – vòng đời vẫn tiếp diễn không ngừng:

* “Lá rơi

Trên lá

Mưa rơi trên mưa”

KATÔ GYÔDAI (1732-1792)

… Với mối cảm thông giao hòa sâu nặng hai chiều giữa Người và Mẹ thiên nhiên kiều diễm:

* “Hàng năm mơ về

hoa cúc

Hoa cũng thế về ta”

M.SHIKI (1867-1902)

… Với bao luyến nuối:

* “Mùa xuân đang qua

- ngại ngần

Giữa những cây anh đào nở muộn”

BUSON

… Với ước mơ thầm kín đẹp như… thơ:

* “Dưới trăng mơ màng,

bóng hoa

bóng đàn bà”

NATSUME SUSEKI (1865-1915)

… Rồi câu hỏi đau đáu, tự ngàn xưa - có lẽ cả ngàn sau - không sao lý giải:

* “Chẳng hiểu vì sao

yêu thế gian này

nơi vào để chết!”

NATSUME SUSEKI (1865-1915)

Và con thuyền mỏng manh đang đưa ta lướt êm trên dòng sông trong bay bổng qua thác ghềnh bão tố của từng mảnh đời, của cả thế gian quay cuồng này như lạc vào mắt bão ngắn ngủi làm sao, quý giá làm sao!

Dòng sông ấy, dòng sông thơ Haikư.

...

* Đinh Nhật Hạnh dịch

Ngõ Bằng Lăng

ĐNH

Xu hướng mới trong sáng tác thơ Haiku Thế giới

alt

Đinh Nhật Hạnh

Thành lập năm 2009, đến 2012 ở Đại hội Liên hoan Thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ I diễn ra tại Hà Nội, CLB Haiku Hà Nội đã lọt vào mắt xanh của Chủ tịch Hiệp hội Haiku Thế Giới Ban’ya Natsuishi và trở thành thành viên thứ 40 của tổ chức quốc tế này. Kể từ đó, 20 hội viên Haiku Hà Nội đã có thơ đăng đều đặn trên Tạp chí World Haiku Review hàng năm. Các tuyển tập này được chọn công phu từ 48 quốc gia, gồm 30 ngôn ngữ của hơn 185 hội viên trên 5 châu lục, được chuyển ngữ sang tiếng Anh, tiếng Pháp kèm tiếng bản địa.

Cho đến nay, chúng tôi đã sưu tập được hơn 3000 khúc haiku từ nguồn phong phú ấy và dịch sang tiếng Việt. Sau đây là những cảm nhận tóm lược xu hướng sáng tác mới của thể thơ này.

1. Thiên nhiên

Ngay từ cuối thế kỷ XX, đã có thay đổi về định lệ rất cơ bản: quý ngữ (kigo) không còn là quy tắc ràng buộc trực tiếp mà thể hiện “ẩn”, gián tiếp, bởi lẽ thời tiết bốn mùa trên các châu lục thường khác nhau. Không chỉ “trăng” mới là mùa thu, “hoa” đâu chỉ là anh đào. Lại nữa, bớt quý ngữ trực tiếp lợi thêm một dòng quý giá, dành chỗ thể hiện được tâm tư ký thác dồn nén vào một không gian cực hẹp. Đa phần, thiên nhiên quyện hữu cơ vào hồn cốt bài thơ, không còn khách quan mà gắn bó với nhân sinh thường nhật. Cấu trúc 5/7/5 không còn là khuôn phép, kể cả tại những quốc gia có ngôn ngữ đa âm như Mỹ, Anh, Pháp, Úc… Ngay ở chính quốc Nhật Bản cũng có nhiều thay đổi ngày càng phổ biến: Haiku tự do một dòng, Haiku không quý ngữ… Tứ thơ giờ đây không chỉ khu trú vào hiện tiền, khoảnh khắc như ghi âm một tiếng chim ca, chụp một pô ảnh thoáng hiện mà thẳm sâu từ ký ức bất chợt về quá khứ ngày xưa hay vụt hiện viễn tượng của ngàn năm sau, như Shiki (1867-1902) đã viết:

Đêm không ngủ

miên man ta nghĩ

về ngàn năm sau

Nhà thơ Haiku đương đại thả sức tự do viết về bất cứ lĩnh vực nào mà mình cảm nhận, không áp đặt, phê phán, tuy bảng lảng mà không hời hợt, có sức gợi mênh mông, thường đặt vấn đề mà không trả lời, như đòi hỏi người đọc tự chiêm nghiệm. Haiku đương đại ít bộc lộ thiên nhiên nguyên thủy bên ngoài thế tục mà thường là hòa quyện với thực tại sôi động, biến ảo – không phân biệt giữa khách và chủ thể.

Có lẽ cũng phải thôi, Haiku là thể thơ cô đọng, ngắn nhất, cũng như các thể loại văn chương khác phản ánh thực trạng mỗi thời đại. Ngay giọt sương, đẹp trong là thế, tuy vẫn lung linh quê nhà nhưng nay liệu còn trong, cũng như cơn mưa giờ cũng khác. Mẹ Thiên nhiên xưa kia hiền là vậy nay đang bị tàn phá kiệt quệ do chính lòng tham vô độ của con người – thủng tầng ozone, hiệu ứng nhà kính làm tan băng địa cực, hàng chục ngàn đầu đạn hạt nhân đe dọa nổ tan quả đất từng ngày, từng giờ… – nên cũng giữ dằn phản ứng và, tất nhiên Haiku không thể dửng dưng chỉ tụng ca thiên nhiên mà không bảo vệ dẫu chỉ bằng… Thơ.

A sunflower / lowing its head / like a remorse

Có bông hoa hướng dương

cúi đầu

như sám hối

Chiaki Nagamine, (1954-) Nhật Bản

Following fellows / the horse’s fetter-marks / tearful eyes

Thất thểu theo bầy

con ngựa bị ngàm

ràn rụa nước mắt

Yo Ecdenetogtokh, (1961-) Mông Cổ

The sounds of water / wandering / searching for water

Tiếng nước

lang thang

tìm nước

Hirokazu Aihara, (1970-) Nhật Bản

Without words / the moon and the fisherman / plow the sea together

Không lời

trăng và dân chài lưới

cùng cày xới biển khơi

Malvina Mileta, (1955-) Đan Mạch

With a thin rope / a kite connects a girl / and the sky

Nhờ sợi dây mảnh

con diều nối liền cô gái

với bầu trời xanh

Dimitrij Skrk, (1951-) Slovenia

Hazy moon / a nightingale in the canyon / competes with its echo

Trăng mờ

họa mi trong hẻm núi

hót thi với tiếng vọng chính mình

Tomislav Maretic, (1931-) Croatia

2. Tự sự

Trái với Haiku cổ điển tránh không viết về bản ngã, chủ thể Haiku đương đại đã có đột phá ngoạn mục khi viết về mình, về những bức xúc, băn khoăn thế tục trước những biến động ghê gớm của lịch sử. Có tác giả dùng Haiku diễn tả cuộc đời riêng không lối thoát của mình (Steven Ross, Mỹ). Có niềm vui lứa đôi, có xẻ chia nỗi lòng với bạn đời đã khuất, mơ về “hội mùa riêng cho hai vợ chồng thưởng thức vị quả hồng vườn nhà chín đỏ ngọt lịm”. Những vấn đề trước kia xa vời với Haiku như số phận một đất nước, một chính thể nay được thể hiện sắc nét. Thân phận cô đơn, khổ ải nghiệt ngã do đói nghèo, bệnh tật, hay do tuổi tác – cố nén lại để rồi tự nhủ lòng dành phần nước mắt với bạn tri âm, cho vơi đi những dòng lệ đời đau khổ…

Haiku đương đại có tính nhân bản ngày càng rõ nét và sâu đậm của muôn mặt đời thường tác động vào số phận con người vốn mỏng manh, lay lắt, càng vô định trong một thế giới hiện sinh chẳng biết có ngày mai.

I, a craving skeleton / reach to my son / with withered arms

Tôi, một bộ xương đói khát

chìa đôi tay gày guộc

về phía con trai mình

Steven Ross, (1950-) Mỹ

Cremate my body / flush my ashes / down the toilet

Hãy hỏa táng thân tôi

rồi xả tro

vào toilet

Steven Ross, (1950-) Mỹ

How bluish / the heavy rainfall / of my retirement day

Sao buồn thế nhỉ!

mưa rơi tầm tã

đúng ngày mình về hưu

Masami Sanuka, (1950-) Nhật Bản

April 20th / the birthday of Hitler / and me

Ngày 20 tháng Tư

sinh nhật Hitler

và cũng của tôi nữa

Shin’ichi Suzuki, (1957-) Nhật Bản

May rain hesitate / to fall onto him / a fool?

Có thể mưa ngại ngần

rơi xuống hắn

kẻ dại khờ ngớ ngẩn giữa trần ai

Yoshimoto Abe, (1963-) Nhật Bản

Persimmons bear fruit / a little harvest festival / for my wife and me

Hồng vườn nhà ra quả

một hội mùa nhỏ

cho vợ chồng tôi

Tatsunori Koizumi, (1931-) Nhật Bản

Nuit d’hiver / le silence – plus chaud / que tes bras

Đêm đông

sự yên lặng ấm hơn

vòng tay anh

Zlatka Timoneva, (1949-) Bồ Đào Nha

I can’t get over / the fangs of love / my hair white as frost

Tôi không thể vượt qua

những day dứt của tình yêu

đầu bạc như sương rồi

Keusetsu Jakahashi, (1939-) Nhật Bản

3. Thế sự

Đây là phần quan trọng, có tần suất tuyển chọn cao về nội dung thực tế: mắt thấy tai nghe những thực trạng của thế giới đương đại, sát với băn khoăn bức xúc của thế gian trước thiên tai; địch họa do chính con người tự gây ra. Từ thảm họa Hiroshima đến Fukushima, từ cuộc cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” đến nạn khủng bố tràn lan điên cuồng tàn bạo, xem mạng người như ngóe, không chốn nào yên. Có những tiếng chim kêu nghe đỏ như màu máu, ngay cả vầng trăng cũng đỏ bầm trong giấc mơ của giới cần lao. Có những ngôi làng sau chiến tranh chẳng còn là làng nữa mà chỉ là nỗi buồn và tiếc nuối khôn nguôi. Quả đất ngỡ trở lại yên bình sau Thế chiến II thì lại tiếp tục phải quằn quại trước những mưu ma chước quỷ thâm hiểm hòng vẽ lại bản đồ thế giới, áp đặt tôn giáo diễn biến từng giờ. Thời trước, cách nay hơn một thế kỷ, chưa có chiến tranh đại quy mô, đây đó thanh bình, thiên nhiên hòa đồng với nhân sinh, nhịp sống yên ổn êm thuận khác xa với hiện tiền sặc mùi xung đột của bạo lực, bá quyền, nơi con người bình thường không biết dẫu chỉ là ngày mai rất gần chứ chưa nói đến ngày mai xa xôi! Tứ thơ lóe lên như tia chớp, được khắc họa bởi dăm từ sắc gọn, chạm đến tâm tư dồn nén khiến người đọc phải suy ngẫm làm sao đấy để chung tay bảo vệ một thế giới văn minh, bảo vệ Trái đất – ngôi nhà chung của tất cả chúng ta đang lâm nguy.

I want a song of anger / fresh green leaves / shining

Tôi muốn nghe một khúc ca cuồng nộ

những chiếc lá xanh tươi

lấp lánh

Yo Tanaka, (1933-) Nhật Bản

Bloody moon / black and white dreams / of the working class

Vầng trăng đỏ như máu

đen trắng những giấc mơ

của giai cấp cần lao

Damir Damir, (1977-) Montenegro

This satanic age / even the mirroring shows / a false image

Thời buổi quỷ quái này

ngay cả chiếc gương

soi không thật mặt

Ramakhrisna Perugu, (1960-) Ấn Độ

“Arab Spring” – they say / but there is still deadly cold / in the heart of the people

“Mùa xuân Ả-rập” – họ hô vang

nhưng chỉ thấy giá băng chết chóc

trong tim dân thường

Dimitar Anakiev, (1960-) Slovenia

En Démocratie / tout autour du Président / beaucoup de cadavres

Chế độ dân chủ

xung quanh Tổng thống

vô khối xác người

Georges Friedenkraft, (1941-) Pháp

One street owes itself / to another street / one tree owes another

Một con phố mang nợ

một con phố khác

một cây nợ một cây

James Shea, (1976-) Mỹ

4. Tình yêu

Nếu như Haiku truyền thống không đề cập đến tình yêu mà còn cho đó là tối kỵ thì cũng đương nhiên bởi lẽ thể thơ này có cội nguồn từ các vị Thiền sư thoát tục, hơn nữa, thuở ấy thơ tình đã chiếm vị trí độc tôn trong thể Tanka chan chứa trữ tình rồi.

Thơ tình trong Haiku đương đại lại phát triển khá mạnh, là trào lưu mới, cởi mở hơn ngay trong các haijin Nhật Bản, đặc biệt, Haiku phương Tây có mảng thơ thiên về tính dục (erotic hay sexy haiku) khá thịnh hành. Tần suất tuyển chọn thơ tình khá cao, chỉ xếp sau mảng thiên nhiên và thế sự, Haiku tình yêu ở đây có phong vị nhuần nhị, thủ thỉ, trong sáng và hồn nhiên – có khi tả về đôi bướm mùa yêu; một chàng mèo thiến vểnh râu ngủ khì suốt mùa động đực; hoặc một nụ hôn vội trên bến xe ban ngày trước một vầng trăng sớm; tình yêu e ấp những lần đầu hò hẹn chỉ dám lén nhìn nhau; có lúc lại kiêu sa về vẻ quyến rũ của mình đã thừa sức ngăn làn gió xuân hầm hập của chàng, mời cập bến tình kề cận tầm tay…

Ta như trẻ lại trở về một thời yêu, thấp thoáng những nét xuân tình chấm phá, vì Thơ cũng như Tình không có tuổi…

The leaves sway calmly / listening to the brave wind / it says “I kissed you”

Êm đềm tán lá đung đưa

nghe gió mạnh dạn nói

“anh đã hôn em rồi”

Zaid Alquraishy, (1980-) Iraq

Swift kiss / at the bus stop / day moon

Nụ hôn vội

trên bến xe

trăng ban ngày

Ludmila Balabanova, (1994-) Bungary

Plage de nudistes / ne peux pas trouver ma copine / je la croyais bronzée

Bãi tắm truồng

không sao tìm được

bạn gái tôi màu da rám nắng

Valentin Nicolitov, (1945-) Rumani

The neutered Tom / sleeps soundly / during the love season

Chú mèo thiến

ngủ khì khì

suốt mùa động đực

Shuichi Watanabe, (1954-) Nhật Bản

After the love making / her mole / in a different place

Sau trận mây mưa

nốt ruồi nàng

chuyển chỗ

Petar Tchouhov, (1961-) Bungary

Soft lips colliding / beneath their closed eyelids / the time is melting away

Đôi cặp môi mềm chập lại

dưới hàng mi nhắm chặt

thời gian đang tan, tan

Anna Foldeaki Horvath, (1952-) Hungary

Clear moon night / espying the pure white / on her nape

Đêm trăng sáng

lén nhìn màu trắng muốt

nơi gáy nàng

Yoshitama Abe, (1963-) Nhật Bản

On the marble / of a bare breast / the petal of a kiss

Trên màu cẩm thạch

của bộ ngực trần

một cánh hoa hôn

Raul Henao, (1944-) Colombia

On the bench / only a couple of butterflies / and their shadows at play

Trên chiếc ghế dài

chỉ mình đôi bướm

và bóng chập chờn chơi

Vukelic Rozic, (1958-) Croatia

Spring morning / two sparrows on an antenne / broadcasting love

Buổi sáng mùa xuân

trên dàn ăng-ten

có đôi se sẻ phát thanh chuyện tình

Stepan Rozic, (1946-) Croatia

5. Những ý tưởng lạ

Sérénité nocturne / pierres et étoiles / le même silence

Trong đêm tĩnh êm

cả đá và sao

đều cùng im lặng

Zlatka Timenova, (1949-) Bồ Đào Nha

Sans permission / le dessin du temps / sur mon visage

Không được phép tôi

nét vẽ thời gian

vẫn hằn trên mặt

Zlatka Timenova, (1949-) Bồ Đào Nha

A small boat / a sunbeam is / its anchor

Một con thuyền nhỏ

tia nắng

là mỏ neo

Ivanka Yankova, (1936-) Bungary

A fish caught / in the net of dreams / a fisherman wakes up

Con cá mắc lưới

trong mơ

thức chàng ngư phủ dậy

Malvina Mileta, (1955-) Croatia

To revive him / rain splashing his face / on the obituary

Để hoàn sinh kẻ chết

mưa hắt lên khuôn mặt

trên tờ cáo phó

Malvina Mileta, (1955-) Croatia

After resisting / the nightpeach / swallow the knife

Sau khi chống cự

quả đào

nuốt chửng lưỡi dao

Taketora Nakamura, (1961-) Nhật Bản

In the shadow of the house / on a green lawn / the snow is sweating

Dưới bóng ngôi nhà

trên thảm cỏ xanh

tuyết vã mồ hôi

Stepan Rozic, (1946-) Croatia

A rain drop / overturns the sky in the cup / I’m drinking the Gods

Một giọt mưa

lật nhào bầu trời trong chén nước

ta uống các thần linh

Marius Chelaru, ( 1961-) Rumani

Summer evening / the dog drinks from the plash / all the stars

Đêm hè

con chó uống nước trong vũng

cạn sạch mọi vì sao

Marius Chelaru, ( 1961-) Rumani

In the ear of an old man / a cricket living / no food

Trong tai người già

có con dế sống

không cần thức ăn

Tousen, (1948-) Nhật Bản

6. Độc đáo

Life / sphinx / moment

Đời

nhân sư

khoảnh khắc

Alexandre Egorov, (1941-) Nga

Say something that makes me sweat

Hãy nói gì đó làm ta toát mồ hôi hột nào!

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

Sharpening the nails of a man

Chuốt nhọn móng tay của một người đàn ông

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

Snow grows on a stump

Tuyết mọc dày trên một gốc cây trơ

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

The sun falls down the river burns

Mặt trời rơi dòng sông cháy

Yu Soneda, (1941-) Nhật Bản

The thin ice

Lớp băng mỏng

Ousen Uchida, ( 1937-) Nhật Bản

If u c me / u r me

Nếu em thấy anh

em là anh

Steven Ross, (1950-) Mỹ

7. Có vần

Foam flowers / the pull of sand under / my inner child

Hoa bọt biển

cát lôi từ phía dưới

đứa trẻ trong tôi

Carmen Starke, (1946-) Mỹ

Beer on her breath / summer night with wet lips / vomiting on beach

Bia nồng hơi thở nàng

đêm hè cùng môi ướt

nôn thốc nơi bãi bờ

Joseph Spencer, (1950-) Mỹ

Sunk in a abyss / a dragon keeps / heaven’s memory

Lặn xuống vực sâu

con rồng vẫn giữ

ký ức thiên đình

Masayuki Nakamura, (1948-) Nhật Bản

Pampas grass / day passes / as they sway

Cỏ đồng hoang

ngày lại qua ngày

như là đu đưa

Masayuki Nakamura, (1948-) Nhật Bản

Trafic lights / the moon shines /all night

Đèn giao thông

trăng sáng

suốt đêm

Lars Granstrom, (1953-) Thụy Điển

From an old tree / the ears of a deer / appear

Từ cây cổ thụ

đôi tai hươu

thoáng hiện

Ariyo Asoda, (1962-) Nhật Bản

Summer morning / a crow walking / on the broad street

Buổi sáng mùa hạ

một con quạ

đi trên đại lộ

Ariyo Asoda, (1962-) Nhật Bản

The hand / is the tool / of the soul

Bàn tay

công cụ

của tâm hồn

Leons Briedis, (1949-) Latvia

Old age is freedom / the house key gets lost / you are dwelling in chaos

Tuổi già là tự do

chìa khóa nhà đâu mất

ta sống trong hỗn mang

Mordechai Geldmann, (1946-) Israel

Time is running / hurry up with everything / the end is secret

Thời gian trôi nhanh

mau lên với mọi việc

tận cùng là bí mật

Judit Vihar, (1944-) Hungary

8. Sexy Haiku

Sky / and a sleepy man / swelling

Bầu trời

và một gã đàn ông ngủ

đang dựng cột buồm

Sinji Noya, (1961-) Nhật Bản

Eating together / vomiting together / the end of love

Cùng nhậu

cùng nôn

cuộc tình kết thúc

Ram Kumar Pandy, (1946-) Nepal

Life lasts / until the slip goes from your wrist / to your tiptoe

Cuộc sống tồn tại

đến khi xi-líp

từ cổ tay tuột xuống đầu ngón chân em

Gyorgy Vermes, (1949-) Hungary

Between the blouse and the skin / the moon and a hand / are full

Giữa làn áo mỏng và làn da em

cả vầng trăng và một bàn tay

cùng đầy

David Rodrigues, (1951-) Bồ Đào Nha

Fireflies / in love / fertilization of light

Đom đóm

làm tình

thụ thai ánh sáng

Javier Tafur Gonzalez, (1945-) Colombia

Soap bubbles / between a pair / of human

Bong bóng xà phòng

giữa

đôi trai gái

Stepan Rozic, (1946-) Croatia

Sleeping with a virgin / making the veneral disease / spread

Ngủ với gái trinh

lan truyền

bệnh kín

Kentaro Awano, (1990-) Nhật Bản

Her nude buttocks / and the moon over the water / float with me

Mỹ nhân với cặp mông trần

và ánh trăng mặt nước

bập bềnh cùng tôi

Rob Flipse, (1944-) Hà Lan

Tạm kết

Quỹ thơ tuyển hàng năm của WHA thật dồi dào, kể từ khi thành lập đến nay đã có 12 tập gồm khoảng 6000 bài haiku. CLB Haiku Hà Nội gia nhập sau, chỉ được thưởng thức 3000 khúc. Trên đây mới là những cảm nhận ban đầu của chúng tôi trước rừng hoa kỳ diệu, vừa quen vừa lạ từ 5 châu lục, xin hẹn có dịp trình bày ở một phạm vi rộng hơn về chủ đề này cùng quá trình tiếp biến Haiku ở nước ta (có tổ chức) qua các tuyển tập Haiku Việt đã xuất bản của tập thể và cá nhân. Rất mừng khi sơ bộ đối chiếu đã hé lộ sự tương đồng của Haiku Mở Việt Nam với trào lưu Haiku thế giới đương đại – không hẹn mà gặp – đã tạo đà tự tin và vững vàng hơn trong bước đường mới đầy hứa hẹn. Trân trọng!

Đ.N.H

Thơ Haiku ở Việt Nam- Đinh Nhật Hạnh

Tham luận của đoàn đại biểu Haiku Việt tại Đại hội Haiku Thế giới WHA lần thứ 8

ngày 5/9/2015 tại Tokyo Nhật Bản

alt

I.Hình Thành Và Phát Triển Thơ Haiku ở Việt Nam

Từ thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, sự kiện thơ Haiku Nhật Bản chính thức du nhập vào Việt Nam là cuộc tiếp biến văn học lần thứ III sau thơ Đường và thơ Pháp.

1.Hình thành

Cho đến thập niên 70 của thế kỷ XX, có thể khẳng định ở Việt Nam chưa lưu hành, nghiên cứu thơ Haiku Nhật Bản có hệ thống, khi đó mới chỉ là những thử nghiệm riêng lẻ, sáng tác phỏng theo của vài tác giả tiền phong, những bản dịch Haiku Nhật Bản lúc ấy còn thiếu tư liệu đối chiếu. Kể từ năm 1980, thơ Haiku Nhật Bản bắt đầu được giảng dạy trong chương trình văn học nước ngoài của môn Ngữ văn lớp 10 nâng cao với những tiết giảng một số bài thơ nổi tiếng của Basho đã dịch sang tiếng Việt. Đồng thời, văn hóa Nhật Bản và thơ Haiku được giảng dạy sâu rộng hơn tại các khoa chuyên ngành của một số trường Đại học cả nước. Một số luận văn cao học và luận án tiến sỹ về thi ca Nhật Bản và thơ Haiku được hoàn thành và công bố. Cũng bắt đầu từ đó, nhiều tác phẩm dịch thuật và biên khảo về văn hóa thi ca và thơ Haiku Nhật Bản được ấn hành và phổ cập với tên tuổi các nhà khảo cứu uy tín như Nhật Chiêu, Lưu Đức Trung, Đoàn Lê Giang, Vĩnh Sính… Trên cơ sở sự truyền bá văn hóa Nhật Bản như vậy, tới thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, thơ Haiku Việt đã hình thành và phát triển nhanh chóng, có tổ chức.

2.Phát triển

Để đáp ứng nhu cầu thưởng thức và sáng tác thơ Haiku Việt của khá đông tầng lớp trí thức, nhà thơ và sinh viên, một số tổ chức với nhiều hình thức hoạt động phù hợp đã hình thành:

Từ năm 2007, Tổng lãnh sự quán Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh kết hợp với Báo Tuổi Trẻ đã định kỳ hai năm một lần tổ chức cuộc thi thơ Haiku tiếng Việt và Haiku tiếng Nhật cho người Việt và người nước ngoài ở Việt Nam tham dự. Các cuộc thi này rất hào hứng, có tác dụng lớn trong việc phổ biến và sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam. Đồng thời hàng năm tại thành phố Hội An – cảng biển thành lập từ thế kỷ 17 nay là di sản văn hóa thế giới- có sự kiện Văn Hóa Hữu Nghị Hội An- Nhật Bản mở cuộc thi thơ Haiku Việt từ 2012.

Hai năm gần đây, CLB đã tham gia Ban Giám khảo cuộc thi thơ Haiku Việt cho học sinh THCS Hà Nội do Đại sứ quán Nhật Bản ở Việt Nam, Japan Airlines và Japan Foundation đồng tổ chức.

Để tập trung lực lượng sáng tác, hai câu lạc bộ Haiku Việt đã hình thành tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

-24/06/2007: Thành lập câu lạc bộ Haiku ở Tp Hồ Chí Minh do PGS. Lưu Đức Trung làm chủ nhiệm. CLB này là một chi hội của Hội Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản Tp. Hồ Chí Minh.

-21/05/2009: Thành lập câu lạc bộ Haiku ở Hà Nội do bác sỹ Đinh Nhật Hạnh và dịch giả Lê Thị Bình đề xuất. Đến nay, CLB đã có trên 50 thành viên (ở Hà Nội và 4 thành phố trong nước), đồng thời là chi hội của Hội Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản Trung ương và Hà Nội.

Mùa xuân 2012, nhân liên hoan thơ Châu Á Thái Bình Dương lần thứ nhất tổ chức tại Việt Nam, CLB Haiku Hà Nội gia nhập Hiệp Hội Haiku Thế Giới (WHA). Chủ tịch WHA Natsuishi Ban’ya đã kết nạp 20 thành viên của CLB vào tổ chức này, mở đầu kỷ nguyên mới hội nhập vào nền Haiku thế giới.

Các CLB Haiku Việt nói trên sinh hoạt định kỳ hai tháng một lần với nội dung phong phú: trao đổi học thuật và những sáng tác mới về thơ Haiku, giới thiệu những bài khảo cứu về văn hóa thi ca của Haiku Nhật Bản và thế giới.

Tham gia tích cực các Ngày thơ Việt Nam truyền thống hàng năm ở Văn Miếu Quốc Tử Giám của Hội Nhà văn Việt Nam. Quán thơ Haiku nhận được nhiều giải thưởng từ 2011.

Hoạt động ấn hành: hai CLB đều phát hành nội san hàng năm, mỗi kỳ hàng mấy trăm bản với nội dung phong phú về khảo cứu, sáng tác, dịch thuật, trao đổi. Nhiều cá nhân hoặc nhóm haijin đã xuất bản thơ Haiku (khoảng 30 tác phẩm). Đã ra 3 tuyển tập Haiku Việt.

Công tác dịch thuật thơ Haiku Nhật Bản cũng rất được chú trọng. Nhiều sáng tác Haiku cổ điển và đương đại được dịch sang tiếng Việt từ nguyên bản tiếng Nhật, nhưng chủ yếu của các tác giả Anh, Pháp, Mỹ để phổ biến thơ của Basho, Buson, Issa, Shiki… Tuy nhiên công tác dịch thuật này cần được quan tâm nhiều hơn nữa để quảng bá rộng rãi và chuẩn xác thơ Haiku Nhật Bản với độc giả trong nước.

Đã hình thành bộ phận Thư pháp Haiku Việt, hoạt động có kết quả tốt.

Đặc biệt quan trọng là sự kiện Tọa đàm Haiku Việt Nam - Nhật Bản lần thứ nhất (13-14/09/2014) tại Hà Nội thành công tốt đẹp với sự hiện diện và đồng chủ tọa của Chủ tịch Natsuishi Ban’ya và các thành viên WHA là một dấu son lịch sử đã động viên, cổ vũ phong trào sáng tác thơ Haiku, cũng như công nhận sự trưởng thành của nền Haiku Việt. Sự kiện này đã tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa hai nền văn hóa, thu hút sự quan tâm, ủng hộ của các tổ chức hữu quan, các nhà văn hóa, các nhà thơ trong nước và đông đảo người yêu thơ. Hội Nhà văn Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm đến việc phổ biến và đăng tải thơ Haiku trên tạp chí thơ của Hội.

Trong nước, sự quan tâm đặc biệt và ủng hộ nhiệt tình của Hội Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản các cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho các hoạt động của CLB Haiku Hà Nội có định hướng đúng đắn và kết quả mong muốn.

Tóm lại, phong trào sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam mới hình thành từ một thập kỷ nay nhờ các yếu tố trên đã phát triển khá nhanh, đạt những thành quả ban đầu đáng khích lệ. Bên cạnh sáng tác, đã tổ chức một nhóm khảo cứu chuyên sâu về tính đặc thù của Haiku nói chung và Haiku Việt nói riêng. Đặc biệt tầng lớp thanh thiếu niên, sinh viên ngày càng quan tâm và bắt đầu sáng tác thể thơ hàm súc này đang có nhu cầu cao về tư liệu nghiên cứu đáng tin cậy về thơ Haiku.

alt

II.Những Đặc Điểm Của Haiku Việt

Các haijin Việt thường là những nhà thơ đã ít nhiều sáng tác thành công thơ trữ tình, thấm nhuần từ lời ru của mẹ nguồn tục ngữ ca dao vô cùng phong phú mà bất cứ người Việt nào cũng thuộc lòng ít nhiều. Thơ Haiku Việt tiếp thụ và áp dụng cấu trúc ngắn của Tục ngữ - Ca dao Việt Nam hoặc không vần, hoặc có vần tạo nhạc tính đặc trưng dân tộc.

Về nội hàm, tâm hồn Việt được thể hiện trong tinh thần Thơ Lục Bát (6/8) - một thể thơ đặc hiệu của Việt Nam, có thể diễn đạt mọi trạng thái của tâm hồn, mọi biểu cảm của tư duy thơ Haiku Việt. Tiếp thu những tinh hoa của nền Haiku Nhật Bản truyền thống, thơ Haiku Việt như một gốc cây có ba rễ hội tụ những cảm thức đặc trưng:

aware (bi cảm)

wabi (giản đạm)

sabi (tịch tĩnh)

Còn 4 cảm thức khác không kém phần quan trọng là:

hosomi (tinh tế)

fuga (phong nhã)

yugen (u huyền)

shiori (dư vị)

Với những gốc rễ ấy, vốn là tinh hoa của Haiku Nhật Bản, cấy vào nền đất Việt của Tục ngữ - Ca dao đã phát triển cây Haiku Việt tỏa bốn cành xum xuê hoa thơm trái ngọt. Đó là:

Vần điệu (onchou, akusento) thể hiện tính nhạc đặc trưng của ngôn ngữ Việt Nam.

Trữ tình (jojou)

Thiên nhiên (tennen)

Thế sự (yononaka no kotogura)

Về cấu trúc, thơ Haiku Việt có những đặc điểm sau:

Không nhất thiết phải có quý ngữ (kigo) Nếu có, thường gián tiếp.

Không có đầu đề. Một câu chia thành 3 dòng.

Không áp dụng cấu trúc 5-7-5 âm tiết như Haiku Nhật Bản vì tiếng Việt đơn âm – mỗi âm tiết là một từ, khác hẳn với tiếng Nhật đa âm – một từ gồm nhiều âm tiết. Nếu máy móc sáng tác theo 5-7-5 thì câu thơ sẽ rất dài, triệt tiêu mất đặc thù cực ngắn, cô đọng của Haiku truyền thống Nhật. Thơ Haiku Việt linh động trong số lượng từ, một bài thường dài không quá 14 từ, ngắn không dưới 5 từ.

Việc sáng tác Haiku rất linh động tùy tác giả. Hoặc có vần:

Mưa mưa / cưa đôi / nỗi nhớ (Đỗ Tuyết Loan)

Hoặc không vần:

Đàn / đứt / một tiếng buồn (Lưu Đức Trung)

Vì tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm mà đa thanh, do đó dù có vần hay không vần, một bài thơ Haiku Việt vẫn nhịp nhàng, uyển chuyển nhờ cách sắp đặt các từ theo âm TRẮC (ngã, sắc, nặng, hỏi) và âm BẰNG (không có dấu hoặc có dấu huyền) của từ đó. Do đặc trưng của ngôn ngữ Việt, so sánh với tiết tấu của mặt bằng chung, Haiku Việt có tính nhạc đặc trưng, độc đáo hiếm thấy trên thi đàn Haiku thế giới.

Về nội dung, ngoài những cảm xúc về thiên nhiên bốn mùa và những rung động riêng tư lắng đọng, cũng như Haiku hiện đại của Nhật Bản và thế giới, Haiku Việt mang tính cập nhật khá cao trước những biến động nhanh chóng của xã hội hiện đại trong kỷ nguyên kỹ thuật số, những thay đổi chóng mặt của hành tinh chúng ta về mọi mặt.

Có thể nói hiện tại “Haiku Việt là dòng Haiku mở” – vẫn giữ khung cửa vững chắc của Haiku Nhật truyền thống do Basho khởi xướng, nhưng mở rộng hai cánh về những chân trời của một thế giới mới khác xưa mà gần đây những sáng tác của Natsuishi Ban’ya đã thể hiện thành công. Haijin Việt Nam rất tự do trong sáng tác, khi thuần túy Haiku cổ điển, khi tung tẩy cấu tứ tự do tùy hứng.

III.Kết Luận

1.Kết luận

Ở Việt Nam, thơ Haiku bắt nguồn từ những tinh hoa của Haiku truyền thống Nhật Bản, phát triển trên nền Tục ngữ - Ca dao (về cấu trúc và vần điệu) và Tâm hồn dân tộc của thể Lục Bát lưu truyền tự ngàn xưa.

Haiku Việt đang đi những bước đầu tiên. Với một thể thơ lưu hành, trường tồn và đang phát triển rộng khắp thế giới xuyên qua bao thế kỷ, những cảm nhận về Haiku Việt trên đây chỉ là sơ bộ, như vài bước chân ban đầu trên con đường mòn giữa mênh mông sâu thẳm Haiku.

Tuy mới chính thức có tổ chức và gia nhập WHA nhưng Haiku Việt đã sớm được sự hưởng ứng, ủng hộ của những người yêu thơ và các tổ chức hữu quan – đã góp phần nhỏ làm phong phú thêm nền thơ Việt Nam đương đại, đồng thời tích cực góp phần củng cố tình hữu nghị ngày càng phát triển giữa hai dân tộc Việt Nam-Nhật Bản và tích cực quảng bá thơ Haiku ngày càng rộng rãi.

2.Đề nghị

Tăng cường các hoạt động giao lưu giữa WHA và Haiku Việt, tạo cầu nối với các tổ chức Haiku Nhật Bản ở chính quốc nhằm nâng cao việc phổ cập thơ Haiku trong nước và thế giới ở tầm mức cao hơn.

Liên kết hình thành một tổ chức dịch thuật Haiku Nhật Bản truyền thống và Haiku các nước trên thế giới để bảo đảm chất lượng tốt hơn, độ tin cậy cao hơn giữa WHA và Haiku Việt.

Mở cuộc thi Haiku thế giới trong các nước hội viên WHA 2 năm 1 lần.

Làm thẻ hội viên WHA.

ĐNH

Vẻ đẹp thơ Haiku Việt- Cao Ngọc Thắng

Gần chục năm trở lại đây, thể thơ haiku Nhật Bản du nhập vào Việt Nam đã có sự tiếp biến ở cả nội dung và cách thể hiện, mang màu sắc và tâm hồn Việt khá rõ nét.

alt

Có rất nhiều lý do để quá trình tiếp biến thơ haiku ở Việt Nam giai đoạn này diễn ra nhanh chóng.

Điều căn bản nhất là người làm thơ Việt Nam nhận biết sự tương đồng về một thể thơ có dung lượng câu-chữ giới hạn, nhưng ở đó thể hiện một khoảnh khắc tâm lý và tư duy thơ đầy đặn, nói lên tâm trạng đột khởi trước đối tượng bằng sự quan sát tinh tế, vừa duy cảm vừa duy lý mà ẩn sâu cái duy mỹ tổng hòa.

Người làm thơ Việt Nam cũng “nghe” thấy hơi thở chuyển mình cùng thời đại của các nhà thơ haiku Nhật Bản. Họ đang tự làm mới thơ haiku truyền thống của mình, không còn câu nệ vào những quy tắc trước đây, cởi mở hơn, vì vậy tung hoành và sảng khoái hơn. Cộng đồng người làm thơ haiku thế giới đang có xu hướng sáng tác loại thơ haiku mở để trình diễn cách nhìn, cách cảm về một thế giới luôn luôn biến động và đầy rẫy thảm họa do chiến tranh và thiên tai gây ra, đầy rẫy những bất an do chính cách ứng xử của con người trong thời đại văn minh vật chất bao trùm.

Cả hai sự tương đồng trên đây – khuôn khổ của thể thơ và tính mở của nó, đều không nằm ngoài xu hướng thơ Việt Nam đương đại. Trên nền tảng tư duy của mình, người làm thơ haiku Việt Nam vẫn giữ cấu trúc thể (ba câu) nhưng có xu hướng giảm số từ tối đa (dưới con số mười bảy), không dùng quý ngữ một cách cứng nhắc; và, một điều rất đặc biệt là sử dụng các loại từ (danh từ, tính từ) ở dạng động từ, nâng cao tính ẩn dụ (trong cả bài, ở từng câu, thậm chí từng từ), sử dụng cách gieo vần linh hoạt, phù hợp, hay tạo nhịp uyển chuyển, cho dù nội dung phản ánh dưới dạng chủ đề hoặc đề tài nào. Phương thức vận động trong sáng tác như vậy đã thực sự gửi gắm tâm hồn của các tác giả vào nhiều bài haiku với độ sâu lắng khác nhau, tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ haiku Việt.

Cái hay, cái đẹp ở mỗi khúc haiku trước hết xuất phát từ cái đúng trong cấu trúc.

Trong thời gian chưa lâu nghiên cứu và sáng tác thơ haiku, chúng tôi thức nhận một cách đọc thể thơ này, nay muốn cùng trao đổi để rộng đường bàn bạc.

[Xin mở ngoặc: dẫn ra những bài thơ trong bài viết này (đều từ Tuyển tập “HOA BỐN MÙA”, Nxb Văn học, 2015), một cách ngẫu nhiên, bất kỳ không có ý phê phán, mà chỉ nhằm phân tích và trao đổi; nếu có sự hiểu nhầm xin thông cảm và lượng thứ.]

Trong ba câu của một bài haiku sẽ lần lượt đọc: toàn bài, sau đó đọc từng cặp – câu 1 và câu 2, câu 2 và câu 3, câu 1 và câu 3, cuối cùng đọc lại toàn bài.

Thơ - / giấc mơ hoa ngát / mạch đời chắt chiu (Đinh Nhật Hạnh): Thoạt đọc có vẻ như một định nghĩa hay sự tổng kết về đời thơ của tác giả, nhưng không phải. Đây vẫn là một khoảnh khắc của sự nhận thức về đời thơ mà tác giả như bất chợt “bắt” được qua giấc mơ hoa [có lẽ bớt từ ngát thì “chặt” hơn], giấc mơ ấy được người thơ chắt chiu mà hiện, mà thành, dù trong chốc lát, để thêm biết rằng thơ ấy là do mạch đời vun đắp. Ở khúc thơ này, giấc mơ hoa trở thành chiếc cầu nối giữa thơmạch đời, trở thành thơ là mạch đời do người thơ chắt chiu mới có. Giấc mơ hoa là giấc mơ không bình thường, là hiện thân cái đẹp của thơ, nên từ hoa gợi sức liên tưởng. Chắt chiu là cái đẹp của người, của sự lao động sáng tạo, có tính ẩn dụ: “người ta là hoa của đất” thì thơ là hoa của người. Thơ-hoa-chắt chiu gắn kết với nhau từ ba hình ảnh, ba ý thành hình ảnh ngoài thơ.

Bến mới / thuyền con ngái ngủ / đuôi màu bình minh (Như Trang): Một hình ảnh được “chớp” rất đúng lúc, vào phút tâm trạng cởi mở, sảng khoái trước ngày mới. Ba hình ảnh: bến nước-con thuyền-bình minh nương tựa vào nhau có tính tạo hình. Bến ấy chưa chắc là mới mở, nó mới trên nền cũ đã có từ trước bởi chiếc thuyền con và ánh bình minh. Chiếc thuyền con có thể là đứa trẻ. Bến mới-thuyền con đã là một hình ảnh đẹp, thì ngái ngủ thêm ấn tượng về sự tinh tế. Ở câu thứ ba: đuôi màu bình minh đọc thoáng có vẻ ngỡ ngàng, song câu thứ hai đã nâng đỡ và tạo thành cặp – thuyền con ngái ngủ-đuôi màu bình minh, cho thấy một hình ảnh khác; và khác hơn nữa, ý vị hơn nữa khi đọc câu thứ nhất liền câu thứ ba: Bến mới-đuôi màu bình minh. Toàn bài là một bức tranh có bố cục, đường nét và màu sắc hài hòa, gợi tâm trạng bình thản, an nhiên và tươi tắn giữa không gian sống động, con người muốn vươn lên ngay từ tấm bé bởi màu bình minh xua đuổi cái ngái ngủ của thời đang lớn đã làm nên sự mới lung linh từ cái cũ, có hình, có khối.

Tôi đứng giữa / tiếng ve / bông cúc (Mai Văn Phấn): là thế đứng chênh vênh buổi giao mùa. Tôi – là bản thể đồng thời là nhân vật trữ tình. Đứng giữa tiếng vebông cúc là sự lựa chọn, chưa biết nghiêng về phía nào: một phía là rỉ rả, nuối tiếc nhưng không thật, không đằm, phía kia đi vào cõi khác của nhân sinh, thẳm sâu suy tư của nỗi lòng – quá khứ ấy có chiều rộng và bề dày. Tiếng ve và bông cúc là hai hình ảnh không cùng “loại” tương ứng, nhưng logic thơ là thế. Nếu đứng giữa tiếng ve e còn sốc nổi, thì đứng giữa bông cúc đã là trải nghiệm cuộc đời. Vì vậy, đứng giữa bông cúc mới thể hiện “vai” con người. Song, dù là cách nói ngoa dụ trong một khoảnh khắc, tác giả đã rơi vào một “thế chênh” tự làm khó mình, làm mất đi cái khoảnh khắc an nhiên, tự tại.

Khác với tâm tư ấy, Văn Bắc thổ lộ nỗi niềm có thật: Mâm cỗ gia tiên / Tất niên / ai chưa về. Cặp câu Mâm cỗ gia tiên-Tất niên là bối cảnh ngày cuối năm thường diễn ra trong mỗi gia đình, họ mạc, những người có mặt nhớ những người thân thuộc không có điều kiện sum vầy, nên “thả” câu ai chưa về, không hề có ý trách móc mà “thương cảm”. Đọc hai câu (1 và 3) Mâm cố gia tiên-ai chưa về thấy lòng xót xa, mến cảm cái tình-nghĩa nhớ nhung vời vợi của người ở và người xa.

Nhìn ra, Ban’ya Natsuishi tuy nói về một khía cạnh rộng hơn, nhân tình thế thái hơn, cũng vẫn đề cập cái khoảnh khắc của sự nhận biết hậu quả của sự đổi thay mà chẳng đổi mới của thế giới này: Gió từ tương lai / thổi tới / chia dòng thác. Vấn đề thật to tát, nhưng vẫn nằm trong vòng cương tỏa của quy luật bấy lâu. Mọi chủ nghĩa sinh ra đều chưa giải đáp được câu hỏi: chủ nghĩa ấy đem lại lợi ích gì cho số đông nhân loại? Cái sự thổi tới may ra mới chỉ tác động đến bề mặt chứ chưa hề “sục” xuống đáy nhân gian, làm cho thế giới này thay đổi thực sự.

Những ví dụ trên nói về chiều thuận. Dưới đây, chúng tôi muốn đưa ra bàn luận cái chưa thuận trong cấu trúc khiến một bài haiku chưa hoàn bích.

Từ chợ về nhà / những người đàn bà / nét mặt ưu tư (Cao Ngọc Thắng): Đây là suy tư liền mạch, chưa nói rõ cái chủ thể ưu tư mà anh ta bắt gặp. Từ chợ về nhà-những người đàn bà - rất tầm thường trong diễn giải; rồi những người đàn bà-nét mặt ưu tư – một cách mô tả lười suy nghĩ; vậy Từ chợ về nhà-nét mặt ưu tư nhằm nói điều gì ngoài những hình ảnh đã trình ra? Đọc lại nhiều lần bài này, tôi thấy không ổn, cần phải “đảo” câu để rõ nét cái ý mình muốn thổ lộ: Những người đàn bà / từ chợ về nhà / nét mặt ưu tư, để nói rằng nét ưu tư trên mặt người đàn bà xuất hiện sau buổi chợ phải đắn đo, phải nhọc lòng suy xét trước bấp bênh giá cả, trước thực phẩm không an toàn, trước những dối gian do đồng tiền lũng đoạn, rộng hơn là sự ưu tư về nhiều mặt, phải tính toán thế nào cho cuộc sống gia đình ổn thỏa trong khi thu nhập còn thấp, không ổn định.

Đinh Trần Phương viết: Mành cửa mùa xuân / gió làm đung đưa / ánh sáng, ý thì rõ mà tứ còn lộ, nên tình chưa thấu. Phải chăng vừa đảo câu vừa bớt chữ cho đạt ý , đạt tình: Gió đung đưa / mành cửa / ánh sáng mùa xuân. Câu thứ hai mành cửa sẽ làm sáng rõ và huyền diệu ánh sáng của mùa xuân khi nhìn qua tấm mành (từ trong ra) đung đưa bởi gió.

Hay khúc haiku sau đây: Về thôi / bờ sông níu gió /chân trời níu mây (Lương Thị Đậm), đọc xuôi đã thấy man mác, nhưng đọc lại thấy cần phải đảo câu để có mối lương duyên và tình-tứ giữa các cặp – Bờ sông níu gió / về thôi / chân trời níu mây. Sự níu của bờ sông và của chân mây khiến người lưỡng lự, chân muốn về mà lòng khắc khoải. Về thôi đặt ở câu một không có sự dùng dằng, níu kéo nữa.

Khúc haiku của Thanh Tùng gợi nên nét đẹp của nỗi buồn khắc khoải: Đường quê / lang thang bướm trắng/ hoa nắng tan rồi. Nhưng, đường quêhoa nắng tan rồi không có cái cớ để đẩy lên sự liên tưởng có tính ẩn dụ xa xăm. Nếu có thể đảo thành: Lang thang bướm trắng / đường quê / hoa nắng tan rồi, thì đường quê sẽ là “nốt” nhấn cho sự tan rồi ấy bởi đàn bướm trắng lang thang kia.

Những ví dụ dẫn trên đây, [xin lần nữa mong các tác giả và người đọc thông cảm và lượng thứ], cho thấy cấu trúc đúng, theo quan niệm của người viết bài này, của thể thơ ngắn haiku. Cấu trúc ấy phân biệt rành mạch ba hình ảnh, đồng thời là ba ý khác nhau mà gắn bó với nhau rất chặt chẽ theo từng cặp câu, trong đó hình-ý câu thứ hai là gạch nối cho hình-ý của câu thứ nhất và câu thứ ba liền mạch của một tứ thơ phát xuất. Cái đẹp của một khúc haiku lộ ra từ cái cấu trúc “phi logic” mà lại thực logic là vậy.

CNT

Thơ Haiku Việt sáng tác cho thiếu nhi- Vũ Tam Huề

Tại nước ta hiện nay đang có những triển khai bước đầu nhằm đưa việc dạy thơ Haiku Việt tại các trường tiểu học, cổ động cho trào lưu cảm thụ và sáng tác thơ Haiku Việt của các em học sinh. Để đóng góp cho việc giáo dục thẩm mỹ thi ca này, tác giả bài viết đã sáng tác Khúc Đồng Dao theo thể thơ Haiku Việt và cũng theo chủ đề thiên nhiên Xuân – Hạ – Thu – Đông ở nước ta. Sách thơ đang được NXB Kim Đồng in ấn và phát hành trong tương lai. Tác giả cuốn thơ nhỏ bé này xin trích dẫn một phần của cuốn Khúc Đồng Dao (8 trong số 20 bài thơ) để gửi đăng trong cuốn kỷ yếu của CLB Haiku Hà Nội. Rất mong được tiếp nhận của các độc giả yêu mến thơ Haiku Việt và yêu mến tuổi thơ.

alt

Con cóc chơi xuân

gặp đóa lan rừng

ngỡ là cánh bướm

Các cháu ơi! Chú biết chắc rằng nhiều bạn nhỏ ở thành phố chưa bao giờ nhìn tận mắt thấy con cóc. Còn các bạn ở quê chắc chắn phải biết rõ về loài vật nhỏ bé này. Ở quê nhiều cóc lắm. Cóc ở vườn, ở bờ ao, gốc cây và cóc chui cả vào trong nhà tranh vách nứa… Hình dáng cóc chẳng ưa nhìn, nhưng cóc là loài vật rất có ích cho nhà nông. Cóc ăn những loài sâu bọ làm hại lúa và hoa màu, góp phần bảo vệ đồng ruộng mùa màng. Con cóc trong bài thơ này cũng dạo chơi xuân đấy. Có điều đôi mắt của cóc kém lắm, lại không… đeo kính nên nhìn gà hóa cáo, nhìn đóa hoa ra cánh bướm. Chút nữa nhảy chồm tới… để đớp mồi! Buồn cười quá phải không… hi hi hi…

Chiếc kén ngủ đông

một sớm xuân hồng

hóa thành cánh bướm

Một sớm mùa xuân ấm áp, trên cành cây, một cái kén nhỏ đã ngủ suốt mùa đông lạnh giá. Đố các cháu biết trong kén có cái gì nào? Có con nhộng ạ! Đúng rồi! Thế con nhộng sinh ra từ đâu nào? Con nhộng là do con sâu biến thành đấy. Con sâu ăn lá cây, lớn rất nhanh, rồi nhả tơ làm kén. Trong cái kén sâu hóa thành nhộng, rồi tới ngày nhộng hóa thành bướm, thoát khỏi cái kén, bay khắp nơi hút nhụy hoa. Ngạc nhiên chưa! Bướm đẻ trứng, trứng nở ra sâu, sâu hóa nhộng rồi nhộng hóa bướm. Cứ thế đời này qua đời khác… Đó là vòng đời của loài bướm đó. Thật tuyệt vời phải không các cháu?

Quả nhót chín hồng

như chiếc đèn lồng

đón chào mùa hạ

Vào đầu mùa hạ là mùa nhót chín. Quả nhót to cỡ ngón tay cái của người lớn, hình bầu dục, còn non thì xanh lúc chín đỏ hồng. Nhót chín treo lúc lỉu trong tán lá xanh, bởi vậy tác giả bài thơ ví nó như chiếc đèn lồng nhỏ xíu chào mừng mùa hạ đã sang. Đặc biệt bên ngoài quả nhót có một lớp phấn trắng. Muốn ăn nhót ta phải loại bỏ phấn bằng cách xát nhẹ nhót vào tay áo. Xong rồi bóp nhẹ cho nhót thật mềm. Sau đó nhớ rửa lại cho sạch rồi mới ăn đấy! Nhót có vị chua chua ngọt ngọt, chấm với chút muối ớt, ngon ơi là ngon! Nhót là loại trái cây mà em bé nào cũng thích nhé! Nhưng coi chừng… ăn nhiều đồ chua bị sún răng đó!

Kiến nối đuôi nhau

bò lên ngọn cau

dưới vầng trăng tán

Ông bà ta từ xa xưa đã có câu “Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”. Còn bài thơ nhỏ này tả cảnh một bầy kiến đang cùng nhau bò lên ngọn cau dưới ánh trăng tán (trăng mờ, không thành quầng sáng). Chúng đang chuyển nhà chạy mưa gió và lũ lụt đó. Vì sao loài kiến biết sắp có mưa to, lụt lội vậy? Đó là nhờ khả năng đặc biệt của loài côn trùng này. Một số động vật khác cũng như kiến có thể dự đoán nắng mưa, bão lũ, động đất và sóng thần… Thật ngạc nhiên và đáng khâm phục! Đừng có coi thường loài vật bé nhỏ như kiến nhé!

Chót vót ngọn tre

tiếng chim chích chòe

gọi em tới lớp

Tác giả làm bài thơ này nhớ lại thuở nhỏ, khi còn là chú bé quê, ngày đầu cắp sách tới trường. Bữa đó sáng sớm đã nghe tiếng chòe… chòe… chòe lảnh lót trên không. Ngước nhìn lên đã thấy con chích chòe đậu vắt vẻo ngọn tre đầu ngõ và hót vang khắp xóm.

Các bà, các mẹ thường kể rằng, kiếp trước của chim chích chòe là một anh học trò trường làng. Những vệt lông trắng trên cánh chim là sách học của anh ta đấy. Hèn chi, chích chòe thích dậy thật sớm, hót vang xóm làng, đánh thức lũ trẻ vùng quê, mau thức dậy, cắp sách tới trường….

Chúng em múa lân

kìa mặt ông Địa

tươi như trăng rằm

Trong mùa thu có cái Tết của tuổi thơ, còn gọi là Tết trăng rằm tháng 8 hay Tết trung thu. Không một trẻ em nào không yêu thích Tết trung thu vì được họp bạn, vui chơi ca hát, bầy cỗ trông trăng, rước đèn ông sao. Tuyệt vời nhất là được hòa mình vào những đám múa rồng, múa lân rộn rã với tiếng trống, tiếng chiêng náo nức, với muôn ánh đèn màu rực rỡ…

Các cháu ngó lên trời cao nhé. Có mặt trăng sáng tròn vành vạnh. Còn nhìn quanh đám rước đèn múa lân sẽ thấy có ông Địa mặt tròn sáng loáng chẳng khác gì mặt trăng… Vui quá là vui nè!

Ổ rơm thật ấm

bếp lửa thêm hồng

đêm đông cổ tích

Thuở xưa, ở vùng quê nước mình còn nghèo, về mùa đông người ta thường trải ổ rơm để ngủ cho ấm. Hồi còn nhỏ chú cũng đã từng được nằm ngủ ổ rơm. Nằm ổ rơm cũng thú vị lắm, như con nhộng cuộn mình trong cái kén. Rơm vàng tươi như tơ tằm. Rơm còn rất thơm nữa, mùi thơm của lúa chín. Rơm cũng ấm lắm nhé! Đêm đông, nằm trong ổ rơm, bên bếp lửa hồng, quây quần bầy trẻ nhỏ, nghe bà, nghe mẹ kể chuyện ngày xửa… ngày xưa… thì không có gì ấm cúng và thú vị cho bằng…

Chú rất nhớ tiếc chiếc ổ rơm thời thơ ấu của mình, nhưng giờ đây biết tìm ở đâu?… Cha… cha… tiếc quá là tiếc…

Nắng hanh mùa đông

hoa cải vàng đồng

lũ bướm trẩy hội

Mùa đông thường mưa phùn gió bấc và giá rét, nhưng cũng có những ngày hanh khô với nắng vàng như tơ. Đó là mùa hoa cải nở. Cánh đồng trồng rau cải rộng thênh thang, hoa cải nở vàng rực rỡ. Chẳng biết nắng vàng hay hoa cải vàng hơn, chỉ thấy một sắc vàng ong óng, nhìn lâu hoa cả mắt đấy nhé!… Hương hoa cải rất ngọt, bay thật xa, quyến gọi về từng bầy bươm bướm màu sắc sặc sỡ, rợp rờn bay, trông thật là đẹp mắt. Bướm họp bầy trên đồng hoa cải để hút mật hoa, phấn hoa, đông vui như người ta rủ nhau đi trẩy hội mùa xuân vậy.

VTH

Hướng tới khúc Haiku hay- Lý Viễn Giao

Câu lạc bộ Haiku Hà Nội sinh sau đẻ muộn trong làng thơ Việt. Đến nay nó vẫn được coi là đang lớn. Tuy vậy cái cơ thể non trẻ này tiềm tàng một sức sống đáng nể từ chính những tế bào nội sinh của nó. Cùng với những bàn tay chìa ra nâng đỡ, chắc chắn nó sẽ có những bước đi dài vững chắc để hình thành một sức vóc vạm vỡ, xứng tầm mong đợi. Để có những khúc thơ như ý, các haijin đã chắt ra từ những tài liệu nghiên cứu được viết, được dịch công phu đó đây trên các nội san cũng như sách báo trong nước và nước ngoài. Những bài thơ dịch từ đủ mọi thứ tiếng cũng là nguồn tham bác quan trọng. Đặc biệt bằng những chiêm nghiệm qua cuộc sống, cảm hứng thơ và kho kiến thức kết đọng trong những cái đầu minh mẫn mà những khúc haiku được đẻ ra. Đến nay số lượng bài thơ đã không thể đếm xuể. Số lượng tập thơ đã phải dùng đến hai chữ số mà ghi. Ấn phẩm chung cũng đã có đến sáu nội san và hai tập thơ dầy dặn rất phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức.

alt

Những khúc haiku được viết đã ngày càng ra dáng một bài thơ hoàn chỉnh, được chấp nhận, trong đó có nhiều bài hay. Không phải đã hết những băn khoăn về tiêu chí của một bài thơ haiku và bài thơ hay. Ai đó cho rằng hãy cứ viết đi, viết nhiều rồi sẽ thành thơ haiku và sẽ hay. Nói vậy liệu có phải là logic ngược không? Phải định hình cho một khúc thơ haiku đã chứ, và phải khẳng định thế nào là hay đã chứ! Có thể vào lúc nào đó và ở đâu đó, chúng ta đã ít nhiều chạm mặt với những nội dung này rồi. Nhưng nay, đứng trước thềm cuộc tọa đàm về thơ Haiku lần thứ hai sắp diễn ra tại Hà Nội xin trao đổi thêm đôi lời may ra sáng tỏ được điều gì bổ ích chăng.

Một khúc haiku phải bao gồm ba thành phần có lẽ đã là đương nhiên. Điều này không phải ta tự bịa mà được rút ra từ trong chính những bài thơ haiku Nhật từ xưa tới nay mà chúng ta được đọc. Gần đây nhất, khi đến dự cuộc tọa đàm thơ Haiku lần thứ nhất cũng tại Hà Nội, chủ tịch hiệp hội Haiku thế giới WHA, ông Ban’ya Natsuishi, trong bài phát biểu của mình đã nhận xét khúc thơ của Lý Viễn Giao:

Trăng lạnh

nghĩa trang

đồng đội xếp hàng

là chỉ có hai hình ảnh! (Do dịch thuật mà dẫn tới điều này chứ thực ra ở đây là ba hình ảnh rất rõ!) Ta lấy ra từ nhận xét này để khẳng định chắc chắn rằng khúc haiku phải hội đủ ba hình ảnh. Ba thành phần trong khúc thơ gọi tên như thế nào là đúng nhất?

Nếu bảo ba dòng sẽ là vô lý. Dòng chưa nói lên điều gì rõ ràng về cấu trúc từ vựng cũng như nội dung. Nó mới chỉ là nhiều chữ viết liền nhau đặt trên một hàng ngang. Vì vậy dẫu có ba dòng chữ nhưng các dòng này chưa có ý, chưa gợi, chưa liên kết để tạo một ý tưởng tổng thể cũng chưa coi là thơ haiku được. Bài thơ “Con ếch”, một khúc haiku được coi là mẫu mực trong nền thơ cổ điển Nhật Bản của Basho có thể viết trên ba dòng:

古池や (Furuike ya)

蛙飛び込む (kawazu tobikomu)

水の音 (mizu no oto)

Hay viết liền một dòng: 古池や蛙飛込む水の音 (Furuike ya mizu no oto tobikomu kawazu) đều được vì bản thân nó đã chứa ba ngắt ý rất rõ ràng: Cái ao cổ / con ếch nhảy vào / nước xao động.

Còn ba câu ư? Điều này cũng không cần thiết bởi đã là câu sẽ phải hội đủ các thành phần chủ ngữ, vị ngữ… của cấu trúc câu. Trong thực tế, một khúc haiku không cần đến thế:

Mê nón úp vại cà

mồ hôi tóc mẹ ta

thâm dấu

(Lê Đình Công)

Đó! Ý thứ nhất coi là một câu đi nhưng hai ý sau chỉ là hai hình ảnh. Đâu cần đến ba câu mới làm nên khúc haiku. Ta bắt gặp rất nhiều bài thơ mà cả ba ý đều chưa phải là câu. Nhưng đó đây ta cũng gặp một khúc thơ có ba câu thật:

Cá xuống nước

mây về trời

ta thả ta vào chân không

(Thiện Niệm)

Vậy nếu nói ba thành phần trong khúc haiku là ba câu thật không chính xác.

Vậy ba ý hay ba hình ảnh? Điều này tế nhị hơn hai tên gọi nói trên. Hình ảnh thường là một ý rồi nhưng ý đâu có nhất thiết là hình ảnh. Bài thơ này của tác giả Lương Thị Đậm:

Dây điện bắc qua

đôi chim ríu rít

tình ca

ý thứ ba không phải là hình ảnh! Còn bài thơ sau của Vũ Tam Huề:

Gió từ đâu lại

mang hương cỏ dại

đường cày mùa xuân

lại chỉ có một hình ảnh ở ý thứ ba thôi. Vậy nên, cho rằng ba thành phần của khúc haiku là ba hình ảnh cũng không chính xác. Suy ngẫm qua nhiều bài thơ, thấy rằng nếu gọi đó là ba ý là đúng hơn cả. Ba ý này không phụ thuộc nhau trong một thể cấu trúc nào; mỗi ý đều trọn vẹn đủ sức tự mình mang ý nghĩa nên thường được nhấn mạnh bằng tên gọi là ngắt ý!

Làm thơ hay đọc thơ, ai cũng muốn hướng đến bài thơ hay. Vẻ hay dở thực ra cũng nhiều chiều bàn luận. Nó phụ thuộc vào cảm quan, tâm trạng, độ trải nghiệm và tầm nhìn, cách nhìn của người viết, người thẩm. Nhưng không phải không có tiêu chí chung về bài thơ hay để dùng làm thước đo cho thơ. Thơ hay trước hết phải hướng con người, cuộc sống đến chân, thiện, mỹ. Phải mang tính nhân văn cao. Phải có nghệ thuật sử dụng ngôn từ, ý tưởng một cách khéo léo để đi vào lòng người theo con đường ngắn nhất và trụ lại một cách bền vững nhất.

Với thơ haiku, do những đặc thù riêng của nó, khúc thơ hay còn cần thêm một số yếu tố mà haijin và độc giả không nên bỏ qua. Trước hết, bài thơ phải có cấu trúc của thơ haiku với ba ngắt ý rõ ràng. Ba ngắt ý này như ba chân của bếp kiềng hay ba Ông vua bếp trong bộ bếp đất cổ để tạo nên một dụng cụ hữu ích hoàn chỉnh. Nói một cách thơ hơn, ba ngắt ý phải ướp hương cho nhau, nghĩa là thấm vào nhau cùng tạo nên ý tưởng chung của toàn bài thơ. Với thể loại thơ cực ngắn này, việc tránh dùng hư từ là điều tối cần thiết. Sử dụng tính từ, trạng từ một cách vừa phài và hợp lý cũng góp phần làm cho hình ảnh bóng bẩy, long lanh hơn. Vần và nhịp điệu trong thơ không có quy định nào bắt buộc nhưng nếu sử dụng khéo léo cũng làm cho các ngắt ý liên kết với nhau mềm mại tạo không khí cho câu thơ bước vào tiềm thức người đọc, người nghe một cách ý nhị. Tính thiền và vô sai biệt không nhất thiết tồn tại trong thơ haiku hiện đại, nhất là thơ do người Việt chúng ta viết hôm nay. Nhưng nếu trong một bài thơ có phảng phất ít nhiều điều này âu cũng coi là một thứ gia vị phụ thêm cho một món ăn ngon khi ta thưởng thức.

Xin mời cùng dạo gót qua vườn hoa Haiku Hà Nội ngắt đôi ba đóa một cách vô tình để coi thử độ mỏng dày của hương sắc mà ngẫm về những gì đã sinh kết dưới bàn tay người gieo trồng.

Viết về mùa xuân, tác giả Nguyễn Thị Kim đã khéo đan cài ba hình ảnh tượng trưng với ba ngắt ý Hoa, Bướm và Người trên một bức tranh thêu đầy sức sống:

Dã quỳ ngõ quê

rập rờn cánh bướm

vàng lối em về

Và cảnh đêm Hồ Tây thơ mộng cũng được haijin Đinh Nhật Hạnh dùng khúc haiku gõ vào hồn thơ người đọc để vang lên ngân nga, lãng mạn:

Sương khuya Hồ Tây

sâm cầm vụt cánh

trăng lay

Nỗi nhớ đồng quê, nhớ mùa màng rơm rạ của người mẹ chân tre còn da diết nào hơn như trong khúc thơ này:

Ra phố ở với con

nhớ đồng mùa gặt hái

mẹ nhìn theo người bán chổi rơm

(Vương Trọng)

Còn gì nữa đâu khi mà người phụ nữ không có bạn đời bên cạnh để mà kề vai nghe hơi thở ấm áp, nghe tiếng thầm thào của hai con tim sẻ chia, để nương tựa:

Vắng anh

trăng lu

mảnh đêm vỡ nát

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Con người ta khi đã trưởng thành, mỗi khi nhìn về quá vãng, hình ảnh mẹ vẫn là trước nhất và đậm nhất:

Tiếng võng đưa

ngày xưa

tay mẹ

(Nguyễn Duy Quý)

Khúc thơ sau chỉ vỏn vẹn với bảy âm tiết nằm gọn trong ba ngắt ý mà làm lòng người xao xuyến với nỗi chia xa của lứa đôi:

Ngày em đi

nâng ly

uống sóng

(Lý Viễn Giao)

Nói về chủ quyền biển đảo mà chẳng gào thét, chẳng lên gân hô khẩu hiệu. Chỉ bằng những ngắt ý rành mạch chứa đựng hình ảnh không cầu kỳ mà rất đỗi thôi thúc:

Đảo chìm

lồng ngực anh

sóng vỗ

(Hà Bàng)

Nhiều người cho rằng thơ haiku mang tính triết lý cao. Nó dắt tư duy đi theo mạch ngầm để chiếm lĩnh chốn sâu thẳm của nỗi người, nỗi đời. Nhưng nó cũng rất tế nhị, không răn dạy, không rao giảng. Đọc những phiến khúc này ta có thấy gì không?

Lấp lóa trời cao

có những ngôi sao

thực ra đã tắt

(Lê Đình Công)

Bay cao mười ngàn mét

càng gần mặt trời

càng lạnh

(Lê Văn Truyền)

Đau khổ hãy về đây

ta sẽ trả thù

bằng nụ cười độ lượng

(Lê Vũ)

Mới chừng ấy tuổi đầu mà Câu lạc bộ Haiku Hà Nội đã gieo hạt để gặt hái được nhiều mùa hoa rực rỡ. Những bông hoa vừa ngắt để ngắm trên đây chỉ là ngẫu nhiên trong ngàn bông hoa đẹp. Chúng ta có đủ độ tin cậy cho những vườn hoa, mùa hoa rạng rỡ hơn đang nằm phía trước.

LVG

Bóng- Nguyễn Thánh Ngã

alt

BÓNG

Một bóng hoa đào

thắp bừng ngõ nhỏ

ấm chiều ba mươi

(Đinh Nhật Hạnh)

Câu thơ:"mỗi năm hoa đào nở" của Vũ Đình Liên, đã ăn sâu vào máu của mỗi người dân Việt trong bài thơ Ông đồ.

Thời nay có một ông đồ Haiku Việt, cao tuổi nhất trong Hiệp hội Haiku Thế giới, cũng làm thơ "thấp thoáng bóng hoa đào ngõ nhỏ" đậm sắc hương Hà Nội....cái bóng mơ hồ ấy....khiến ta không khỏi bâng khuâng về bao nỗi niềm tiềm ẩn.

Chỉ có thơ Haiku và người viết. Phải tài tình lắm mới đặt được vấn đề. Cái bóng của hoa đào thì có điều gì để nói? Vậy mà cái bóng ấy, đã khiến chúng ta có niềm tin yêu và hy vọng.

Nếu bóng hoa đào nghiêng soi trên mặt hồ, lại là một tư duy khác. Đằng này, một bóng hoa đào lẻ loi trong con ngõ nhỏ thật là cô liêu, cho ta thấy sự cô đơn đến tuyệt cùng! Cũng chính cái cô đơn làm nên điều kỳ diệu cho thơ.

Ai cũng biết cuối đông sang xuân xứ Bắc mình rét mướt...lòng người xa xứ cũng như người đang hun hút chờ ai - xa lắm, nhớ lắm trở về...Ôi chiều ba mươi người Việt Nam nào không bâng khuâng, thắc thỏm...Và trên ngõ nhỏ thân thương ấy giữa lòng Hà Nội, một bóng Hoa đào bâng quơ ấy có thể là cành đào Nhật Tân nổi tiếng, hoặc một tà áo dài màu hoa ấy bay bay, hay chính là màu xuân trên má ai ửng hồng hò hen, vừa cụ thể, vừa mơ màng , đã qua hay hiện tiền khiến người đọc không khỏi xốn xang một chiều ba mươi hoài niệm, mơ đoàn tụ lứa đôi ..Cảm giác ấm áp từ một bóng hoa đào giữa khung trời mưa phùn lành lạnh ấy, hạnh phúc và hy vọng cứ lâng lâng...thấp thỏm đợi chờ...

Ngõ nhỏ ấy -Bằng Lăng , vốn tím nhiều nỗi nhớ, rất đỗi mơ màng, nơi hội tụ bạn thơ Haiku bốn phương trời tri ngộ...Dẫu chỉ bâng khuâng một bóng hoa đào...ngõ nhỏ cuối năm:

Ngõ ấy

cánh bằng lăng rơi

trang thơ Đinh Nhật Hạnh

(Nguyễn Thánh Ngã)

Thế đấy. Nhà thơ sưởi ấm cho đời. Dù chỉ là một cái bóng...

Đà Lạt tháng 3/2017

N.T.N

Chao- Nguyễn Thánh Ngã

alt

1. HÒA ÂM

Trải qua những bước chập chửng, Haiku Việt đã đi khắp ba miền. Nhờ cố gắng của tất cả những người yêu thơ, CLB Haiku Việt Hà Nội đã nên hình nên vóc. Điều quan trọng không phải là kết nối được với tổ chức Haiku thế giới WHA, mà theo tôi, điều quan trọng là chúng ta đã tạo được một không gian hòa âm. Từ điệu hồn lục bát, tứ tuyệt ngũ ngôn, thất ngôn cho đến dềnh dàng tự do, phá cách... Tiếng Việt là tiếng đơn âm, nhưng thơ Haiku đã được bắt nhịp trong một hòa âm mới. Hòa âm cùng cung bậc đa thanh...

Người có công bắt nhịp cho những hòa âm mới, là nhà thơ Đinh Nhật Hạnh- cánh chim đầu đàn đã chao liệng trên bầu trời thơ Việt suốt mấy mươi năm. Ông đã đem sức xuân 90, lật mở kho tàng ca dao, tục ngữ, tìm những tinh hoa của cổ nhân để lại, chợt thấy thơ Haiku nằm trong đó. Dĩ nhiên, một cánh én không làm nên mùa xuân, mà cùng với nhiều cánh én tên tuổi khác, đã làm nên mùa xuân Haiku Việt. Ông viết :

Xin chao cùng cánh én

Haiku Việt

Vào xuân

(Đinh Nhật Hạnh)

Thật vậy, phải biết cái "chao" nào không làm gãy cánh; cái "chao" nào tạo nên nét đẹp dịu dàng trên đường bay để nhìn ngắm mùa xuân, nhìn ngắm thế giới. Một cú "chao" đầy hồn vía ấy, đã đẩy bài thơ bay lên một cách hồn nhiên và thấu thị.


2. LUÂN VŨ

Cùng tâm thế ấy, nhưng nhà thơ Đinh Trần Phương lại có cách nhìn khác. Đứng trên đất nước hình mũi tàu, sóng gió gập ghềnh. Thơ cũng không ngoại lệ, xã hội phát triển kinh tế đa chiều, thơ đang thời khủng hoảng, nó chấp nhận nhiều phong cách, kể cả ngoại nhập. Trong dòng chảy văn học thời này, thơ phải chấp nhận một điệu múa. Điệu múa của hội nhập. Bằng linh cảm của một Haijin, ông viết :

Ngày xuân đầu tiên

Trên trần tàu

Bảy ngón chân mặt trời nhảy múa

(Đinh Trần Phương)

Bảy ngón chân là gì? Bảy sắc cầu vồng. Và trên trần tàu Việt Nam, ngôn ngữ thơ Haiku đã và đang bắt đầu nhảy múa. Khi bất lực trước khúc ca, người ta có thể nhảy múa. Ngôn ngữ cơ thể bộc lộ. Cơ thể Haiku nhỏ nhắn, nhưng sức mạnh tinh thần vô cùng lớn lao. Những làn sóng ngầm chứa trong cái thân hình kiệt ngắn, đã có cơ hội bung ra. Nhưng thơ Haiku có cái duyên của một chiếc răng khểnh. Vừa múa. Vừa hát.

Vâng, đó là điệu luân vũ trong hòa ca.


3. PHONG CÁCH

Những Haijin thời nay đang khoác trên mình những bộ cánh mới. Bộ trang phục "5-7-5", "quý ngữ", "sabi, wabi", "yêu thiên nhiên", "mang tính thiền" vv... không còn đồng điệu với phong cách hội nhập. Vận hội thơ đang được mở ra với tư thế mạnh mẽ nhất. Khoác vai cuộc sống là những bộ cánh tân thời!

Chúng ta hãy nghe nhà thơ Lê Văn Truyền viết về ngôi nhà cũ, nơi mà con nhện vẫn âm thầm dệt tơ trên khung cửa:

Ngôi nhà cũ

Người bỏ đi

Nhện giăng tơ khung cửa

Không mùa của Phan Vũ Khánh:

Ghé vườn em
Mai Tứ quý
Nở không mùa

Đặc sản Việt của nhà thơ Nghiêm Xuân Đức:

Bánh đa Kế

Theo giọng kể

Giòn tiếng cười

Haijin Lương Thị Đậm với truyện Kiều:

Mẹ đọc câu Kiều

hằn sâu ký ức

tháng ngày xanh rêu

Nhà thơ Mai Văn Phấn lạ hóa thơ:

Chim sẻ mùa xuân

tắm

không cần nước

Nhà thơ Lý Viễn Giao với thế thái:

Viết không nên chữ

Nói chẳng thành lời

Gieo quẻ dạy đời

Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh với nhân tình:

Đã như chim chích

ngày càng

bé hơn

Nhà thơ Dương Phương Toại đậm chất ẩn dụ trong cõi vô thường:

Đạp đất mà đứng lên

Cứ ngỡ bầu trời an nhiên lắm

Đâu ngờ bão kề bên

(.....................)

Còn rất nhiều những phong cách khác, những trích dẫn hẳn là chưa đủ. Để định dạng, cần có nhiều thời gian. Những cú nghiêng chao, bay liệng của Haiku Việt trên nền trời xanh thẳm, đủ nói lên khả năng tiềm tàng và sức khai phá độc đáo. Trong sự lan tỏa của Haiku, chúng ta đã khẳng định với thế giới rằng, Haiku Việt có sức sống mãnh liệt, và hòa nhập theo cách tự nhiên của nó.

Vâng, "hòa nhập chứ không hòa tan", thơ Haiku vẫn là Haiku Nhật Bản. Không thể khác. Người Việt chúng ta có câu "đến dây thì phải ở đây". Thơ Tàu, thơ Pháp, thơ Mỹ vv...đến đất Việt đã "hóa tâm hồn" rồi. Chúng ta luôn trân quý cái đẹp với niềm gọi mời thiết tha.

Thế đấy. Những cánh én. Chao...

Đà Lạt mùa xuân 2017

N.T.N

Haiku là gì- Lê Thị Bình biên soạn

alt

I. Thơ haiku ở Nhật Bản xưa và nay

Cũng như người Việt Nam, người Nhật Bản rất yêu thơ, thích làm thơ để trải lòng mình. Cho đến nay ở Nhật Bản có mấy thể loại thơ như: 1. Waka (thơ Nhật) là thể thơ có cấu trúc định hình có từ thời xa xưa ở Nhật, thường có cấu trúc 5-7-7 hoặc 5-7-5-7-7 rồi lặp lại gồm có choka (trường ca), tanka (đoản ca), renga (liên ca), sedoka, katauta, haikai (haiku)… 2. Kanshi (Hán thi – thơ chữ Hán, thơ Trung Quốc) và 3. Thơ tự do theo kiểu phương Tây.

Haikai (bài hài) hay theo cách gọi hiện đại là haiku (bài cú) thuộc dòng thơ bản địa, là thể thơ định hình, được coi là thể thơ ngắn nhất thế giới, với 17 âm tiết, theo nhịp 5-7-5. Đây là một loại thơ cận đại, vốn loại thơ giải trí, khôi hài, phát triển từ cuối thời đại Muromachi (cuối thế kỷ 14).Người xây dựng nền tảng cho haikai cận đại là Matsunaga Teikoku (1571-1653).Nhưng người có công đưa haikai trở thành nghệ thuật, được coi như “quốc hồn, quốc túy” của Nhật Bản, chính là Matsuo Basho, một nhà văn hóa lớn của nước Nhật.

Có ba nguồn tư tưởng lớn ảnh hưởng đến haikai là Phật giáo (đặc biệt Thiền tông), Đạo Lão và Khổng giáo.Ngoài ra, hội hoạ và thi ca Trung Quốc, Nhật Bản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nghệ thuật haikai.

Đến thời Minh Trị, hòa chung với không khí cải cách đất nước, văn thơ Nhật Bản cũng nhận được luồng gió Âu hóa và nhóm cải cách haikai do Masaoka Shiki đứng đầu đã dùng tên gọi haiku thay thế cho tên gọi haikai của thời Edo.

Trải qua nhiều thăng trầm cho đến nay, haiku vẫn phát triển mạnh mẽ và vẫn là thể loại thơ được nhiều người Nhật yêu thích và sáng tác, thậm chí nó đã lan tỏa ra nhiều nước trên thế giới với sự hấp dẫn bởi sự ngắn gọn mà sâu sắc của nó. Mấy năm trở lại đây, ở Việt nam phong trào sáng tác haiku tiếng Việt phát triển âm thầm nhưng khá mạnh mẽ, lượng người yêu thích thể thơ này đang tăng dần. Chúng tôi xin sơ lược giới thiệu quá trình phát triển của thể thơ này qua các thời đại lịch sử ở Nhật để bạn yêu thơ hiểu thêm về tình hình phát triển thơ haiku ở đất nước quê hưong của nó là Nhật Bản.

Haikai thời Edo (1603-1868)

Trước Basho, vào thời tiền kỳ Edo có Matsunaga Teitoku (1571-1654) đã lập nền móng cho haikai gọi là trường phái Teimon, ảnh hưởng của Teitoku rộng khắp nước Nhật. Teitoku làm cho haikai phổ cập trong dân chúng nhưng chưa tìm ra cách đưa giá trị của haikai vượt lên renga, do đó phong cách sáng tác của phái này bảo thủ, thiếu sức sống, sau đó rơi vào bế tắc. Tuy vậy, phái này đã có công trong việc sinh ra nhiều nhà haijin (người sáng tác haikai)

Từ 1673 ở Osaka xuất hiện phái Danrin (Đàm Lâm) với nhân vật trung tâm là Nishiyama Soin (1605-1682), ông dạy kỹ thuật làm thơ haikai. Phái Danrin tìm cách thoát ra khỏi sự ràng buộc truyền thống. Môn hạ của Soin có những tên tuổi lớn như Ihara Saikaku (1642-1693), Suganoya Takamasa… Đặc biệt Saikaku có lối làm thơ phóng túng, nhanh, nhiều như tên bắn, mục đích để giải trí, mua vui. Họ còn tổ chức thi sáng tác haikai nhanh. Tương truyền năm 1684, trong một cuộc thi Saikaku đã lập kỷ lục làm được 23.500 câu trong vòng một ngày đêm!

Matsuo Basho (1644-1694) tên thật là Munefusa, sinh ra ở vùng Iga- Ueno thuộc tỉnh Mie ngày nay. Ông là con trai út của một Samurai cấp thấp được cha đưa vào phục vụ cho con trai lãnh chúa Ueno, anh này là người yêu thích haikai. Munefusa trở thành bạn thơ của ông chủ, qua đó ông biết đến phái Teitoku. Sau khi ông chủ trẻ đột ngột qua đời, Munefusa rời lên Edô (Tokyo ngày nay) rèn rũa thêm việc sáng tác haikai và chịu ảnh hưởng của phái Danrin (Đàm Lâm). Về sau ông say mê tư tưởng Lão – Trang và Thiền tông. Nhận thấy giới hạn của phái Danrin, ông quyết tâm tìm hướng đi mới và đổi bút danh là Basho (Ba Tiêu). Ở thời Basho, người ta chưa gọi thể thơ này là haiku (bài cú) mà gọi là haikai(bài hài). Đến thời Meiji, Shiki mới cải cách lấy tên gọi haiku thay cho haikai cho đến nay.

Noi gương các nhà thơ lớn của Trung Hoa như Đỗ Phủ, Lý Bạch, và của Nhật Bản như Saigyo, Noin, Sogi… Basho lên đường đi du ngoạn khắp đất nước để tìm nguồn cảm hứng và tạo phong cách mới cho thơ. Cuộc đời ông là những cuộc lữ hành không ngừng nghỉ, ông ngã bệnh và trút hơi thở cuối cùng trên đường lữ thứ trong tay các học trò tại Osaka khi 51 tuổi.

Sự nghiệp sáng tác của Basho khá phong phú, thơ ông đạt đến độ thành thục cao. Ngoài những tác phẩm haikai nổi tiếng như Thất bộ tập, tập hợp những bài xướng hoạ của ông trong bảy bộ gồm: Ngày Đông (Fuyu no hi – 1684), Ngày Xuân (Haru no hi – 1686), Cánh đồng hoang (Arano – 1689), Quả bầu (Hisago – 1690), Áo tơi cho khỉ (Sarumino – 1691), Bao than (Sumiđawara – 1694). Đặc biệt có kiệt tác Oku no hosomichi (Con đường nhỏ vùng Michinoku), sáng tác trong quá trình du ngoạn dài ngày lên phía Bắc Honshu trên đoạn đường bộ dài tới 2.340 km trong 151 ngày đầy gian khổ. Sau nhiều lần sửa đổi, tác phẩm bất hủ này được hoàn tất trước khi ông mất khoảng sáu tháng. Tập thơ đã được giáo sư Vĩnh Sính dày công nghiên cứu và chuyển thể sang tiếng Việt theo thể lục bát dưới tiêu đề Lối lên miền Oku, với hy vọng làm cho nó gần gũi với tình cảm người Việt Nam và để người Việt Nam dễ cảm nhận cái hồn của thơ Basho. Tuy vậy, cách dịch đó cũng làm mất đi nhiều về hình thức cũng như cái hay cái đẹp của thơ haikai – haiku của Nhật.

Basho là nhà thơ của thiên nhiên Nhật Bản. Công lớn của ông là đã đưa haikai lên hàng nghệ thuật, đời sau tôn ông là Thánh thi Haiku (Haisei).Haikai của ông tao nhã, u tịch, tạo nên phong cách riêng gọi là Bashofu (phong cách Basho). Quan niệm thẩm mĩ của ông về haiku có thể nói vắn tắt trong mấy từ sau: wabi (u tịch), sabi (buồn man mác), shiori (dư vị), hosomi (tinh tế), karumi (nhẹ nhàng, thanh thoát). Tính phong nhã (fuga) là đặc điểm tiêu biểu của trường phái Bashofu.

Từ khoảng thế kỷ 15, ở Nhật các nhà thơ lỗi lạc có thể sống bằng nghề dạy sáng tác thơ. Học trò của Basho có đến hàng ngàn người nhưng người Nhật chọn ra 10 người coi là giỏi nhất gọi là “Tiêu môn thập triết”.Điều này cho thấy người Nhật yêu thơ đến mức nào.

Vào trung kì Edo có một số haijin nổi tiếng như nữ sĩ Kagano Chiyojo (1703-1775) để lại cho đời trên 1.700 câu haikai bất hủ; Yosa Buson (1716-1783) vừa là họa sĩ vừa sáng tác haikai có tính tả thực và mang tính hội họa; gần cuối thời Edo có Kobayashi Issa (1763-1827) là một haijin nổi tiếng theo trường phái dân dã, thôn quê… Ba haijin lớn Basho, Buson, Issa ở thế kỷ 18-19 cùng với Shiki thời Minh Trị sau này luôn là niềm tự hào là những nhà văn hóa lớn của nhân dân Nhật Bản.

Thời Meiji (Minh Trị – 1868-1912)

Thời Meiji có Masaoka Shiki (1867-1902), nổi tiếng là nhà cải cách haikai và tanka. Nhóm Shiki theo trường phái tả thực (shasei) sinh động, phê phán lối làm thơ khuôn sáo. Nổi tiếng cùng Shiki có Kawahigashi Hekigoto và Takahama Kyoshi. Năm 1897, Masaoka Shiki lập ra tạp chí Hotogisu nổi tiếng chuyên về haiku, đến nay vẫn là một tạp chí lớn trong hàng chục tạp chí chuyên về haiku ở Nhật. Nhóm cải cách của Shiki đã dùng từ haiku (bài cú) để thay thế cho haikai (bài hài) của thời Basho.

Haiku hiện đại Nhật Bản

Hiện nay haiku ở Nhật có một số trường phái, phần đông vẫn thích giữ qui tắc sáng tác haiku truyền thống là có cấu trúc 5-7-5 âm tiết, có quí ngữ (kigo) hoặc quí đề (kidai) và có từ ngắt (kireji). Tuy vậy cũng có nhiều người thích trường phái sáng tác haiku tự do không theo các qui ước truyền thống, cơ bản chỉ giữ cấu trúc 5-7-5 thôi hoặc thậm chí không cần giữ đúng cấu trúc này mà lại ưa dùng khẩu ngữ hiện đại…

Người Nhật với văn hóa ưa sự giản dị và xúc tích đượm màu thiền nên thơ haiku luôn được ưa chuộng và người tham gia sáng tác thời nào cũng đông đảo.

Ở Nhật Bản, hoạt động sáng tác haiku rất rầm rộ trong toàn quốc. Những người sáng tác haiku thường liên kết với nhau thành các tổ chức sáng tác haiku. Các tổ chức này có tên gọi, trụ sở và ban lãnh đạo điều hành rõ ràng, các hội viên tham gia đều đóng tiền hội phí để xây dựng tổ chức của mình và triển khai các hoạt động. Hiện ở Nhật có mấy tổ chức haiku lớn như sau:

1- Hiệp hội Haiku truyền thống Nhật Bản

2- Hiệp hội Haiku hiện đại Nhật Bản

3- Hiệp hội các Haijin Nhật Bản

4- Liên minh những người sáng tác Haiku mới

5- Hiệp hội Haiku quốc tế

6- Hiệp hội Haiku thế giới

7- Đại hội các tuyển thủ Haiku của các trường Trung học phổ thông toàn quốc (thường gọi là Haiku koshi en).

Sau đây xin giới thiệu qua về các tổ chức này:

1) Hiệp hội Haiku truyền thống Nhật Bản

Đây là một tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân (shađan houjin) được thành lập năm 1987 (Chiêu Hòa năm thứ 62), Chủ tịch hiện nay của Hiệp hội là bà Inahata Teiko (sinh năm 1931).Năm 1994 Hiệp hội này đã có trên 6.500 hội viên chính thức, ngoài ra còn có nhiều hội viên không chính thức.

Mục tiêu của Hiệp hội là hoạt động sáng tác haiku truyền thống của Nhật Bản, gìn giữ giai điệu haiku truyền thống, ngâm vịnh haiku gắn kết con người với thiên nhiên của Nhật Bản (tức là trường phái “Hoa điểu phong vịnh” do Takahama Kyoshi đề xướng, có quí đề, quí ngữ và nhịp điệu 5-7-5 truyền thống).

Tạp chí của Hiệp hội là Hototogisu, một tạp chí haiku lâu đời và có uy tín nhất về haiku ở Nhật Bản.

2) Hiệp hội Haiku hiện đại Nhật Bản

Đây là một hiệp hội haiku lớn thứ hai ở Nhật có qui mô toàn quốc, thành lập năm 1947 (Chiêu Hòa năm 22) do Ishida Hakyou thành lập.Thực chất Hiệp hội này gồm 2 Hiệp hội lớn ở 2 vùng là Tokyo và Kansai.Năm 2006 có khoảng 9.000 hội viên.Chủ tịch Hiệp hội hiện nay là bà Uda Kiyoko (SN 1935). Hiệp hội chủ trương sáng tác haiku theo hướng tự do hơn, không nhất thiết phải có quí ngữ. Tạp chí của Hiệp hội là Haiku hiện đại.

Trụ sở của Hiệp hội đóng tại phường Sotokanda ở quận Chiyoda, Tokyo. Hiệp hội Haiku hiện đại có tổ chức 4 giải thưởng lớn là Giải thưởng Haiku hiện đại, giải thưởng Hiệp hội, Giải thưởng cho những người sáng tác Haiku trẻ(50 tuổi trở xuống) và Giải thưởng Bình luận Haiku.

Hiệp hội Haiku hiện đại Kansai ra mắt năm 1962, đến năm 2010 có trên 1.000 hội viên.Hiệp hội này hoạt động chủ yếu ở 6 tỉnh thành thuộc vùng Kansai phía Tây nước Nhật.

3) Hiệp hội các Haijin Nhật Bản

Đây là một hiệp hội có tư cách pháp nhân hoạt động công ích của các haijin trên toàn nước Nhật, thành lập năm 1961 (Chiêu Hòa năm 36) trên cơ sở tách ra từ Hiệp hội Haiku hiện đại. Tính đến năm 2012, Hiệp hội có 15.150 hội viên. Mục đích của Hiệp hội là phát triển sáng tạo và phổ cập văn nghệ haiku góp phần nâng cao văn hóa Nhật Bản. Hiệp hội có nhiều hoạt động rộng lớn như tổ chức Đại hội toàn quốc, tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề, phát hành tạp chí, giao lưu đối ngoại…

Chủ tịch Hiệp hội hiện nay là ông Takaha Shugyo (sinh năm 1930).Hiệp hội có ban trị sự khoảng 20 người và có 40 Chi hội trực thuộc ở các tỉnh trên toàn quốc.

Người gia nhập hiệp hội chính thức phải đóng tiền gia nhập là 20.000 yên (khoảng 5 triệu đồng tiền Việt), hội phí hàng năm của hội viên chính thức là 8.000 yên (khoảng 2 triệu đồng), hội viên tán trợ là 5.000 yên (khoảng 1,25 triệu đồng). Người muốn gia nhập Hiệp hội phải do người phụ trách các chi hội giới thiệu lên.

Trụ sở của Hiệp hội đóng tại Quận Shinjuku, Tokyo.

4) Liên minh những người sáng tác Haiku mới

Hiệp hội này được thành lập năm 1946 (Chiêu Hòa năm 21), ngay sau khi Thế chiến II kết thúc. Phương châm của Hiệp hội là tiếp thu haiku truyền thống, hướng tới sáng tạo và phổ cập sự tự do của haiku, mọi nguời cùng nhau bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển hòa bình và dân chủ, phát triển sáng tác, phê bình và nghiên cứu haiku một cách tự do và đa dạng. Hiệp hội tổ chức nhiều hoạt động phong phú. Hiệp hội xuất bản tạp chí Haiku jin (Haiku nhân). Đến năm 2008 Hiệp hội đã thu hút trên 1.000 hội viên và thành lập 35 chi hội ở các tỉnh trên toàn quốc. Hiệp hội chú trong kêu gọi phi hạt nhân và chống chiến tranh, bảo vệ môi trường…

5) Hiệp hội Haiku quốc tế (Haiku International Association – HIA)

Hiệp hội này được thành lập năm 1989 với sự trợ giúp của 3 Hiệp hội trên.Hiệp hội này đóng vai trò đầu mối giao lưu Haiku trong và ngoài nước Nhật thông qua nhiều hoạt động của Hội.Tạp chí của Hiệp hội là Haiku International (HI).Tạp chí này thường được gửi ra nước ngoài thông qua con đường ngoại giao, ĐSQ các nước ở Nhật và ĐSQ Nhật ở các nước.Chủ tịch Hiệp hội hiện nay là Arima Akito. Hiện Hiệp hội có trên 500 hội viên trong nước và trên 120 hội viên ở nước ngoài như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức, Bỉ, Ý, Trung Quốc, Hàn quốc, Đài Loan, Ấn Độ… Hiệp hội thúc đẩy nhiều hoạt động trong đó có việc triển khai lập các hội kết nghĩa với hải ngoại, hiện có 16 Hội kết nghĩa trong đó có Anh, Mỹ, Đài Loan, Bỉ, Albani, Croattia, Đức, Ý, Clombia… Hiệp hội đã ra được các Tập Haiku quốc tế vào các năm 1992, 1995 và 2000…

6) Hiệp hội Haiku thế giới (World Haiku Association – WHA)

Thành lập năm 2000 tại Croatia, chủ tịch hiện tại là ông Natsuishi Banya (sinh năm 1955), là người đồng sáng lập Hiệp hội (hai người khác là James Michael Kacian, chủ nhiệm Hội Haiku Mỹ, và Dimitar Anakiev, người Slovenia). Hiện Hiệp hội có hội viên thuộc 42 nước tham gia, trong đó có Việt Nam.Số hội viên hiện nay khoảng 150 người.Hiệp hội tổ chức đại hội 2 năm một lần, lần lượt tại các nước thành viên. Năm 2011 tổ chức Đại hội lần thứ 6 tại Tokyo, dự kiến 2013 tổ chức tại Nam Mỹ. Tạp chí của Hiệp hội là Ginyu (ngâm du) ra hàng quí.

Trụ sở của Hiệp hội đóng tại tỉnh Saitama, Nhật Bản.

Hàng năm Hiệp hội ra một số tạp chí Haiku thế giới (World Haiku) để đăng tải các bài Haiku sáng tác bằng nhiều thứ tiếng của hội viên thuộc các quốc tịch khác nhau trên thế giới kèm bản dịch ra tiếng Anh, có cả một phần riêng đăng các câu haiku do các em nhỏ từ tiểu học đến phổ thông trung học Nhật Bản và các nước khác sáng tác. Ngoài ra còn có các bài bình luận, giới thiệu các bức haiga (tranh và ảnh kèm thơ haiku) được giải trong các kỳ đại hội… Tạp chí có khoảng một nửa số trang in tiếng Nhật giành cho độc giả Nhật và những người biết tiếng Nhật. Năm 2012 Tạp chí Haiku thế giới ra số 8; năm 2013 sẽ ra số 9 và trong số này sẽ có các bài Haiku của các hội viên Việt Nam.

Vốn là giáo sư tiếng Pháp và biết cả tiếng Anh, nên ông Banya Natsuishi cũng đồng thời là biên tập viên chính của tạp chí Haiku thế giới.

7) Đại hội các tuyển thủ Haiku của các trường Trung học phổ thông toàn quốc (thường gọi là Haiku koshi en).

Đại hội này tổ chức thi haiku giữa các đội học sinh các trường Kokou (tương đương PTTH ở VN) trên toàn nước Nhật. Cuộc thi được tổ chức hàng năm tại quê hương của các haijin nổi tiếng Nhật Bản là thành phố Matsuyama tỉnh Ehime.Haiku kosi en thường được tổ chức vào dịp nghỉ hè trong tháng 8, vì ngày 19-8 được gọi là “Ngày Haiku” ở Nhật.

Mỗi đội tham gia thi có 5 người.Đại hội lần thứ nhất tổ chức vào năm 1998. Đại hội thường diễn ra trong 2-3 ngày, mùa hè 2010 trong Đại hội lần thứ 13 đã có 29 tỉnh thành tham gia với 71 trường và 103 đội thi đấu.

Nhìn vào số lượng tạp chi chuyên về haiku (haishi) đang phát hành đều đặn ở Nhật hiện nay (trên 40 tạp chí), ta có thể thấy sức sống của haiku ở Nhật thế nào, chưa kể trên thế giới đã có đến hàng chục nước có những người yêu thích sáng tác thơ ngắn theo kiểu haiku bằng tiếng của họ và bằng cả tiếng Nhật và tiếng Anh như Ấn Độ, Úc, Hàn quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Trung quốc, Đài Loan, Tây Ban Nha, Đức, Mexico… Tuy nhiên ở các nước ngoài Nhật Bản thì chủ yếu là dạng thơ ba dòng ngắn gọn là chính. Việt Nam đã thành lập hai câu lạc bộ haiku Việt ở hai thành phố lớn của Việt Nam là Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội, thu hút hội viên trên cả nước. Hội viên của các câu lạc bộ haiku Việt hầu hết sáng tác haiku bằng tiếng Việt theo tình cảm của người Việt. Một số thành viên biết tiếng Nhật, Anh, Pháp dịch thêm ra các thứ tiếng đó để giao lưu với bạn bè quốc tế, chủ yếu là với bạn bè Nhật Bản. Hiện hai câu lạc bộ này đã có nội san riêng của mình nhằm đăng tải các bài sáng tác của thành viên và trao đổi để tăng cường hiểu biết về haiku và văn hóa Nhật Bản.

II. Tình hình sáng tác và nghiên cứu thơ haiku ở một số nước trên thế giới

Để các thành viên các câu lạc bộ haiku Việt trong nước và những người quan tâm đến thể thơ Haiku đang phát triển ở Việt nam có thể tìm hiểu thêm về sức lan tỏa của thơ haiku trên thế giới, chúng tôi sưu tập và giới thiệu đôi chút về tình hình sáng tác và nghiên cứu haiku ở một số nước trên thế giới để mọi người tham khảo.

Ấn Độ:

Ở Ấn Độ có tới 18 ngôn ngữ thông dụng, tíếng Anh cũng được sử dụng như một ngôn ngữ thông dụng. Tiếng Hindu được dùng làm ngôn ngữ chung của chính phủ trung ương và sáu bang khác. Ở Ấn Độ thơ haiku được các thi sĩ Ấn Độ biết đến từ đầu thế kỷ 20 nhưng chưa được phổ cập chung. Rabindranath Tagore (1861-1941), thi hào Ấn Độ được giải thưởng Nobel văn học, đã có những lời ca ngợi văn hóa và di sản văn học của Nhật Bản. Ông có một tập thơ tương tự thơ haiku mang tên Đom đóm được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Bengal. Năm 1916 có một thi nhân khác đã viết một tác phẩm bình luận về haiku dài mang tên Thơ Nhật Bản trong đó ông khảo sát kỹ và dài về haiku của một haijin Nhật Bản tên là Noguchi Yonejiro, một nhà văn một thi sĩ sáng tác bằng tiếng Anh và tiếng Nhật cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Năm 2000, tại một viện nghiên cứu học vấn châu Á ở Madolas có một hội thảo kéo dài 3 ngày, từ ngày 29 đến 31 tháng 3 với chủ đề “Ảnh hưởng của thơ haiku trong văn học Ấn Độ”, có các nhà thơ của Ấn Độ và Nhật Bản tham gia.

Người đi tiên phong trong sáng tác haiku ở Ấn Độ có lẽ là giáo sư Satayabushan Varuma, giáo sư danh dự của Đại học Giawahaclan Neru, ông là người đầu tiên dịch haiku Nhật Bản ra tiếng Hindu xuất bản năm 1977, năm 1981 ông lập ra tạp chí Haiku bằng tiếng Hindu, tồn tại đến năm 1989. Ông đã cùng với một thi sĩ người Mỹ được nhận giải thưởng haiku quốc tế Masaoka Shiki năm 2002, tiền thưởng là 1 triệu yên chia đều cho hai người.Sau giáo sư Varuma là giáo sư B. S. Agaruwara.Năm 1898 vị giáo sư này cho ra đời tạp chí hàng quí với tên gọi Haiku Baharaty bằng tiếng Hindu, vẫn hoạt động cho đến ngày nay.Hiện có khoảng 300 haijin người Ấn Độ gửi bài đăng trên tạp chí này.

Thơ haiku bằng tiếng Anh của Ấn Độ cũng có một số ít người sáng tác, nhưng haiku của các tác giả này thường xuất bản ở nước ngoài.

Tuy vậy, ở Ấn Độ chưa có CLB hay hiệp hội haiku chính thức. Nguyên nhân được lý giải là do Ấn Độ có quá nhiều ngôn ngữ nên khó khăn trong việc tập hợp chung. Có lẽ để các nhà thơ Haiku Ấn độ có thể giao lưu với các nhà thơ Haiku khác trên thế giới thì ngôn ngữ học tập và sáng tác Haiku là tiếng Anh có lẽ thích hợp hơn cả.

Trung Quốc:

Nghe nói ở Trung Quốc có tới trên 1.000 hình thức thơ ca. Hán bài (Haiku chữ Hán) cũng là một trong số đó. Khởi đầu là năm 1980 sau Cách mạng văn hóa có một đoàn đại biểu haiku Nhật Bản sang thăm Trung Quốc theo lời mời của Học hội thơ Trung Hoa. Trong tiệc chào mừng đoàn Nhật Bản ông trưởng đoàn Trung Quốc có đọc một câu Hán bài thường được nhắc đến như một dấu ấn lịch sử trong quan hệ về haiku của hai nước như sau:

Âm Hán -Việt

Dịch ra tiếng Nhật (phiên âm)

Tạm dịch nghĩa

Lục âm kim vũ lai

Sơn hoa chi tiếp Hải hoa khai

Hòa phong khởi Hán bài

Ryokuin ima ame kori

Yama hana no eđa

Umihana ni sessite saku

Wafu kanhai wo okosu

Bóng cây giờ mưa đến

Cành hoa núi gặp hoa biển thì bừng nở

Gió Đông thức tỉnh Hán bài

Từ đó khai sinh ra danh từ “Hán bài” (Kanhai 漢俳) và đây là lần đầu tiên trong lịch sử giao lưu Nhật – Trung 1.300 năm Trung Quốc tiếp nhận văn nghệ từ Nhật Bản.

Năm 1983 Lâm Lâm đã dịch haiku của ba tác gỉa tiêu biểu của haiku Nhật Bản là Basho, Buson và Issa ra tiếng Trung Quốc, in thành tập Tuyển Haiku cổ điển Nhật Bản, phát hành tới 12.190 cuốn. Sau đó trong các năm 1994, 1997… Trung Quốc cho ra những cuốn tuyển tập khác về haiku. Năm 2000 ở Bắc Kinh mở “Hội giao lưu thơ ngắn Trung – Nhật đón thế kỷ 21”, và sau đó tạp chí Kanhai shijin (“Hán bài thi nhân”) ra đời ở Hồ Nam năm 2002 đóng vai trò quan trọng trong việc phổ cập Hán bài ở Trung Quốc.

Nhưng như câu Hán bài trên của tác giả Trung Quốc cho thấy, cũng là cấu trúc 5-7-5 nhưng một chữ Hán mang nhiều thông tin nên khi dịch ra tiếng Nhật thành ra rất dài và nhiều nội dung, chính vì thế mà người Nhật tuy cũng dùng chữ Hán trong ngôn ngữ viết của họ nhưng 5-7-5 của Nhật là số âm tiết chứ không phải số từ hay chữ, mà một từ hay một chữ của Nhật thì nhiều âm tiết nên một bài haiku của Nhật nếu xét về từ thì đôi khi chỉ còn có 3-4 từ mà thôi. Vì vậy người Nhật cho rằng nếu làm haiku bằng chữ Hán thì không giống với tinh thần của haiku, vì nó chuyển tải quá nhiều thông tin chứ không cô đọng như haiku của Nhật, và người ta cho rằng ý nghĩa của Hán bài hợp với thơ tanka hơn. Người ta cho rằng Hán bài thì thuộc loại thơ ngắn, hay thơ ba dòng, một dòng gì đó. Người Nhật thuộc “văn hóa nhìn” nên khi liếc nhìn bài Hán bài thì họ thấy quá nhiều âm theo cách đọc chữ Hán của người Nhật nên họ không thấy ngữ điệu giống haiku của Nhật. Chính vì vậy hiện nay ở Nhật Bản ít người quan tâm đến haiku chữ Hán, mặc dù cũng đã có một thời có trào lưu sáng tác haiku chữ Hán. Người Nhật lại thấy dịch một câu Hán bài ra tiếng Nhật thì rất hợp với tanka, nhưng hiện nay ở Nhật, giới tanka và haiku lại phân biệt nhau rất rõ, đến mức người làm tanka không ngâm haiku và ngược lại người làm haiku cũng không ngâm tanka. Điều này khác hẳn với thời đại của Masaoka Shiki, khi mới sáu tuổi Shiki đã làm thơ chữ Hán (Hán thi) sau đó làm cả Hán thi, cả tanka và haiku. Tanka thì lập tạp chí Araragi, Haiku thì lập tạp chí Hototogisu

Tuy vậy, ở Trung Quốc vẫn có nhiều người thích Hán bài.Người ta cho rằng từ cuối thế kỷ 20 Hán bài đã bước vào giai đoạn phổ cập và đi dần vào quá trình đại chúng hóa. Có một số đặc điểm liên quan đến việc phát triển Hán bài ở Trung Quốc: như trên đã nói, năm 2002 tạp chí chuyên về Hán bài có tên là Hán bài thi nhân ra đời ở Trường Sa tỉnh Hồ Nam, tạp chí này ra hàng quí và đã đóng vai trò lớn trong việc phổ cập Hán bài ở Trung Quốc. Hán bài ở các nơi trong nước và cả ở nước ngoài bao gồm cả Nhật Bản cũng gửi bài về tạp chí này, số nào cũng có tác phẩm của học sinh thanh thiếu niên các trường học từ tiểu học đến đại học trong nước gửi về.

Một đặc điểm nữa là liên quan đến việc phổ cập điện thoại di động. Người ta thấy rằng ở Trung Quốc và Nhật Bản người ta dùng điện thoại di động gửi email nhiều hơn hẳn ở châu Âu, châu Mỹ. Và người ta cũng nhận thấy các thông điệp gửi đi thường có ngữ điệu 5-7-5 rất giống Hán bài hay thơ ngắn. Thế là ông Đoạn Lạc Tam nguyên là tổng biên tập tạp chíHán bài thi nhân, cố vấn danh dự của Học hội Hán bài Nhật Bản, đã cho phát hành tập thơ Hán bài đọc bằng email có tên là Thi tập Hán bài nhắn tin ngắn trên điện thoại di động Trung Quốc tập 1.

Với tình hình phát triển như vậy, tháng 3 năm 2005 “Hán bài học hội” thuộc “Học hội thơ ca Trung hoa” (Học hội chính thống thuộc Bộ Văn hóa Trung Quốc) ra đời. Nghe nói ban đầu việc khai sinh ra “Hán bài học hội” cũng gặp khá nhiều cản trở, nhưng nhờ sự thúc đẩy của Hội hữu nghị Trung – Nhật, sự nhận thức về vai trò quan trọng của việc giao lưu văn hóa giữa hai nước Trung – Nhật đã được nâng cao và tạo điều kiện cho Học hội này ra đời.

Về tương lai của Hán bài ở Trung Quốc có một số vấn đề sau: Một điều đáng tiếc là tạp chí Hán bài thi nhân quan trọng nói trên gần đây phải ngừng phát hành do nhà tài trợ cho tạp chí này gặp khó khăn trong kinh doanh, người ta đang hy vọng Học hội Hán bài sẽ cho ra đời tạp chí mới của học hội thay thế cho tạp chí Hán bài thi nhân trong việc thúc đẩy phát triển Hán bài ở đất nước đông dân nhất thế giới này. Mặt khác, theo bà phó hội trưởng của Học hội Hán bài cho biết, hiện nay ở Trung Quốc đang thịnh hành dạng thơ ngắn hơn cả thơ ba dòng và nhiều tác phẩm chỉ có 13-14 chữ chứ không phải 17 chữ nữa, như vậy nó sẽ gần với haiku của Nhật hơn. Tuy nhiên, số người làm Hán bài ở Trung Quốc lên tới hàng ngàn người, vì thế việc nghiên cứu giao lưu quốc tế của haiku không thể không nhắc tới trường hợp thơ ngắn và Hán bài ở Trung Quốc.

Hoa Kỳ:

Các nhà thơ theo trường phái hình tượng (Imagism) và hiện đại (modernism) của Mỹ đã chịu ảnh hưởng lớn của thơ Nhật Bản sau khi nhà thơ tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại Ezra Pound dịch câu thơ sau đây của Arakida Moritake, một nhà thơ renka Nhật Bản thế kỷ 15-16, ra tiếng Anh.

Rakkae ni

kaeruto mireba

kochoukana.

Ngỡ rằng

Cánh hoa rụng bay về cành

Ôi hồ điệp.

Đặc biệt sau Thế chiến II, haiku được Harold Henderson, R. H. Blyth và Alan Watts giới thiệu vào Mỹ cùng với tư tưởng Thiền. Thế rồi các nhà thơ thế hệ Beat (1955-1964) tiêu biểu như Allen Ginsberg, Jack Kerouac, Gary Snyder… dưới ảnh hưởng của Thiền đã sáng tác haiku.

Năm 1962, tạp chí chuyên về haiku đầu tiên ở Mỹ American Haiku, do James Bull làm chủ bút, đã ra đời. Tạp chí này chỉ tồn tại 5 năm, nhưng sau đó lần lượt các tạp chí khác về haiku ra đời đã làm cho haiku trở nên phổ biến rộng trong đại chúng Mỹ cho đến ngày nay.

Hiệp hội haiku Mỹ “Haiku Society of America” được thành lập 1968, có “mục đích thúc đẩy sáng tác và thưởng lãm haiku bằng tiếng Anh”, hiện có gần 900 hội viên, là hiệp hội haiku lớn nhất, lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Hoạt động của nó gồm việc tổ chức định kỳ các buổi diễn giảng, giới thiệu tác phẩm, thi sáng tác… Cơ quan ngôn luận của Hiệp hội này là tạp chí Ao ếch (Frogpond) in bằng tiếng Anh, mỗi năm ra 3 số đăng các loại thơ haiku, senryu, renga, renku, haibun, tùy bút (essai), các bài bình luận. Hàng quí có phát hành Hội báo trên đó đăng tải các thông tin hoạt động của Hiệp hội như đại hội toàn quốc, đại hội ở các đại phương, các sự kiện… Hiệp hội này một năm có bốn kỳ họp định kỳ.Từ năm 1976 thiết lập giải thưởng haiku kỷ niệm người có công xây dựng Hiệp hội haiku này là Harold G. Henderson (Memorial Award). Ngoài ra còn một số giải thưởng khác như từ năm 1984 có giải thưởng của Viện văn học Haiku hợp tác với Nhật, từ năm 2001 có giải thưởng kỷ niệm về senryu, renku, renga, từ năm 2000 có giải thưởng phê bình, dịch thuật, tuyển tập… Ngoài ra còn có gần chục hội và hiệp hội haiku, các CLB haiku khác ở các bang, ví dụ Hiệp hội Haiku Boston, Hiệp hội Haiku Bắc Georgia, Hiệp hội Haiku Định hình có quí ngữ chuyên sáng tác haiku theo kiểu truyền thống của Nhật…

Hiện ở Hoa Kỳ có tới khoảng 20 loại tạp chí haiku.

Australia:

Haiku ở Australia (Úc) có lịch sử hơn 100 năm, nhưng gần đây mới nở rộ.Đặc biệt từ 1988, nhân hội chợ quốc tế người ta đã tổ chức nhiều hoạt động để tuyên truyền cho haiku. Kết quả là hình thành nhóm haiku “Paper Wasp”, sau đó nhờ sự giúp đỡ của các haijin Nhật Bản, phong trào sáng tác haiku ở Úc đã phát triển mạnh, đặc biệt ở các trường học. Tạp chíHaiku Paper Wasp phát hành từ năm 1995 đã có nhiều hoạt động trong ngành giáo dục, thu hút nhiều hội viên. “Haiku Oz” là Hiệp hội Haiku Úc, trên trang web của Hiệp hội này đăng tải các thông tin mới nhất về haiku Úc và các thông tin haiku của quốc tế. Những người quan tâm có thể vào trang web http://user.mullum.com.au/jbird/ahs/html để xem thêm thông tin.

III. Thơ senryu và thơ haiku

Thơ senryu là một loại thơ “chị em” với haiku.Vậy thơ senryu khác với thơ haiku như thế nào?

Giống nhau:

–Haiku và senryu đều bắt nguồn từ thể thơ renga (liên ca) – một thể thơ thịnh hành vào thời Muromachi ở Nhật Bản – của haikai (bài hài).

–Về hình thức cả hai đều là dạng thơ ngắn, định hình,có cấu trúc truyền thống là 5-7-5 âm tiết.

–Về tính chất thì cả hai thể thơ này có nét tương tự khi biểu hiện những nét tinh tế của đời sống con người và mang tính hài hước.

Khác nhau:

–Haiku vốn là câu mở đầu hokku của renga như một câu chào, qui định bắt buộc phải có quí ngữ (kigo) và sử dụng từ ngắt (kiriji), nên khi haiku tách ra độc lập vẫn tiếp thu qui định đó.

–Senryu thì vốn là câu hiraku, một câu nối trong các câu qui định của renga được tách ra độc lập, không có qui định bắt buộc phải có quí ngữ hay từ ngắt như haiku.

–Haiku thường xuất phát từ những hình ảnh hoặc hiện tượng tự nhiên bất chợt gặp trên đường đi hay trong cuộc sống thường ngày, người sáng tác cảm nhận tức thời và làm thành thơ. Câu haiku gợi vẻ đẹp tự nhiên của cuộc sống và thiên nhiên, quí ngữ như cái mắt của câu thơ vậy.

–Senryu thì ngay từ đầu đã có mục đích trào lộng (warai) và châm biếm (ugachi) và người sáng tác qua trải nghiệm của mình, thấy hiện tượng trước mắt bỗng liên tưởng mà sáng tác ra thơ.

–Haiku hay dùng văn ngữ.

–Senryu là phần nhiều dùng khẩu ngữ.

–Senryu thường đề cập đến mặt trái của thế thái nhân tình, châm chọc, mỉa mai những thói hư tật xấu của con người và xã hội, mang tính thời sự, trào lộng và có tính cảnh báo cao.

Nguyên là vào trung kỳ Edo (thế kỷ 18), một người tên là Karai Senryu (1718-1790) đã tuyển chọn các câu thơ mở đầu hay (maekuzuke) làm thành một tập khoảng một vạn câu và được đánh giá cao. Tập Haifuyanagidaru do Karai Senryu chủ biên, được biên soạn công phu có 165 thiên, trong đó 24 thiên đầu do chính Karai biên soạn, thiên thứ nhất được phát hành năm 1765. Những câu được tuyển chọn trong tập Haifuyanagidaru này được coi là senryu cổ điển.Và để ghi nhớ người đã có công làm việc đó người ta đặt tên cho thể loại thơ này là senryu.Đây cũng là truyền thống tôn trọng tác giả, việc làm khá phổ biến trong văn đàn ở Nhật từ xa xưa.Những câu senryu cổ này vẫn được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Nhật, như kiểu ca dao tục ngữ ở Việt Nam vậy. Ví dụ câu sau đây được nhiều người nhớ đọc:

Có con / vợ chồng / lăn tròn ra ngủ

(Chính xác câu này nghĩa là có con vợ chồng và con ngủ thành chữ xuyên – Ý nói hai vợ chồng hai bên, bé ở giữa [tạo thành chữ xuyên trong chữ Hán nghĩa là con sông]. Hình ảnh rất ngộ nghĩnh nhưng tạo cảm giác thật yên lành hạnh phúc.)

Tiếng cười thật nhẹ, nhưng ý tứ cũng thật hóm.

Đến thời kỳ Minh Trị, cùng với sự cách tân thơ haiku của Matsuoka Shiki, thì phong trào sáng tác senryu mới cũng nở rộ.

Thơ haiku có Basho, Issa, Buson và Shiki là những ông tổ, được gọi là những “Haisei” (Thánh thơ Haiku) thì senryu cũng có người tiền bối là Karai Senryu, và sang thời Minh Trị thì có hai người được coi là ông tổ của senryu mới là Sakai Kuraki (1869-1945) và Inoue Kenkabo (1870-1934).

Thơ haiku có “Basho Thập Triết” thì thơ Senryu cũng có “Lục đại gia” (Roku taika) xuất hiện sau Thế chiến II.

Về cơ bản trong sáng tác senryu có ba yếu tố quan trọng là:

1) Thứ nhất là ugachi (châm biểm, mỉa mai): Yếu tố này hướng vào những gì mà bề ngoài khó nhận ra hay người ta hay bỏ qua, làm cho nó bộc lộ ra, mang tính phản biện, hạ thấp giá trị của nhận thức thông thường, nó có cái nhìn soi mói có thể nói hơi có tâm địa một chút.

2) Thứ hai là karumi (nhẹ nhàng): Yếu tố này nặng về hình thức hơn nội dung. Câu thơ nghe tưng tửng, nhẹ nhàng nhưng càng ngẫm càng thấy thâm ý của tác giả. Karumi chính là yếu tố đòi hỏi kỹ thuật của người sáng tác. Nhiều bài thi bị loại bởi yếu tố này.

3) Thứ ba là okasimi (trào lộng): Senryu có xu hướng bị hiểu nhầm là nghệ thuật humor. Từ đó người ta cho rằng cái gì buồn cuời, gây cười cũng là senryu, nhưng thực ra tiếng cười chỉ là kết quả chứ không phải là mục đích của senryu.Ai cũng mong có những câu senryu đưa lại tiếng cười sảng khoái, tự nhiên mà sâu lắng.Nhưng trong thực tế ở Nhật Bản cũng có rất nhiều câu senryu có cái cười dễ dãi, chưa đắt.

Về nội dung và giá trị, thể thơ này gần với thể thơ trào phúng, trào lộng, châm biếm của Việt Nam ta.

Tuy vậy, ở Nhật Bản hiện nay haiku hiện đại cũng có xu hướng không câu nệ phải có kigo (hoặc kidai) hay cấu trúc cố định 5-7-5 âm tiết.Mặt khác những bài senryu hiện đại cũng làm cho haiku và senryu như nhích lại gần nhau.Tuy vậy mỗi loại thơ vẫn có những sự khác biệt, cái hay riêng cần được tôn trọng.

Đó là vì xã hội luôn cần cả hai mặt: cái đẹp cần được nâng niu ca ngợi, nhưng cái xấu cũng cần phải được vạch mặt để làm cho con người và xã hội tốt hơn. Và hơn hết cuộc sống rất cần tiếng cười.Senryu là loại thơ đóng vai trò đó.

Ở Nhật Bản từ năm 1987, năm nào hãng bảo hiểm nhân thọ Daiichi Seimei cũng đứng ra tổ chức cuộc thi senryu trong toàn quốc. Người tham gia gửi bài là bất cứ ai, từ công chức, viên chức, sinh viên đến bà nội trợ… với các chủ đề chính trị, xã hội, gia đình, bếp núc sinh hoạt hàng ngày… Cuộc thi đó gọi là “Salaryman Senryu”. Do có đề tài phong phú có tính xã hội cao, cho nên thậm chí nó được coi như một cách nắm bắt dư luận xã hội, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng, được đông đảo người yêu senryu hưởng ứng.

Người ta sẽ lấy phiếu bình chọn các câu thơ senryu hay nhất trên toàn quốc. Kết quả bình chọn 100 câu hay nhất được công bố vào cuối năm cũ đầu năm mới. Sau đó lại chọn ra 10 câu có số phiếu bình chọn cao nhất.Đến nay đã có 25 cuộc thi như vậy được tổ chức và luôn được đông đảo người Nhật hưởng ứng.Sau đây chúng tôi xin giới thiệu 10 câu được nhiều phiếu bình chọn nhất năm 2012 (cuộc thi lần thứ 25).

10 câu thơ senryu hay nhất năm 2012 ở Nhật Bản

Câu 1:

“Takara kuji atareba yameru” ga aikotoba

Dịch nghĩa: Khẩu hiệu: “Nếu trúng sổ số thì sẽ nghỉ việc (từ chức)”

Dịch thơ: Ai cũng nói / Nếu trúng số / sẽ nghỉ thôi

Câu 2:

Josikaito kite nozokeba rokujuudai

Dịch nghĩa: Nghe nói Hội phụ nữ, nhìn vào chỉ thấy các bà 60

Dịch thơ: Hội phụ nữ gì / nhìn vào chỉ thấy / các bà sáu mươi

Câu 3:

Tsumaga iu shouchi simasita kiitemitai

Dịch nghĩa: Muốn được nghe vợ nói: “em đã hiểu rồi”

Dịch thơ: Vợ ơi / hãy nói / Em hiểu ra rồi

Câu 4:

Sumaato huon tsumato onajide ayatsurezu

Dịch nghĩa: Smartphone giống vợ mà không bị thao túng

Dịch thơ: Điện thoại di động / sao giống vợ ghê / nhưng không thao túng

Câu 5:

Excel o eguzairu to yomu buchou

Dịch nghĩa: Trưởng phòng đọc Excel (giỏi, xuất sắc) là Exile (tội lưu đày)

Dịch thơ: Sếp tôi đọc / Excel / là Exile

Câu 6:

Nanigenai kurasiga naniyori houmotsu

Dịch nghĩa: Cuộc sống vô tư là quí báu hơn cả

Dịch thơ: Cuộc sống vô tư / đúng là báu vật / hơn bất cứ gì

Câu 7:

Ikamera ja kessite mienai haragurosa

Dịch nghĩa: Máy chụp dạ dày thì dứt khoát không nhìn thấy tâm địa

Dịch thơ: Máy soi dạ dày / thì làm sao thấy / tâm địa con người

Câu 8:

Tachiagari mokutekiwasure mata suwaru

Sịch nghĩa: Đứng lên quên mục đích lại ngồi xuống

Dịch thơ: Đứng dậy / quên muốn gì / lại ngồi xuống vậy

Câu 9:

Teinengo inakani kaereba seinenbu

Dịch nghĩa: Sau khi về hưu nếu về quê thì lại thuộc giới trẻ

Dịch thơ: Về hưu / nếu về quê cũ / lại là thanh niên

Câu 10:

Saikin wa wasureruyorimo oboenai

Dịch nghĩa: Gần đây không quên mà chỉ không nhớ thôi

Dịch thơ: Gần đây / không nhớ / chứ có quên đâu

Nguồn: vanvn

Hương sắc Việt Nam trong thơ Haiku Việt

PGS TS Nguyễn Thị Mai Liên

alt

*

alt

PGS TS Nguyễn Thị Mai Liên

Hội viên Haiku Việt

Hội viên WHA

Ủy viên BBT Nội san- Web haikuviet.com

*

Thơ haiku là sản vật trân quý của xứ sở Phù Tang. Thơ haiku giống như loài hoa bồ công anh, đẹp một vẻ đẹp dung dị, đơn sơ, và khi vào độ chín, theo gió bay đi muôn phương. Những hạt giống haiku Nhật dù ở mảnh đất nào cũng nảy nở, sinh sôi thành vườn thơ đẹp bất chấp những hàng rào ngôn ngữ, văn hóa… Có một vườn thơ haiku như thế trên mảnh đất Việt Nam. Hạt giống haiku Nhật Bản được gieo trồng trên mảnh đất của xứ sở mà con người từ ngàn đời nay vẫn dành trọn tình yêu cho thi ca nên chẳng bao lâu đã đơm những nụ hoa, kết những trái ngọt đầu mùa. Hoa trái đầu mùa của haiku Việt kết tinh những hạt phù sa tâm hồn Việt, tỏa một hương sắc Việt. Đọc haiku Việt, độc giả được sống giữa một không gian thiên nhiên, một không gian văn hóa, gặp gỡ những tâm hồn rất Việt Nam.

Đề tài của haiku Việt là cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam

Thơ haiku Nhật Bản cổ điển thường viết về đề tài thiên nhiên qua bốn mùa được gọi là quý đề (kidai). Để biểu đạt mùa, thơ haiku thường dùng quý ngữ (kigo). Đó có thể là những từ trực tiếp chỉ mùa (gọi là quý ngữ trực tiếp) hoặc những hình ảnh, âm thanh đặc trưng biểu tượng cho mùa (gọi là quý ngữ gián tiếp). Quý ngữ chỉ mùa xuân trong haiku Nhật Bản thường là hoa anh đào, hoa mơ, hoa mận, liễu xanh, chim oanh, chim yến…, mùa hạ là con ve, chim quyên, hoa diên vĩ…, mùa thu là trăng, sương, tiếng dế, tiếng côn trùng…, mùa đông là cây tùng, tiếng ngỗng hoang, tuyết, cánh đồng hoang… Tiếp thu tinh thần ấy, thơ haiku Việt cũng viết về thiên nhiên bốn mùa nhưng là những cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam, là những hình ảnh, âm thanh rất đỗi thân thương đối với mỗi người dân Việt. Những âm thanh, hình ảnh dung dị của làng quê Việt chợt hiện lên trước mắt nhà thơ và bước vào trong thơ hết sức tự nhiên. Quê hương Việt Nam mộc mạc tiếng mõ trâu về trên đường thôn khua lốc cốc trong chiều sương. Trong làn sương chiều giăng mắc, trong tiếng mõ trâu, khung cảnh làng quê buổi chiều mênh mang nỗi buồn cô liêu:

Chiều sương

mõ trâu về lốc cốc

đường thôn

(Bài 99 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Quê hương là tiếng chim cu gáy dặt dìu vời vợi trong chiều quê:

Dìu dặt cúc cù cu

thả hồn quê

vời vợi

(Bài 62 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Là tiếng vạc kêu khan dưới ánh trăng tà cô liêu:

Trăng tà

khan

tiếng vạc

(Bài 128 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Hay đơn giản là tiếng bầy muỗi lao xao bên đàn bò dưới gốc nhãn trong một chiều vàng ngả muộn:

Chiều vàng gốc nhãn

bò lim dim

nghe muỗi gẩy đàn

(Bài 98 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ đã nghe, đã rung động và ghi lại với xiết bao tình yêu trìu mến những âm thanh đơn sơ, dung dị của quê nhà mà chúng ta, trong đời thường lao xao, vội vã có lúc đã không nghe thấy và vô tình hoặc cố tình lãng quên. Haiku Việt lắng bao tiếng quê hương thân thương đã nhắc ta điều ấy khiến ta không khỏi giật mình.

Thơ haiku Việt dẫn người đọc trở về với đồng lúa xanh, đàn cò trắng nơi làng quê thanh bình. Vẻ đẹp nên thơ ấy của làng quê được vun đắp bởi biết bao công sức của những người phụ nữ Việt Nam tần tảo, lam lũ. Bàn tay mẹ đã vẽ nên bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp:

Xuân về theo tay mẹ

đồng trải thảm xanh non

đàn cò trắng bay lượn

(Haiku Việt I - 2013 – Phan Hữu Cường)

Làng quê Việt trù phú nằm kề bên những dòng sông, được sông bồi đắp phù sa, trao tặng vị ngọt làm nên mùa màng bội thu. Vì thế, con người trên mảnh đất ấy luôn gắn bó với những dòng sông. Hình ảnh dòng sông với bông lục bình tím là ấn tượng không phai trong tâm thức mỗi người Việt, gợi lên thân phận con người:

Lục bình trên sông

về đâu sắc tím

giữa đời mênh mông

(Ngọt vị phù sa – Minh Trí)

Trong thơ haiku của Lưu Đức Trung, nỗi niềm thao thức quê hương được gợi lên từ sự thanh đạm, đơn sơ, dung dị của cảnh chiều quê thanh bình. Mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, con trâu chậm rãi bước đi trong yên ả. Con người an nhiên, tự tại giữa không gian thanh bình:

Chú bé ngồi vắt vẻo

con trâu chậm rãi

chiều quê

(Tươi mãi với thời gian – Lưu Đức Trung)

Lấy cảm hứng từ bức tranh Đông Hồ vẽ cảnh mục đồng cưỡi trâu che đầu bằng chiếc lá sen, Nguyễn Văn Đồng tái hiện lại cảnh chiều quê thân thuộc:

Gió đồng mênh mông

lưng trâu tiếng sáo

lọng sen mục đồng

(Dưới ngói âm dương – Nguyễn Văn Đồng)

Haiku Việt dắt ta về với ngôi nhà thân thuộc có mảnh sân ngày mùa và đàn sẻ nhẹ nhàng mổ thóc trong nắng. Màu vàng của thóc, màu vàng của nắng hòa quyện, khó phân biệt đâu là màu nắng, đâu là màu của thóc đang phơi:

Bước chân nhẹ nhàng

đàn sẻ mổ thóc

sân phơi nắng vàng

(Bốn mùa hoa – Lưu Đức Trung)

Phong tục, tập quán Việt Nam

Bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên, trong thơ haiku Việt, những thuần phong, mỹ tục cũng được các nhà thơ giới thiệu qua những hình ảnh rất gần gũi, thân thuộc. Đó là hình ảnh bếp lửa bập bùng với nồi bánh chưng đang sôi trong mỗi nhà ngày cuối năm:

Bếp lửa bập bùng

nồi bánh chưng

chờ vớt

(Haiku Việt I - 2013 – Nguyễn Hoàng Lâm)

Đó là tục tảo mộ “thanh minh trong tiết tháng Ba” tưởng nhớ người đã khuất – một mỹ tục thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” thủy chung của người Việt Nam:

Mồ cỏ xanh biếc

khói hương thương tiếc

thanh minh

(Haiku Việt I - 2013 – Nghiêm Xuân Đức)

Tục thắp hương phút giao thừa cúng trời đất, ông bà tổ tiên vừa để bày tỏ sự cảm tạ trời đất, ước vọng một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt cho mọi nhà, cũng vừa thể hiện lòng biết ơn ông bà tổ tiên, đạo lý uống nước nhớ nguồn ấy:

Giao thừa tới

thắp nén hương

hai năm chung một khói

(Haiku Việt I - 2013 – Trần Nguyệt Lâm)

Với mong ước một năm mới tình cảm sắt son, đậm đà, xua đi mọi tà ma, xú uế, mang về nhiều may mắn, an lành, người Việt có tục mua muối đầu năm. Những người diêm dân bán muối tranh thủ sớm mùng Một bán hàng trong lúc nhà nhà còn mơ màng sau những phút vui xuân, đón giao thừa. Lắng nghe tiếng rao: “Ai muối?”, Đỗ Tuyết Loan ngậm ngùi cho những diêm dân vất vả quanh năm, bán muối mang lại may mắn cho mọi nhà mà cuộc sống của chính họ lại hết sức bấp bênh, nghèo khó:

Giao thừa vui, dậy muộn

tiếng rao: “Ai muối?”

chập chờn trong mơ

(Haiku Việt I - 2013 – Đỗ Tuyết Loan)

Haiku Việt ca ngợi vẻ đẹp con người Việt Nam

Trong thơ haiku Việt, con người Việt Nam hiện lên hiền lành chân chất mà rất đỗi thủy chung, kiên cường, lạc quan. Haiku Việt nhắc nhớ nhiều về mẹ – hình tượng mang những phẩm chất tiêu biểu cho con người Việt Nam. Hình ảnh mẹ trong thơ haiku không phải là những tượng đài kỳ vĩ mà nhỏ bé, dịu dàng, chịu thương chịu khó, âm thầm hi sinh, hết lòng vì con. Mẹ để lại những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt trong ký ức mỗi con người, trước hết là tiếng ru con ngủ ầu ơ. Bên cánh võng, tiếng ru của mẹ cho con cảm nhận đầu tiên về quê hương, về yêu thương. Lớn lên, xa dần cánh võng, xa dần mái nhà xưa, đi khắp bốn phương trời, được nghe biết bao âm thanh mới lạ của cuộc đời nhưng nhà thơ vẫn nhớ tiếng ru của mẹ bên võng ngày xưa:

Cung đàn koto dìu dặt

nâng ta về

bên võng mẹ ngày xưa

(bài 132– Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Đúng là “Ta đi trọn kiếp con người / Vẫn không đi hết mấy lời mẹ ru” (Nguyễn Duy). Tình mẹ, tình quê hương nâng bước ta đi trọn cuộc đời.

Người mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó, tần tảo sớm hôm nuôi nấng, chăm sóc các con khôn lớn. Hình ảnh người mẹ ngồi khâu áo cho con không bao giờ phai nhạt trong tâm trí các con:

Nhặt cây kim rỉ

mắt lệ nhòa

áo con rách vai

(Bốn mùa hoa – Lưu Đức Trung)

Bài thơ gợi cho chúng ta cảm nhận được cái thăm thẳm của chiều thời gian. Thời gian vời vợi có thể làm phai tàn tất cả nhưng bất lực trước tình cảm nhà thơ dành cho mẹ. Từ thực tại với hình ảnh cây kim rỉ trước mắt, nhà thơ nhớ về những kỷ niệm thời ấu thơ khi còn mẹ, được mẹ chăm sóc từ miếng cơm manh áo. Hình ảnh người mẹ tần tảo trên cánh đồng được nhà thơ Nguyễn Duy Quý khắc họa trong câu thơ:

Chiều rộng

đồng xa

mẹ già chưa nghỉ

(Haiku Việt I - 2013 – Nguyễn Duy Quý)

Hình ảnh người mẹ không ngơi tay được đặt trong bối cảnh không gian và thời gian “xa”, “rộng” trở nên nhỏ bé, gợi trong ta biết bao niềm thương nỗi nhớ. Cũng khắc khoải về những vất vả, lo toan thường nhật của mẹ, Lê Văn Truyền lại dùng hình ảnh “đôi quang” trên vai mẹ như một biểu tượng cho sự lam lũ nhưng cũng thật đảm đang, mạnh mẽ, kiên cường trước gánh nặng cuộc đời của mẹ:

Đôi quang

mẹ gánh gồng

bao nợ nần cuộc sống

(Haiku Việt I - 2013 – Lê Văn Truyền)

Nhà thơ Lê Đình Công dùng hình ảnh cánh vạc lặn lội giữa đồng khuya để so sánh với mẹ:

Đồng khuya

cánh vạc

mẹ già

(Thơ haiku Việt tuyển tập – Lê Đình Công)

Mẹ yêu thương, chi chút cho con từ gói bỏng ngô:

Hình bóng mẹ

gói bỏng ngô đầu tiên

để dành ngày mai

(Cánh trăng – Đinh Trần Phương)

Hay gom góp chút nắng ấp ủ cho con trong những ngày lạnh giá:

Gom nắng chợ quê

ôm con hết cóng

lưng mẹ còng

(Dưới ngói âm dương – Nguyễn Văn Đồng)

Thủy chung son sắt, một vẻ đẹp của người Việt Nam cũng được thể hiện trong haiku Việt. Đi nhiều nơi, thưởng thức nhiều hương vị ẩm thực mới lạ, nghe nhiều thứ tiếng khác nhau, nhà thơ vẫn nhớ về những hương vị mộc mạc của quê nhà qua quả cà, miếng nhút, miếng cơm nắm muối vừng..., nhớ cha mẹ một nắng hai sương, nhớ âm sắc quê hương da diết:

Nhấm nha miếng nhút

mặn giọt mồ hôi

mẹ cha ngày ấy!

(Haiku Việt I - 2013 – Lê Đăng Hoan)

Trôi dạt phương trời xa

nhớ mặn mòi cà nhút

nhớ âm sắc quê nhà

(Haiku Việt I - 2013 – Nguyễn Bao)

Vị cơm nắm muối vừng

dắt tay ta

vào ký ức

(Haiku Việt I - 2013 – Lê Văn Truyền)

Lạc phố

mùi cơm ngõ nhỏ

dắt ta về

(Haiku Việt I - 2013 – Vương Trọng)

Dù đi đâu, nhà thơ cũng mong muốn được trở về quê, soi mình trong đáy giếng và tìm lại hình bóng tuổi thơ trong trẻo ở đó.

Về quê nhà

soi mình đáy giếng

những ngày ấu thơ

(Bốn mùa hoa – Lưu Đức Trung)

Âm vang của một thời đạn lửa khốc liệt với nhiều hi sinh mất mát với những con người dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc được phản ánh hàm súc trong haiku Việt:

Trăng lạnh

nghĩa trang

đồng đội xếp hàng

(Lý Viễn Giao)

Nhà thơ – người chiến sỹ năm xưa trở về thăm những người đồng đội cũ đã hi sinh vì đất nước. Dưới ánh trăng, nhìn những nấm mộ liệt sỹ xếp hàng ngay ngắn, nhà thơ cảm thấy như đồng đội của mình vẫn đang xếp hàng sẵn sàng lên đường ra trận. Tinh thần chiến đấu “chỉ tiến không lui” của những người lính dường như vẫn còn hiện diện, tại đây, trong nghĩa trang này. Họ hi sinh nhưng linh hồn của họ dường như vẫn hiển linh, phù hộ cho đồng đội, cho đất nước, cho dân tộc mãi trường tồn:

Ánh nến lung linh

hàng hàng thẳng tắp

đồng đội hiển linh

(Dưới ngói âm dương – Nguyễn Văn Đồng)

Thơ haiku Việt ca hát về vẻ đẹp Việt Nam, về cái đẹp của thiên nhiên gấm vóc, của những thuần phong mỹ tục, của tâm hồn, tính cách con người Việt Nam ngay thẳng, bình dị mà cao quý vô ngần. Và như vậy, “haiku Việt ôm choàng cuộc sống trong mọi nẻo đời. Ở đây và bây giờ” (Nắng mới từ thơ haiku – Nhật Chiêu). Những âm giai Nhật Bản và tâm hồn lục bát Việt Nam hòa quyện tạo thành một bản “hòa âm” mới “đa thanh”, đem đến cho con người tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đất nước mình.

ML

Khúc “Rượu” của Lý Viễn Giao- Huỳnh Xuân Sơn

Thơ ca có nhiều thể loại, nhiều hình thái biểu đạt ngôn ngữ và ý nghĩa khác nhau. Có tác phẩm dài dằng dặc mà ta gọi đó là Trường ca, có tác phẩm thì lại ngắn chỉ có vài từ. Bài thơ ngắn nhưng ý nghĩa và hồn cốt ẩn chứa trong nó lại không hề ngắn như khuôn khổ của bài thơ.

alt

Một trong những bài thơ ngắn như thế mà tôi đã gặp là bài thơ Haiku viết về Rượu của tác giả Lý Viễn Giao.

Rượu đầy

Lời bay

Dạ cạn

Chỉ vỏn vẹn 6 từ cho ba ngắt ý, bài thơ Haiku không quý ngữ đã gieo vào lòng tôi một dòng suy tư về Rượu và những gì liên quan đến nó.

Ngắt ý thứ nhất Rượu đầy, với người dân Việt từ cổ chí kim rượu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Dịp lễ tết, ngày vui, ngày buồn, người ta khi vui và ngay cả lúc buồn thậm chí không vui không buồn cũng uống rượu. Rượu luôn luôn hiện diện xung quanh chúng ta. Nhưng khi mà “Rượu đầy” thì lại dẫn tới chiều hướng sẽ uống nhiều. Sau khi uống nhiều không chỉ say xỉn ảnh hưởng tới sức khỏe, mà còn bao hệ lụy kéo theo sau. Ca dao xưa các cụ đã nói:

Rượu nhạt uống lắm cũng say

Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm (Ca dao)

Câu ca dao thứ hai cũng là một phần của ngắt ý thứ hai mà tác giả muốn nói trong Rượu :

Lời bay.

Tục ngữ đã có câu “rượu vào lời ra”. Hệ lụy của “Lời ra” này mới là điều mà mỗi người chúng ta cần nghĩ tới và có lẽ cũng là suy nghĩ của tác giả khi nghĩ đến hệ lụy của “Rượu đầy” dẫn tới “Lời bay”

Ca dao ông bà ta đã đúc kết

Ở đời chẳng biết sợ ai

Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày (ca dao)

Hệ lụy của Rượu không hẳn xấu với những người có nợ với văn chương. Đường Thi cổ có câu “Đấu tửu thi bách thiên” (Rượu vào hàng trăm bài thơ ra). Điển hình của mối duyên nợ Thơ và Rượu là Lý Bạch nhà thơ lớn đời Đường .Với thi sĩ họ Bạch phải có rượu vào mới có thơ ra, những áng thơ Đường bất hủ của ông còn lưu danh tới nay cũng xuất phát từ những lúc ngấm men cay nồng của rượu. Để rồi ngày nay bên xứ ấy vẫn còn một Tróc Nguyệt Đài (Đài bắt trăng)…Tích xưa kể rằng khi Lý Bạch rời kinh thành ngao du khắp chốn, mang theo lệnh vua ban uống rượu miễn phí ở bất kể đâu, cũng được ngân khố triều đình chi trả . Một lần Lý Bạch say rượu nằm bên bờ sông Thái Trạch, huyện Đang Hồ vào đêm trăng rằm, thấy bóng chị Hằng lấp lánh dưới sông, Lý Bạch liền lội ra để vớt trăng, dẫn đến mất mạng. Tích ấy đúng sai hẳn nhiên đời sau không dám, và không có ý phán xét, chỉ biết rằng Đài Bắt Trăng vẫn còn tồn tại cùng những áng thơ bất hủ gắn liền với thi sĩ họ Bạch và gắn liền với mối lương duyên Thơ Và Rượu..

Ca dao truyền lại và thi sĩ xứ người là vậy còn các thi sĩ của chúng ta thì sao?

Sinh thời Tản Đà đã gửi gắm tâm tư về Thơ và Rượu thế này

Rượu thơ mình lại với mình

Khi say quên cả cái hình phù du

Trăm năm thơ túi rượu vò

Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai? (Thơ Về Rượu)

Gần đây nữa ta có thể kể đến cố nhà văn Nguyễn Quang Sáng cùng bài thơ Rượu của ông.

Trong mâm rượu

Nếu nói xấu người vắng mặt

Rượu sẽ thành thuốc độc

Trong mâm rượu

Nhắc nhớ người vắng mặt

Rượu sẽ ngọt ngào nước thánh

Ta rót vào hồn nỗi nhớ thương (Nguyễn Quang Sáng).

Nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã có câu đúc kết về Rượu với Thơ rằng

Rượu có mùi thơm nên uống mãi

Thơ là thuốc bổ cứ ngâm chơi”(Bảy mươi tuổi tự thuật)

Trở lại với Rượu .“Rượu đầy”! Cạn hết sẽ say, khi có chất men kích thích lập tức “Lời bay”. Đó chính là những gợi mở trong ngắt ý thứ hai và Lời Bay cũng chính là điểm nhấn của bài thơ . Rượu của nhà văn Nguyễn Quang Sáng cùng ngắt ý Lời bay trong Rượu của tác giả Lý Viễn Giao, hẳn họ muốn nhắc nhớ tới văn hóa ứng xử trong giao tiếp của mỗi người khi ngồi trong mâm rượu!

Mang theo suy nghĩ về Lời bay ta đến với ngắt ý thứ ba của Rượu

Dạ cạn.

Một vế đối đắt giá với ngắt ý thứ nhất Rượu đầy. Rượu đầy nghĩa là  có nhiều, mà nhiều rượu sẽ dẫn tới uống nhiều. Còn dạ cạn thật khó định lượng đây, khi mà ông bà ta đã có câu

Sông sâu biển rộng dễ dò

Nào ai lấy thước mà đo lòng người. ( ca dao).

Nhưng có lẽ câu ca dao ấy vốn nói về những người bình thường, tỉnh táo. Còn mấy người mà khi đã say tới mức lời bay không kiểm soát thì ắt chẳng cần đo cũng thấy Dạ Cạn.

Thông thường con người ta,bất kể già trẻ gái trai, khi uống nhiều nếu không biết kiềm chế sẽ dẫn đến nói nhiều. Kéo theo nhiều hệ lụy, mà đa phần trong đó là hệ lụy xấu. Và,với ngắt ý thứ ba “Dạ cạn” của tác giả Lý Viễn Giao, phải chăng ông còn muốn nhắc nhở những người uống “Rượu đầy” hãy tỉnh táo kìm chế. Đó đây nhan nhản trên các mặt báo biết bao vụ án từ say Rượu mà ra. Chỉ một cái nhìn, mà người say cho là “nhìn đểu” trong quán rượu, dẫn đến lời ra tiếng vào xô xát và hậu quả rất nhiều vụ án là người bị trọng thương hoặc mất mạng, kẻ tỉnh rượu thì vào tù hoặc lãnh án tử hình.

Vẫn biết rằng Rượu không thể thiếu trong đời sống bất kể thể chế, xã hội nào. Nhưng xin hãy nghĩ tới mặt trái của hậu cuộc “rượu đầy” sau những “lời bay” không chỉ là “Dạ cạn” mà nhiều rất nhiều từ cạn đi theo, cạn tình, cạn nghĩa, cạn luôn cả cuộc sống này.

Từ cổ chí kim. Xưa có Lý Bạch sinh thời cao ngạo tới mức

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

Lý Hữu Phước dịch rằng

Xưa nay lặng tiếng thánh hiền

Chỉ người uống rượu còn truyền lưu danh.

Nhưng rồi ông lại mất mạng chỉ vì say rượu. Tên ông và thơ ông quả đã lưu danh thiên cổ thật , Nhưng thử hỏi có mấy người rượu vào lời ra được như Lý Bạch.

Thời cận đại Việt Nam có Phạm Thái tức Chiêu Lỳ. Tác giả Chiến Tụng Tây Hồ Phú, Sơ Kính Tân Trang. Văn Tế Trương Quỳnh Như… Một người tài hoa vậy mà khi ở tuổi hai mươi vì chán nản tìm đến Rượu nên đã có những suy nghĩ bi quan trong Tự Trào:

Bầu giốc càn khôn giọng bét be

Miễn được ngày nào ngang dọc đã

Sống thì nuôi lấy chết chôn đi. (Tự Trào- Phạm Thái).

Cho đến tuổi Tam thập Nhi Lập ông vẫn Tự Thuật:

Một tập thơ sầu ngâm đã chán

Vài be ruột lạt uống ra gì

Chết về Tiên Phật cho xong nợ

Cái kiếp trần gian sống mãi chi (Tự Thuật- Phạm Thái).

Phạm Thái mất đi ở tuổi 36. Kết thúc chuỗi ngày li bì say rượu và kết thúc những bài thơ văn bi quan và yếm thế. mới thấy Rượu và hệ lụy của rượu không chỉ có Lời Bay và Dạ Cạn.

Thơ Haiku vốn không tả mà chỉ gợi. Tác giả Lý Viễn Giao với Rượu của mình đã khơi gợi trong tôi một dòng suy nghĩ và tôi đã viết ra những suy nghĩ của riêng cá nhân mình. Rất mong nhận được sự lượng thứ từ bạn đọc và tác giả nếu như có thiếu sót.


Dáng Xuân


Mây trắng nhấp nhô

Nắng sớm xòe ô

Ngựa hồng lối đá


Nắng mai gội vòm xanh

Gió sớm xô nghiêng mành

Thướt tha soi bóng nước


Chùm lan nào

Giậu cao

Tay với


Hoa rơi hết rồi

Đào về thôi

Vườn cũ


Tóc xõa vai mềm

Chân xải bước êm

Căng tràn nhựa sống.


H.X.S


Matsuo Basho và Nguyên lý Làn hương- Nhật Chiêu

Bài thơ cô đọng đến mức không thể rút gọn hơn. Tuyệt ngắn. Toàn bài vỏn vẹn mười bảy âm tiết, ngắt thành ba nhóm từ: 5, 7, 5 âm. Đó là thể thơ haiku của Nhật Bản, phát triển từ thế kỷ mười bảy và bây giờ phổ biến hầu như toàn thế giới.

alt

Thơ haiku được hoàn thiện dưới bàn tay của thi hào Matsuo Basho (1644-1694). Theo nhà thơ Mỹ lừng danh Robert Hass thì Basho đã biến haiku thành “một trong các thể thơ trữ tình vĩ đại trong văn hóa nhân loại và chính ông trở thành một nhà thơ trữ tình vĩ đại của thế giới”[1].

Tên gọi haiku (đọc theo âm Hán Việt là bài cú) chỉ có sau này, không xuất hiện vào thời Basho. Một bài thơ mười bảy âm tiết thời đó được gọi là hokku (phát cú) vì nó bắt nguồn từ khổ thơ mở đầu của chuỗi thơ haikai no renga (bài hài liên ca) hay renku (liên cú) thường do nhiều người hợp soạn.

Bước vào thời Edo (1600-1868), haikai no renga phát triển thanh thế là do sự lớn mạnh của tầng lớp thị dân vốn thích đùa cợt, phóng túng, nghiêng về hài và tục. Người ta bắt đầu ý thức rằng thơ ca, trong khi xa lánh cái trang trọng và tao nhã sáo mòn, cũng không nên sa vào sự dung tục dễ dãi. Thơ ca phải được cứu vớt lần nữa.

Chính vì thế mà những thiên tài như Basho và Uejima Onitsura (1661-1738) xuất hiện. Thơ ca đang chờ đợi một linh hồn mới. Một linh hồn kết hợp nơi nó cả vô tâm lẫn hữu tâm, hoan lạc và cô tịch, cái nhỏ nhoi và cao cả, cái đơn sơ và chiều sâu, cái bình thường và huyền diệu, cái trọng thể và nhẹ nhàng, trào lộng và trữ tình, sự nghèo nàn và phong nhiêu… Hầu như nó đang chờ một phép lạ. Một sự dung hợp toàn bích như vậy chỉ có thể thực hiện từ một thiên tài như Matsuo Basho. Kế vị ông sẽ là Yosa Buson (1716-1784) và Kobayashi Issa (1762-1826).

Renga (liên ca) là thơ kết nối thường được soạn từ hai nhà thơ trở lên, luân phiên các khổ 17 âm (5, 7, 5) và 14 âm (7, 7) phát triển theo chủ đề chứ không đi theo hướng tự sự.

Chẳng hạn như phần mở đầu một bài renga lưỡng ngâm (hai thi sĩ) do Basho soạn cùng Yaba ở Edo vào mùa xuân 1694:

梅 が 香 に の つ と 日 の 出 る 山 路 哉

Ume ga ka ni / notto hi no deru / yamaji kana

Trong hương hoa mơ

mặt trời mọc bất ngờ

bên con đường núi

Matsuo Basho

と こ ろ ど こ ろ に き じ の な き た つ

tokoro dokoro ni / kiji no nakitatsu

đó đây đó đây chim trĩ

vừa kêu vừa bay vút lên

Shida Yaba

Khổ thơ thứ hai (wakiku) như ta thấy đã kết nối tài tình khổ thơ khởi xướng (hokku) như thể thấm đẫm không khí và làn hương được truyền đi trong gió. Hình ảnh của mùa, những chuyển động, mùi hương, âm thanh… đều tương ứng hài hòa. Tiếng kêu thảng thốt của chim trĩ bay lên từ cỏ cây khi nghe tiếng chân người dường như song hành với cái ló dạng rực hồng của mặt trời rạng đông trong làn hương thơm ngát của hoa mơ. Hoa mơ và chim trĩ đều là hình ảnh của mùa xuân được dùng như kigo (quý ngữ). Trong cái tĩnh lặng của đường núi và cỏ cây là những chuyển động có thể cảm nhận và nhìn thấy: hương hoa thì lan tỏa, mặt trời thì mọc, chim thì kêu và bay.

Sự kết hợp tinh tế giữa hai khổ thơ như vậy Basho gọi là “Kết hương” (nioi-zuke). Làn hương (nioi) là cái bạn chỉ có thể cảm nhận chứ không nhìn thấy được, giống như cái “dư tình” (yojo) trong waka cổ điển.

Nguyên lý làn hương không chỉ hoạt động trong renga mà có thể vận dụng ngay trong bản thân một hokku đơn lập (như một bài haiku theo nghĩa hiện đại). Chẳng những thế một bài hokku của thi pháp làn hương còn nắm bắt được “vận động khứ hồi của tâm hồn” như nhận xét lý thú của Hattori Doho (1657-1730). Doho là cao đồ của Basho. Trong tập Sanzoshi (Tam Thảo Tử) tài liệu cho ta biết nhiều về Basho một cách chủ yếu, Doho viết:

“Soạn một bài hokku là nắm bắt vận động khứ hồi của tâm hồn, như bài thơ sau đây cho thấy:

山 里 は 萬 歳 お そ し 梅 の 花

Yamazato wa / Manzai ososhi / ume no hana

Làng trong núi đồi

đám múa hát đến muộn

hoa mơ nở trắng rồi

Matsuo Basho

Trước tiên, nhà thơ bảo rằng trong một ngôi làng miền núi, đám múa hát Manzai chúc mừng năm mới đến muộn, rồi sau đó ông nhận thấy hoa mơ đang nở trắng. Tâm hồn ông ra đi và trở về. Đây là điều diễn ra trong khi soạn một bài hokku. Nếu ông chỉ nói rằng:

Làng trong núi đồi

đám múa hát đến muộn

thì đó là một thứ thơ thông thường chỉ đáng xen vào trong thân bài của một liên ca. Có lần, Thầy (Basho) từng dạy: “Người ta nên biết rằng một bài hokku được soạn ra theo cách kết hợp sự vật”[2].

Doho muốn nói gì về “vận động khứ hồi (đi và về) của tâm hồn”? Đó là vận động nhiều chiều, tương tác giữa sự vật kết hợp trong bản thân một bài hokku. Hình ảnh sơn thôn (yamazato) thanh vắng thường gợi lên cảm thức tịch liêu (sabi). Thế nhưng mùa xuân đến đúng lúc với hoa mơ nở rộ. Dẫu vậy vẫn còn thiếu một cái gì đó đầy màu sắc và tưng bừng rộn rã. Đang chờ đám múa hát Manzai từ thành phố về làng, chúc mừng năm mới trước cửa nhà. Đám múa hát đó lại đến muộn hơn hoa. Hình ảnh hoa mơ ở cuối bài thơ chính là một vận động trở về với sơn thôn thanh vắng dù có hay không có đám múa hát thị thành.

Nguyên lý làn hương (nioi-zuke) mà Basho đề xướng gợi ta nhớ đến “nguyên lý đồng đẳng” (principle of equivalence) của Roman Jakovson (1896-1982). Trong bài tham luận “Ngôn ngữ học và Thi pháp học”, Jakovson phát biểu: “Chức năng của thơ là đưa nguyên lý đồng đẳng từ trục chọn lựa chiếu lên trục kết hợp.”[3]

Nguyên lý làn hương của Basho cũng như “nguyên lý đồng đẳng” của Jakovson đều nhấn mạnh đến phương thức kết hợp sự vật theo lối cả tương đồng lẫn tương dị. Do giống nhau và khác nhau mà sự vật tương tác theo lối thu hút hay xô đẩy tạo nên chiều “đi” lẫn chiều “về”, tạo nên đa thanh đa nghĩa.

Về phương thức kết hợp trong thơ haikai thì có ba lối: Kết chữ (kotoba-zuke), Kết ý (kokoro-zuke) và Kết hương (nioi-zuke). Kết chữ còn gọi là Kết vật (mono-zuke).

Thi phái Teimon chú trọng “Kết chữ”. Thi phái Danrin chú trọng “Kết ý”. Và tất nhiên, Basho chủ trương phương thức “Kết hương”. Điều đó làm nên phong cách Basho (Shofu - Tiêu phong). Chúng ta nhận ra Tiêu phong do mỗi bài thơ của Basho đều dường như ẩn chứa một làn hương.

木 の も と に 汁 も 膾 も 桜 か な

Ki no moto ni / shiru mo namasu mo / sakura kana

Dưới bóng cây

canh, rau, mọi thứ

đều vương hoa đào

菊 の 香 や 奈 良 に は 古 き 仏 達

Kiku no ka ya / Nara ni wa furuki / hotoke tachi

Làn hương cúc đưa

Nara trầm mặc

những đài Phật xưa

明 ぼ の や し ら 魚 し ろ き こ と 一 寸

Akebono ya / shirauo shiroki / koto issun

Tinh mơ

con cá tuyết trắng

một tấc trắng mờ

草 臥 れ て 宿 借 る こ ろ や 藤 の 花

Kutabirete / yado karu koro ya / fuji no hana

Mệt lử

tìm nơi trọ đêm

hoa đằng bóng rủ

六 月 や 峰 に 雲 置 く 嵐 山

Rokugatsu ya / mine ni kumo oku / Arashi yama

Tháng sáu

mây đứng đầu non

núi Bão

古 池 や 蛙 飛 び 込 む 水 の 音

Furuike ya / kawazu tobikomu / mizu no oto

Ao cũ

con ếch nhảy vào

vang tiếng nước xao

蚤 虱 馬 の 尿 す る 枕 も と

Nomi shirami / uma no shitosuru / makura moto

Chấy bọ rầy rà

và con ngựa đứng đái

gần bên gối ta

鴬 や 餅 に 糞 す る 縁 の 先

Uguisu ya / mochi ni funsuru / en no saki

Ôi chim oanh

ngoài hiên, bánh cốm

còn lưu dấu phân

春 も や や け し き と と の ふ 月 と 梅

Haru mo yaya / keshiki totonou / tsuki to ume

Thế rồi từ từ

mùa xuân thành tựu

với trăng và hoa mơ

梢 よ り あ だ に 落 ち け り 蝉 の 殻

Kuzue yori / adani ochi keri / semi no kara

Từ cành cao

hư không rơi xuống

trong vỏ ve sầu

Mười bài thơ trên của Basho thể hiện một cách kết hợp sự vật độc đáo: Canh, rau và hoa đào. Hoa cúc mới và tượng Phật xưa. Ánh tinh mơ và con cá tuyết nhỏ. Lữ khách mệt mỏi và hoa đằng. Tháng sáu, mây cao và núi Bão. Ao cũ và con ếch xuân. Nước đái ngựa và nhà thơ đang nằm ngủ. Bánh cốm và phân chim. Cái từ từ hiện thành của trăng và hoa.

Về bài cuối, nhà thơ haiku Mỹ nổi tiếng Jane Reichhold (1937-) nhận xét như sau: “Bài thơ kỳ thú ở chỗ ông không quan sát cái rơi của vỏ ve sầu mà là hư không trong đó rơi.”[4]

Thì như thế, mỗi con ve sầu đều có chứa hư không. Mỗi con người. Mỗi cánh hoa. Vầng trăng. Đỉnh núi. Mỗi giọt sương. Hạt bụi. Hư không bao la. Và hư không nhỏ xíu. Sống với hư không. Và hư không rơi xuống. Cái rơi của hư không là một làn hương nối từ cành cao xuống đến mặt đất. Đó là thi pháp của làn hương trong thơ Basho.

Nhật Chiêu

Chú thích:

[1] Dẫn theo Eleanor Kerkham (2006), Matsuo Basho’s Poetic Spaces, Palgrave Macmillan, New York, trang 1.

[2] Bản dịch tiếng Việt này dựa theo hai cuốn sách tiếng Anh:

-Haruo Shirane (1998), Traces of Dreams, Stanford, California, trang 107, 108.

-Makoto Ueda (1982), Matsuo Basho, Kodansha, Tokyo, trang 165.

[3] Xem Jakovson (2008), Thi học và Ngôn ngữ (Trần Duy Châu biên dịch), Nxb Văn học, ở trang 24, câu này được dịch là: “Chức năng thi ca chiếu nguyên tắc tương đương của trục tuyển lựa lên trục của sự kết hợp”.

[4] Jane Reichhold (2008), Basho, The Complete Haiku, Kodansha, trang 248.

Sống- Nguyễn Thánh Ngã

alt

"sống trong đời sống

cần có một tấm lòng

để gió cuốn đi"

Trịnh Công Sơn

Sống, đây không phải bài Haiku của họ Trịnh, nhưng tôi cho rằng tự nhiên đã là thơ Haiku rồi. Thơ là thế, rất tự nhiên. Lời của nhạc sĩ T.C.S bay lên trên bờ môi mọi người. Và thành thơ cuốn hút mọi người bằng tấm lòng chân thật. Bởi giữa cuộc đời luôn thiếu vắng này, đang rất cần "một tấm lòng" biết làm đầy thế giới. Làm thơ Haiku cũng vậy, là rất cần "một tấm lòng", để thực hiện một cuộc chơi vừa tao nhã, vừa trí tuệ.

Nhưng người chơi cũng phải biết tất cả là "để gió cuốn đi"...

Gió cuốn đi một bài thơ nhỏ nhắn thì có nghĩa gì đâu!

Trong khi chính ngọn gió ấy là nguồn cơn khiến ta mở lòng ra với cuộc sống. Sống hân hoan, sống nhân ái, từ bi là ngọn gió mới mà thơ đem lại. Và ngọn gió ấy đã thổi bừng qua thơ Haiku một mảnh lửa. Thơ Haiku không phải là ngọn lửa, mà là một mảnh lửa có sức mạnh "đốt" cháy một niềm u tối. Thơ Haiku không để lại tàn tro, nhưng cũng đủ làm bốc hơi cái giả tạo. Vì thế, mặc nhiên thơ Haiku cực ngắn. Độc đáo. Thâm trầm...

Chỉ một làn gió nhẹ mà mặt hồ gợn sóng. Chỉ một gợi ý mà đánh thức bao tâm hồn. Chỉ cần một tấm lòng đánh thức cả thế giới. Ngôn ngữ thơ Haiku là đánh thức chứ không ru ngủ.

Đánh thức một khoảnh khắc...

Và chỉ một khoảnh khắc thôi, đủ tràn đầy ý nghĩa. Không cần cao sang, người làm thơ Haiku ở bất cứ đâu, trong hoàn cảnh nào, khi tứ thơ đến chỉ cần nhặt tờ giấy rác. Thế là có một bài thơ.

Ghi vội...bên đường...

Ra đường

Nhặt giấy rác

Ghi vội bài thơ

(N.T.N)

Sài Gòn 2017

N.T.N


Nắng mới từ thơ Haiku- Nhật Chiêu

Giờ thì thơ haiku cũng đã quen với tiếng Việt rồi. Từ khắp mọi miền đất nước, thơ haiku đã ngân nga tiếng nói giàu nhạc điệu, tiếng nói mang hồn lục bát, để đi đến một hòa âm mới. Cũng như thơ haiku đã tự thể hiện mình bằng những ngôn ngữ khác nhau. Đó là một hồn thơ liên tục chuyển hóa, lạ hóa, mới hóa. Đó là một hồn thơ đa thanh.

alt

Thế nên, chỉ trong vài năm gần đây, thơ haiku đã lôi cuốn mọi tầng lớp và mọi lứa tuổi đến với ngọn triều của mình. Đó là tinh thần vô sai biệt của thơ haiku. Trong tiếng Việt, thơ haiku ca hát với một tinh thần tự do. Nó không rập khuôn theo hình thức haiku Nhật, không cần thiết phải là bài thơ mười bảy âm tiết theo nhịp 5/7/5. Nó không nhất thiết phải có quý ngữ (kigo) như haiku truyền thống Nhật. Nó không nhất thiết quanh quẩn với thiên nhiên dù nó yêu thiên nhiên đến thế nào đi nữa. Nó muốn ôm choàng cuộc sống trong mọi nẻo đời. Ở đây và bây giờ. Nó đa thanh và có tình yêu mải mê với cái hiện tình (thì cũng như cái hiện tiền ấy mà). Nó cũng đi từ thiên nhiên, từ những hoài niệm của sương và trăng:

"Sương khuya hồ Tây
sâm cầm vụt cánh

trăng lay"

(Đinh Nhật Hạnh)

Không có tiếng chim mà chỉ có đường bay của chim, đường bay của nỗi nhớ. Sâm cầm tìm hơi ấm. Con người cũng thế.

"Mưa phùn

đốt chút lá khô

em tôi gom nắng"

(Vũ Tam Huề)

Chỉ vậy thôi mà tình người hửng nắng. Tình người. Chỉ tình người là cái vượt lên những lạnh câm của vũ trụ. Con người vô thường và biết rằng mình vô thường. Do đó mà có thể nhìn thẳng vào vụ trụ, mà hỏi chuyện đầy vơi:

"Tôi, bóng thành đôi

còn trăng khuyết nửa

ai đầy, ai vơi?"

(Đoàn Thị Thu Vân)

Con người hay con ruồi?

"Trên gương

chú ruồi hôn bóng

vơi ngày cô đơn"

(Thanh Tùng)

Con ruồi hay con người? Ta hay không ta? Haiku là thơ của những công án, những câu hỏi. Và người ta có thể sống với những câu hỏi. Không phải để trả lời. Chỉ giản dị là để sống. Để vượt qua.

Haiku Việt TP.HCM

Lời tựa cho tập thơ Haiku Việt tuyển chọn (NXB VH 2010)

N.C

Thử chuyển thơ hay Việt sang thành Haiku- Vũ Nho

alt

Haiku, thể thơ Nhật Bản đang trở thành hiện tượng đặc biệt. Cả thế giới làm thơ Haiku. Từ châu Á, Châu Âu, châu Phi, châu Mĩ, châu Đại dương. Các thứ tiếng phổ biến như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức,… đều có người viết Haiku. Việt Nam cũng là một trong các nước như vậy. Haiku vào Việt Nam chưa lâu, nhưng các Haijin ( người sáng tác Haiku) Việt đã có nhiều bài đăng trong tạp chí của Hiệp hội Haiku quốc tế ( ví dụ cá tác giả Đinh Nhật Hạnh, Lý Viễn Giao, Phùng Gia Viên, Mai Liên, Đinh Trần Phương, Đỗ Tuyết Loan,…)

Người Việt sáng tác Haiku Việt khi tiếp xúc với những bài thơ Haiku cổ điển mẫu mực của Basho. Đồng thời với việc nắm bắt các đặc điểm thi pháp của thể thơ này.

Thơ Haiku Việt có thể không có quý ngữ ( từ chỉ mùa), cũng không nhất thiết ngắt dòng theo công thức 5-7-5 ( mười bảy từ, tương đương mười bảy âm tiết). Haiku Việt vẫn đảm bảo ngắt làm ba dòng và sự vật được đề cập trong 3 dòng đó tuân thủ nhịp thời gian ( jo - ha – kyu tự - phá - cấp) một cách linh hoạt.

Một trong các điều thú vị là người Việt có thể chuyển thể những câu ca dao, câu Kiều, hoặc bất kì một câu thơ yêu thích nào trong kho tàng thơ ca Việt sang thể Haiku. Những câu thơ đó sẽ thành bài Haiku mới. Không rõ người Nhật có làm việc chuyển thơ loại khác sang Haiku? Người Trung quốc có chuyển thơ Đường luật thành Haiku? Người Nga có chuyển  những bài  thơ dân gian hay thơ hiện đại thành Haiku? Nếu họ không làm thì qủa thật, việc chuyển thể này ở Việt Nam là một cách làm độc đáo.

Tất nhiên, cũng từa tựa như việc dịch thơ nước ngoài ra thơ Việt. Người giỏi ngoại ngữ cùng lúc thưởng thức cái hay của nguyên tác và cái hay, ( cũng như chưa hay, chưa đạt) của bản dịch. Trường hợp này, người Việt vốn đã biết cái hay của áng thơ Việt, giờ lại thêm một lần thú vị thấy nó được chuyển thể thành Haiku. Nó là một phiên bản mới của câu thơ gốc. Chất lượng chuyển thể tùy thuộc vào cái hay của thơ Việt và khả năng chuyển thể của người chọn.

Chuyển câu thơ hay tiếng Việt sang Haiku Việt là một thách thức đầy thú vị cho các Haijin Việt và tất cả bạn đọc yêu thơ. Và rất có thể trong việc đố thơ ở các chương trình giải trí, có thể chọn phần Haiku Việt, đố người đọc bài Haiku đó vốn gốc của câu thơ nào.

Dười đây xin thử nghiệm về cách làm xuôi đó. Cũng là một kiểu làm Haiku chẳng giống ai!

  1. 1. Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng

Nguyễn Du

Haiku:

Thu

Thành biếc non vàng

Đáy nước long lanh

  1. 2. Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông

Nguyễn Du

Haiku:

Chim quyên kêu

Dưới trăng

Lựu trổ hoa lửa sáng

  1. 3. Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Ca dao

Haiku:

Thôn nữ

Tát nước

Đổ ánh trăng vàng lên ruộng lúa xanh

  1. 4. Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Ca dao

Haiku :

Canh rau muống

Cà dầm tương

Vị quê hương

  1. 5. Mặt trời càng lên tỏ

Bông lúa chín thêm vàng

Sương treo đầu ngọn cỏ

Sương lại càng long lanh

Trần Hữu Thung

Haiku:

Mặt trời đỏ

Bông lúa vàng

Sương đầu ngọn cỏ long lanh

  1. 6. Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả thương đau tươi thắm vô ngần

Nguyễn Đình Thi

Haiku:

Anh yêu

Đất nước và Em

Vất vả thương đau tươi thắm

  1. 7. Thuyền ta lướt nhẹ trên Ba Bể

Trên cả mây trời trên núi xanh

Hoàng Trung Thông

Haiku:

Ba Bể

Thuyền lướt nhẹ

Trên mây trắng núi xanh

  1. 8. Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút còn mây súng ngửi trời

Quang Dũng

Haiku:

Dốc khúc khuỷu thăm thẳm

Chiến sĩ lên

Súng ngửi trời

V.N

Đọc và viết thơ Haiku một niềm vui- Nhật Chiêu

Là một thể thơ tuyệt ngắn của người Nhật, thơ Haiku đã lan khắp thế giới, thâm nhập mọi ngôn ngữ, trở thành một hiện tượng thơ ca độc đáo vô song.

alt

Ở Việt Nam, đang hình thành một trào lưu đọc và viết thơ Haiku.

Vì sao thơ Haiku hấp dẫn mọi người? Vì sao thơ Haiku hấp dẫn chúng ta?

Dù nhỏ nhắn nhưng thơ Haiku có cách nói đầy hình ảnh và đầy sức khơi gợi, đánh thức nơi ta cảm thức ngạc nhiên về thế giới, về những khoảnh khắc loé sáng trong đời.

Điều đó đem lại niềm vui, làm ta hân hoan trước cuộc sống. Từ đó, nỗi buồn và niềm cô liêu cũng có hương vị mới. Những sinh linh nhỏ bé như côn trùng cũng mang ý nghĩa mới trong thế giới của chúng ta.

Đọc thơ Haiku, ta cảm thấy mình hóa thân thành trăng sao, thành đom đóm, hoa đào, thành đá cuội, thành chuồn chuồn, mây mưa, cánh bướm… nhưng vẫn cứ là mình. Mình sống trong vạn vật và vạn vật sống trong mình. Đó chính là niềm vui!

Đó là niềm vui làm tan những vấn đề giả tạo của cuộc sống.

Ngôn ngữ thơ Haiku không tạo ra vấn đề mà làm tan nó đi.

Đắm mình trong thơ Haiku, ta ca hát như côn trùng trên cành cây gãy, như đá cuội dưới lòng suối.

Và như em bé đuổi theo con bướm, chỉ để mà chơi.

Niwa no cho

koga haeba tobi

haeba tobu.


Trong vườn cánh bướm

đứa bé bò theo, bướm bay

cứ bò theo, bướm bay.

ssa

Đứa bé vui đùa với cánh bướm. Ta cũng thế. Với đời.


N.C

Ám ảnh từ một câu Haiku Việt- Lê Đình Công

alt

Đó là câu thơ của nhà thơ kiêm nhà thư pháp Trụ Vũ :

Giọt cà phê

không nói gì

không nói gì.

Nhà thơ trẻ Ts Đinh Trần Phương đã bình câu thơ này vởi đặc diểm là câu thơ haiku “một hình ảnh” (thông thường một câu thơ Haiku có vài hình ảnh đặt cạnh nhau và tự nó nói lên điều tác giả muốn gửi gắm). Còn tôi lại bị “tính gợi“ của câu thơ này ám ảnh.

Quả thật câu thơ đã gợi cho ta hình ảnh từng giọt cà phê đen rơi xuống, rơi xuống lặng lẽ… Điều thú vị ở đây là tác giả chỉ dùng cụm từ “không nói gì“ mà vẫn gợi cho người đọc hình ảnh rất rõ từng giọt cà phê rơi xuống mà không cần phải tả thực nó ra. Hơn thế nữa, ta lại hình dung ra người uống cà phê. Không phải là giọt cà phê không nói gì mà chính là người uống cà phê không nói gì. Phải chăng đó là một người đàn ông đã hơi luống tuổi (vì các bạn trẻ thường ồn ào) “Không nói gì“ vì đang mải suy ngẫm chuyện mình, chuyện đời? hay đang cấu tứ cho một bài thơ hoặc một bức thư pháp đang thai nghén?... Trong khi trong quán cà phê đó còn có thể có nhưng người khác vừa uóng vừa tâm sự với bạn bè… Cuối cùng, hóa ra câu thơ trên không chỉ có “một hình ảnh“ mà đã “gợi“ ra nhiều hình ảnh và suy diễn liên quan khác .

“Tính gợi “ là một “tính thơ” rất quan trọng của thơ Haiku. Vì thế đã là thơ Haiku thì không cần phải có đầu đề . Hãy để cho người đọc suy ngẫm cùng sáng tạo với tác giá và cùng thưởng thức thi vị của câu thơ,đôi khi còn vượt ra ngoài cả mong đợi ban đầu của tác giả.

Nhân đây, tôi xin mạo muội bàn thêm đôi lời về tiêu chí một bài Haiku- Việt hay

Theo tôi , về “hình hài “một bài Haiku-Việt là “cực ngắn” và “ba dòng“

Cực ngắn cả về ý và lời (không thể bỏ đi một từ nào) mà vẫn đủ để thể hiện đẹp đẽ tứ thơ. Ba dòng là để tao ra nhịp điệu của bài thơ và để nhấn mạnh từng ý thơ

Về “hồn cốt “của bài thơ chính là “tính thơ”của nó . Không có “ hồn cốt” tức là không có “thơ”. Tính thơ có thể được tạo nên bởi môt hoăc nhiều yếu tố: trươc hết là tứ thơ, rôi đến lời thơ’ hình ảnh , nhịp điêu , vần hoăc âm điệu thơ… vơi các thủ pháp thơ như ẩn dụ , đối lập, nhân hóa …nhằm gây được rung cảm nơi người đọc

Và như vây một câu Haiku- Việt hay không thể tạo nên bởi sự giản đơn , sáo mòn, thô thiển hoặc quá trừu tượng đến khó hiểu. Đã không hiểu được thì không thể cảm được

Về nội dung, theo tôi nên rộng rãi ,tùy theo cảm hứng của người viết.Có thể bao gồm thiên nhiên (Cảnh vật, sinh vật …), thế sự, tâm sự, tình cảm, triết lý… nghĩa là tất cả những gì có thể chạm đến sự cảm nhận của con người. Trong đó, khi nói về thiên nhiên (phần cơ bản nhất của Haiku) thì đương nhiên sẽ xuất hiện quí ngữ (kigo) vốn rất phong phú và rát dễ nhận biết trong bốn mùa của ngôn ngữ Việt.

Trên đây là những suy nghĩ của cá nhân. Thường thì nói dễ hơn làm .Tuy vậy cũng cứ xin nói ra để cùng bàn và cùng phấn đấu để có được những câu thơ Haiku Việt hay. Xin cám ơn bạn.

LĐC

Hiện tượng Santoka (1882- 1940)

Trong sáng tác Haiku ở nơi quê hương của thể thơ này, Nhật Bản, thể thơ này được coi là “quốc hồn quốc túy” của văn hóa, người ta vẫn còn tranh luận mãi về thơ của Santoka không biết có thể coi là Haiku không? Tôi thì coi đây là một “hiện tượng” trong thơ Haiku của Nhật.

alt

Cuộc đời ông đầy bi kịch, gắn với rượu và những cuộc lãng du. Cùng với nhà thơ Haiku theo luật tự do tiêu biểu của Nhật Hosai (尾崎放哉1885-1926), Haiku của các ông theo luật tự do, phá cách ((katayaburi, phá hình 型破り) không theo dạng Haiku truyền thống của Nhật định hình và có quí từ, quí ngữ (有季定型) khá gò bó. Tuy tác phong hai ông khác nhau như người ta nhận định, Hosai thì “tĩnh” còn Santoka thì “động”.

Có lẽ thơ hai ông gần với Haiku các Haijin người nước ngoài, khiến những Haijin Việt Nam cần suy nghĩ và tham khảo. Tiến sĩ Nguyễn Nam Trân viết:

“Nếu như thế thì haiku tự do có khác gì với thơ tự do? Thực ra, cái khác đó nằm ở tinh thần haiku. Haiku tự do trong trường hợp của Santôka chẳng hạn, không tô chuốt mà đượm màu triết lý vô thường (mujô), nỗi buồn cô quạnh (sabi), hòa đồng với thiên nhiên và có cái nhìn đơn sơ nhẹ nhàng về cuộc đời (karumi) như những nhà thơ haiku cổ điển. Phần nhiều nó đã được làm ra trong những chuyến đi”

Chủ nhiệm CLB Haiku Việt Hà Nội Đinh Nhật Hạnh và TS. Đinh Trần Phương đã dịch qua tiềng Pháp và giới thiệu thơ của ông qua cuối “Ryokan và Santoka” (Chế bản vi tính- Tủ sách thơ Haiku Việt dịch, năm 2013), các dịch giả chỉ dành tặng cho những người yêu thơ Haiku ở Việt Nam, các bạn có thể tham khảo thêm.

Taneda sinh ngày 3-12-1882, tại tỉnh Yamaguchi- Nhật Bản, mất 10-11-1940 trong một am cỏ ở tỉnh Matsuyama, thọ 58 tuổi. Tên gốc đầy đủ của ông là Taneda Shoichi (種田正一), là trưởng nam trên ông có 1 chị. Sau này ông lấy bút danh là Santôka (種田 山頭火) nghĩa là “lửa trên đỉnh núi” theo luật âm dương ngũ hành, có lẽ là ông thích bút danh này chứ không liên quan gì đến năm sinh của ông cả. Bút danh này xuất hiện từ 1925 khi ông tham gia tạp chí “Mây tầng” (層雲) và có lẽ chính thức lấy bút danh này năm 28 tuổi.

Cuộc đời ông đầy bi kịch, nghiện rượu nặng và bị mắc bệnh thần kinh. Nghe nói những cây viết hiện đại như tiểu thuyết gia Maruya Zaiichi(丸谷才一1925- 2012) hay nhà viết kịch Miyamoto Ken (宮本研1928-1988) đều lấy thơ ông làm tựa đề cho tác phẩm của họ. Lúc còn sống, Santôka không được biết đến nhiều. Người ta thờ ơ và chê bai bởi vì lúc đó chưa ai nhìn nhận ông là nhà thơ haiku. Sau khi mất 30 năm, từ 1970 người ta mới tìm hiểu và đánh giá lại thơ Haiku kiểu tự do của ông.Cho dù ông tập trung được sự chú ý của độc giả, người ta vẫn chưa chấp nhận Santôka vì họ nghĩ rằng thơ ông vẫn nằm giữa ranh giới của haiku và thơ tự do.Murakami Mamoru (村上護 1941-2013) một nhà phê bình nghệ thuật và Haijin Nhật Bản đã đưa ra 1 câu Tự trào của Santokađể tượng trưng cho thế đứng chênh vênh ấy của ông:

うしろすがたのしぐれてゆくか
Ushiro sugata no/ shigurete yuku ka (7/7)

Trời đổ mưa rào / sau dáng lưng cô độc (LTB dịch nghĩa)

Năm 1911 (Taneda đã 29 tuổi) ông mới bước vào văn chương ở địa phương với bút danh Tarako (Loa điền công- con Ốc ruộng). ông bắt đầu đăng trên nguyệt san Seinen (青年Thanh niên) của địa phương ông có một số bản dịch Guy de Maupassant và Ivan Tourgueniev ông có ghi bút hiệu Santôka 山頭火 và có những bài tiểu luận, tùy bút, thơ waka và haiku trong tạp chí chuyền tay giữa bạn bè ra hằng tháng dưới cái tên Tarakô (田螺公 Điền Loa Công hay Ốc Ruộng). Tháng 8 năm cùng năm, ông bắt đầu ra tạp chí Kyôdo 郷土(Hương thổ hay Quê nhà), ôngdần chính thức bước vào con đường văn chương.

Sau đó ông có cộng tác với tạp chí Sôun (層雲 Tằng Vân hay Mây Tầng) vốn đã ra mắt ở Tôkyô từ năm 1911 ( năm cuối cùng của thời Meiji). Tạp chí này do nhà thơ Ogiwara Seisensui 荻原井泉水(1884-1976),một người đứng đầu cuộc vận động Haiku tự do, làm chủ bút. Seisensui kém Santôka hai tuổi nhưng được ông suốt đời tôn kính như một người thầy. Seisensui đã sáng tác những bài thơ có thể tiêu biểu cho phong cách này:

/朗々/ひとり

(そらをあゆむ・ろうろうと・つきひとり)
Sora wo ayumu /rôrô to /tsuki hitori (6/5/5)

Trôi trên trời/ vằng vặc/ trăng đơn côi (LTB dịch nghĩa)

自分の/茶碗がある家に/もどっている

(じぶんの・ちゃわんがある・いえにもどっている)
Jibun no/ chawan ga aru /ie ni modotte iru (4/7/9)

Trở về ngôi nhà /có bát cơm/ của mình (LTB dịch nghĩa)

Mến tài năng của Santôka, Seisensui đã mời ông vào ban tuyển thơ cho tạp chí. Santôka từ đó được làng thơ haiku tự do toàn quốc biết tới.

Do bối cảnh lịch sử hay số phận, năm 1902, khi 20 tuổi ông vào học khoa văn của Đại học Waseda nên ông có rất nhiều bạn bè nổi tiềng trong văn học Nhật Bản. Ông có các bạn đồng song như Ogawa Mimei (小川未明 1882-1961 nhà văn viết truyện nhi đồng), Yoshie Takamatsu (吉江喬松1880-1940 nhà thơ và giáo sư Waseda rồi viện trưởng đại học), Muraoka Tsunetsugu (村岡 典嗣1884-1946 giáo sư Đại học Tôhoku, học giả ngành quốc văn và lịch sử tư tưởng Nhật Bản). Và có học Thầy Tsubouchi Shôyô (坪内 逍遥 1859-1935 tiểu thuyết gia kiêm nhà lý luận văn học)…

15 năm cuối đời ông đã hành thiền bằng cách hành khất để tự tu dưỡng và nuôi thân. Người ta nghĩ đến ông với hình ảnh một nhà sư trong chiếc áo choàng đen với chiếc bát gỗ khất thực trong tay và chiếc mũ vải. Tập Haiku nổi tiềng nhất của ông là “Tháp cây cỏ” (『草木塔』)với 701 bài do chính ông tuyển chọn năm 14 Đại Chính ( 大正 1925) in ở Tokyo để dâng lên hương hồn mẹ ông, người phụ nữ đã tự vẫn khi còn rất trẻ, khi Taneda Shoichi mới 11 tuổi, là nguyên nhân dẫn đến mọi sự đổ nát của gia đình ông.

Ta hãy điểm qua một số bài (Câu) Haiku trong số khoảng hơn 8 vạn câu trong cả cuộc đời của ông mà ngươi ta mớichỉ tìm thấy già nửa, ta như nghe vang bên tai câu nói của ông :“Haiku ư? Không phải là cái mà người đăc biệt mới làm được. Ai cũng có thể sáng tác tự do, thấy thích là được! Vì thế tôi làm rất nhiều. Nào mời bạn!”

  1. 1. はみな枝垂れて南無観世音
    Matsu wa/ mina eda tarete / Nanmu Kanseon (3-7-8)

Tùng/tất cả ngả cành /nam mô Quan Thế Âm (LTB dịch nghĩa)

  1. 2. したしさのとなった
    Ohaka/ shitashisa no/ ame to natta (3-4-6)

Biến mình thành giọt mưa,
Dịu dàng trên phần mộ

(Nguyễn Nam Trân dịch)

  1. 3. 烏啼いて一人
    Karasu naite/ watashi mo hitori

Quạ cất tiếng kêu,
Ta chỉ một mình
(Nguyễn Nam Trân dịch)

  1. 4. をしても一人
    Seki wo shite mo/ hitori (6-3)

Khi ho/ cũng chỉ có một mình (LTB dịch nghĩa)

  1. 5. 鉄鉢へも
    Tetsubachi no /naka e moarare (5-7)

Mưa đá rơi cả vào/ trong bát khất thực (LTB dịch nghĩa)

  1. 6. って今日草草鞋履
    Damatte/ kyou no kusa/ waraji haku (3-7-5)

Cỏ hôm nay/ lặng thinh/đi dép cỏ (LTB dịch nghĩa)

  1. 7. まっすぐなしい
    Massugu na michi de samishii (8-4)

Ở con đường thẳng/ Buồn (LTB dịch nghĩa)

  1. 8. はだまってんでいた
    Tori wa damatte/ tonde itta (7-6)

Chim yên lặng/ bay (LTB dịch nghĩa)

  1. 9. 舟来つの
    Kuru fune /kuru fune ni/ hitotsu no shima (4-5-5)

Thuyền đến, thuyền lại đến/ vẫn chỉ có một Đảo (LTB dịch nghĩa)

  1. 10. 分け入っても分け入っても青い山

Wakeittemo/ wakeittemo/ aoiyama (6-6-5)

Rẽ cây đi vào/ rẽ cây đi vào/ vẫn chỉ có núi xanh (LTB dịch nghĩa)

Ông vẫn lãng du đi tìm một điều gì đó…

Lê Thị Bình- Biên soạn và dịch


Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay91
mod_vvisit_counterHôm qua299
mod_vvisit_counterTất cả63104
Hiện có 28 khách Trực tuyến