Nhà khoa học đen- Lê Văn Truyền

alt

tạo hai bé gái chỉnh sửa gen

“nhà khoa học đen” ngông cuồng

định “thế thiên hành đạo”

Lê Văn Truyền

Năm 2013, các nhà khoa học Viện sức khỏe sinh sản Manhattan (Manhattan Institute for Reproductive Health - Hoa Kỳ) công bố: “Dựa trên các nghiên cứu về gen, trong 6 tháng đầu của thời kỳ mang thai, các nhà khoa học có thể tiến hành các biện pháp can thiệp y học (PGD: pre-implantation genes diagnosis) nhằm tạo ra những thai nhi trong bụng mẹ có những đặc điểm hình dạng và tố chất theo ý muốn của các cặp vợ chồng”. Khi đó, trong bài thơ “Thai nhi theo thiết kế”, kẻ viết bài này đã phải đau đáu đặt một câu hỏi:

Ừ, trong thế kỷ XXI này

không có gì là “bất khả thi”.

Nhưng ai sẽ nhận phần thiết kế tâm hồn

để trong tâm mỗi người có một Ông Bụt?

Thai nhi theo thiết kế, 2013

Năm năm sau, ngày 29 tháng 11 năm 2018, trên Associated Press, Hạ Kiến Khuê, Phó giáo sư di truyền học tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hoa Nam Trung Quốc tuyên bố rằng ông ta đã cho ra đời hai bé gái sinh đôi Lộ Lộ và Na Na được chỉnh sửa gen bằng kỹ thuật CRISPR. Mục tiêu của việc làm này là tạo cho hai cô bé khả năng miễn nhiễm với HIV và phòng ngừa bệnh AIDS. Tuyên bố của Hạ Kiến Khuê chưa được xác minh độc lập tuy nhiên, nếu được khẳng định là có thật, bất kể vì mục đích gì trường hợp này đã vượt qua ranh giới mới về mặt y học và phạm trù đạo đức. Nguyên nhân là do việc chỉnh sửa gen từ trong phôi thai có thể tạo ra những em bé được "thiết kế sẵn", điều mà nhiều nước trên thế giới ngăn cấm.

Bởi vậy, ngay ngày hôm sau, 30 tháng 11 năm 2018, hơn 100 nhà khoa học Trung Quốc đã cùng ký vào một bức thư được phát hành trên trang mạng xã hội Weibo lên án thí nghiệm chỉnh sửa gen trên người của Hạ Kiến Khuê. Ký tên vào bức thư còn có cả các nhà khoa học đến từ những trường đại học hàng đầu thế giới như Massachusetts Insstitute of Technology (Hoa Kỳ). Hạ Kiến Khuê được mạng xã hội phong tặng ngay lập tức danh hiệu “nhà khoa học đen” và ông đã biến mất một cách kỳ bí sau đó. Tin tức gần đây nhất cho biết, có thể Hạ Kiến Khuê đang bị chính quyền Bắc Kinh quản thúc nghiêm ngặt.

Theo trang Medical Express, cộng đồng khoa học trên thế giới và ngay cả ở quê hương ông đã lên án việc Hạ Kiến Khuê để phôi được chỉnh sửa gen sinh ra thành hai bé gái là "nguy hiểm, vô trách nhiệm và điên rồ". Sẽ ra sao nếu quá trình chỉnh sửa mắc lỗi? Làm sao dám chắc kỹ thuật này có lợi cho nhân loại? Liệu chúng ta có sẵn sàng đối mặt các hậu quả của việc chỉnh sửa gen cho sự tiến hóa của chính chúng ta?

Phải chăng Hạ Kiến Khuê là tín đồ của thuyết Ưu sinh (Eugenics) chủ trương sử dụng các phương thức nhằm thay đổi cấu trúc gen của dân số, một học thuyết đã lụi tàn từ giữa thế kỷ XX do gắn liền với những chủ trương điên rồ, độc ác của trùm Đức Quốc Xã Adolf Hitler: “rửa sạch chủng tộc”, thanh trừng và tiêu diệt “các chủng tộc hạ đẳng” (ví dụ người Do Thái và người Roumanie, theo hắn ta) trong các trại tập trung và diệt chủng nhằm bảo đảm “tính thuần chủng và thượng đẳng” cho chủng tộc Nhật Nhĩ Man.

Medical Express cảnh báo "chúng ta không thể để cho cá nhân các nhà khoa học quyết định vận mệnh của bộ gen loài người" và kêu gọi "cần phải có đối thoại toàn cầu, bao gồm các chuyên gia và công chúng, để đạt sự đồng thuận về việc phải làm gì với các công nghệ gen".

John Evans, giáo sư xã hội học tại Đại học California (San Diego - Hoa Kỳ), người trong mấy chục năm qua đã theo dõi quá trình phát triển kỹ thuật chỉnh sửa gen người, cũng bị sốc bởi cái gọi là thành công của Hạ Kiến Khuê: "Điều quan trọng bây giờ là đang có những nhà khoa học cố tạo ra những con người được “siêu hóa” (siêu nhân), những người có thể truyền lại tính trạng của họ cho con cái mình. Nhưng một khi bạn có thể làm điều này với một gen, một ngày nào đó bạn sẽ có thể làm điều đó với bất kỳ gen nào". Chỉnh sửa gen người vì thế được ví như chiếc hộp Pandora* đầy kỳ bí, nhưng nếu mở nó ra, con người sẽ làm cho những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian.

Hóa ra, câu chuyện về những đứa trẻ biến đổi gen đang trở nên đúng như một câu ngạn ngữ phương Tây đã nói: "Mọi con đường dẫn đến địa ngục đều được lát bằng những thiện ý”.

* Chiếc hộp Pandora: Theo thần thoại Hy Lạp, đó là chiếc hộp mà nàng Pandora - người phụ nữ đầu tiên trên thế giới loài người - đã được thần Zeus trao cho và dặn kĩ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng do tò mò, Pandora đã mở chiếc hộp. Và tất cả những gì trong chiếc hộp kì bí đó đã khiến cho những điều bất hạnh tràn ngập khắp thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh… và chiếc hộp chỉ còn sót lại một chút "hy vọng" mang tên Pandora cho loài người để có thể tiếp tục sống (Wikipedia tiếng Việt).

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội

Cảm nhận về một bài thơ Haiku của Mai Trinh- Võ Khoa Châu

Thơ haiku, như chúng ta đều biết, là một thể thơ rất kiệm lời của đất nước Phù Tang. Nó chỉ có vỏn vẹn ba câu và ngữ lượng dưới mười bảy từ. Do đó cho nên, người làm thơ haiku phải nắm bắt được tinh hoa của mỗi chữ, phải chắc lọc từng từ sâu sắc.

alt

Thơ haiku mang tính triết lý, luận giải hoặc tỏ bày cảm xúc sau mỗi nhịp thơ. Ta có thể chiêm cảm bài thơ haiku sau đây của nhà thơ Mai Trinh Phan Thị Phượng Uyên, ở Bạc Liêu, hội viên CLB Thơ Haiku Việt:

Trắng muốt

Trên những cánh hoa đan

Hương cà phê dậy thì

Bài thơ mở đầu với hai từ “trắng muốt”. Cái gì trắng muốt? Sự bất ngờ được tác giả khơi gợi một cách có vẻ như đột ngột, ấn tượng về sắc màu, dẫn dắt chúng ta đi tìm ẩn ý phía sau đó. Ta thử “truy nghiệm” cái điều mà Mai Trinh muốn gửi gắm, tư duy về, hoặc muốn nói, muốn biểu đạt ý tưởng sâu xa trong tổng thể bài thơ gồm mười hai chữ nói trên, để xem thế nào.

Trắng muốt, sắc màu thị hiện đã chạm vào ánh mắt ngay từ cái nhìn đầu tiên của chủ thể khi bắt gặp. Màu tinh khiết tạo cảm xúc trên nền thi ca của xứ sở Mặt trời mọc, làm cho khách thể đồng cảm thi hứng.

Cái gì trắng muốt và trắng muốt ở đâu? Câu thơ thứ hai, tác giả còn giấu chủ ngữ của trắng muốt, hay có thể nói một cách khác, nhà thơ chỉ cho đọc giả thấy cái thuộc tính của sự vật muốn biểu cảm, và cái nơi trình hiện màu trinh bạch “trên những cánh hoa đan”, ấy thôi. Người đọc vẫn chưa biết đó là loại hoa gì. Tên một loài hoa vẫn còn bỏ ngõ. Chỉ với năm từ ngắn gọn “trên những cánh hoa đan”, nhưng nội hàm thơ thì không ngắn gọn. Câu thơ lung linh sắc màu mẫn cảm, và nâng tính vận động thi ca trong từ “đan”. Đan vào nhau, tựa bên nhau, cũng có thể hoa  chen giành nhau khoe sắc, dâng cho người niềm hy vọng ước mơ…Người cảm thấy yêu hoa, yêu đời, yêu cái mặn mà bên nhau trong cuộc sống. Bỗng lòng ta yêu cây lá kết hoa. Tha nhân cảm nhận hoa thơm, sinh tồn theo bốn mùa đổi thay trong lẻ vận hành của vũ trụ.

Cho đến câu cuối của bài haiku kiệm ngữ, nhà thơ mới bật mí “hương cà phê”. À, thỉ ra cái màu trắng muốt ấy, là màu của hoa cà phê trinh nguyên.

Từ “hương” rất là bình thường, nhưng cách sử dụng ở đây, nó làm thành một tầng đa ngữ nghĩa. Hương hoa/ hương sắc/ hương con gái/ mùi thơm da thịt. Và “hương cà phê dậy thì” còn nói lên thời điểm, tính thời gian của mùa cây trái cà phê trước khi kết hạt. Bài thơ là lời phát biểu một niềm tin yêu trong sáng, một hy vọng đẹp tươi từ những bàn tay siêng năng bón chăm cây trái vụ mùa

Nếu như biểu tượng của núi rừng Tây Bắc là hoa ban, hoa mận, thì hoa của Tây nguyên là hoa cà phê “trắng muốt” nở rộ tháng ba. Tác giả giấu cái “quý ngữ” (kigo), cái mùa/quý trong bài thơ, như là một thủ pháp xử dụng thơ Haiku trong yếu tố ”mùa”

Nói một cách khác, người đọc liên tưởng, hòa nhập vào cái “đang là” (être en train de…) trong thời gian tháng ba của bài thơ.

Thơ Haiku của Mai Trinh thường xuất hiện sắc màu – “Gié lục bình/ Tím ngát trên sông/ Chân trời xa vô định”. Tuy nhiên không phải trắng, xanh, đỏ, vàng, tím…mà đôi khi là biểu trưng. Có thể ai đó không đồng tình, nhưng với tôi, tám chữ ấn tượng “ Ôi mái tóc/ Vai trần/ Mây lạc lối” (M T), cũng là hiện hữu của sắc màu thi ca. Tác giả đã dùng thủ pháp tượng trưng về cảm thức mỹ quan trên các cặp phạm trù vừa đối lập, vừa tương đồng màu sắc, thị hiện qua mái tóc vai trần và mây.

Những điều ấy giúp ta mở thêm cánh cửa khám phá 12 từ chắc lọc trong bài thơ haiku “trắng muốt/Trên những cánh hoa đan/ Hương cà phê dậy thì của Mai Trinh Phan Thị Phượng Uyên.

Vạn Ninh, mùa xuân 2019

VKC

Bài nghiên cứu: Các ứng xử tùy nghi của Haijin Việt

Khi thể thơ Haikư của Nhật Bản xâm nhập vào làng thơ Việt, các nhà thơ Việt đã phải xử lý ngay nhiều quan điểm, có lẽ phải gọi là các cách hành xử ban đầu khi tiếp biến một nền văn hóa từ nước ngoài. Cổ nhân ta đã có các hành xử sáng suốt để chinh phục các thể Thơ chữ Hán ( từ Phương Bắc ) để hình thành dòng thơ Việt và Hán- Việt ; và rồi sau đó là các thể thơ chữ Pháp (từ Phương Tây) để hình thành dòng Thơ Mới. Phải chăng đây là lần tiếp biến thứ ba (từ Phương Đông) như nhà văn hóa Hữu Ngọc đã nói?

alt

Các tác giả Việt phải suy xét cách cư xử mềm dẻo với các “đặc điểm” của thể thơ Nhật bản này, ở đây chúng tôi dùng từ “tùy nghi”.

-Khi tiếp xúc ban đầu với Thơ Haikư, việc đầu tiên là phải ứng xử với cấu trúc 5-7-5 kinh điển của nó. Ta đã quá quen với cấu trúc chặt chẽ dựa vào số từ của câu thơ ( như Thơ Thất ngôn, thơ Ngũ ngôn , thơ Lục bát và Song thất Lục bát…). Tuân theo số từ của câu thơ là điều đầu tiên khi ứng dụng thể thơ đó. Nhưng ngay tại quê hương Nhật bản, ngoài trường phái cấu trúc 5-7-5 ( được bảo vệ rất cuồng nhiệt) lại đã tồn tại các xu thế cách tân( cũng rất mạnh mẽ) không theo cấu trúc đó. Khi tràn ra thế giới rất nhanh ( có lẽ vì các ưu thế : cực ngắn và rất tự do), Thơ Haikư ở các ngôn ngữ phương Tây đa âm ( polysyllabic) cũng trải qua giai đoạn ban đầu là tôn trọng cấu trúc 5-7-5. Họ làm việc này không khó khăn, vì cùng là tiếng đa âm : Chỉ cần có số âm (syllable - 音 – tiếng Nhật đọc là “on”) đúng theo cấu trúc này. Như vậy số từ (mot/ word) không lớn ( một từ thường gồm nhiều âm) và đặc điểm cực ngắn vẫn giữ được. Ta có thể đếm đủ 17 âm tiết trong các câu thơ Âu-Mỹ sau , tác giả bài này đã cố ý dịch sang tiếng Việt theo cấu trúc 5-7-5:

I am nobody:
A red sinking autumn sun
Took my name away.

Tôi chẳng phải là ai:

Mặt trời Thu đỏ hồng chìm xuống

Mang tên tôi đi rồi.

( Richard Wright
From "Haiku: This Other World", 1998 - Từ : “ Haiku, một thế giới khác”)

Si un jour tu vois
Qu'une pierre te sourit,
Iras-tu le dire ?

Nếu một ngày bạn thấy
Một tảng đá mỉm cười với bạn,
Bạn nói gì với đá ?

(Eugène Guillevic (1907-1997)
[Haiku] Terebess Asia Online (TAO) - http://terebess.hu/english/haiku/guillevic.html )

Nhưng các nhà thơ Âu Mỹ và Thế giới vốn yêu tự do và không thích sự trói buộc của số từ cố định, họ đã không theo cấu trúc đó:

Trong một ga xe điện ngầm

Sự xuất hiện của các khuôn mặt trong đám đông

Những cánh hoa trên cành cây đen, ướt

In a Station of the Metro
The apparition of these faces in the crowd;
Petals on a wet, black bough.

(Ezra Pound (in 1913 trong tạp chí Poetry )

Chiếc lá lưỡng lự

Lướt giữa những cây hoa súng

Rồi đứng yên



La feuille indécise
glisse entre les nénuphars
et s'immobilise

(Philippe Caquant– Des Haikus en francais- http://www.tempslibres.org/tl/en/textes/essai13.html )

Các Haijin Việt ban đầu cũng cố gắng theo cấu trúc 5-7-5 với 17 âm tiết, mặc dầu tiếng Việt là tiếng đơn âm, mỗi âm là một từ . Họ thấy ngay là cấu trúc này khiên cưỡng, có nguy cơ phải cố tình tạo ra đủ số từ và phải chấp nhận các phụ từ và hư từ , vốn là điều úy kỵ trong thơ Haikư- Đây là câu thơ khiên cưỡng ban đầu:

Vòi phun trong công viên

Bao nhiêu hạt bụi nước bay lên

Mát mẻ chiều nắng hạ

( Nghiêm Xuân Đức - 1998)

Tác giả đã tự sửa thành các câu thơ xúc tích và ngắn gọn hơn:

Vòi phun công viên

Bụi nước bay lên

Mát chiều nắng hạ

(Nghiêm Xuân Đức – sau 2000)

Như vậy tùy nghi đầu tiên của các Haijin Việt là : Có thể chấp nhận cấu trúc 5-7-5 khi cần thiết và hợp lý ; hoặc không theo cấu trúc đó khi muốn làm cho câu thơ rất ngắn, xúc tích và loại bỏ bớt các tính từ, trạng từ.

-Tùy nghi tiếp theo là vấn đề Qúy ngữ ( Kigo), trong tiếng Nhật là các từ chỉ mùa. Điều này xuất phát từ Haikư Nhật cổ điển vốn có chủ đề thịnh hành về thiên nhiên. Nước Nhật có 4 mùa, vậy phải có các từ gợi đến mùa, và họ có cả cuốn “từ điển” để tra cứu các Kigo. Khi lan ra thế giới, có các quốc gia không có 4 mùa và các sự vật/ hiện tượng trong các mùa cũng khác nhau. Việt Nam không có băng tuyết , vậy băng tuyết không gợi lên mùa Đông. Người Mỹ nói hoa Cúc không tượng trưng cho mùa thu, vì họ đã trồng được hoa Cúc trong cả 4 mùa từ lâu rồi.Thơ Haikư hiện đại không chỉ nói về thiên nhiên, các tứ thơ của nó đề cập đủ chuyện, như vậy Kigo không có vai trò gì trong các tứ thơ đa dạng đó. Các Haijin Việt đã coi Qúy ngữ là “ tùy nghi ” thứ hai : Có quý ngữ khi nói về thiên nhiên (lúc ấy quý ngữ sẽ tự nhiên xuất hiện), và tất nhiên không thể có quý ngữ khi nói về các chủ đề hiện đại, đa dạng khác.

-Tùy nghi thứ ba là vấn đề vần. Thơ Haikư không có vần hoặc không quan tâm đến vần. Nhưng thơ Việt thường có vần ( và một số ít không vần hoặc gieo vần không chặt chẽ ). Người Việt quen dùng ngôn ngữ có vần ( như trong ca dao, tục ngữ và cả khi không làm thơ họ cũng nói có vần) . Nhiều người Việt quan niệm : thơ là có vần , để phân biệt với văn xuôi là không vần. Do đó , để cho thơ Haikư dễ quen thuộc với tâm hồn Việt hơn, nhiều Haijin Việt đã làm thơ Haikư có vần. Một số người vẫn viết các câu thơ Haikư không vần, đó là tự do của họ. Biểu hiện “vần” của người Việt rất đa dạng, phong phú: Vần lưng (có lẽ Thơ Việt là kiểu thi ca duy nhất có vần lưng), vần chân ( vần liền, vần cách). Mọi cách gieo vần đều được các Haijin Việt sử dụng, nhưng mọi nhà thơ Haikư Việt đều tùy nghi sử dụng kiểu thơ có vần hoặc không vần.

-Tùy nghi thứ tư là vấn đề “cực ngắn”, hạn chế số từ. Các Haijin Việt nghĩ rằng con số 17 là số âm tiêt ( tiếng Nhật là “on” : âm), không phải là số từ. Thơ Haikư Nhật gồm 17 âm, nhưng tiếng Nhật đa âm, mỗi từ có nhiều âm. Vậy tổng số từ cho một khổ thơ Haikư Nhật sẽ nhỏ hơn 17, thường chỉ gồm vài từ. Để cấu trúc cực ngắn, thơ Haikư thường không chuộng các hư từ ( tính từ, trạng từ, giới từ, liên từ…). Hậu quả tất nhiên là thơ Haikư có vẻ khô khan, trơ trụi như chiếc cành cây khô, lá khô… thường có trong nghệ thuật cắm hoa Ikebana của người Nhật. Điều này cũng thường thấy trong các tứ thơ Thiền- Nhiều nhà thơ Haikư cổ điển của Nhật là các Thiền sư, kể cả Basô. Nhưng một đặc trưng nổi trội của thi ca Việt lại là tính trữ tinh ( lyrism); khó tìm thấy các bài thơ Việt không trữ tình ( cũng như khó tìm thấy các bài thơ của các Thiền sư lại trữ tình !). Thơ trữ tình thường ướt át, màu mè, hoa lá và dùng nhiều tính từ. Tùy nghi này có nghĩa là để bảo vệ tính trữ tình, các Haijin Việt không triệt để chống lại các tính từ, đặc biệt trong các tứ thơ trữ tình. Họ vẫn tích cực loại bỏ các hư từ để cho câu thơ ngắn gọn, nhưng vẫn sử dụng khéo léo các loại từ này nhằm làm cho câu thơ mềm mại lung linh thấm đẫm tình cảm của hồn thơ Việt.

Ta hãy xem câu thơ trữ tình rất nổi tiếng sau đây:

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi….

Ta thử “ Haikư hóa” nó theo cách loại bỏ các hư từ và xếp thành 3 dòng:

Cô tát nước

Sao múc trăng

Đổ đi…

Tính trữ tình hầu như đã biến mất ! Tính “thơ” cũng giảm mạnh.

-Tùy nghi thứ năm là cách trình bày thơ Haikư Việt thành 3 dòng ( xuống dòng) hoặc 1 dòng ( với dấu gạch chéo / ). Điều này xuất phát từ cách trình bày thơ của thế giới : Câu thơ được trình bày theo cách xuống dòng, để phân biệt với cách trình bày văn xuôi thành các dòng liên tục (gần đây cách làm này ít nhiều bị rối loạn do lối “thơ văn xuôi“ không xuống dòng và cách xuống dòng tự do của kiểu thơ “leo thang” bắt đầu từ nhà thơ Nga Maiakốpsky) . Thơ thế giới phải làm như vậy, vì thơ Haikư Nhật vốn được trình bày theo các dòng dọc, viết từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Họ không xuống dòng mà ngăn cách bằng các từ ngắt Kire-ji ( Tổ tiên ta học chữ Hán cũng phải viết dọc như thế và cũng phải dùng các từ ngắt Chi, Hồ, Giả, Dã …), vì chữ Hán cũng không có các dấu chấm, phảy . Khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây, người Nhật cũng trình bày thơ Haikư thành các dòng chữ ngang, họ không xuống dòng mà dùng các từ ngắt Kire-ji cho các câu thơ bằng tiếng Nhật ( hoặc có tác giả hiện đại không dùng từ ngắt). Nhưng khi dịch sang các tiếng Âu- Mỹ, họ trình bày theo hai cách: Hoặc trình bày thành ba dòng ( xuống dòng như quy ước về cách trình bày thơ), hoặc sử dụng các dấu gạch chéo /để viết trên cùng một dòng ngang. Như vậy có 2 cách trình bày : 3 dòng hoặc 1 dòng.

Thí dụ : Đây là câu thơ được giải nhất trong kỳ thi thơ Haikư của Hội thơ Haikư quốc tế WHA công bố 10-10-2017: Tiếng Nhật được trình bày thành 1 dòng ngang, nhưng khi dịch sang tiếng Anh lại trình bày xuống dòng thành 3 dòng:

鍵を開けわたしでは無くなって来る昼 呼吸(日本)

Unlocking

I cease to be me

the noon     Kokyu (Japan)

第1位/The 1st Place The 2ns WHA Haiku Contest Results

2017年9月10日/10 September 2017

(Nghiêm Xuân Đức dịch : (trình bày thành 3 dòng)

Khi không bị khóa

tôi ngừng là tôi

lúc buổi trưa)

寒雷やびりりびりりと真夜の玻璃 [Kato Shuton]
Kanrai / biriri biriri to / shinya no hari
Sấm lạnh
răng rắc
kính vỡ giữa đêm

( TÍNH XÃ HỘI CỦA THƠ HAIKU - Lê Thị Bình – Nội san Haikư 7 – tháng 4 – 2017)

Các tác giả Âu- Mỹ chủ yếu trình bày thơ Haikư thành ba dòng :

www.maferme.com

le fermier a ouvert un site

3 visites par an

www.nôngtrangtôi.com

bác nông dân mở mạng

một năm 3 người thăm

(JEAN ANTONINI (1946-) Pháp- Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế giới WHA- Đinh Nhật Hạnh dịch và giới thiệu )

Có lúc các tác giả quốc tế lại viết thành 1 dòng với các gạch chéo / , nhất là khi trích dẫn :

Remembering those gone / thankful to be here / the pond of purple iris

Tưởng nhớ những người đã khuất / biết ơn khi được ở đây / cái ao đày hoa diên vĩ tím

Margaret Chula

( Tinh thần Haikư – Patricia Donegan – Lê Văn Truyền dịch – Chuyên san CLB Haikư Việt – tháng 4 – 2017).

Ta thấy các Haijin Việt đã ứng xử tùy nghi với cách trình bày thơ Haikư Việt : Thông thường ( nhất là với thơ sáng tác và thơ dịch) thì viết thành ba dòng. Khi trích dẫn (nhất là trích dẫn từ nguyên văn tiếng Nhật hoặc tiếng Âu-Mỹ) thì có thể viết thành một dòng, với các dấu gạch chéo / .

-Và tùy nghi thứ sáu là vấn đề tiêu đề. Các Haijin Nhật và thế giới gần như thống nhất chặt chẽ rằng thơ Haikư không có tiêu đề ( họ không cho phép cả việc đánh số hoặc dùng từ đầu tiên để đại diện cho bài thơ Haikư). Hãy để cho mọi người suy nghĩ và thụ cảm tự do về các bài thơ Haikư, đặt tiêu đề là đã hướng dẫn hoặc gợi ý cho độc giả. Vậy thì tùy nghi ở đây là gì ? Vấn đề là : Trên thế giới và ở Việt Nam đã xuất hiện dạng thơ Haikư gồm nhiều khổ thơ, có chung chủ đề / nội dung. Có cả những tập thơ dài, với nhiều khổ thơ Haikư nối nhau. Lúc ấy, nhu cầu đặt tên cho bài thơ/ tập thơ ấy sẽ xuất hiện. Ta hãy xem các thí dụ :

The Locust Tree in Flower

Among

of

green


stiff

old

bright


broken

branch

come


white

sweet

May again


Cây bồ kết gai ra hoa

Trong

màu

xanh


cứng rắn

cổ xưa

chói lọi


của cái cành

đã gãy

bỗng lại xuất hiện


Tháng Năm

trắng trong

ngọt ngào


(William Carlos Williams -( 1983-1963- Giải thưởng Pulitzer 1963 -Tập thơ : The Red Wheelbarrow ( Xe cút kít đỏ) - Terebess Asia Online (TAO)

Tập thơ : Cent visions de guerre

Ma tête à peine rentrée,

Un moustique siffle et soudain
La crête de terre s’éboule.

.



Des croix de bois blanc
Surgissent du sol,
Chaque jour, ça et là.




Dans les vertebres
Du cheval mal enfoui
Mon pied fait: floche…

Tập thơ : Trăm tầm nhìn chiến tranh

Tôi hồi tỉnh khó khăn

Muỗi vo ve và bỗng nhiên

Cái gờ đất sụp xuống


Các cây thập tự bằng gỗ trắng

Mọc lên trên mặt đất

Đây đó hàng ngày


Giữa các đốt sống

Của con ngựa chôn sơ sài

Chân tôi rối beng









(Julien Vocance – Tập thơ : Cent visions de guerre ( Trăm tầm nhìn chiến tranh)– 1917- http://www.modernhaiku.org/essays/frenchhaiku.html

Nghiêm Xuân Đức sưu tầm, dịch và giới thiệu )

Các Haijin Việt cũng có nhiều người đã thử nghiệm xu thế sáng tác thơ Haikư nhiều khổ liên tiếp thành bài thơ dài và có chủ đề chung. Sau đây là một thử nghiệm của Nghiêm Xuân Đức.

Mưa ngâu- Sông Ngân

Tháng Bảy

Sông Ngân cá quãy

Cầu Ô Thước ngang trời


Một cây cầu thôi

Trời cho hai người

Còn bao đôi khác


Giọt mưa rơi trên sông

Hòa vào vô cùng

Số phận chung


Mưa lê thê

Buồn về hiu hắt

Quay quắt nhớ hè


Hơi mưa mát lạnh

Nỗi lo xa xôi

Heo may đến rồi


Giọt mưa in bàu trời

Cầu vồng lóng lánh

Dĩ vãng xa vời


Mưa ướt bước người đi

Tiếng bước chân thầm thì

Một đời lầm lũi


Cây cầu mong ước

Sang cầu có là giải thoát

Thiên đường mơ hồ


Chim én bắc cầu

Vì đâu vội vã

Một lần gặp nhau


Hương sắc tàn phai

Tình người hờ hững

Bao cuộc chia tay


Hợp tan- ly biệt

Mưa Ngâu- sông Ngân

Nỗi buồn nhân gian...

Nhiều tác giả không đồng ý với cách làm trên, họ cho rằng Thơ Haikư chỉ có 1 khổ 3 dòng – Nếu ghép nhiều khổ thơ 3 dòng , có tứ thơ (nội dung) chung, đặt tên thành bài thơ/ tập thơ thì đó là Thể thơ 3 dòng, không còn là Thơ Haikư nữa.

Trên đây là tường thuật sáu ứng xử tùy nghi của những người làm thơ Haikư Việt, với hy vọng thể thơ này sẽ góp phần làm phong phú thêm cho hồn thơ Việt. Các tùy nghi này có làm gần lại được sự khác nhau rõ ràng giữa hai nền thi ca ?

Nghiêm Xuân Đức

(Chủ nhiệm CLB Thơ Hải Thượng của các nhà thơ Y tế)

Neo mình lên khói bếp- Lưu Minh Hải

Với thơ, tôi có đam mê mà không duyên nợ nên chỉ là một khách lãng du. Vừa rồi, cũng chỉ một lần cưỡi ngựa xem hoa ghé thăm vườn hoa thơ Hai kư Việt để rồi tôi không thể không dừng lại ngẫm nghĩ một vài điều. Cuộc thi thơ hai kư mà Hai kư Việt tổ chức năm nay vừa khép lại, trong số những bài thơ đạt giải, đây là tác phẩm làm tôi ấn tượng nhất:

Người đàn bà

neo mình lên khói bếp

đêm xuân.

Tác giả: Phan Phượng Uyên (Fb: Mai Trinh)

alt

Xin mạn phép nhà thơ Phan Phượng Uyên được đem sự hạn hẹp của mình vẩy bút mà bình đôi lời:

Trong nền văn hóa truyền thống phương đông, hình ảnh người đàn bà gắn liền với công việc bếp núc trong gia đình có thể nói đó là điều vốn dĩ đã thấm sâu vào trong tâm thức, trong nếp suy nghĩ của mỗi người. Tuy bây giờ xã hội có hiện đại, đông – tây hội nhập nhưng hình ảnh người đàn bà Á đông cũng không bao giờ có thể rời xa được trong mối quan hệ với hình ảnh bếp núc của gia đình mình. Từ hiện thực, thực tế cuộc sống đó tác giả Phượng Uyên đã có một tác phẩm hai kư rất hay, tuyệt hay từ cách dùng hình ảnh đến ngôn ngữ. Tại sao ở đây tác giả không dùng hình ảnh gian bếp, góc bếp, gác bếp, thậm chí có thể là xó bếp,... hay một từ gần nghĩa, tương đương về nghĩa nào khác mà phải là “khói bếp”? Có lẽ bởi vì các từ ấy chỉ mang nghĩa hiện thực về không gian, có vẻ cố định và có phần tù túng sẽ không làm nổi bật được giá trị bài thơ. Khác với những từ trên, “khói bếp” vừa mang ý nghĩa về không gian nhưng không gian ở đây đã thoát ra khỏi cái phạm vi hiện thực hạn hẹp mà vươn tới với sự mơ hồ, huyễn hoặc,...nên đã làm thăng hoa vẻ đẹp lãng mạn cho bài thơ. Điều đặc biệt nữa, yếu tố rất quan trọng để làm nên giá trị bài thơ phải nói đó là cách dùng ngôn ngữ của tác giả qua từ “neo” mà không phải là một từ ngữ nào khác. “Neo” - nếu là động từ có nghĩa là gắn chặt vào, bám chặt vào,...ở đây có thể hiểu cũng như "người đàn bà" luôn gắn chặt với công việc bếp núc vậy. Nhưng có lẽ nên suy ngẫm về "neo" với ý sâu xa hơn về nghĩa tính từ của nó. Phải chăng đó cũng là sự vất vả và cô đơn,... (neo đơn, gieo neo,...) của "người đàn bà" mà không phải ai cũng có thể hiểu, có thể cảm thông và chia sẻ? Tôi xin dám chắc rằng không phải người đàn ông, người chồng nào cũng có thể hiểu hết để cảm thông và san sẻ về những công việc bếp núc, việc nhà cửa của mẹ, của vợ mình.

Hình ảnh cuối của bài thơ cũng mang nhiều ý nghĩa cho người đọc thỏa sức suy ngẫm – “đêm xuân”. Không gian “khói bếp” phải đi với thời gian “đêm” thì mới tạo nên được cảm giác ảo huyền, mơ hồ, lãng mạn một cách trọn vẹn. “Đêm” phải chăng còn mang ý nghĩa đóng lại, như vòng tròn số phận? Nếu để nói về quý ngữ của bài thơ theo quy tắc hai kư truyền thống thì "xuân" chỉ là một danh từ chỉ mùa. “Xuân” ở đây không chỉ đơn thuần dừng lại ở cái nghĩa tường minh đó mà còn mang ý nghĩa sâu xa hơn đó là tuổi xuân. Người đàn bà đã dành trọn hết cả thanh xuân của mình trong cái vòng tròn số phận với công việc bếp núc, gia đình đó chăng? Không phải là một đêm đông lạnh lẽo mà là một "đêm xuân" nỗi niềm. Nỗi niềm suy tư của "người đàn bà" đang lửng lơ theo làn khói bếp của riêng mình. Đó có thể là sự cam phận mà cũng có thể là hạnh phúc trong tâm thức của người phụ nữ Á đông.

Là một người phụ nữ, tác giả Phan Phượng Uyên đã thổi cả tâm tư, hồn phách vào bài thơ của mình để làm nên một viên ngọc hai kư có thể nói là toàn bích. Cái hay của bài thơ được đan cài, hòa quyện giữa hiện thực và lãng mạn; tĩnh lặng trong ngôn ngữ mà lay động trong suy nghĩ, trong tâm tư, tâm hồn người đọc. Phải chăng đó cũng là một nét độc đáo vốn có trong cái thể thơ kiệm lời mà rất đa nghĩa đến từ xứ sở Phù Tang này?

LMH

(Nhóm Hai kư làng Cao Lao Hạ, Hạ Trạch – Bố Trạch – Quảng Bình)

Tổng kết cuộc thi Haiku Việt lần 2 Hải Phòng 2018- Đinh Nhật Hạnh

Kính thưa quý vị Đại biểu, các nhà thơ Đất Cảng, các nhà thơ Haikư đến từ nhiều vùng miền đất nước chung niềm đam mê thể thơ ngắn nhất, thịnh hành nhất trên thế giới-Haikư. Điều đầu tiên xin thay mặt Ban Giám khảo và những bạn thơ Haikư dự thi cả nước trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành đến ông Nguyễn Thanh Bình- Giám đốc Cung Văn hóa LĐHN Việt-Tiệp Tp Hải Phòng và PGĐ Vũ Thanh Sơn đã quyết định 2 năm liền tổ chức 2 Cuộc thi có tầm vóc và ý nghĩa lịch sử này.

alt

Chính tại đây,trên Hội trường ấm cúng này, chúng tôi đã 3 lần được vinh dự báo cáo trước quý vị tiến trình phát triển của thể thơ Haikư ở Việt Nam và kết quả tốt đẹp của những cuộc thi. Chính tại Hải Phòng, Cung Văn hóa Việt-Tiệp đã mở đường bay cho nền HKV cả nước sau 10 năm thành lập nhờ chủ trương đầy thiện chí của Ban Giám đốc. Nhà thơ Minh Trí- Hội viên Hiệp Hội Haiku Thế Giới, Thường trực Website haikuviet.com đã có sáng kiến đề xuất, góp phần tích cực tổ chức những cuộc thi này. Thật vui mừng, năm nay các thí sinh đã đồng nhất về Thể thơ 3 dòng- độ dài không quá 17 từ- giống như thể thức quốc tế quy định của Hiệp Hội haikư Thế giới (WHA) và của Quỹ Văn hóa Hàng không Nhật Bản (JAL Foundation) áp dụng từ hàng chục năm nay trên thế giới.

Không chỉ thuần nhất thu hẹp trong thiên nhiên như Haikư cổ điển Nhật Bản, các bài dự thi năm nay đã mở rộng cánh cửa Haikư ra thế giới đương đại, viết về Thiên nhiên, Thế sự, Tự sự, Tình yêu theo hướng Haikư- MởOpen haiku” của Việt Nam do Đại biểu HKV-HN trình bày tại diễn đàn Haikư quốc tế lần thứ 8 tại Tokyo (NB) năm 2015, trong khi vẫn tôn trọng những trụ cột cơ bản của phạm trù mỹ học Haikư cổ điển Nhật Bản: Giản đạm-Tịch tĩnh-Bi cảm (Wabi-Sabi-Aware)

PHẦN MỘT

Xin mời thưởng thức một số trong 100 bài xuất sắc đã vào chung khảo năm nay:

THIÊN NHIÊN

1-Ánh trăng

như trẻ nhỏ

nằm trên chiếc chiếu mây

Đặng Thái Quý

2-Một, ngước lên trời

một, nhìn xuống đất

tôi và trăng

Nguyễn ngọc Hưng

3-Võng mây

gà gật

vầng trăng

Nguyễn Hoàng Lâm

4 -Bóng đêm

thắp sáng

những vì sao

Phạm Thảo Xuân

5-Con đê

trườn dài

nỗi nhớ

Trần Huy Hoàng

6-Hạt mưa xuân

rơi dần

thời con gái

Trần Duy Hạnh

7-Sóng đêm, biển tối đen

trăng tình trong lọ mực

tim ta thắp đèn

Thanh Phương

8-Một nắng,một gió

miền Trung

cong đòn gánh

Đinh Nguyễn

TÌNH YÊU

9-Ngọn gió

trần như nhộng

Khuất sau đêm

Phan Phượng Uyên

10-Hoàng hôn rụng chân đê

dòng sông sóng sánh

nụ hôn mềm chân quê

Nguyễn Vĩnh Bảo

11-Tháng bảy

em tự đốt cháy mình

hóa cô đơn vào anh

Phạm Phương Thảo

12-Có điều gì trắc ẩn

đôi mắt em nhiều dấu hỏi

hay là em đã thu

Phạm Kim Phượng

13-Môi thiếu nữ

dậy mùi trai

Đàn bà

Lê mộng Hoàng

THẾ SỰ

14-Thấy

như không thấy-

Đi

Nguyễn Điểm

15-Lá rơi

chị quét

nỗi đời

Nguyễn Hoàng Lâm

16-Bức ảnh chung

cuộc đời riêng

tình cạn

Thái Văn Lợi

17-Lạnh cóng bùn non

tay thon

nhành mạ run thẳng lối

Mai Hương

18-Mưa, anh nào hay

ngỡ là nước mắt

rơi đầy trong em

Ngô thị Hạnh

19-Đời tôi héo úa

bởi ánh mắt em

Bắt đền

Đỗ thị Hồng Loan

20 –Thẳm sâu lòng biển

Mảnh trăng khuya

trằn trọc mắt người

Nguyễn Bá Hòa

21 -Nắng, gió

mồ hôi

vương trên hạt gạo

Trần thị Diễm My

22–Không là sóng

không là gió

bão tố trong lòng

Phạm thị Mỹ Liên

23-Một ngày không xa

nếu không còn Biển

Nghĩ mà đuốt đa

Đỗ Tuyết Loan

24-Người đàn bà ế khách bên đường

nuốt vô thường ở lại

xin làm gái một đêm

Vũ Hiền Sĩ

TỰ SỰ

25-Bức ảnh chung

cuộc đời riêng

tình cạn

Thái văn Lợi

26-Cha ngồi khói vương nếp trán

Đêm dài

tụt nõ thời gian

Phạm Thảo Hiền

27-Nhớ

có khi thành lơ ngơ

lơ ngơ thành không quên

Trần Ngọc Vui

28–Lạnh cóng bùn non

tay thon

nhánh mạ run thẳng lối

Mai Hương

29–Chiều hôm cú rúc

gió xé trang thôn

khóc một người

Lê Mộng Hoàng

30-Xa rồi mẹ cha

quê nhà nắng tắt

Về đâu ta

Trần Trung

31-Hàng đã bán xong

em gánh phận em về xóm trọ

Ánh đèn đường hắt hiu

Nguyễn Khánh

PHẦN HAI: VỀ NHỮNG BÀI THƠ ĐƯỢC GIẢI

Cuộc Thi Haikư Việt-Hải Phòng II- 2018

Xin kính mời quý vị bạn đọc cùng dự “Hội Hoa Thơ Haikư Việt-Hải Phòng năm thứ II”. Hàng ngàn bông muôn hồng ngàn tía từ nhiều miền quê đất nước ,từ Tp Bạc Liêu xa xôi cực Nam đến Lạng Sơn trập trùng biên giới phía Bắc; rồi tận Pháp, Anh Quốc, Ănggola… hội về. 363 chùm thơ gồm hơn 1.500 bài từ 180 tác giả đủ lứa tuổi, trong đó có nhiều nhà thơ trữ tình thuộc các Hội nhà Văn T/Ư và địa phương. Ban Chấm thi đã rất vất vả khi cân nhắc 100 bài vào chung khảo. Đề tài tự do vốn dễ tung tẩy cho người dự thi nhưng quá khó cho người định điểm. Có nhiều câu thơ hay đến bất ngờ, chỉ tiếc không đủ giải! Rất mong thông cảm cho ước lệ thứ bậc cao thấp trong các cuộc thi luôn chỉ là tương đối và xin trân trọng mời cùng thưởng thức những tác phẩm sau đây :

Về biển đảo, quả thật sáng tác về đề tài này thật khó mặc dù ai làm thơ cũng luôn quan tâm và không ít lần trăn trở .Tế nhị quá, rộng lớn quá! Hải Phòng là cửa biển tiền tiêu trọng yếu của đất nước. Nhà thơ Nguyễn thị Kim đã viết:

Biển đảo mặn mòi

giữ yên vùng trời

cồn cào đất Mẹ”

Tấm lòng Mẹ Tổ Quốc bao la ,luôn lo âu,phù hộ cho các con ngày đêm vững tay súng canh giữ vùng trời ,vùng biển thiêng liêng của đất nước.

Viết về Mẹ,nhà thư pháp kỳ cựu Sài Gòn ,Thiện Niệm mấy năm trước về thăm mẹ quê xa đang tuổi đời hiu hắt, đã trách oan con phà ọc ạch thời ấy đi sao quá chậm,liệu còn kịp cầm tay Mẹ trối trăng:

Mưa trắng đường về

thăm Mẹ quê xa

phà ơi,chậm thế!

Bà con Đất Cảng không ai khỏi xúc động mỗi khi đi qua 6 hàng cọc cầu cũ nơi Bến tàu không số năm xưa, đến nay hoa dâng tưởng niệm vẫn ngày ngày thả trôi nhớ về thủa ấy. Phan Dũng đã viết:

Sáu hàng cọc cầu cũ

117 liệt sỹ

hoa trôi dưới chân kỳ đài

Chiến tranh tiếp chiến tranh,những thế lực đen tối cực đoan đang khuấy động hòa bình thế giới!Vậy phải làm sao đây?Quyết không thể ngồi im khóc than mà kêu trời khấn Phật!Nước mắt chúng sinh dẫu thành biển cũng tưới sao tắt nổi ngọn lửa hủy diệt đang lộng hành này! Nhà thơ Nha Trang, Kiều Lam đã thốt lên :

Nước mắt nhân loại

tưới không tắt

ngọn lửa”

Hoài niệm tuyệt đẹp về tuổi thơ,Kim Phượng viết:

Đêm trăng tỏa dịu êm

tiếng dế sâu như nỗi nhớ

đưa ta về tuổi thơ “

Và Đinh Nguyễn cụ thể hơn :

-Sợi rơm vàng tuổi thơ

buộc giấc mơ

cổ tích “

Nhà thơ Phùng Gia Viên ca ngợi thiên nhiên kỳ diệu:

-Hạt sương

tinh khiết

lăn thành ban mai

Ta cầu mong cho thiên nhiên thời đại 4.0 này may còn giữ nổi một giọt sương tinh khiết!

Một bài thơ của tác giả Phan Phượng Uyên (Bạc Liêu) gợi trong ta nhiều trăn trở:

- Người đàn bà

neo mình lên khói bếp

Đêm xuân

Không cụ thể là ai mà khái quát,bao gồm cả một nửa nhân loại-đàn bà.Không trừ ai –kể cả các Nữ danh nhân dù quyền cao,chức trọng mấy cũng làm sao không buộc chặt ít nhiều với bếp núc ,với thiên chức cao cả bất biến, nặng nề :Làm Vợ,làm Mẹ của mình!”Neo mình trên khói bếp”,ngay trong đêm xuân rạo rực.Tứ thơ sâu sắc ,trữ tình sao!

Nuối tiếc thời gian vô vọng là tâm lý bâng khuâng đương nhiên của mọi kiếp người trong khung đời bách tuế, may mà kho kỷ niệm buồn vui vẫn gia tăng theo cấp số cộng ,thi thoảng lại ùa về,tác giả Phạm thị Tuấn Anh viết:

-Kỷ niệm xưa ùa về

chỉ thời gian

không thể

TS Lưu Đức Hải đã khéo ẩn dụ ,nhận xét tình trạng một bông lúa qua 2 thời kỳ sinh trưởng khác nhau ví như người con gái phởn phơ tuổi xuân bay nhảy lại âm thầm khép mình khi đã như chim vào lồng với thiên chức định mệnh;suy rộng ra còn liên tưởng đến còn thanh xuân thì phơi phới tương lai,đã về chiều rồi thường lắng đọng,thu mình tri kỷ tri bỉ của người thức giả. Hãy lắng nghe:

-Bông lúa ngẩng mặt

lúc còn xanh

cúi đầu khi đã chín

Hình như thoảng nghe một lời tự sự tiếc nuối mơ hồ mà xa xót…

Tác giả Thúy Vinh đã hồ hởi đón chào ngày mới qua tia nắng đầu tiên vô thanh gõ cửa:

-Mở chân trời mới

tia nắng đầu tiên

gõ cửa ngày lên

Và để kết thúc phần giới thiệu tổng kết này,xin giới thiệu bài thơ đẹp về nỗi nhớ bồi hồi đêm trăng mà trong mỗi cuộc đời ai chẳng có… một lần-của nhà thơ Haikư trẻ Nguyễn thị Phương Anh:

-Lá trăng

đan vòm nhớ

bồi hồi đêm…

Thưa các bạn,hơn 1.500 tác phẩm tuyển chọn công phu của 180 tác giả bốn phương gửi gắm bao hi vọng-chúng tôi tự thấy mình chưa đủ thời gian,chưa đủ trình độ thẩm định thấu đáo chất lượng ẩn,mờ cấu thành giá trị của từng bài.Thấu đạt cái uẩn xúc,cái thần của một bài thơ trữ tình mà ngôn từ phong phú thường đã rõ, vẫn chưa dễ gì nắm bắt;huống chi còn tính mờ,tính ảo,dư vị trong dăm từ cô đọng của thơ Haikư quả là không chút dễ dàng khi thẩm định- dẫu chỉ một khúc Haikư.Một khúc Haikư nghiêm thuần chỉ vỏn vẹn trong khoảng 5-17 từ , như một công án chỉ đặc dụng danh từ ,thứ đến động từ khi diễn tả..Hầu như hạn chế tối đa hình dung từ,phó từ,hư từ phù phiếm…Một khúc Haikư hay ,khi thưởng thức,dù đặc sắc mấy cũng khó được đồng thuận bởi cái Thần của nó –cái dư vị của nó mà mỗi người luôn khác biệt về cảm nhận sâu nông,thật tự do,phóng khoáng như làn hương bay,gió thoảng…

Thưa các vị đại biểu,thưa các bạn thơ quý mến.Xin đa tạ đã lắng nghe.Và xin hẹn nhiều lần tái ngộ tại đây để cùng thưởng thức những bông hoa lạ thuần Việt, mang dáng dấp và sắc hương quê kiểng đậm đà.Một cuộc thi Haikư Việt mới quy mô hơn đang hình thành nhờ cái đà đầy xung lực khởi nguồn từ đây –địa danh văn vật từng sản sinh ra thiên tài âm nhạc Văn Cao…Xin trân trọng kính mời cùng nhập cuộc vui đầy trí tụê-Cuộc Thi Thơ Haikư Việt-Hà Nội lần thứ I sang năm Kỷ Hợi sắp mở màn!

Trân trọng.

Hải Phòng ngày 15/12/2018

TM Ban Giám khảo Cuộc Thi Haikư Việt-Hải Phòng lần thứ II-2018

Trưởng ban giám khảo

Đinh Nhật Hạnh

Cái mạnh của kẻ yếu- Lê Văn Truyền

alt

trời nổi cơn giông

chú bọ ngựa

nghếch đầu đón gió

Lê Văn Truyền

Khi ta lâm vào thế yếu, dù bất cứ vì lý do gì, có lẽ cách duy nhất đúng để có thể vượt qua là dám đối diện với nó, không né tránh, đừng tự đánh lừa, đừng thỏa hiệp và không nên nghĩ trước tiên đến việc nhờ cậy người khác … Với thời gian, trải qua nhiều thử thách ta sẽ tích lũy được một thứ vô giá – đó là sức mạnh tinh thần. Cũng có thể có lúc ta mất trắng, thất bại nhưng sức mạnh tinh thần giúp cho ta được là chính ta. Đó là thành quả ngọt ngào và quí giá nhất mà ta được thủ đắc sau mỗi cơn giông bão trong cuộc đời đầy bất trắc và vô nhân này.

Khi quan sát các giới tự nhiên, ta có thể thấy được các phương thức tự vệ hết sức phong phú của các loài sinh vật vốn rất nhỏ bé, yếu ớt. Đó là kết quả kỳ diệu của tạo hóa và của quá trình tiến hóa của muôn loài để đến hôm nay nhân loại được thừa hưởng một “gia tài vô giá” mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng, đó là sự đa dạng sinh học trên Trái Đất này. Có thể điểm ra muôn vàn “chiến thuật” để các sinh vật bé nhỏ, yếu ớt tránh trở thành “con mồi” cho con người và các loài động vật khác. Nhím xù lông nhọn mỗi khi thấy nguy hiểm rình rập, thằn lằn bắn máu ra từ mắt, ếch lông tự bẻ gẫy xương sườn để biến thành gai, một số loài sên tự tiết ra dịch nhầy, tắc kè hoa thay đổi màu da để ngụy trang, chim công xòe lông đuôi khổng lồ vừa để mê hoặc vừa để thị uy kẻ thù, hải sâm tự moi ruột giả chết để tránh bị ăn thịt, thằn lằn tự cắn đuôi để đánh lạc hướng, mực biển tự phun ra mực như đám mây đen che tầm mắt kẻ tấn công, ngựa vằn có bộ lông sọc trắng đen để tạo ảo giác làm hoa mắt đối phương … Ngay cả các cây cỏ mà ta nghĩ là loài vô tri cũng có cách để bảo vệ sự sinh tồn của mình. Nhiều loại cây cỏ tiết ra chất độc, biến lá thành gai để chống lại con người và các động vật ăn cỏ.

Đấy chính là sự cân bằng sinh thái. Trong thế giới sinh vật, kẻ yếu cũng có một khoảng không gian sinh tồn dành riêng cho chúng. Có thể thấy điều đó trong thế giới động vật và suy rộng ra ngay cả trong thế giới loài người, từ từng cá nhân cho đến từng quốc gia, dân tộc, không có kẻ mạnh hay kẻ yếu tuyệt đối nào. Nếu có đi chăng nữa thì cũng chỉ là tương đối.

Trong giới quyền Anh, nơi được coi là thế giới chỉ của những kẻ mạnh, không một võ sĩ nào dám tự vỗ ngực cho rằng mình luôn luôn và mãi mãi là kẻ mạnh tuyệt đối. Hôm nay bạn được quàng chiếc đai vô địch tột đỉnh vinh quang, nhưng có thể ngày mai bạn là kẻ chiến bại, bị đối thủ hạ “knock out”, mặt mũi đầy máu, nằm ngất trên sàn đấu. Cus D’amato, võ sĩ quyền Anh từng đào tạo ra những huyền thoại như Mike Tyson, đã nói: “Người anh hùng và kẻ hèn nhát đều có một cảm xúc như nhau. Nhưng điều khác biệt là người anh hùng biết chuyển sự sợ hãi của mình sang cho đối thủ trong khi kẻ hèn nhát bỏ chạy. Ai cũng có sự sợ hãi nhưng quan trọng là bạn làm gì với nỗi sợ hãi đó”. Còn tay đấm Rocky Balboa thì cho rằng: “Điều quan trọng không phải là việc bạn có thể đấm mạnh đến mức nào. Điều quan trọng là bạn có thể chịu được những cú đấm mạnh như thế nào để tiếp tục tiến lên”. Có lẽ câu nói trên cũng đúng với những gì đang xẩy ra trên võ đài chính trị thế giới. Có những cường quốc khoe kho vũ khí hạt nhân của mình thừa để cho nổ tung ba – bốn Quả đất. Nhưng thật ra, rất e dè với một nước nhỏ hơn, kinh tế yếu hơn đến hàng chục lần có vài quả bom nguyên tử quèn. Bởi vì, khi đã ấn nút tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thì chắc gì kẻ mạnh còn tồn tại để nhâm nhi “niềm vui chiến thắng”.

Có lẽ, cái mạnh của kẻ yếu là chỉ biết đơn giản trông mong vào bản thân mình, và biết rằng dù có thua cuộc thì mình cũng không có gì để mất, như thái độ của chú bọ ngựa yếu ớt, mong manh kia bình tĩnh “nghếch đầu” đón nhận cơn cuồng nộ của đất trời sắp ập đến trong khi mọi người đang chạy tán loạn.

LVT

Haiku viếng bạn

alt

Vĩnh biệt Thầy Lưu Đức Trung

đời là cõi tạm

thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku

Vĩnh biệt Nhà thư pháp trẻ Dương Minh Hoàng

đời là cõi vô thường

vượt lên trên dương thế

ta múa bút giữa áng mây

Vĩnh biệt Nhà thơ Bác sĩ Trịnh Phúc Nguyên

tạm biệt bạn thơ

thông thạo Anh, Pháp ngữ

tiếng Việt từ nay đành lặng thinh

1.- Nghe các bạn haijin nhắc đến Thầy Lưu Đức Trung rất nhiều lần, được đọc tên Thầy trong những Nội san và Tuyển tập haiku của Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội, nhưng là thành viên mới của Câu Lạc Bộ mãi đến một sáng mùa Xuân năm 2016 tôi mới được gặp Thầy tại tư gia Lão thi huynh Đinh Nhật Hạnh cùng một nhóm bạn thơ.

alt

Lần đầu tiên gặp mặt, tôi rất ấn tượng với một nhà giáo già mái tóc trắng bồng bềnh như mây, cốt cách như tiên ông, nhẹ nhàng, trầm lắng. Hỏi quê quán, mới hay Thầy sinh ra ở Quảng Bình, tuy không cùng quê Thừa Thiên với tôi nhưng cũng đều là dân “Bình Trị Thiên khói lửa” một thời trong Kháng chiến chống Pháp, và cùng tỉnh “Bình Trị Thiên” cũng một thời đói khổ sau 1975. Tôi ngồi yên như một học trò nhỏ nghe Thầy cùng Lão thi huynh đàm đạo về haiku. Đến khi tự giới thiệu tôi là kẻ đến muộn với haiku, Thầy bảo: “Tôi có đọc haiku của anh. Anh cứ thế mà viết nhé!”. Được lời như cởi tấm lòng, âu cũng là lời khích lệ của một bậc lão trượng cho một người tuy tuổi đã lớn nhưng vẫn còn là một “haijin trẻ”. Năm sau, Lão thi huynh Đinh Nhật Hạnh có ý động viên tôi nên tập hợp những bài haiku viết từ 2012 chuẩn bị một tập haiku nhỏ, tôi có ý định nhờ Thầy chấm tuyển chọn bài. Thế rồi việc chưa kịp làm thì một hôm Thi huynh Đinh Nhật Hạnh báo hung tin Thầy đã tạ thế. Tiếc cho một bậc trưởng thượng tài hoa và tiếc cho một dự định chưa thành. Mấy tháng sau, nhân một dịp công tác tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tôi điện thoại cho nhà thư pháp trẻ Dương Minh Hoàng, nhờ viết cho một bức thư pháp nhỏ có khúc haiku của tôi để viếng thầy:

đời là cõi tạm

thong dong miền Cực lạc

phiêu diêu cùng haiku

Dương Minh Hoàng đón tôi ở khách sạn trên một chiếc mô tô hầm hố và phóng qua nhiều con ngõ ngoằn ngèo đưa tôi đến viếng Thầy tại một ngôi nhà bình dị, yên tĩnh trong một ngõ nhỏ của Sài thành hoa lệ, ồn ào. Tôi kính cẩn thắp nén nhang và treo bức thư pháp cạnh bàn thờ, tưởng niệm về một Nhà sư phạm lão thành, một Nhà thơ haiku suốt đời gắn bó với nghề dạy học như một người chèo đò thầm lặng, cặm cụi đưa qua sông không biết bao nhiêu thế hệ học trò.

2.- Dương Minh Hoàng thương mến, mới năm ngoái đây thôi trong một chiều mây vần vũ ở Sài Gòn, cháu đưa bác đến viếng Thầy Lưu Đức Trung với bức thư pháp tự tay cháu viết. Thế mà nay, cháu cũng đã về miền mây trắng cùng Thầy. Liệu một già, một trẻ có tìm gặp được nhau ở đó để cùng nhau đàm đạo về haiku và thư pháp chăng?

alt

Tôi còn nhớ buổi trình diễn thư pháp năm nào ở Ngày Thơ Việt Nam Văn Miếu, hình như năm 2015. Dương Minh Hoàng, nhà thư pháp trẻ trung, khỏe mạnh, khuôn mặt tươi rói trong bộ quốc phục cùng nữ haijin trẻ Như Trang, thành viên Câu lạc Bộ ta, nền nã trong tà áo dài, làm cả sân khấu trình diễn sáng bừng. Rồi, một buổi tối cuối năm, tôi lại có dịp tìm đến thăm gian triển lãm thư họa của Dương Minh Hoàng tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên của Thành đoàn TP Hồ Chí Minh. Rất tiếc, tối hôm đó Minh Hoàng tíu tít với công việc chung, tôi chỉ được ngồi ngắm những bức thư pháp của Minh Hoàng mà không được gặp mặt.

alt

Và nhớ, mới tháng 5 gần đây thôi tại cuộc Hội Ngộ Haiku Việt tại Nha Trang, Minh Hoàng cũng vụt đến rồi vụt đi. Chỉ biết hôm đó Minh Hoàng không được khỏe. Minh Hoàng chỉ bảo đang thường xuyên bị nổi mẩn. Tôi cứ tưởng Minh Hoàng có cơ địa dị ứng. Giờ ngẫm lại, hình như hệ thống miễn dịch của nhà thư pháp trẻ đã có vấn đề nghiêm trọng từ trước đó. Nhưng ở đời ai có thể biết được chữ ngờ!!!

Minh Hoàng ơi, cháu đã viết giúp bác bức thư pháp viếng Thầy Lưu Đức Trung. Rồi đây, ai viết thư pháp viếng cháu để tiễn cháu về miền mây trắng đây? Thôi, đời là cõi tạm, cháu hãy tiếp tục niềm đam mê và hãy múa bút trên những áng mây trời, cháu nhé!

đời là cõi vô thường

vượt lên trên dương thế

ta múa bút giữa trời mây

3.- Cũng trong một Ngày Thơ Việt Nam, hình như vào Xuân 2014, khi đang chen chúc với mọi người trên một lối nhỏ trong Văn Miếu, tôi thấy một vị đại tá già, thân hình nhỏ nhắn nhưng rất nhanh nhẹn trong bộ quân phục trắng, ngực đeo đầy huân chương bước tới chào. Thăm hỏi nhau mới biết đó là Đại Tá Quân Y Trịnh Phúc Nguyên. Sau này sinh hoạt trong Câu Lạc Bộ Hải Thượng tôi mới biết không chỉ là một nhà y học quân sự lão thành, Đại Tá Quân Y Trịnh Phúc Nguyên còn là một nhà thơ và dịch giả thơ tiếng Pháp và tiếng Anh nổi tiếng đã từng là cộng tác viên của Nhà Xuất Bản Ngoại Văn “Thế Giới”. Tốt nghiệp tú tài trước năm 1945, cậu học sinh trung học Trịnh Phúc Nguyên tham gia kháng chiến và trở thành bác sỹ quân y. Thế nhưng nền tảng ngoại ngữ của Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên đã làm ông được giới văn nghệ sỹ và các nhà xuất bản khâm phục. Học sau ông khoảng mười, mười lăm năm, mãi đến năm 1955, tôi mới sắp sửa thi bằng Thành Chung (Diplôme) ở trường Quốc Học Huế. Nhưng từ khi ra Bắc, vốn tiếng Pháp của tôi rụng rơi gần hết nhường chỗ cho tiếng Trung ở trường phổ thông, tiếng Nga ở trường đại học, và rồi tiếng Roumanie khi làm nghiên cứu sinh. Ông cha ta bảo: “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. Cũng có thể nói vậy: Một ngoại ngữ giỏi hơn mấy ngoại ngữ không ra hồn! Sau này ở Câu Lạc Bộ Hải Thượng tôi tập tễnh dịch thơ Pháp, nhưng lúc nào cũng phải gửi bản thảo cho Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên duyệt giúp. Không quen với máy tính nhưng bác sỹ duyệt rất cẩn thận. Tôi còn nhớ một lần tôi dịch bài thơ “Khi ta thêm già” (Quand les ans s’additionnent) của một nhà thơ Pháp vô danh, có câu:

Je crois que l’on fait les marches

d’escaliers bien plus hautes

que dans notre temps!

Tôi dịch sai từ “escalier” là “con dốc” Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên đã sửa lại cho tôi là “bậc thang”!

Nhớ lại cuộc gặp mặt đón Xuân Nhâm Tuất đầu năm nay Bác sỹ Trịnh Phúc Nguyên vẫn say sưa đọc thơ, tôi có ý định nhờ Anh hiệu đính cho mấy bài thơ dịch tiếng Pháp. Thế rồi, công việc cứ cuốn đi chưa kịp ngỏ lời. Nay Anh đã thành người thiên cổ trong niềm tiếc thương của bạn nghề, bạn thơ về một vị bác sỹ quân y mẫu mực, về một nhà thơ tài ba, về một dịch giả Pháp ngữ uyên bác.

Anh Nguyên ơi, từ nay tôi biết nhờ ai đây hiệu đính cho mấy bài thơ dịch tiếng Pháp, hỡi Anh!

tạm biệt thi huynh

thông thạo Anh, Pháp ngữ

tiếng Việt từ nay đành lặng thinh

Lê văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt Hà Nội

Ngày 26-11-2018

Con bù nhìn- Lê Văn Truyền

“Nào, hãy giống người!”

ông già ước thế

khi dựng con bù nhìn

Buson Taganuchi

Đinh Nhật Hạnh dịch

Nếu được sinh ra và lớn lên ở nông thôn Việt Nam hẳn chúng ta không lạ gì những con bù nhìn (cảo nhân). Vào những thế kỷ trước và cho đến tận bây giờ ở nông thôn trên những cánh đồng lúa ta vẫn thường thấy bù nhìn thường là những con cúi bện bằng rơm, mặc áo tơi lá, đội nón rách, đôi khi có treo cái lon rỗng để phát ra âm thanh khi có gió. Nhũng người nông dân thường đặt bù nhìn giữa ruộng lúa để dọa và xua đuổi chim chóc khỏi phá hoại mùa màng vì khi nhìn thấy con bù nhìn, chim chóc ngỡ có người đang canh ruộng. Vì vậy, khi dựng một con bù nhìn, những lão nông chủ nhân của chúng luôn mong các con bù nhìn “hãy thật giống người” như ông già trong khúc haiku của Buson ước muốn.

Con bù nhìn đơn sơ không chỉ ngự trị trên đồng ruộng mà cũng đã được đưa vào văn thơ nước ta với bài thơ nôm nổi tiếng “Con bù nhìn” tương truyền của Nhà vua thi sĩ Lê Thánh Tông. Và trên thế giới ngày nay, danh từ “bù nhìn” cũng đã len lỏi vào tận chính trường, trở thành tính từ “bù nhìn” để các đối thủ chính trị hào phóng ném vào mặt nhau trong những nghị trường nghiêm trang hoặc trên sạp báo và đặc biệt trên phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay. Thế nhưng ở nước ta gần đây, một số người lại không coi biệt danh “con bù nhìn” là một danh từ để sỉ nhục. Gần đây, trong nhiều phiên tòa xử một số đại gia gây ra các vụ án kinh tế chấn động, nhiều bị cáo có chức sắc thống thiết khai trước tòa đổ lỗi cho đồng sự vì cho rằng tuy được gắn các chức danh chủ chốt (và được … lĩnh lương khủng) nhưng thật ra mình chỉ là “bù nhìn”, không trực tiếp tham gia điều hành và gây ra thiệt hại hàng nghìn tỷ tiền thuế của dân. Thật ra, khi tạo ra một “cảo nhân”, ai cũng mong nó trông “thật giống người” để dọa lũ chim yếu bóng vía. Vì vậy, trên một ý nghĩa nào đó, nhiều lúc trong cuộc sống chúng ta cũng khó xác định được rạch ròi chung quanh chúng ta ai là một “con người thật” và đâu là một “con bù nhìn”, ít nhất là theo nghĩa bóng.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nơi mà con người đang thừa mứa phương tiện, của cải vật chất nhưng cũng đang tràn ngập nỗi cô đơn trong cuộc sống tinh thần, những con bù nhìn đang có một sứ mệnh tinh thần cao quý và nhân văn khác, hơn hẳn cái chức năng dọa nạt, xua đuổi đám “thiên dịch” gây hại mùa màng và cái chức năng làm công cụ cho các chính trị gia sát phạt lẫn nhau và để một số vị có máu mặt vin vào nhằm chạy tội trước vành móng ngựa.

alt

Đấy là trường hợp trong một ngôi làng nhỏ hẻo lánh, hoang vắng ở Nhật Bản có một người phụ nữ tên là Ayano Tsukimi đã nảy ra ý định đặt những con bù nhìn có kích cỡ như người thật khắp trong thị trấn quê hương Nagoro để nơi đó trông có sức sống hơn. Khi Ayano Tsukimi còn nhỏ, ngôi làng Nagoro thịnh vượng có hàng trăm cư dân sinh sống. Nhưng giờ đây, sau nhiều năm ly hương khi cô trở về cố hương, cả làng chỉ còn lại khoảng chục người. Ayano Tsukimi đã làm những con bù nhìn đặt khắp làng để mong xoa dịu được nỗi cô đơn. Và con đầu tiên cô làm giống hệt người cha của mình.

LVT

Suy nghĩ đôi chút về ý niệm sáng tác Haiku

Trong khái niệm cơ bản của Shofu, đi vào bản chất khi sáng tác Haiku (hay Haikai) gồm có Sabi, Wabi, Siori, Hôsomi, Omomi và Karumi.

alt

Những khái niệm sabi wabi (buồn, tĩnh lặng), Shiori (yêu kiều, dư âm), Hôsomi (rung cảm tinh tế). Còn Karumi (Khinh bạc, đòi thường) là khi thi sĩ quay về với ngôn ngữ thông tục đời thường. Cuối đời Basho coi đây là một khái niệm mĩ học cơ bản trong sáng tác Haikai (thời sau Shiki gọi là Haiku). Cuối đời Basho chuyên tâm với quan niệm này, như nhà tu hành đã tu đủ và “thõng tay vào chợ” trong 10 bức tranh “chăn trâu” vậy! Tuy vây ông và các đệ tử thân thiết cũng biết là khó. Đây ý niệm cuối đời của ông sau khi hoàn thiện ý nịêm Sabi. Ông khá đắc ý với câu “ki no motowa shiru mo namasumo Sakura kana”「木の本は 汁も膾も桜かな」 (dưới gốc cây/nào canh nào cá/ đầy hoa Anh Đào-LTB tạm dịch). Coi là có tinh Karumi!

Ông nói dù bao giờ, vật đổi sao rời bản chất của Haikai vẫn không thay đổi (Fueki). Mùa đông năm Genroku 2 (1689) Basho bắt đầu viêt về ý niệm sáng tác Haikai. Ông quan niệm rằng: Chính tính phổ biến (Ryukosei) tạo nên tính bất biến của Haikai Shofu gọi là fuekiryukosei. Và hai ý niệm này mâu thuẫn - thống nhất với nhau. Trong nội bộ những người theo trường phái này (Shomon) cũng thống nhất như vậy. Basho nói: Bản chất tính cách của Haikai có 2 măt là tĩnh (fueki) và động (ryuko). Haikai coi đổi mới là sinh mệnh thì tính biến động có tính lưu động (ryuko), ứng với thời đại nó biến động và chính tính biến động, đổi mới không ngừng này là bản chất bất biến (fueki) của phong cách sáng tác của trường phái Haikai của Ba sho-Tiêu phong (shofu); về bản chất hai ý niệm này không đối lập, có đổi mới (Ryukosei) thực sự thì sẽ sinh ra bất biến (fuekisei), và có bất biến (fuekisei) thật sự, triệt để thì sẽ sinh ra lưu động (Ryukosei). Nói cách khác: căn bản fueki và Ryuko là một. Lý luận này của Ông đã được các đệ tử cụ thể hóa trong các cuốn “Trích Kyorai” và “Sanjoshi”…

Nghe nói ông khen đệ tử ruột Môrikawa Kyoroku câu Haikai “judangomo kotsubuni narinu akino kaze”「十団子(とをだご)も小粒になりぬ秋の風」(mười viên bột bánh/ không bằng một hạt tấm/ gió Thu- LTB tạm dịch) là có Shiori (dư âm).

Đi tìm Tư liệu về khái niêm Karumi trong Haiku Nhật Bản, bà Kaneko Hana trong cuốn sách nghiên cứu về Karumi (cuốn thượng) bà đã trích mấy bức thư Basho gửi cho các đệ tử (như sanpu , Sora) và khuyến khích họ sáng tác những câu Haiku mang tính Karumi.

Có lẽ ta gọi là “Khinh bạc”, ngôn ngữ thông tục, đời thường. Tôi hỏi một Haijin Nhật Bản mà tôi quen thì ông ấy bảo Karumi là tiếng nói từ tấm lòng chân thật.

Ta sắp tổ chức thi sáng tác Haiku Việt tôi chỉ ngại tiêu chí chấm của Ban giám khảo sẽ khó. Thơ ngắn thì có “CLB thơ ngắn” rồi! Hay thì tùy người… khó nhỉ!

Lê Thị Bình

CLB thơ HK Việt HN

Thiền sư xứ Huế- Lê Văn Truyền

alt

Thiền sư xứ Huế

từ thảo am bước ra nhân thế

song hành cùng Đạt Lai Lạt Ma

*

Vị Bồ Tát đất Việt

hành thiền cùng chánh niệm

gieo đạo từ bi khắp thế gian

*

Đôi chân thiền hành khắp thế gian

cuối đời trên chiếc xe lăn

trở về Tổ Đường Từ Hiếu

Phật tử cả nước cuối tháng 10 năm 2018 hoan hỉ đón mừng Thiền sư Thích Nhất Hạnh trở về chùa Từ Hiếu ở Huế để tĩnh dưỡng. Sau hơn 70 năm bôn ba hành đạo khắp năm châu bốn biển, Thiền sư quyết định trở về Tổ đình Từ Hiếu, nơi nguyên thủy là “Thảo Am An Dưỡng” của Hoà thượng Nhất Ðịnh từng tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già. Thiền sư quyết định ở lại đây cho đến ngày viên tịch. Chùa Từ Hiếu là nơi Thiền sư xuất gia vào năm 16 tuổi, trở thành sư ông năm 23 tuổi và được trao “ấn khả thiền sư” vào năm 40 tuổi. Năm 41 tuổi, Thiền sư được mục sư Martin Luther King Jr., người đoạt giải Nobel Hòa Bình (1964) đề cử nhận giải Nobel Hòa Bình. Trong lá thư đề cử thầy Nhất Hạnh cho giải Nobel Hòa bình năm 1967, Mục sư đã viết: Thích Nhất Hạnh là một con người thánh thiện, vì lòng khiêm cung và đức tin lớn. Ngài là một học giả thông tuệ. Những phát kiến cho hòa bình của Ngài, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người chủ trương và đưa ra khái niệm "Phật giáo dấn thân" (Engaged Buddhism) được trình bày trong tác phẩm "Việt Nam: Hoa sen trong biển lửa" (Vietnam: The lotus in a sea of fire). Ông nói: "Khi bom dội lên đầu chúng sinh, bạn không thể ngồi yên trong thiền viện. Thiền là nhận thức về những gì đang xảy ra, không chỉ bên trong mà còn xung quanh cơ thể và cảm xúc của bạn" và “Phật giáo phải gắn liền với cuộc sống thường nhật, với nỗi đau của bạn và những người xung quanh”.

Là một trong những người lãnh đạo tinh thần Phật giáo ở phương Tây, được coi có vị trí quan trọng và tầm ảnh hưởng chỉ sau Đạt Lai Lạt Ma (theo New York Times) và được xem là “Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ hai” (London Times, 2010) những lời răn và phương pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh thu hút sự quan tâm của công chúng đến từ các quan điểm tôn giáo, tâm linh và chủng tộc khác nhau. Ông đưa ra cách thực hành chánh niệm (mindfulness) thường được điều chỉnh cho phù hợp với tri giác phương Tây. Chánh niệm là sự tỉnh giác, tỉnh thức, biết rõ những gì phát sinh ngay trong mỗi thời khắc (the moment) của hiện tại, bây giờ và ở đây, là việc ý thức được sự quý báu của giây phút hiện tại.

Trong lời tựa cho cuốn sách “An lạc từng bước chân” của Thiền sư Nhất Hạnh, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã viết: “Thầy Nhất Hạnh đã chỉ cho chúng ta phương pháp làm thế nào sử dụng những lợi ích của niệm và định để chuyển hóa và trị liệu những vấn đề tâm lý phức tạp. Thầy cũng chỉ ra cho chúng ta mối liên hệ mật thiết giữa bình an trong tự thân với bình an trên Trái đất”. Nữ thi hào Alice Walker, người giới thiệu Thầy thuyết giảng tại Đại học Berkeley California năm 2001 cho rằng: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh thường được đánh giá là vị đạo sư Phật giáo được yêu quý nhất ở phương Tây”.

Elizabeth M. Gilbert, nữ nhà văn, nhà phê bình văn học người Mỹ, đã biểu đạt những cảm xúc và ấn tượng của mình trong lần đầu tiên được tiếp kiến Thiền sư như sau: "Nhà sư vĩ đại người Việt Nam, nhà thơ và sứ giả hòa bình, người đàn ông Việt Nam nhỏ nhắn này đã thu hút chúng tôi từng người một vào tĩnh lặng của ông. Hay có lẽ chính xác hơn nếu nói thầy đã đưa từng người của chúng tôi vào trong yên tĩnh của chính mình, vào trong an tịnh mà mỗi người chúng tôi vốn đã sở đắc nhưng chưa từng khám phá hay khẳng định. Khả năng thầy đã phát khởi trạng thái này trong tất cả chúng tôi, chỉ bằng sự hiện diện của thầy - đây là một năng lực thiêng liêng. Và đấy là lý do ta tìm đến một Sư phụ: Với hy vọng là công đức của thầy sẽ soi rạng cho ta sự cao quý còn khuất lấp của chính mình" (Elizabeth M. Gilbert: Ăn, Cầu Nguyện, Yêu, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2016, tr.207 -208).

LVT

Đạt Ma áo đỏ- Đinh Trần Phương

Một lần nọ, khi chúng tăng đang háo hức chờ đợi Phật Thích Ca thuyết pháp thì Phật chỉ giơ lên một bông hoa không nói gì. Tất cả đều không hiểu, riêng có Ca Diếp mỉm cười. Ca Diếp sau đó trở thành vị Tổ đầu tiên của Thiền tông Ấn Độ.

alt

Tổ thứ 28 và cũng là cuối cùng: Bồ Đề Đạt Ma (thế kỷ 5, 6) – vượt biển sang Trung Quốc để truyền tâm ấn Phật, trở thành vị Sơ Tổ của Thiền tông Trung Hoa. Theo truyền thuyết, Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách tường liên tục đến năm thứ ba thì ngủ lịm lúc nào không hay. Tỉnh dậy, Tổ bực mình cắt luôn mí mắt vứt xuống đất, thế nào mà chỗ ấy mọc lên một cây lạ (chính là cây chè). Tổ đem lá cây nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn và tiếp tục ngồi bích quán cho hết chín năm. Chân dung Đạt Ma là đề tài thường xuất hiện trong tranh của các vị Thiền sư, biểu đạt sự hiểu Đạo của mỗi vị. Dưới đây là bức “Đạt Ma áo đỏ” của Thiền sư tài hoa Hakuin Ekaku (Bạch Ẩn Huệ Hạc, 1686–1768). Xuyên suốt tác phẩm là cái nhìn nhất nguyên của sư. Đạt Ma nhìn vách tường. Vách tường nhìn Đạt Ma. Hay đúng hơn, vượt lên trên vách tường của kiến giải nhị nguyên, Đạt Ma đang nhìn chính cái tâm huyền diệu của mình. Hakuin cũng đã thấy cái tâm ấy. Là tâm kiến tâm, là tâm hát về tâm thế này:

Lấy xuống đây nào

đứa bé nức nở

đòi vầng trăng cao

Issa – Nhật Chiêu dịch

Đứa bé ấy mới ngây ngô làm sao. Nó muốn có được vầng trăng cho riêng mình, dù một chốc thôi cũng được rồi lại thả lên mà! Tâm ấy vừa bản nguyên lại vừa ly tán. Nhưng sao lấy trăng xuống được đây? Nhưng trăng có thực sự xa cách đến vậy?

Trăng treo lên cành thông

rồi tôi lấy trăng xuống

mà ngắm trăng tuyệt trần

Hokushi – Nhật Chiêu dịch

Trong tranh, nếp trán của Đạt Ma biểu hiện cho trí tuệ sâu thẳm mà giản đơn của Ngài. Mắt, mũi, miệng, tai và vạt áo, tất thảy đều tương thông với điểm ấy. Hai con ngươi ở trên đỉnh của tròng mắt mở to tưởng sắp rơi xuống đến nơi, nhưng cái định ở thế chênh vênh mới thực là đại định. Chiếc mũi thẳng, phình to với lỗ mũi tròn đậm nét, thêm phần râu cằm chĩa ra các hướng làm ta cảm nhận được hơi thở của Đạt Ma truyền ra ngoài, là sự chuyển hóa từ tĩnh sang động. Cái động của hơi thở quyện với cái tĩnh của ánh mắt (hay ngược lại). Miệng tuy mím chặt nhưng nhờ phần râu cằm, ta có thể hiểu Đạt Ma đang thuyết pháp trong im lặng.

Qua nét vẽ tương đồng giữa vành tai với hai mí mắt, Đạt Ma hẳn cũng đang lắng nghe tâm mình. Âm thanh ấy là âm thanh của hư không, như trong một công án Thiền do chính Hakuin sáng tạo: tiếng vỗ của một bàn tay – được gợi lại qua chuyển động của vạt áo đậm phất lên, kết nối với phông nền đen của bức họa. Đến đây, ta sẽ tự hỏi liệu vầng trăng trong đêm thiền định của Đạt Ma và vầng trăng giác ngộ trong tâm hồn Ngài có là một? Đường cong của vạt áo ứng hợp với nếp trán, như là trăng với thuyền – một bóng ảnh của trăng? Bức họa là sự hợp nhất giữa tĩnh và động, giữa sắc và không. Sự chuyển biến tế vi giữa tĩnh và động là cái u huyền. Cùng diễn tả cái u huyền siêu việt ấy, Basho viết:

Con sâu lặng yên

ăn mòn hạt dẻ

trong đêm trăng huyền

Basho – Nhật Chiêu dịch

Trong bóng tối của đêm, trong ánh sáng của trăng, con sâu trở nên bất động còn hạt dẻ lại đang chuyển mình. Hình như còn có một con sâu nữa, con sâu của thời gian, con sâu của hư không đang ăn mòn vầng trăng, mà vầng trăng vẫn cứ nguyên vẹn ở đó.

Với đề tài “Đạt Ma áo đỏ”, Hakuin thực chất còn đề cập đến cái Dục. Đạt Ma tọa Thiền chín năm là vậy, nhưng Ngài vẫn khoác trên mình chiếc tăng bào màu đỏ – màu của Tính Dục. Khi con mắt của người xem bừng ngộ ở một chiều kích khác thì cũng là lúc anh ta nhận ra trên khuôn mặt của Đạt Ma khả kính hiện lên hình ảnh đôi gò bồng đào, hiện lên hình ảnh dương vật theo cách tự nhiên như nhiên của chúng. Cái Thiêng và cái Phàm gặp nhau, chưa khi nào gần đến thế, hội tụ về một điểm, cũng như được thể hiện ở bài Haiku hiện đại sau đây:

Chiếc mô-tô lao đi

cặp đùi tôi ép chặt

ánh trăng rằm mùa xuân

Masaki Yuko – Đinh Nhật Hạnh dịch

Khuôn mặt của Đạt Ma, khuôn mặt của mỗi chúng ta, tự bản chất là khuôn mặt của vũ trụ này.

Đ. T. P

Thơ haiku thiếu nhi Nhật Bản & New Zealan: Cảm nhận và biểu hiện từ tâm hồn

Cao Ngọc Thắng

Haikuviet.com, ngày 1 tháng 9 năm 2017, giới thiệu 30 phiến khúc haiku của 15 haijin Nhật Bản và 15 hiajin New Zealand, tất cả đều ở độ tuổi từ 7 đến 15 tuổi.. Ban'ya Natsuishi và Naruhito Luke Takeuchi đã chuyển các bài tiếng Nhật sang tiếng Anh. Đinh Nhật Hạnh chuyển 30 bài từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Đọc những phiến khúc haiku này có cảm giác được trẻ lại tuổi ấu thơ, được bơi trong dòng cảm xúc hồn nhiên mà dâng đầy lãng mạn…

alt

Jiuri Hamamura (7 tuổi) nghe thấy ông mặt trời cười, một tiếng cười sảng khoái bật lên:

Ông mặt trời cười

ihihi, ahaha

haha

(The sun laughing/ ihihi, ahaha/ haha)

Không cần biết vì sao ông mặt trời cười, cười vào lúc nào, chỉ biết rằng có một đứa trẻ 7 tuổi đã nghe thấy tiếng cười đó, cảm nhận được tiếng cười khoái trá đó vọng từ cao xanh.

Hai em bé Nhật Bản khác, cũng có cảm hứng từ mặt trời. Aika Fujimoto, 9 tuổi, ngắm hoa cải thấy ân huệ từ người mẹ thiên nhiên:

Hoa cải dầu

màu vàng chói

mặt trời cho ta

(Rape blossoms/ yellow color/ given by the sun)

Còn Rina Nagumo, cũng 9 tuổi, lại cảm nhận ông mặt trời qua ánh xạ tia nắng trên thân thể người thầy giáo dạy bơi:

Sàn bể bơi

thầy giáo em đứng

phản chiếu ánh trời

(Swimming pool/ in the reflexion of the sky/ our teacher stands)

Ồ, thì ra người thầy giáo đó vừa ở bể bơi bước lên thân thể còn ướt sũng nước.

Một cách trực diện, em Fergus Kil Patrik, 9 tuổi người New Zealand, so sánh:

Mặt ông tôi

khô bởi nắng nôi

như vỏ cây sồi

(My grand father’s face/ dried by the sun/ oak tree winkles)

Thật là hình ảnh sinh động. Vỏ cây sồi khô đanh vì nắng mặt trời như mặt ông tôi giãi dầu phơi nắng. Cái sần sùi ở đây mới đáng yêu làm sao!

Bầu trời này chỉ có một mặt trời thôi, và mẹ em chỉ có một trên đời. Ông mặt trời đem lại cảm hứng cho bao nhiêu người. Đó là sự sống. Là niềm vui. Bởi vậy, ở nơi đô hội, em Oria Mahek, 12 tuổi người New Zealand, buồn bã khi vắng tiếng gà cất tiếng gọi bình minh, thấy thiếu cái gì đó rất trọng đại:

Trong thành phố

còi rú

thay cho tiếng gà gáy

(In the city/ the sound of sirens/ replace roosters)

Cũng tâm trạng như thế, em Rioyuka Simizu, 9 tuổi người Nhật Bản, than rằng:

Dế rung chuông

thức em dậy

buổi chiều hôm

(Bell cricket/ calls me up/ in the evening)

Ở đây, dế rung chuông vừa là tiếng “hót” của con dế thiên nhiên vừa là tiếng báo thức của chiếc điện thoại di động đặt nơi đầu giường. Nghe cái thực mà lòng hướng về vô thức. Thiếu ánh chiều tà làm em giật mình, ngơ ngác.

Và, cả khi ông mặt trời “ngủ đông”, trái tim các em nhỏ vẫn tìm cách lấp đầy sự trống vắng:

Nghỉ đông

trời

đầy sao

(Winter vacation/ the sky/ full of stars)

Em Yuko Miyakawa, 9 tuổi người Nhật Bản, đã biểu cảm như thế. Em ngắm các vì sao chi chít mà lòng không nguôi nhớ ánh nắng mặt trời sưởi ấm cho muôn loài nảy nở.

Trẻ em ngày nay, trong thời đại thông tin bùng nổ, càng sớm hiểu biết những thay đổi trạng thái trong thiên nhiên và biến động của xã hội. Nắng mưa là chuyện của giời. Hết mưa trời hửng nắng lên thôi. Mỗi thay đổi ấy đều đem lại những giá trị nhất định và cả những hậu quả khôn lường, khó tránh. Cảm nhận như em Josie Fraser, 13 tuổi người New Zealand thật là tinh tế:

Mưa lộp độp rơi

từng giọt vang lên như tiếng trống

bài ca của Mẹ thiên nhiên

(Rain pitter-patters/ each drop beats a drum/ mother-nature song)

Tinh tế ở chỗ nghe từng giọt mưa vang lên mà thành tiếng trống, thành bài ca. Lòng hân hoan của em là niềm vui chung của người dân bấy lâu khao khát trận mưa rào cứu thế.

Một sự vi tế khác, muốn cất đi một kỷ niệm (có vẻ) buồn về mùa đông lạnh giá:

Chiếc lá vàng

rơi

vào tim em

(Dried leaf/ blowns/ into my heart)

Nỗi buồn ấy của em Karin Masuda, 9 tuổi người Nhật Bản, đã được bạn đồng hương của mình là Takumi Akashi, 7 tuổi, nhanh chóng khỏa lấp:

Mong mãi cũng đến

thiệp mừng Năm mới

của em đây rồi

(Finally it arrives/ a New-Year card/ for me)

Tuy nhiên, chẳng phải lúc nào con trẻ cũng hồn nhiên, ngây thơ quá đỗi. Các em thấy hết, thấy cả mặt trái do thiên tai hủy hoại đến đau lòng. Các em miêu tả bằng trực giác đầy mẫn cảm. Ở tận đất nước New Zealand xa xôi, nghe tin sóng thần, bão biển giập vùi làng quê, thành phố Nhật Bản, các em chia sẻ sự mất mát, tang thương với các bạn mình bằng những phiến khúc haiku rung động cả người lớn. Ví sóng thần như cây đinh ba của Hải Vương, em Hugo Clement, 10 tuổi viết:

Cây đinh ba của Hải Vương

tung hoành trên biển cả

bầy ngựa của Sóng Thần

(Poseidon’s trident/ slams into the sea/ Tsunami horses)

Em Myfanway Bosley, 7 tuổi, lại ví sóng thần như con rồng quái dị:

Tiếng thét gầm vang

đánh thức làng Nhật Bản dậy

hơi thở của rồng

(A rumbling sound/ wakes a Japanese Village/ dragon breath)

Chắc trong suy nghĩ của em bé này hơi thở của con quái vật chẳng thơm tho gì.

Không giống người lớn, các em đi tìm nguyên nhân sinh ra những thiên tai khủng khiếp đó bằng suy luận của mình. Không hẳn là ngây thơ. Cũng không hề đơn giản. Những suy luận ấy ẩn chứa cái lý của chúng. Em Zoe Nathan, 9 tuổi, viết:

Cát từ dưới biển

đùn lên trên đường

làm tan rã những lâu đài

(Sand from the sea/ emerges through the road/ liquefaction casties).

Cũng từ biển, nhưng là thế giới nghêu sò đồng lõa góp vào trận động đất:

Thế giới nghêu sò

tự phanh tim ra

thành những viên ngọc trai động đất

(The seashell world/ open up its heart/ earthquake peaels)

Không còn ngộ nghĩnh nữa, em Negan Koppen, 10 tuổi, đã nhận thấy: từ chỗ loài nghêu sò làm nên cái đẹp khi tự phanh tim ra chúng hóa thành tội đồ quỷ quái.

Cả con người nữa chứ. Khi ai đó đồng lõa nhúng tay vào tội ác đều mang bộ mặt của Hải Vương. Em Jemes Harper, 10 tuổi, đã nghĩ như thế:

Bộ râu ông già

uốn cong như sóng rong biển

của Hải Vương

(The old man’s beards/ curved in a wave/ Neptune seaweed)

Tư duy của trẻ em thật đa dạng.

Đáp lời sự đồng cảm và sẻ chia của các bạn New Zealand (có thể lắm chứ), em Tomoka Fukuda, 15 tuổi người Nhật Bản, bằng những lời của người trong cuộc:

Em muốn xóa

sự tàn phá của cơn bão

bằng hòn tẩy

(I want to erase/ the vortex of a typhoon/ with an eraser)

Thật dung dị mà cũng lãng mạn làm sao!

Tiếng lòng đồng điệu, em Eleanor Thorpe, 13 tuổi người New Zealand, khảng khái:

Không quản thời tiết

bầy sẻ vẫn bới rác kiếm ăn

để sống sót qua cơn bão

(Despite the weather/ sparrows still scavenge/ surviving the storm)

Một ý nghĩ chín chắn, đầy tính nhân văn, nhân bản.

Một sự đồng điệu khác, một lối suy tư khác, vừa khúc chiết vừa nhi nhiên. Đó là phiến khúc của em Harrier Keith, 13 tuổi cũng người New Zealand:

Một con bồ câu bay lang thang

tách khỏi bầy đàn

tìm một lối riêng

(A pigeon wanders / away from the crowd to find / a path of his own)

Có thể chưa hẳn đúng, nhưng đọc bài haiku này bỗng thấy sự liên tưởng của em bé này khá là thấu đáo. Hòn đảo Nhật Bản nằm trên vòng cung núi lửa lớn trên hành tinh, thường xuyên xảy ra nhiều trận động đất dữ dội. Trong hoàn cảnh đó, người Nhật Bản đã tìm ra cách chống đỡ riêng cho mình rất hiệu quả. Song, sức người chỉ có hạn, khó tránh nổi những cú “vươn mình” đột khởi của thiên nhiên, của đại dương khổng lồ. Sau mỗi trận tàn phá như vậy, họ lại đứng lên, gồng mình khắc phục hậu quả và bước tiếp.

Sự trả thù của thiên nhiên dù ghê gớm đến mấy không khiến con người chùn bước, thì chiến tranh mới là nỗi ghê tởm do chính con người trực tiếp gây nên. Sự ghê tởm ấy đổ xuống đầu không loại trừ ai, trong đó trẻ em là nạn nhân. Các em tự thức nhận được điều đó. Suy nghĩ của em Angela Chen, 13 tuổi người New Zealand, làm người lớn chúng ta chạnh lòng:

Ta ngồi nơi yên ấm

trong khi trên thế giới

nhiều nơi đang chiến tranh

(Sitting in the warmth/ while somewhere in the world/ wars are happening)

Để kết thúc bài viết này, tôi muốn giới thiệu một cách cảm đi từ thiên nhiên sang loài người của haijin 8 tuổi người New Zealand, em Madison Fortune:

Bầy sẻ hót vang

bằng nhiều thứ tiếng

dàn đồng ca Nam M

(The sparrows sing/ in different languages/ South American choir)

Và, một bài của haijin 11 tuổi người Nhật Bản, em Yui Iwano:

Ngày Hội thể thao

mẹ em chạy

xa hơn tất cả các bạn của em

(Sports day/ my mother ran longer/ than any other children)

Thoáng đọc có thể cho rằng hai bài này mâu thuẫn về bối cảnh và hành động. Một nói về sự quy tụ nhiều người, bài sau nói về một người. Ở bài trên, Fotune có sự liên tưởng về một cộng đồng người nói tiếng latin bao chùm lục địa Nam Mỹ, từ bầy chim sẻ. Dù nói tiếng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha hay tiếng Pháp, tiếng bản địa, nhưng cộng đồng ấy đã và luôn luôn là sức mạnh, được hun đúc trong các cuộc đấu tranh giành độc lập dưới ngọn cờ tụ nghĩa của người Anh hùng Hô-xê Mác-ti. Tương lai đang ở phía trước họ. Ivano miêu tả người mẹ cùng chạy với đàn em nhỏ trong ngày hội thể thao. Cái thực này vừa mang nghĩa đen (người đã già chắc chắn chạy không bằng lũ trẻ, bà tụt lại) vừa có nghĩa bóng (đất nước Nhật Bản đang roi vào tình trạng dân số già). Vậy thì, tương lai của nước Phù Tang tất yếu nằm trong tay người trẻ. Hai hình ảnh thơ đều hướng về tương lai cả thôi.

Những phiến khúc haiku của các haijin nhỏ tuổi từ Nhật Bản và New Zealand đã đem lại cho tôi nhiều cảm xúc bởi sự tinh tế trong quan sát, trong suy tư và trong cách biểu hiện. Trân trọng cám ơn các dịch giả Ban'ya Natsuishi và Naruhito Luke Takeuchi, và Đinh Nhật Hạnh.

Láng Hạ, 22-10-2017

C. N. T.

Khao khát vời vời trong một khúc thơ- Lý Viễn Giao

Anh viết thư pháp. Con chữ dưới tay anh có hồn có vía, có hình dáng và màu sắc như một bức tranh nên người đời gọi anh là Nhà thư họa. Còn tác phẩm của anh, người ta bảo đó là Tranh chữ! Anh cũng là người làm thơ Haiku. Thơ anh viết không nhiều nhưng chín chắn vừa độ, sâu và cao đúng tầm. Khi đi làm công việc của một con ong thợ tìm kiếm chất liệu để xây tổ, tôi đã gặp bài thơ anh trên một trang viết. Nó gợi ra trước mắt nhiều điều về hồn cốt của một phiến khúc Haiku.

alt

Cá xuống nước

mây về trời

ta thả ta vào chân không

Về cốt cách, khúc thơ rõ mồn một ba hình ảnh. Đứng riêng rẽ, mỗi hình ảnh đã đủ nói lên một hiện tượng và tự mình gợi mở ý tứ. Ôm lấy nhau trong khúc thơ, chúng tạo nên ý tưởng rộng lớn mà ta phải nhìn thật tinh tế mới nhận chân được. Nếu ai đó còn băn khoăn rằng thơ Haiku là Thơ ba câu có thể viện dẫn bài thơ này. Quả thật ở đây mỗi dòng là một câu hoàn chỉnh nhưng chỉ là sự ngẫu nhiên trùng hợp. Thực chất thơ Haiku không cần đến như vậy. Xin được nói nhiều hơn về phần hồn bài thơ. Với hai hình ảnh cá xuống nước và mây về trời, tác giả đã khẳng định cái tự nhiên tất yếu của sự sống. Không có bầu trời thì mây nhởn nhơ sao đây? Không có nước, cá làm sao vùng vẫy? Trời nước là nơi đích thực tạo nên sự sống. Vậy hãy trả lại sự sống cho mọi thứ mà mây và cá được dùng làm vật chỉ thị tượng trưng. Cũng đâu chỉ có vậy. Trong cuộc sống này thử hỏi thứ gì là cốt lõi, là động lực và vĩnh viễn? Tình yêu đấy! Bỗng nhiên tôi nhớ về một khúc ca dao xưa:

… Cái ngọn sông đào vừa trong vừa chảy

Anh đi kén vợ mười bẩy năm nay

Tình cờ bắt gặp nàng đây

Như cá gặp nước như mây gặp rồng

Mây gặp rồng, phát phong phát vũ

Cá gặp nước con ngược con xuôi …

Thế đấy, cá gặp nước đâu phải chỉ để bơi lội kiếm ăn mà “Con ngược con xuôi” quấn quýt yêu thương nhau, hạnh phúc cùng nhau… Mây gặp rồng là không có thật. Hình ảnh hư cấu về rồng thường ở trên trời nên cứ hiểu mây gặp trời cũng không khác xa nhau là mấy. Mây gặp trời có thể bảng lảng nhẹ nhàng trôi, cũng có thể “Phát vũ” với mưa Ngâu thương nhớ, phát tia sét ái tình đầy cuồng nhiệt. Vậy nên “Cá xuống nước/Mây về trời” là ước vọng tình yêu nữa chứ đâu chỉ đơn thuần là sống thôi. Khi mây đã về trời, mây chẳng ở yên mà được gió đưa đẩy phiêu du, và ấy là tự do, là tình yêu đấy. Khúc dân ca này có phải như thế không thì ai mà chẳng rõ:

Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi

Anh ơi em vẫn đợi, bèo… í… a dạt

Mây í… ì… i trôi…

Đọc những câu sau của Xuân Diệu:

Tôi muốn tắt nắng đi cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi…

Ta thấy khúc tình si được đẩy lên tột độ để hành vi gần như chạm ngưỡng cực đoan. Thế nhưng gió đã buộc lại thì mây làm sao trôi, bèo có dạt không để nỗi nhung nhớ bời bời thốt lên thành lời day dứt? Trong khúc Haiku của Thiện Niệm, anh chỉ cho mây về trời thôi để mây tự do lang thang hay phát phong phát vũ gì tùy ý. Cũng là dùng tương tác với thiên nhiên để giãi tình nhưng mỗi người một vẻ, mỗi cách đeo mang một nét hay riêng!

Với hình ảnh thứ ba “Ta thả ta vào chân không” dường như ý tứ có một bước nhảy nâng tầm. Bây giờ là người rồi. Mà người thì không thể dùng thứ gì cụ thể, thiếu tế nhị để thỏa nỗi khao khát sống và yêu được. Chân không là lựa chọn độc đáo có nội hàm rộng. Nếu khoa học chỉ coi chân không là môi trường không chứa gì nên không có sự cản trở. Ở đó sợi bông rơi giống hệt viên bi. Thì văn chương mở rộng, trừu tượng hóa chân không thành cả một xã hội tự do và yêu thương. Nơi này không có hoài nghi và đố kỵ, không có tham lam và ích kỷ, bất công và áp bức làm vẩn đục. Nó trinh nguyên, trong veo như tự do và tình yêu. Cuộc sống như thế thực vô giá như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng dạy “Không có gì quý hơn độc lập và tự do!”. Nhưng ai mang ta đến “Chân không”? Lời khẳng định đã rõ mồn một ngay trong câu thơ rồi đó. Đến đây, ta không thể không nhắc đến lời bất hủ của Các Mác: “Hạnh phúc là tranh đấu!”. Chỉ có tự ta khổ luyện, vươn lên mới có thể “Thả ta vào chân không” được.

Tính hàm súc của thơ Haiku đã được cho là không phải bàn. Nếu dùng lăng kính thơ mà nhìn sẽ thấy nhiều bài thơ khác cũng óng ánh bảy sắc cầu vồng như khúc thơ ngắn này. Thiện Niệm, người đi bằng hai chân thư họa và sáng tác. Chân nào anh cũng vững trãi. Mong và tin ở những bước đi tiếp của anh.

L. V. G

Haiku… say- Lê Đình Công

Tôi đã đọc không ít các phiến khúc Haiku Việt về rượu, nhưng có hai phiến khúc sau đây cứ làm tôi lâng lâng hạnh phúc cùng tác giả.

alt

Bắt đầu là ông Người Mèo ở nhà sàn lưng chừng núi, có thể là Sa pa, nhà thơ- họa sĩ Phan Vũ Khánh. Một hôm vừa đi nương về, rửa ráy xong, bê hũ rượu ra rót vào bát, định làm một hơi cho đã khát, thì bỗng những đám mây từ ngoài núi ùa vào và ông kêu lên:

Ấy da

mây vào nhà

uống rượu ta!

Thật là hoan hỉ! Thật là hạnh phúc! Đang định độc ẩm thì có bạn tới – mà lại là bạn hiền, thân thuộc cùng núi non trời đất vào chung bát thì còn gì khoan khoái hơn! Và thế là họ nghiêng ngả bên nhau. Mây say, mây ngất ngưởng ra núi. Ông Người Mèo say lăn luôn ra sàn, đánh một giấc dài, ngáy như sấm. Ôi tự do, tự tại! Đó là mối tình muôn thuở của “thiên nhân hợp nhất” vốn được trân quí đời đời.

Rõ ràng tứ thơ trên là rất mới. Bài thơ kiệm lời và lời thơ thì mộc mạc, hồn nhiên mà vẫn gây được xúc động nơi người đọc bởi âm điệu, hình ảnh và sức gợi sâu xa của nó.

Cũng như vậy, câu thơ sau đây của nhà thơ- nhà giáo Lý Viễn Giao:

Rượu đầy

lời bay

dạ cạn!

Cực ngắn và đầy âm điệu. Nhưng mỗi cặp từ trong bài là một hình ảnh sinh động và đầy năng lượng bởi tính gợi thật kỳ diệu. Tiếp bạn quý đến nhà, mời nhau từng li rượu đầy. Rồi thi nhau “lời bay”, thi nhau dốc hết bầu tâm sự  sâu kín của mình cho đến khi “dạ cạn“ thì còn gì hạnh phúc hơn! Bởi vì trên đời này không phải ai, không phải lúc nào cũng có được một người bạn như thế, những giờ phút “thả phanh” vô tư  như thế!

Tứ thơ trong bài này không mới vì người xưa đã có câu “rượu vào lời ra”. Nhưng nhà thơ Lý Viễn Giao đã “làm mới” nó và “nâng” nó lên một tầm mới, sâu sắc hơn, mạnh mẽ và “thơ” hơn.

Haiku Việt là thế: hai phiến khúc trên đều súc tích, giản dị, nhưng đều chứa đầy năng lượng, không những thể hiện cảm xúc mà còn thể hiện cả khát vọng của con người về một thế giới an bình, hạnh phúc, thấm đẫm Tự do và Tình yêu giữa con người với thiên nhiên và giữa con người với con người.

Quả đúng như nhà thơ Bằng Việt đã nhận xét về Haiku Việt là “Thơ hơn một lần Thơ”. Xin chân thành chúc mừng, ngưỡng mộ và chia sẻ cùng hai nhà thơ Phan Vũ Khánh và Lý Viễn Giao!

L. Đ. C

Sự tử tế của... chú chó- Lê Văn Truyền

alt

Kìa, chó mà tử tế

lối mòn né chỗ

cho khách qua đường

Kobayashi Issa (1763-1828)

Đinh Nhật Hạnh dịch

Đọc phiến khúc haiku trên đây của Issa tôi bỗng tưởng tượng ra một hình ảnh thật thú vị. Có thể trong một buổi sáng nào đó, sau khi đến thăm một người bạn già đàm đạo về thế sự, Issa từ giã ra về. Trên con ngõ trúc nhỏ hẹp, đại sư gặp một con chó giữa đường. Như một phản xạ tự nhiên, Issa dừng lại tránh đường cho chú chó đi qua, giống như ông cha ta từng dạy: tránh voi (và cả … chó) chẳng xấu mặt nào! Nhưng, ngạc nhiên chưa chú chó trông thấy khách lạ bỗng “lịch sự” né chỗ cho khách có lối đi qua ngõ hẹp.

Chó nhà là con vật nuôi gần gũi với mọi gia đình, nhưng tôi không hiểu tại sao con người lại vẫn coi chó là con vật để đem ra so sánh với những kẻ xấu xa. Người ta chửi mắng nhau là “đồ chó”, “đồ chó má”, “đồ chó săn” và thậm tệ hơn “đồ chó đẻ” … Rồi “chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng” … Thật ra, tôi nghĩ loài chó là vật nuôi trung thành lâu đời và có ích nhất của con người kể từ thời tiền sử, khi loài người đang còn sống trong nền “kinh tế hái lượm và săn bắt”.

Chó nổi tiếng về lòng trung thành. Nếu có lúc nào đó nó có làm điều gì không phải với chủ chắc chắn là do con người đã làm điều gì đó không phải với nó. Về sự trung thành và tử tế của loài chó, người ta đã kể lại câu chuyện về những con chó nổi tiếng khắp thế giới như chú chó nằm ở mộ chủ nhịn ăn để chết theo chủ, chú chó khóc khi tìm lại được chủ sau nhiều năm lưu lạc, chú chó Bobby 14 năm nằm canh mộ chủ và đã được dựng tượng ở vùng Edinburg, chú chó Fido ở Italia chờ chủ suốt 15 năm ở bến xe bus như thường lệ mặc dù ông chủ đã chết …

Nhưng có lẽ làm cho cả thế giới xúc động nhất là câu chuyện của chú chó Hachiko đã trở thành một “báu vật quốc gia” của Nhật Bản nhờ vào lòng trung thành tuyệt đối với chủ nhân. Chủ của Hachiko là một giáo sư độc thân tại Đại học Tokyo, người mỗi ngày đều đón tàu đi làm. Cứ mỗi tối, Hachiko lại đến ga tàu đón chủ nhân trở về. Một ngày nọ, vị giáo sư bất ngờ bị xuất huyết não trên giảng đường và không bao giờ trở về nữa. Nhưng Hachiko vẫn ngày ngày đều đặn tới ga tàu để chờ đón ông. Bảy năm sau, câu chuyện về chú chó trung thành ngày ngày ngóng đợi chủ ở ga tàu suốt những năm tháng qua đã được kể lại trong bài báo tưởng niệm vị giáo sư đáng kính. Hachiko trở nên nổi tiếng khắp Nhật Bản và được tôn vinh là “báu vật quốc gia”. Người dân xứ sở hoa anh đào ca ngợi Hachiko như một biểu tượng của lòng trung thành đối với gia đình và Tổ quốc. Năm 1934, khi Hachiko qua đời, tin tức về cái chết của chú được lan truyền khắp Nhật Bản. Và tới tận bây giờ, vẫn có hàng triệu người dân Nhật xếp hàng chỉ để được nghe một đoạn băng ghi âm tiếng sủa của chú chó “báu vật quốc gia” này.

Phải chăng những đức tính của người Nhật: sự tử tế, khiêm tốn, tôn trọng đồng loại, tôn trọng muôn loài, tôn trọng thiên nhiên là yếu tố góp phần quyết định để nước Nhật sửa chữa những sai lầm trong quá khứ và sống lại từ đống tro tàn trong lúc nhiều dân tộc thắng trận đang lụi tàn vì đã kiêu ngạo trong hào quang chiến thắng.

Phiến khúc haiku của Issa như một lời cảm thán ngợi khen về loài chó bằng một cấu trúc tu từ “tuy là … nhưng …” mà dân gian vẫn hay dùng với hai cụm từ đối lập: tuy là chó nhưng biết lễ độ nhường đường cho khách. Câu ngợi khen đôi chút nhuốm màu hài hước nhẹ nhàng nhưng thật ra rất thâm trầm khi ta làm một phép so sánh. Nó nhắc ta về hiện tượng “sống chụp giật”, “đạp lên đầu nhau mà sống”, về sự “sự phản trắc”, “vô lương” đang lan tràn như dịch bệnh trong thế giới loài người hiện đại ở thế kỷ XXI này.

LVT

Bốn khúc haiku- Nguyễn Thánh Ngã

alt

TỄU

Hội làng rối nước

ô hay chú Tễu

nghìn năm không già

(Vũ Tam Huề)

Không phải ngẫu nhiên mà haijin Vũ Tam Huề đưa rối nước vào thơ Haiku. Có thể tác giả là người đầu tiên chăng? Người nông dân vùng lúa nước suốt ngày bì bõm trên đồng sâu, ruộng cạn chẳng khác nào cái xã hội khốn khó mà họ đang lặn lội kiếm sống. Thế là chợt nghĩ ra cách thư giãn, tức môn nghệ thuật này! Rối nước...

Thơ Haiku rất kiệm lời. Dùng thủ pháp giấu chữ là thâm ý của người viết. Tác giả mượn cái hội làng để chỉ xã hội - sân khấu lớn của cuộc đời! Đọc câu “Hội làng rối nước”, liền xuất hiện trong ta sân khấu của ao làng. Sân khấu là nơi tiếng cười và tiếng khóc xen lẫn. Chất bi hài được đẩy lên cao trào khi tiếng trống giục, tiếng nhị, tiếng bầu, tiếng mõ đan xen vọng lên từ ký ức. Đó là tiết tấu, là nhịp điệu thăng trầm của cuộc sống... Thơ Haiku chỉ giới thiệu sân khấu ấy, rồi để cho nhân vật chính diễn trò. Chú Tễu nghe đã buồn cười, huống chi được thấy. Tễu nghĩa là cười. Vậy thôi. Tiếng cười đã làm nên kiệt tác: Rối nước! Đó là sáng tạo độc đáo của người Việt ở Đồng bằng Bắc bộ.

Nhà thơ dùng tán thán từ ô hay, để diễn tả trạng thái vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Ngạc nhiên, vì chú Tễu đóng khố, được sơn phết, và miệng cười toe toét, bao giờ cũng là lần đầu đem lại không khí mới cho đêm hội. Mừng, vì chú Tễu, kẻ đại diện cho quần chúng nhân dân, nói tiếng nói sâu thẳm tận đáy lòng họ. Bao nhiêu khúc mắc, oan ức, liền mượn miệng Tễu mà thổ lộ. Lòng Tễu và lòng ta không khác. Chú Tễu, kẻ bị giật dây hề trên sân khấu, khác chi sân khấu cuộc đời! Các nghệ nhân đang thể hiện tài “múa rối”, như quyền năng của Tạo hóa. Ở đây, trong môn nghệ thuật này, Tạo hóa lại là lòng dân đấy!

Và chú Tễu ấy nghìn năm không già! Vì sao? Từ chú là thông điệp muôn đời cho ta biết, chỉ là một đứa trẻ, ngô nghê, lém lỉnh, muốn nói gì thì nói. Miệng trẻ mà. Không ai chấp nhặt. Thế đấy. Bởi chú biết đem tiếng cười dân gian pha lẫn chất đạo lý mà răn đời. Tác dụng nghệ thuật đem lại là không nhỏ. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu từng viết: “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Nhờ ý thơ mạnh mẽ, kẻ ác không dám quấy nhiễu. Nhân dân yên ổn làm ăn.

Đó là đạo lý mà thơ gởi gắm. Nhà thơ Vũ Tam Huề bắt được cái khoảnh khắc ấy. Một bài haiku ra đời như một chú Tễu hạnh phúc. Ta cũng hạnh phúc theo chú Tễu. Cười chơi...

*

MẦM

Xuân mới

đang lên

từ hạt cũ

(Lê Đình Công)

Xuân của Lê Đình Công không hẳn là quý ngữ. Tuyệt nhiên, nó chỉ là từ chỉ cái đang nhú lên giữa thời tiết ấy mà thôi. Sự vận động trong thơ Haiku chợt mang ý nghĩa mới khi ta ngắt dòng. Không cần biết cái gì đang lên, tứ thơ cứ phơi phới như luồng gió, mà chỉ có hai từ thôi! Đó là một điều thú vị khi tác giả lập tứ cho ý bung lên. Khá giỏi, nếu không phải là tay thơ có nội lực, chưa chắc đã dám hạ bút dòng này!

Nhưng, điều bàng hoàng hơn cả là cái kết đầy hàm ngôn. Một hạt cũ đang nẩy mầm trên cái nền mùa xuân mới. Chất liệu thơ đang hiện lên ba thời: quá khứ, hiện tạitương lai. Thơ Haiku như chiếc kính chiếu yêu, có thể soi cho chúng ta thấy cái mầm non của cuộc sống đang bắt đầu. Hạt cũ mang tính di truyền, gợi chúng ta không quên nguồn cội. Cái gì mới cũng bắt đầu từ cái cũ xa xăm. Mặc dù có đôi lúc, đôi nơi, con người sống vội, quên đi tình xưa nghĩa cũ, quên đi gốc gác của mình...

Có phải chăng thơ là đạo lý? Một cái mầm thôi mà chở cả đạo lý muôn đời. Ấy là thơ của loài người, không còn là thơ của một quốc gia nữa. Thơ Haiku không những “tránh sang một bên”, mà còn cùng độc giả sáng tạo, thưởng lãm là vậy. Độc đáo và kỳ diệu vô song!

Đọc xong bài thơ nhỏ, có một câu hỏi được đặt ra. Chúng ta đang gieo hạt gì trong đời sống này? “Gieo gì gặt nấy”, cha ông ta đã nói vậy. Thơ cũng đang nói vậy. “Gieo gió gặt bão”, bài thơ bảo chúng ta hãy gieo những hạt tốt lành, nhân ái. Đừng bao giờ quên, và nhất là đừng coi thường những hạt cũ! Hạt cũ sẽ nẩy mầm trong tương lai. Hạt nhân quả. Mầm nhân quả... Nghe. Sợ...

*

NGỠ

Cành đào soi bóng xuân

ngỡ mồi

con cá đớp

(Đỗ Tuyết Loan)

Nếu Lão thi Đinh Nhật Hạnh viết về cái bóng hoa đào trên không: “một bóng hoa đào/ thắp bừng ngõ nhỏ”, thì haijin Đỗ Tuyết Loan viết về cái bóng hoa đào dưới nước. Trên không cũng khó mà dưới nước cũng khó.

Vâng, nếu không khó không thành vấn đề. Vấn đề đặt ra chủ đề. Nhưng thơ Haiku là bất chợt. Vì vậy mà không có đề. Ba câu là ba ý tưởng khác nhau. Con cá ngỡ hay ta ngỡ? Cả hai chăng?

Cả hai.

Ngỡ tức Tưởng, là một tri giác ghê gớm. Theo Phật giáo, tưởng là một trong ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tưởng là một tri giác bao gồm mọi nhận thức về thế giới vật lý và tâm lý. Thế giới vật lý trong thơ đã được ký hiệu hóa là “mồi”. Còn thế giới tâm lý lại là một cái bóng. Bóng hoa đào. Bởi thế, cá đớp bóng mà cứ ngỡ ấy là “mồi”. Thế đấy, tri giác luôn bị đánh lừa, do thực tại quá sinh động. Cuộc đời cũng vậy, con người luôn bị đánh lừa bởi những ảo tưởng. Ta có nghĩ rằng, ta đang chạy theo một cái bóng phù du không?

Có đấy!

Những danh lợi phồn hoa luôn là bả mồi cám dỗ, quyến dụ ta, hụt hơi mà không bao giờ tới đích.

Bài thơ cho ta một cú dừng. Thơ không hề đả động gì tới một mặt hồ, hay mặt ao nào cả, mà dòng đời là cả một mặt hồ, mặt ao long lanh. Những thứ in dưới đáy nước là ảo tưởng long lanh đó. Hành động của con cá “đớp” là hành động của con người. Những cú “đớp” làm đau đời sống!

Đẹp thật đấy, mà cũng ảo tưởng thật đấy.

Không biết có ai tỉnh ra không, chứ thơ có công năng thức tỉnh. Tiếng cá đớp mồi vô thanh, mà sao vang lên trong thơ Đỗ Tuyết Loan tiếng vang không dứt?

Phải rồi. Con cá đớp bóng hoa đào, mà lòng ta cứ ngỡ...

*

Ừ... XUÂN

Xuân ừ

bên nhau

không biết vì sao

(Như Trang)

- Thơ ư? Ừ thơ!

- Hay ư? Ừ hay!

Biết thơ hay, mà không biết hay chỗ nào. Vì sao? Đó là chỗ mà thơ Haiku giấu lời. Lời ẩn tàng trong ý tại. Hỏi xuân ư? Ừ xuân, là lẽ tất nhiên. Kiệm lời đến mức nhà thơ là một "Lãng nhân". Lão lười, biếng nói, biếng viết. Mà viết rất sâu.

Nhà Phật đề ra thuyết: “sinh, trụ, dị, diệt, tức thành, trụ, hoại, không”, là bốn quy luật chi phối mọi hiện tượng trong vũ trụ. Mùa xuân sinh khí tụ cho cây cối nẩy mầm. Con người tụ bên nhau mới ra lễ nghĩa, nẩy lộc đâm chồi các niềm tin, thuần phong mỹ tục mới được giữ gìn. Mùa xuân ấm áp, lá hoa đua nở. Con người về bên nhau để chúc tụng, ca mừng sự sum họp. Vì thế mà bao ý thơ, nhạc, họa ra đời. Tự cổ chí kim, con người luôn ra đi và luôn trở về, là một nghĩa cử hồi hương rất đẹp trong hành trình đi tìm đất sống. Con cá hồi trở về khi đẻ trứng. “Cóc chết ba năm quay đầu về núi”. Con người thì ngày trở lại cúng viếng tổ tiên là ngày Tết. Ý nghĩa nguồn cội của người Á Đông rất được đề cao, và được xem như là bài học để hoàn thiện nhân cách. Nhà thơ Đỗ Trung Quân có bài thơ Quê Hương nổi tiếng (Giáp Văn Thạch phổ nhạc) như sau: “Quê hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi. Quê hương nếu ai không nhớ/ Sẽ không lớn nổi thành người...”. Vâng, thế đấy, nếu không có những ngày nhớ về bên nhau ấy, tức là sự trở về nơi bản quán, quê hương xứ sở, chất con sẽ không lớn nổi thành chất người, để làm một Con Người hoàn thiện được.

Nhưng kết luận: “không biết vì sao”, làm hoang mang tâm lý độc giả không ít. Nếu theo mạch, người ta có thể viết câu thứ ba: “giữa ngày nguyên đán”. Nghe nó trơn tru, liền lạc. Nhưng như vậy thì bài thơ mất hết chủ ý. Sẽ không còn cái chất bất chợt và gợi nữa. Không biết vì sao bởi chính lúc bên nhau đã quá đủ ý nghĩa rồi; không còn gì để nói chứ không phải là không biết.

Thơ cần gì phải biết.

Chỉ gợi thôi rồi “né sang một bên” cho độc giả thưởng ngoạn. Đó là sự chia sẻ và coi trọng độc giả!

Thật không? Ừ thật...

Ta cũng thật tình như haijin Như Trang. Cảm xúc là bất chợt, có sao nói vậy. Ừ... xuân!

NTN

Tình yêu lứa đôi trong thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Hình như trong đời sống văn hóa xã hội Nhật Bản người ta trọng Đạo hơn là Tình. Võ sĩ đạo với những samurai chứ không phải là:

“Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt

Xếp bút nghiên theo việc đao cung”

(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)

alt

Và Trà đạo với tiêu chí Hòa, Kính, Thanh, Tịch chứ không là:

“Mành tương phất phất gió đàn

Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Hay:

“Nồi cơm nấu dở bát nước chè xanh

Ngồi vui kể chuyện tâm tình bên nhau”

(Bao giờ trở lại – Hoàng Trung Thông)

Người Việt Nam trọng tình nên khi làm thơ haiku đã mang cái tình ấy từ ca dao dân ca, từ các thể loại thơ khác và cuộc sống thường nhật vào như một lẽ đương nhiên. Ấy là tình yêu cuộc sống, yêu con người và thiên nhiên. Trong mọi thứ tình thì tình yêu lứa đôi, khi nói đến bao giờ cũng đau đáu hơn, da diết hơn cả.

Chỉ mới gặp nhau lần đầu thôi, mà lại gặp ở chốn tôn nghiêm thiền tự. Chỉ một nụ cười bẽn lẽn thôi, có là gì đâu mà đã vận vào mình mối lương duyên cho cả cuộc đời:

Vãn cảnh chùa

gặp nụ cười bẽn lẽn

ngỡ duyên bén trăm năm

(Cao Ngọc Thắng)

Hơi bị ngộ nhận đấy nhưng biết làm sao khi mà niềm yêu đã nổ bùng như một phản ứng nhiệt hạch. Còn như mối tình đầu này thì lời tỏ tình lại long lanh êm đềm biết nhường nào:

Giếng nước đầu làng

lời tỏ tình

trong veo

(Lục Đình Thìn)

Đọc phiến khúc sau của Phan Vũ Khánh tự nhiên ta nhớ đến hình ảnh một đôi chim lạ trong rừng xanh với anh chàng đẹp mã mang đến cho nàng món quà ưa thích rồi cùng nhau chuyền cành, đuổi bắt, trao nhau hơi thở trên tàng cây nhuộm vàng nắng sớm:

Núp cây rơm

chia thơm củ ấu

nụ hôn đầu

Cuộc tình này có lẽ hơi non trẻ nhưng rất dung dị, tươi tắn, diễn ra với cây rơm củ ấu ở một làng xanh yên bình đến là yêu. Trong những biểu hiện yêu đương, có lẽ ánh mắt là phương tiện giao tình nhẹ nhàng, tế nhị và đằm thắm nhất. Chỉ từ một khóe mắt đắm đuối mà nó là trời xanh cho chim sải cánh ngày xuân chao liệng, là biển biếc cho cánh buồm tình yêu giong khơi hay là tia chớp lửa thiêu cháy trái tim nồng nàn yêu.

Mắt em xanh

lăn dài giọt lệ

thăm thẳm chiều xuân

(Lục Đình Thìn)

Hay:

Nắng xuân lung linh

ánh mắt em cười

tôi lạc giữa trời mơ

(Vũ Tam Huề)

Người Việt Nam chúng ta tự hào về nét đẹp văn hóa hội hè. Trong những ngày ấy, người trẩy hội thỏa lòng khát khao nhiều bề. Được tôn vinh truyền thống, được thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, nghệ thuật và được mở lòng với nhau bằng lời ca, bằng ánh mắt. Nhưng ẩn sâu trong tất cả vẫn là tình lứa đôi:

Câu quan họ chòng chành

mắt liền chị lúng liếng

lòng người chông chênh

(Lê Văn Truyền)

Chẳng phải chỉ với các lễ hội truyền thống mà cả những ngày lễ mới nhập từ bên ngoài cũng thế thôi:

Mười bốn tháng Hai

nhịp tim rộn rã

mắt nai chờ!

(Kiều Lam)

Ca dao xưa chẳng đã từng khẳng định “yêu nhau củ ấu cũng tròn” hay “yêu nhau yêu cả nết đi” đó sao. Đó là “quy luật” của tình yêu rồi chẳng bao giờ thay đổi đâu. Khi đã yêu, chỉ một nét cười cũng đủ sưởi ấm con tim ngày đông giá:

Trời buốt lạnh

nét cười nhí nhảnh

bếp hồng trong tim

(Vân Đình)

Chỉ một thoáng dáng dung dị của người mình yêu cũng đủ lòng say ngây ngất:

Gió chiều hương say

lụa châu óng ả

nương đầy bóng em

(Phùng Gia Viên)

Vậy nên có nói quá lên như người xưa rằng cái nhìn của người yêu đẹp có thể làm nghiêng thành, nghiêng nước cũng chẳng lấy gì làm ngoa ngoắt lắm (Nhất cố ngưỡng khuynh thành, tái cố ngưỡng khuynh quốc).

Tình cảm lứa đôi trong cuộc chia ly khó có bút nào nói được hết. Nó day dứt đến độ, nó tan hoang tột cùng. Chỉ có thể mượn một hình ảnh tự nhiên để cài vào cho mặc sức mường tượng mà thôi:

Ngày em đi

nâng ly

uống sóng

(Lý Viễn Giao)

Hay thế này:

Trời tháng Năm mưa đám

em đã về phố biển chiều nay

mây cô đơn lặng lẽ

(Sơn Thủy – Đất Cảng)

Khi mà cuộc chia ly là ly biệt thì nỗi day dứt sẽ trở nên khôn nguôi:

Người ấy sang ngang

bến nước cuối làng

chênh chao sóng mãi

(Lý Viễn Giao)

Tình yêu lứa đôi của con người trong nhiều trường hợp đã được khéo léo nhân cách hóa cho sự vật. Khi ấy, sự ầm ào được làm mềm đi một cách tế nhị nhưng vẫn không ảnh hưởng đến độ thẩm của người thưởng thức thơ:

Biển kéo tấm chăn sao

đắp lên mặt đất

thủy triều dâng cao

(Mai Liên)

Hay:

Đêm valentine

lũ mèo

chẳng ngồi yên

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Tình yêu là thứ kỳ diệu nhất trong đời sống tình cảm con người. Có những cuộc tình bởi nhiều yếu tố bất thuận mà không kết trái. Lại có cuộc tình tự nó cắp nón ra đi. Vết đau trong lòng đã kết sẹo, vậy mà trong một lúc ngẫu cảm nó lại hiện về mồn một gọi thức nhớ nhung:

Ngõ sâu

ti-gôn nở thắm

tình yêu xưa

(Thanh Vân)

Ai mà biết được Lão haijin Đinh Nhật Hạnh đã chín mươi cái xuân xanh trọn vẫn ấp ủ những giấc mơ trẻ trung, xanh mướt như thế này:

Giấc mơ xuân

nhúng nhẳng

cứ đeo đẳng nhau hoài

Có phải trong sâu thẳm lòng ông vẫn có một mầm yêu, một ngọn lửa yêu mơn mởn, lung liêng?

Thế đấy, cây Haiku đang bầm rễ sâu uống nước nguồn trên đất Việt đã nở rộ hoa. Hoa suốt bốn mùa và lựng ngát. Hoa mang hương sắc Việt. Ta vừa ngắt vài dăm đóa trong ngàn ngàn bông để thưởng thức hương thơm tình yêu đôi lứa, để tự hào về vườn hoa của mình.

L. V. G

Bức ảnh hay khung hình- Lê Văn Truyền

alt

“IT’S THE PHOTO, NOT THE FRAME”

trong góc tường

chiếc khung ảnh chơ vơ

đợi chờ bức ảnh

Lê Văn Truyền

Ngạn ngữ phương Tây thường có câu: “It’s the photo, not the frame” có thể tạm dịch là “bức ảnh chứ không phải khung hình”. Cũng có thể hiểu, tầm quan trọng là ở bức ảnh chứ không phải ở khung hình.

Nhưng có ai đó lại bảo “Ảnh càng cũ càng có giá trị, khung càng mới càng được ngắm nghía”. Hình như có lúc người ta không biết giữa bức ảnh và khung hình cái nào quan trọng hơn, cũng như bộ quần áo đắt tiền có khi lên đến hàng chục ngàn đô la và người mặc nó cái nào đáng quý hơn. Thật ra quý hay không cần phải có sự thử thách của thời gian: chỉ có những thứ gì quý giá mới trường tồn được với thời gian để trở thành báu vật. Vì ai cũng biết rằng có thể dễ dàng thay được một cái khung ảnh nhưng không ai thay được bóng hình cũ, cũng như “bộ cánh” có thể dễ dàng thay được (khi có tiền, hoặc có … rất nhiều tiền) nhưng bản chất và giá trị của người mặc nó không thể thay đổi trong một sớm một chiều.

Chiếc áo chẳng bao giờ làm nên ông thầy tu” như một câu ngạn ngữ Phương Tây đã nói.

Các nhà nhiếp ảnh thường quy định “tỷ lệ vàng” giữa ảnh và khung. Điều đấy cho thấy sự gắn bó mật thiết của bức ảnh và khung hình. Một cái khung, dù đẹp đến đâu cũng không bao giờ phù hợp với tất cả các loại ảnh. Cũng như trong cuộc sống, mỗi người phải tự tìm lấy một “cái khung” cho mình. Trong thời đại công nghệ thông tin, chỉ với một cái “click” chuột ta có thể xóa một bức ảnh hoặc thậm chí cả một “file” ảnh trong bộ nhớ máy tính. Nhưng máy tính không thể nào xóa được những hình ảnh đã in đậm trong tâm trí ta qua bao năm tháng. May thay công nghệ hiện đại không làm được điều đó. Nếu không cuộc sống tinh thần và tình cảm của chúng ta sẽ ra sao trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 này?

Thế nhưng, có phải trong cuộc sống hiện đại nhiều khi người ta lại chỉ quan tâm đến cái khung hơn tấm ảnh? Đúng vậy, trào lưu “sống gấp và sống ảo” hiện nay làm người ta không có thì giờ dừng lại để chiêm ngưỡng một bức ảnh và chiêm nghiệm về những gì chứa đựng trong bức ảnh đó. Thật là hiếm có hiện tượng như một Viện Bảo Tàng kia đã từng để một cái khung hình trống trong 86 năm, chờ tìm ra đúng tấm ảnh của người cần được treo vào đó. Trong xã hội hiện đại, liệu người ta có đủ kiên nhẫn và tấm lòng để làm được điều đó hay không?

Có người hỏi tôi: Vậy, điều quan trọng nhất của bức ảnh là gì? Thiển nghĩ: Đó là cái thần của bức ảnh. Ngày xưa, các cụ vẽ “truyền thần”, ngày nay chúng ta “chụp ảnh”. Biết cái nào hay hơn đây vì rất nhiều khi chúng ta có thể “chụp được ảnh” nhưng chưa chắc bức ảnh đó đã “truyền được thần” của nhân vật, đặc biệt trong thời đại “máy ảnh kỹ thuật số”. Một nhà thơ xưa có hai câu thơ tuyệt đẹp về nỗi nhớ người yêu đã mất: “Đập vỡ gương ra tìm lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hơi”. Cứ như bây giờ thì làm một cái ảnh màu, đóng khung, lúc buồn nhớ thì ngồi mà ngắm. Các chuyên gia về “công nghệ số” đã phát minh ra kỹ thuật “photoshop” để có thể giúp ta biến một cô Thị Nở thành nàng Tây Thi. Chắc chắn rằng những bài thơ hay về nỗi nhớ nhung của nhân loại đã giảm đi rất nhiều từ khi có máy ảnh. Nỗi nhớ của con người không còn cháy bỏng, thiêu đốt tâm can như trước đó. Trong thời đại của chúng ta sự lãng mạn của tình yêu đã phai nhạt đi rất nhiều. Điều đó tốt hay xấu?

Có người bảo tôi: Nói gì đi nữa thì khi muốn treo một bức ảnh vẫn cần phải có một cái khung. Vâng, đúng vậy. Nhưng, tôi nghĩ: Cái khung chỉ “đóng khung” được bức ảnh, chắc chắn cái khung không thể “đóng khung” được những suy nghĩ của chúng ta về chân dung của người trong bức ảnh đó.

Lê Văn Truyền

Câu Lạc Bộ Haiku Việt – Hà Nội

Thiên nhiên trong Haiku Việt- Cao Ngọc Thắng

Theo haikuviet.com CLB Haiku Việt- Hà Nội có 10 thành viên gửi thơ, mỗi người một chùm 5 bài, gia nhập WHA. Đây là những hội viên đã có “thâm niên” sáng tác thơ haiku và một số đã từng có thơ đăng trên tạp chí của WHA những số trước đây, như Đinh Nhật Hạnh, Lý Viễn Giao, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Hoàng Lâm, Lê Văn Truyền, Nguyễn Thị Mai Liên. Năm nay, các haijin Việt chọn trong số những sáng tác mới nhất của mình, thể hiện chiều sâu trong cách chọn đề tài, cách cảm nhận và biểu hiện sự khoáng đạt một cách nhuần nhị, tinh tế và đậm sắc thái, tâm hồn Việt có sức lan tỏa rộng và hội nhập sâu vào haiku thế giới.

alt

Đã ở cái tuổi tám mươi, haijin Phan Hữu Cường vẫn có tâm hồn rất trẻ trung, dụ được bướm theo chân mình:

Nước hoa tóc anh / cảm mùi hương lạ / bướm theo về nhà

Cả khúc thơ là một ẩn dụ về sức hút của tình yêu. Người ta nói: gái yêu bằng tai, trai yêu bằng mắt, chứ nào ai lại cảm nhau bằng vị, bằng mùi (?). Nếu loài bướm thật sự như trong thơ Phan Hữu Cường, thì chúng đã bỏ đồng quê đầy hoa thơm cỏ lạ để kéo vào những đô thị cơ man những loại nước hoa đắt tiền của các hãng nổi tiếng trên thế giới (!). Vả lại, nam giới ít dùng nước hoa hơn phái đẹp. Chính cái “nghịch” này khiến bài thơ lộ ra tình ý của thi sĩ, rằng: không phải nước hoa đâu, mà là sự “mới” ở mỗi con người làm nên hương lạ khiến đồng loại khác giới phải chú ý, phải theo bước anh ta, chưa hẳn là về nhà… Chữ thơ có vẻ làm điệu một chút, cố tình giấu đi ý thơ hàm ẩn nội dung khác, từ đó bật ra tứ thơ lạ!

Ngược lại, haijin Minh Trí, ở tuổi còn nhiều sức bật, hướng tới “địa phận” của sự đúc rút những chặng đường đã trải qua:

Đông về / thuyền neo bến / ngẫm ngợi hành trình qua

Sự neo bến của con thuyền là hình ảnh chấm dứt một chuyến đi đầy sóng gió. Hơn nữa, lại vào mùa đông – mùa cuối trong một năm, cũng là bước vào đoạn cuối của đời người. Việc ngẫm ngợi, theo trình tự, là điều tự nhiên dù là người vô tâm vô tính đến đâu. Đó là sự lo xa cho những chặng đường tiếp theo. Cái được và chưa được ở mỗi hành trình đều là những bài học kinh nghiệm có ích, cũng đều là động lực thúc đẩy những phẩm chất tốt đẹp ngày tốt đẹp hơn, điều chỉnh sự nghĩ suy và hành động chưa thật sự phù hợp đi vào quỹ đạo. Nhà thơ không chỉ nói cho riêng mình là vậy.

Thiêu thân là loài côn trùng, hễ thấy ánh sáng là lao vào một cách mù quáng, bất chấp cả cái chết. Người ta ví thiêu thân là xác chết. Haijin Nguyễn Thánh Ngã có cách nhìn khá độc đáo về con thiêu thân:

Sau cái chết / con thiêu thân sống lại / trước ánh đèn

Một xác chết sống lại trước ánh đèn! Cái chết thực của con thiêu thân chỉ khi nó lao đầu vào cái đèn đang tỏa sáng. Ánh sáng của cây đèn đã rọi chiếu vào hình ảnh rẫy chết của con thiêu thân, trước khi nó gục xuống. Sự sống ấy thật ngắn ngủi và điêu tàn, chỉ có ánh đèn mới tỏ tường được. Trong cuộc sống vị vật chất, ham hố tiền, địa vị, không ít kẻ có cuộc sống như con thiêu thân. Đức Phật khuyên con người buông bỏ tham-sân-si, nhưng lòng tham khiến không ít kẻ mù quáng, lao đầu vào những dục vọng để gánh lấy những món nợ đời liên miên, không còn khả năng thanh toán. Rõ ràng, giáo lý nhà Phật luôn luôn đem lại chân-thiện-mỹ, song việc thực hành ở con người khó đi đến nơi, đến chốn cũng chỉ vì không tự thân thoát khỏi sự tung hoành quấy đảo, phỉnh lừa của bọn lục súc.

Nữ haijin Nguyễn Thị Kim biểu cảm sự quan sát rất thật mà cũng rất tinh tế:

Bông sen rời cuống / tơ vương / ánh chiều

Bông sen rời cuống mà để lại những sợi tơ là có sự tác động bên ngoài, có thể do người bẻ/ngắt. Hình ảnh tơ vương rõ ràng là ngược sáng. Ánh chiều tà hắt ngược mới tạo nên vẻ đẹp ngời sáng, lung linh lên những sợi tơ óng mượt, chứ buổi sáng hay buổi trưa không tạo được hiệu quả ánh sáng như vậy.

Hãy đọc phiến khúc haiku dưới đây của haijin Phùng Gia Viên một cách ngẫm ngợi:

Chiếc lá rơi / thời gian / thành góa bụa

Ba hình ảnh rất xa cách mà lại cụm vào thành tứ thơ. Sự góa bụa này dành cho chiếc lá hay dành cho thời gian? Không, không dành cho cái cụ thể nào cả, mà dành cho mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên, trong xã hội, vừa thực vừa ảo, vừa có vừa không, vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chiếc lá thuộc cây, rơi khỏi cây, mà cây chẳng đoái hoài. Thời gian là ngày-đêm, là bốn mùa, là năm tháng. Lá lìa cành cũng thể hiện thời gian, thời gian của sự luân chuyển có sinh có diệt. Vậy, thời gian là nguyên cớ của sự rụng lá. Cô đơn chẳng dính vào cây, cũng chẳng dính vào thời gian. Chỉ có lòng người trở nên góa bụa (!). Người cùng thời gian đi trong không gian, đau đáu tìm sự thanh nhàn cho đầu óc thảnh thơi, cho thân thể bớt giày vò. Con đường ấy là vô tận, càng đi càng thấy chân trời ở phía trước. Mỗi khi nhìn thấy lá rơi, lòng người quặn thắt, vận vào cuộc đời. Lá lìa cành tựa như chiếc đồng hồ đếm ngược, đưa con người vào chu trình luân chuyển của trời đất. Vậy, không góa bụa làm sao, dù cho thân xác vẫn còn, vẫn ở trong vòng quay thời cuộc, nhưng nhiều trắc ẩn biết tỏ cùng ai…

Đây nữa, cùng đồng hành trạng thái góa bụa:

Ngàn trang sách / mỏi mắt tìm / một trái tim

Làm bạn tri kỷ với sách cốt tìm thấy một trái tim để yêu, mà không được. Cuộc đời là vậy. Haijin Lý Viễn Giao thổ lộ cái cô đơn của người mải miết đi tìm. Nếu như những bài học lịch sử được con người tiếp nhận một cách thật tâm, thấu đáo, thì cuộc đời sau phải tất nhiên tốt, đẹp, bớt đau khổ, bớt bùng nhùng hơn những cuộc đời trước. Nhưng, thế giới loài người không bao giờ chấp nhận hai chữ “nếu như”, do vậy chiến tranh vẫn liên miên, tội ác không giàm mà còn ở quy mô lớn hơn, kỹ xảo hơn, tỷ lệ người nghèo ngày càng gia tăng, thiên nhiên ngày càng kiệt quệ, thảm họa ngày càng mở rộng… Lý Viễn Giao mỏi mắt tìm trái tim nào đây? Đó là trái tim người nhân hậu! Mặt bằng xã hội cả thế giới này đang bị xáo trộn, đang bị tha hóa bởi những lực lượng vật chất đồ sộ, con người trở nên lãnh đạm, thờ ơ, xa rời, tách biệt khỏi chân-thiện-mỹ, mọi giáo lý đẹp đẽ đều bị lãng quên, coi thường. Bản thân sách chứa đựng biết bao điều cần thiết cho cuộc sống, nay cũng là đối tượng của sự lùi tàn trước cơn lốc bùng nổ internete. Bao nhiêu nỗ lực của loài người chẳng qua là nhanh đến đích diệt vong…

Phiến khúc haiku sau đây của haijin Lê Văn Truyền làm rõ thêm sự lệ thuộc của con người vào công nghệ thông tin:

Trên xe buýt / đám đông lặng im / dán mắt vào màn hình điện thoại

Có lẽ thói quen lệ thuộc, ỷ lại và chuộng lạ, chuộng ngoại đã đưa con người đi từ cái lười lười này đến cái lười khác. Số đông bây giờ không ngại ngần thể hiện lòng ích kỷ, chẳng quan tâm đến nhau, đến cộng đồng, cho thấy sự băng hoại tâm hồn, tự làm nghèo đi tính linh hoạt, sôi nổi, tiếp cận cái tốt đẹp, sự đổi thay theo chiều hướng tích cực. Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng vừa đem lại những điều hay, giúp con người, giúp xã hội tiến nhanh, gạt bỏ những rào cản, xóa đi mặc cảm để đi sâu vào các lĩnh vực tiên tiến, nhưng nó cũng đem lại những hậu quả, trực tiếp hay gián tiếp, vô cùng không có lợi cho sức khỏe, cho túi tiền, cho những mối quan hệ gia đình, xã hội… Dán mắt vào màn hình điện thoại chỉ là một hình ảnh cụ thể trong muôn vàn tiêu cực mà internete đưa lại. Phải chăng con người đang tự trói buộc mình để rồi gỡ ra không nổi?

Nữ haijin Nguyễn Hoàng Lâm đặt vấn đề:

Hỏi nguồn / dòng suối / ngước lên trời

Một vấn đề có tính quy luật tự nhiên. Dòng suối chỉ là một hình ảnh cụ thể, đại diện cho tất cả các sự vật khác tồn tại trong thiên nhiên, bởi cái gì chẳng có nguồn, có gốc, cái gì chẳng có thể ngước lên trời để hỏi – trời là nguồn sống của vạn vật. Nhưng, trời cao và xa lắm, “ông” còn phải điều khiển, điều tiết nhiều thứ lắm, nên mỗi cá thể phải tự mình tìm lấy câu trả lời.

Thì câu trả lời là đây:

Đời như dòng sông / phải vượt thác ghềnh / mới về biển cả

Haijin Đinh Nhật Hạnh nói về một quy luật khác – quy luật tự vận động, phổ biến trong cả tự nhiên cả trong xã hội. Vạn vật sinh ra vốn dĩ đã mang trong mình sự tự vận động. Có vận động mới tồn tại. Sự vận động tất yếu không bằng phẳng. “Sông có khúc, người có lúc”. Thăng trầm là không thể tránh được. Không nghich lý khi nói rằng: đường quanh co là lối đi ngắn nhất để đến đích. Mở đầu bài thơ, tác giả ví đời người như dòng sông là muốn nhấn mạnh sự tự vận động của mỗi người, là con người sinh ra có nghĩa vụ phải đấu tranh, đấu tranh với sự cám dỗ, đấu tranh với chính bản thân mình. Cuộc đấu tranh ấy tất yếu phải phù hợp với quy luật thì mới mong chinh phục được thiên nhiên phục vụ lợi ích chung của loài người, mới mong đương đầu với những lực lượng luôn kéo văn minh thụt lùi, để vươn lên những điều tốt đẹp.

Nữ haijin Nguyễn Thị Mai Liên biểu cảm cũng quy luật ấy bằng cách tư duy khác:

Sóng gió / đẩy thuyền ra khơi / về phía mặt trời

Vị trí địa lý của Việt Nam cho hay rằng, mỗi khi bình minh lên gió từ đất liền thổi ra phía biển (quy luật gió thổi từ vùng áp cao tới vùng áp thấp – sáng sớm nhiệt độ trong đất liền hạ thấp hơn so với ngoài biển, nơi nước biển giữ được độ ấm), nên người dân chài tận dụng lợi thế đó going buồm ra khơi, hướng về phía mặt trời đang mọc. Đấy là nguyên lý phổ biến. Nhưng, ngụ ý của tác giả còn ở chỗ: ra khơi, các con thuyền cùng chung sức để cùng hướng tới mục đích chung, hướng tới lợi ích chung. Mặt trời là trung tâm, hội tụ những mục tiêu chung để cùng tới đích.

*

Qua sự lựa chọn những phiến khúc haiku để bình phẩm như trên, tôi muốn bày tỏ rằng, từ thực tế đất nước mình, bằng những cảm nhận và thể hiện khác nhau, các tác giả đã đưa vào thể thơ haiku một thiên nhiên đặc trưng với tâm hồn Việt khó trộn lẫn. Thiên nhiên Việt Nam và con người Việt Nam luôn luôn hòa nhập trong mối quan hệ gắn bó từ lâu đời, là nền tảng cho tính cách Việt, cho nền văn hóa Việt Nam hình thành và phát triển, tạo nên những truyền thống quý báu và bền vững, vừa hướng vào nội tâm vừa rộng mở ra thế giới. Đặc trưng của thiên nhiên Việt Nam không đơn phương, trái lại luôn là sự ẩn dụ tinh tế, nói lên tâm tư, nguyện vọng và cả sự kín đáo về nhiều mặt của con người Việt Nam trong hoạt động văn học nghệ thuật, đặc biệt là thơ ca. Vì thế, việc tiếp nhận và sáng tạo thể thơ haiku đối với người Việt Nam khá nhanh chóng, và cũng nhanh chóng khẳng định hướng đi của haiku Việt trong cộng đồng haiku thế giới.

Láng Hạ vào đông

C. N. T

Trà hoa nhài- Lưu Đức Hải

alt

Trà hoa nhài

xuân đang độ

vắng cành mai.

Lê Văn Viên (nhóm thơ haiku làng Cao Lao Hạ)

Chỉ có 9 chữ thôi mà vẽ ra được một bức tranh tuyệt đẹp về một mùa xuân, một mùa “xuân đang độ” chín. Trong bức tranh đó, ta nhìn thấy có trà, có hoa, có sương, có gió,... và có người vừa thưởng trà vừa thả hồn lần theo từng nhịp thở của mùa xuân.

“Vắng cành mai” để ngắm hay vắng người yêu thương để cùng tâm sự, hàn huyên đã làm cho bức tranh xuân đẹp hơn, mang tính triết lý nhiều hơn, bởi thế gian này chẳng có cái gì là tuyệt đối, là hoàn mỹ cả.

Tác giả của bài thơ là bác Lê Văn Viên, người làng Cao Lao Hạ, năm nay 82 tuổi, vợ bác đã mất từ nhiều năm trước. 82 tuổi mà vẫn chỉ mới là "xuân đang độ". Thật là lạc quan, yêu đời, biết bác, hiểu bác, càng khâm phục bác nhiều hơn.

LĐH

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay4723
mod_vvisit_counterHôm qua7674
mod_vvisit_counterTất cả2122109
Hiện có 298 khách Trực tuyến

Quảng Cáo