Đôi điều về cấu trúc thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Trong các phiến khúc Haiku từ xưa đến nay, ở mọi quốc gia, đều rõ mồn một ba thành phần. Người ta có thể viết trên ba dòng:

古池や (Furuikeya)

蛙飛び込む ( Kawazu tobikomu )

水の音 ( Mizu no oto)

( Basho )

Hay một dòng, dùng dấu ngắt để phân cách ba thành phần ấy: 古池や / 蛙飛び込む /水の音

Hãy cùng nhau làm công việc tìm xem các thành phần ấy là gì để đi đến chuẩn mực khảng định một khúc thơ có phải Haiku hay không.

alt

Là ba câu ư?

Ở một số bài thơ, đó là ba câu thực sự . Chẳng hạn:

“Cá xuống nước

Mây về trời

Ta thả ta vào chân không” (Doãn Thiện Niệm). Hay:

“Chiếu giải hiên đình

Sáo ghẹo trúc xinh

Tay em uốn gió” (Lý Viễn Giao)

“Sông đưa nước ra biển

Gió dìu mây về nguồn

Người đưa hồn về quê” (Lam Hồng)

Nhưng ở rất nhiều bài, ba thành phần này chưa là câu:

“Ngõ cụt

Thoáng bóng hồng

Vấp” (Nguyễn Kỳ Anh). Hay:

“Không mưa

Những cột đèn đường

Âm bản đêm” (Đinh Trần Phương)

Ngay cả bài thơ Con ếch của Basho, chỉ có hai thành phần sau “Con ếch nhẩy vào” và “Tiếng nước xao” là câu còn “Ao xưa” đâu phải thế!

Ba thành phần của khúc thơ Haiku là ba câu với đầy đủ chức năng của nó để tạo nên bài thơ thì điều đó không sao cả. Nhưng có cần phải như vậy không thì cũng thấy rồi. Cho nên không thể mặc định cho thơ haiku là Thơ ba câu.

Hay là ba dòng?

Dòng không mảy may mang ý nghĩa nội dung nào trong viết lách. Dòng chỉ có vai trò như một đơn vị đong chữ. Trên một dòng, người ta có thể chỉ viết một chữ nhưng cũng có thể viết đầy kín chữ. Có thể viết một câu hay nhiều câu. Nếu các chữ trên đó là của một ý sẽ không cần phải dùng đến dấu phân cách . còn như trên dòng ấy gồm nhiều thành phần, tùy theo mối quan hệ giữa chúng mà dùng các dấu phẩy (,), chấm (.), chấm phẩy (!), hỏi chấm (?) … hay gạch chéo (/) để phân định. Thơ Haiku thường hay dùng cách viết mỗi thành phần riêng một dòng, cũng có viết chúng trên một dòng rồi dùng dấu gạch chéo để phân chia nhưng ít hơn. Chẳng hay có phải vì thế mà nhiều người mặc nhiên gọi thơ này là thơ ba dòng? Điều này rất nguy hiểm, nó sẽ dẫn đến sự lẫn lộn về tiêu chí của một bài thơ. Nếu trên mỗi dòng là một thành phần đúng chức năng thì sẽ không sao rồi, nhưng nếu đặt lên dòng kẻ một số chữ không có ý, không hình ảnh, không nằm trong mối quan hệ chung với các dòng khác để nói lên một ý tưởng thì sao thành khúc Haiku.

Vậy ba thành phần ấy là gì ?

Trong nhiều trường hợp mỗi thành phần ấy là một hình ảnh, chẳng hạn:

“Hai người đơn côi

Ngược chiều

Sóng đôi” (Như Trang) Hay:

“Chớp lóe

Mưa trắng đồng

Mẹ gánh cơn giông” (Lương Thị Đậm)

“Tia chớp xanh lè

Gió bấu ngọn tre

Mưa nghiêng mái lá” (Lý Viễn Giao)

Nhưng trong nhiều trường hợp khác, ba thành phần của khúc thơ chỉ là ba ý:

“Xuân đến

Xuân đi

Tình ở lại” (Thánh Ngã) Hay:

“Tháng Bẩy qua rồi

Sao còn rơi lệ

Vợ chồng Ngâu ơi!” (Đoàn Thị Thu Vân)

“Trăng vàng đỏng đảnh

Đẹp chỉ đêm rằm

Đâu ngờ hôm khuyết” (Mai Trinh)

Lại cũng có khúc Haiku chứa cả hình ảnh và ý xen nhau trong ba thành phần của mình:

“Gió xuân

Tóc trắng bay

Nhớ thời mười bẩy” (Lê Thị Bình) Hay:

“Ánh mắt

Nụ cười

Tim lỗi nhịp” (Phạm Ngọc Liễn)

“Cánh buồm nâu

Về đâu

Biển nhớ” (Lý Viễn Giao)

Có thể gần như khảng định, ba thành phần trong phiến khúc Haiku phải là những hình ảnh hay ý. Nếu muốn biểu đạt cho gọn, chỉ dùng một tên thôi, thì nên gọi thế nào sẽ là hợp lý? Ý có thể không phải là hình ảnh nhưng mỗi hình ảnh thực ra đã nói lên một ý. Vin vào lẽ ấy mà thống nhất cho rằng bài thơ Haiku gồm ba ý quả thật không sai. Ba ý này độc lập với nhau trong một chủ đề thống nhất , bởi thế được nhấn mạnh bằng danh xưng “Ngắt ý”.

Quan hệ giữa ba ngắt ý trong một khuc Haiku rất bình đắng. Chúng bổ sung cho nhau để làm nên ý tưởng chung cho toàn bài. Xin lấy khúc Haiku của tác giả Phùng Gia Viên làm minh chứng:

“Cành củi

Gió lay

Bướm đậu”.

Ở đây các ngắt ý không hề phụ thuộc nhau, chẳng ý nào là phụ, là chính. Nếu nhặt riêng từng ý sẽ chẳng thấy điều gì nhưng gộp chúng lại thì đó là mùa xuân, là sự hồi sinh trên khô cằn, là tình yêu…

Ta hay gặp trường hợp một phần phụ, phần nối dài của một ý được viết tách ra rồi coi đây là một ý thì khúc thơ đó chưa phải Haiku:

“Chiều vương

Sương buông

Trên vuông cỏ biếc” (Ví dụ của tác giả bài viết này)

“Trên vuông cỏ biếc” có phải chỉ là cái đuôi của ý hai không. Vậy ví dụ trên chưa phải là bài thơ Haiku.

Đôi khi lại gặp trường hợp một phần của ý được tách ra để tạo cảm giác về hình thức coi đó là là một ý :

“Rau càng xanh

Canh

Càng rầu” (Vì phun thuốc !) (Ví dụ của tác giả bài viết này)

Như vậy cũng không làm nên khúc Haiku được vì cả hai dòng dưới mới chỉ là một ngắt ý “Canh càng rầu” mà thôi.

Bài thơ viết đúng tiêu chí của cấu trúc chưa chắc đã hay. Bài thơ hay nhưng không đúng tiêu chí sẽ không là thơ Haiku. Thiết nghĩ, người làm thơ Haiku trước hết phải làm đúng, sau đó nâng lên thành hay bằng tài ba riêng của từng người vốn có hoặc tích lũy mà có được. Cái hay bay lên từ cái đúng là hay vĩnh cửu, một điều không phải chỉ của thơ, lại càng không phải của riêng thơ Haiku.

LVG

Hương dậy thì- Nguyễn Thánh Ngã

alt

trắng muốt

trên những cánh hoa đan

hương cafe dậy thì

(Phượng Uyên)

Nếu ai từng sống, hoặc có dịp đến Tây Nguyên trong mùa hoa cafe nở, chắc sẽ có cùng cảm nhận với tác giả của bài thơ này. Phượng Uyên là cái tên mới toanh trong làng Haiku Việt, nhưng đã ghi dấu ấn bởi "hương cafe dậy thì".

Thật vậy, đứng trên đồi cao nhìn xuống rẫy cafe trải dài bạt ngàn như dải lụa bạch, ai không ngỡ ngàng reo lên "trắng muốt"...

Một màu trắng tinh khôi như màu áo học trò, cảm giác yêu thương và tinh khiết, dễ lay động lòng người. Đó là màu trắng toàn thể nhìn từ xa, còn nhìn gần sẽ thấy "trên những cánh hoa đan", hoa cafe nở xen nhau hàng nghìn vạn cánh. Màu hoa được những cánh ong hút mật làm trôi đi như dòng thác đổ.

Lặng lẽ.

Vô thanh...

Đây là câu thơ nói lên cái nhìn mỹ cảm của tác giả. Phân tích ta sẽ thấy hoa cafe có năm cánh, thường nở chùm đôi chùm ba, cho nên mỗi cây cafe có thể cho từ 30 - 40 ngàn bông hoa, nở đan nhau đến trĩu cành! Chỉ với hai ý thơ thôi, đã gợi lên cảnh tượng hùng vĩ của Tây Nguyên vào mùa hoa nở. Màu trắng bừng lên lấn át màu xanh chủ đạo của miền sơn cước.

Nhưng nếu nói về hoa thôi thì chưa đủ. Và sẽ là thiếu sót trầm trọng, nếu không nói đến mùi hương. Cùng với màu trắng bồng bềnh, thì "hương cafe dậy thì" là một ý tưởng độc đáo làm tươi mới bài thơ. Chỉ cần có mùi hương dậy thì thôi, thì tất cả sẽ trẻ lại. Mạnh mẽ nồng nàn. Bộc phát. Ngào ngạt lan tỏa, như tình yêu của tuổi mới lớn.

Mùa xuân ong bướm dập dìu, người Tây Nguyên còn có câu:"mùa con ong đi lấy mật", cũng chính là mùa tình yêu. Tuổi dậy thì như búp hoa đến thì đưa hương, gọi ong bướm bay về. Quả thật, đây là câu thơ dấu ấn, làm bừng lên cái không khí lễ hội của mùa xuân Tây Nguyên, mà nếu không có nó sẽ là một màu trắng vô hồn, lạnh lẽo...

Có thể khẳng định, đây là bài thơ hay đúng phong cách haiku. Quý ngữ ẩn của nó chính là mùa xuân. Vì thơ haiku tuyệt ngắn, nên nó chỉ truyền tải cái khoảnh khắc "dậy thì" chưa có tiền lệ, ám vào mọi nhận thức. Câu thơ trở nên tươi mới hơn bởi làn hương ấy, làn hương có công năng chuyển hóa tâm sinh lý, giàu nhạc tính hiện đại, và có sức cuốn hút mạnh mẽ.

Đó là thành công của bài thơ này!

Tây Nguyên tháng 1.2018

N.T.N

Cảm nhận về một số khúc Haiku thiếu thi- Lê Văn Truyền

Cuộc thi sáng tác haiku trên tranh vẽ chủ đề “Sinh vật sống” năm 2017 - 2018 do JAL Foundation chủ trì cùng hãng Hàng Không Nhật Bản, Đại Sứ Quán Nhật Bản tại Việt Nam, Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam thuộc Quỹ Giao Lưu Quốc Tế Nhật Bản phối hợp tổ chức. Trong hơn 1.000 khúc haiku dự thi các em học sinh tiểu học và trung học cơ sở từ các tỉnh, thành phố Việt Nam gửi về, Ban Tổ Chức cuộc thi đã chọn ra được 38 tác phẩm ưu tú và cuối cùng chọn ra được 8 tác phẩm xuất sắc được trao giải.

alt

Như những hạt sương lóng lánh trong vườn đào Xuân, 38 khúc haiku ưu tú được sáng tác bởi các em học sinh trong lứa tuổi từ 9 đến 15, trong đó có 7 em trai và 31 em gái đến từ Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương … Ban Giám Khảo gồm Đại diện Trung Tâm Giao Lưu Văn Hóa Nhật Bản tại Việt Nam, Đại Diện Hãng Hàng Không Nhật Bản (J.A.L.) tại Việt Nam và 3 đại diện của Ban Chủ Nhiệm Câu Lạc Bộ Haiku Việt - Hà Nội đã chọn được 8 bài haiku xuất sắc. Các em sáng tác haiku trên các chủ đề thiên nhiên, hoa lá, sinh vật (các loài chim, cá, chuồn chuồn, bướm, sóc, nhện, gấu trúc, mèo, ve sầu …). Điều thú vị là các em không chỉ viết về các loài động vật, côn trùng … mà thông qua đó nhiều bài haiku đã gắn liền với các vấn đề lớn của cuộc sống như bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật, tình thương yêu, lòng nhân ái … một cách nhẹ nhàng nhưng sâu lắng đầy thú vị, đặc biệt trong cách diễn đạt thơ ngây, hồn nhiên, nhiều khi mộc mạc, nhưng không kém phần sâu sắc của lứa tuổi thiếu niên.

dưới đáy đại dương xanh
loài cá voi xanh sắp tuyệt chủng
nỗi đau này ai thấy

Đào Vân Anh, 15 tuổi

Bé gái Đào Vân Anh có cái nhìn sâu sắc hơn so với lứa tuổi (và có khi so với cả người lớn) khi viết về loài động vật biển cá voi xanh. Thông thường, người ta vẫn hay ca ngợi vẻ đẹp của biển cả bằng các hình ảnh đã quá quen thuộc: thuyền, sóng, cánh buồm, con tàu, mặt trời lấp lánh, chiếc vỏ ốc lóng lánh, vỏ sò xù xì, những mẻ lưới đấy ắp cá tôm, vầng trăng, bình minh và hoàng hôn trên biển … Nhưng ít ai nghĩ đến, nhìn thấy và hiểu được cuộc chiến sinh tồn khốc liệt đang diễn ra dưới đáy đại dương xanh: chất thải độc hại tàn phá môi trường biển, những rặng san hô bị đầu độc, cá lớn nuốt cá bé và đến lượt cá lớn và cá voi khổng lồ bị con người tàn sát. Một cái nhìn sâu sắc hơn ta tưởng của một tác giả ở tuổi thiếu niên, mang đậm tính nhân văn, trách nhiệm và ý thức bảo vệ động vật quý hiếm, bảo vệ môi trường, bảo vệ các đại dương và lục địa xanh của chúng ta: vấn đề sống còn và có tính thời đại của nhân loại trong thế kỷ XXI này. Tác giả đau thay và nói thay nỗi đau của loài cá voi xanh, loài động vật biển có thân hình khổng lồ nhưng rất hiền lành, có ích với ngư dân (đã có nhiều câu chuyện về cá voi cứu ngư dân lầm nạn) được người dân Việt Nam tôn là Cá Ông và lập đền thờ tại nhiều làng chài.

rừng cây muôn ngàn sắc hoa lá
gấu trúc, gấu trúc
giản đơn đen trắng ngồi một mình

Nguyễn Gia Linh, 12 tuổi

Khúc haiku có ý tưởng từ sự tương phản về mầu sắc: hoa lá muôn màu của rừng cây / mầu đen trắng của gấu trúc, động vật quý hiếm đang được bảo vệ khỏi sự tuyệt diệt. Đối với bé gái Nguyễn Gia Linh, sự đơn giản về sắc mầu (chỉ có đen và trắng) của chú gấu trúc hiền lành không hạ thấp mà còn nâng lên tầm quan trọng và sự đáng yêu của loài động vật quý hiếm này. Khúc haiku làm ta liên tưởng đến chiến dịch bảo vệ động vật quý hiếm và môi trường thông qua cái nhìn hồn nhiên đáng yêu của trẻ em. Khúc haiku cũng cho thấy sự trưởng thành trong tư duy thẩm mỹ của một tác giả tuổi thiếu niên: nhận thức được vẻ đẹp ở sự đơn giản chứ không quan trọng sự rực rỡ, lòe loẹt của sắc mầu như cách nhìn thông thường của trẻ em và ngay với cả không ít người lớn chúng ta.

sân trường rộn tiếng ve

râm ran giữa tàn cây phượng vỹ

ve hát lời chia tay

Nguyễn Thị Uyên Minh, 13 tuổi

Tuổi học trò luôn gắn liền với niềm vui được nghỉ hè sau nhũng tháng ngày vất vả, bận rộn với học hành và thi cử. Tiếng ve râm ran và những chùm hoa phượng đỏ nở rực khắp sân trường làm rộn lên trong tâm hồn các bé niềm háo hức ngày hè với những chuyến về quê thăm ông bà, những chuyến đi xa cũng bố mẹ và bao niềm vui trẻ thơ khác… Những chú ve sầu tấu lên khúc hát mùa hè trong những tàn cây phượng vỹ báo hiệu những ngày hè đầy thú vị đã đến, dù có chút nhớ nhung bạn bè lúc chia tay sau 9 tháng cùng ngồi bên nhau, nhưng chắc chắn trái tim các bé cũng rộn ràng như tiếng ve ran.

ta là chúa sơn lâm

bảo vệ khắp khu rừng xanh tốt

sự sống luôn sinh sôi

Lưu Bảo Khôi, 12 tuổi

Bé trai Lưu Bảo Khôi tìm thấy trong loài sư tử hình ảnh một vị chúa sơn lâm oai hùng đang ngự trên tảng đá cao, phóng tầm mắt giám sát muôn loài, giữ gìn trật tự trong khu rừng xanh hoang dã để bảo đảm sự sống luôn sinh sôi, nẩy nở.

buổi trưa hè gió mát

hươu con ghé sát vào hươu mẹ

“Mẹ ơi, bầu trời kia”

Trần Thục Anh, 12 tuổi

Trong khi đó, bé gái Trần Thục Anh lại tìm thấy ở loài hươu hiền lành hình ảnh ấm áp của tình mẫu tử. Một chú hươu non nép mình bên mẹ, tìm sự chở che trước mọi hiểm nguy để được yên tâm thả mình vào làn gió mát và ngắm nhìn bầu trời trong xanh vô tận trong một buổi trưa hè trong rừng xanh.

trăng rơi xuống
con nhện
giăng tơ hứng trăng

Nguyễn Uyên Trang, 12 tuổi

Khúc haiku xuất sắc, ngắn gọn (3 / 2 / 4) chỉ gồm có 9 từ nhưng rất tinh tế, bất ngờ, đầy trí tưởng tượng hồn nhiên, nhận ra mối liên quan giữa hai hình ảnh tưởng chừng như độc lập, không liên quan gì với nhau: mặt trăng đang lặn trên bầu trời đêm và con nhện đang cần mẫn và lặng lẽ giăng tấm mạng nhện trên mặt đất. Bé gái Nguyễn Uyên Trang đặt hai hình ảnh cạnh nhau và qua đôi mắt trẻ thơ phát hiện ra một mối liên quan giữa hai sự việc độc lập mà trên thực tế hai sự việc này không có mối liên hệ hữu cơ/tất yếu nào cả. Chỉ có trí tưởng tượng bay bổng và trái tim trong trắng, ngây thơ, hồn nhiên của tuổi thơ mới kết nối được hai hình ảnh độc lập ấy và lý giải được mối quan hệ một cách thật trẻ con, thật dễ thương và lãng mạn: hóa ra vì sợ mặt trăng rơi xuống đất vỡ tan nên chú nhện giăng tấm lưới tơ để hứng như ta đang đưa đôi bàn tay để hứng và nâng niu một quả trứng, một bông hoa đang rơi. Ôi, con nhện nhỏ nhoi, tội nghiệp (đôi khi trông hơi xấu xí!) nhưng thật đáng yêu đang cuống quýt giăng tơ để cứu chị Hằng cho chúng ta trong khi trái tim của chúng ta, những động vật cao cấp duy lý, biết suy nghĩ (Homo sapiens), thì dửng dưng, vô cảm vì ta đã quá biết: “Trăng lên rồi trăng lặn” là quy luật tự nhiên của đất trời!

đoàn hồng hạc di cư
lội mây, lội cả vào vũ trụ
hồ nước trong in bóng

Trần Thanh Ngân, 14 tuổi

Bé gái Trần Thanh Ngân bằng trí tưởng tượng phong phú của mình từ hình ảnh đàn hồng hạc bay trong mây đã liên tưởng đến một chiều kích rộng lớn, bay bổng hơn, bao la hơn: những con hồng hạc nhỏ bé như muốn bay vào vũ trụ. Hai hình ảnh đặt kề nhau: “Lội mây, lội vào vũ trụ / in bóng trên mặt nước hồ” thể hiện một cái nhìn tươi mới, đầy phóng khoáng, tự do về đàn hồng hạc di cư đang bay trên bầu trời đầy mây.

chú ếch ngồi đáy giếng
chú ta thường hay hỏi tại sao
bầu trời lại bé thế

Đặng Nhật Minh, 11 tuổi

Khúc haiku độc đáo dựa trên ý của một thành ngữ Việt Nam “ếch ngồi đáy giếng”. Chú bé trai hiếu động, tinh nghịch Đặng Nhật Minh hàng ngày sau giờ học, chắc vẫn bầu bạn, tâm tình với những người bạn nhỏ: chú ếch dưới đáy giếng, con cóc cụ trong góc vườn hay xó nhà, chú ve sầu ca hát suốt mùa hè, con dế trũi đen thui trốn trong hang đất … Chỉ có chú bé Đặng Nhật Minh mới có khả năng “trò chuyện” và hiểu được “tâm sự” của những động vật bé tí này nên em đã coi chú ếch là một động vật biết tư duy, biết thắc mắc về bầu trời quá nhỏ bé và biết trăn trở ngày đêm tìm câu trả lời. Khúc haiku thể hiện cách nhìn hồn nhiên, đầy cảm thông của trẻ thơ đối với thân phận con vật bé nhỏ đáng yêu đang bị “cầm tù” dưới đáy giếng với câu hỏi khắc khoải chưa được giải đáp của nó: tại sao bầu trời lại bé thế? Hoàn cảnh sống làm chú ếch không hiểu tại sao bầu trời chỉ bé bằng cái miệng giếng. Trong khi đó rất nhiều người, được gọi là người lớn, nhưng “kiêu ngạo”, “cố chấp”, “thiển cận” không chịu mở mang tầm hiểu biết mà lại dám coi bầu trời mênh mông vô tận chỉ nhỏ bằng cái vung nồi trong xó bếp nhà mình: “coi trời bằng vung”!

Ngoài 8 khúc haiku được Ban Giám Khảo bình chọn giải nhất trên đây, trong 38 bài lọt vào chung kết cũng còn những khúc haiku khá đặc sắc dù rất tiếc không được bình chọn.

xin chào chú bướm nhỏ
cậu đi chơi đâu mà xinh thế?
tớ đi lấy phấn hoa

Ngô Uyên Linh, 9 tuổi

Bé gái Ngô Uyên Linh đã nhân cách hóa chú bướm bằng đôi mắt và tâm hồn trẻ thơ thật đáng yêu. Với Ngô Uyên Linh, trẻ em khi đi chơi thì phải mặc đẹp và tất cả trẻ em tất nhiên đều rất xinh xắn. Các chú bướm luôn xinh đẹp và đầy mầu sắc nên tác giả khẳng định phải hỏi chú bướm định “đi chơi đâu” chứ không phải là “đi đâu”? Cuộc đối thoại dễ thương giữa hai người bạn trẻ: cô bé và chú bướm. Câu trả lời của chú bướm là “tớ đi lấy phấn hoa” hơi bất ngờ với tác giả (chú bướm không đi chơi như tác giả vẫn nghĩ và đặt ra trong câu hỏi, mà là “đi làm việc”, đi hút mật hoa đúng với tập tính loài bướm). Cuộc trò chuyện, hỏi đáp đầy thú vị và bất ngờ. Nếu thay cụm từ “đi chơi đâu” bằng cụm từ “đi đâu” khúc haiku đã không gây được sự bất ngờ, hồn nhiên rất dễ thương và giảm đi rất nhiều sức nặng của ngôn từ trong khúc haiku cũng xinh xắn như bé gái và chú bướm đáng yêu này.

ngoài kia trời trong xanh
có con mèo ngồi bên cửa sổ
đón ánh nắng ấm áp

Hoàng Trần Minh Trang, 12 tuổi

Nhận xét tinh tế và dễ thương của bé gái Hoàng Trần Minh Trang về tập tính của loài mèo, vật nuôi thân thiết của bé: hay ngồi trên bậu cửa sổ, mắt lim dim sưởi nắng, nhất là trong những ngày mùa đông hiếm hoi có ông Mặt Trời xuất hiện. Chắc chắn con mèo này phải là vật nuôi thân thiết của bé, được bé yêu thương, chăm bẵm hàng ngày.

trong một đêm tuyết lạnh
nhưng có một lùm cây xanh tốt
là nơi có tình thương

Phạm Quỳnh Anh, 11 tuổi

Khúc haiku của bé gái Phạm Quỳnh Anh thể hiện cái nhìn đầy trí tưởng tượng và thấm đẫm tình yêu thương của trẻ thơ. Tuyết trắng mùa Đông bao phủ đất trời lạnh buốt. Tưởng chừng như vạn vật đều đã chết, đều đông cứng lại trong cái lạnh cắt da, cắt thịt, trong cái tủ lạnh thiên nhiên khổng lồ. Các loài cây rụng hết lá chỉ trơ lại thân cành khẳng khiu, khô cứng. Nhưng tại sao vẫn có một lùm cây xanh tốt (chắc chắn phải là những cây thông loài lá kim)? Với cái nhìn trong trẻo và tâm hồn trẻ thơ, không cần viện đến các lý do khoa học, tác giả đã lý giải một cách rất duy tình, rất hồn nhiên và rất sâu sắc: đó là nơi có tình thương. Tất nhiên rồi, trong tâm hồn của bé nơi nào có tình thương thì ở đó có sự sống. Tình thương yêu của con người là vũ khí tuyệt vời không chỉ giúp con người mà cả vạn vật nữa - theo suy nghĩ của bé Quỳnh Anh - trong những hoàn cảnh khốn khó nhất, tuyệt vọng nhất vẫn có thể vượt qua để tồn tại trên cõi đời, giống như lùm cây xanh kia vẫn không rụng lá để tồn tại giữa mùa Đông tuyết trắng ngập tràn.

Đọc những khúc haiku hồn nhiên, tươi tắn nhưng không kém phần sâu sắc của các bạn nhỏ tham dự cuộc thi dù được giải hay chưa được giải, cùng với đất trời man mác hơi xuân, thấy lòng như đôi chút trẻ lại. Rồi bỗng dưng thấy tiếc nuối làm sao khi những cọ xát khốc liệt, bạo tàn của cuộc đời này, những lo toan bé mọn của cuộc sống thường nhật này đã từ lâu lắm rồi tước đoạt của ta biết bao suy nghĩ hồn nhiên, những cái nhìn trong trẻo, tươi tắn đối với cuộc sống chung quanh. Tự nhiên, lại bồi hồi nhớ đến Mihai Eminescu, thi hào dân tộc và danh nhân văn hóa của Rômânia (1850 – 1889) trong bài thơ “O, rămâi!” (Hãy ở lại cùng em!) đã có những dòng cảm thán bất hủ về nỗi tiếc nuối tuổi thơ đã mất:

… Astăzi, chiar de m’as intoarce

A ‘ntelege n’o mai pot

Unde esti, copilărie,

Cu pădurea ta cu tot?

Mihai Eminescu

… Dù em muốn trở lại

Chẳng thể quay ngược dòng

Tuổi thơ yêu dấu xa rồi,

Đâu rừng xưa của một thời đã qua?

Lê Văn Truyền chuyển ngữ

Bài thơ con niềng niễng- Nguyễn Thánh Ngã

alt

từ lớp bùn non

niềng niễng cựa mình bay

thoát cõi hồng trần

(Nguyễn Thị Như Hà)

Trước khi làm thơ haiku, tác giả Nguyễn Thị Như Hà đã làm các thể thơ khác. Nhưng thơ haiku như mưa thấm đất, hồn nhiên chảy theo mạch cảm xúc, và những bài thơ mang hương vị cuộc sống ra đời...

Trong chùm thơ rất hay của Như Hà, tôi chọn bài "con niềng niễng". Bài thơ dân dã này, nói lên cái "cựa mình" một cách kỳ diệu.

Nước ta là một nước nông nghiệp, đa số nông dân, ai cũng bước ra từ gốc rạ nên thấu hiểu "lớp bùn non" lắng đọng này. Bùn là nơi những "hạt ngọc của trời" được kết tụ, cũng là nơi những đóa sen tinh khiết thơm tho nhất được vươn lên...

Trong đó, một con niềng niễng sẽ xuất hiện. Và nó "cựa mình" bay lên!

Câu thơ viết đúng phẩm chất haiku, về cái khoảnh khắc rất gợi và bất chợt. Đây là dấu ấn mà một bài haiku hay cần có, để lại trong lòng độc giả hành động của con vật được xem là loài sâu bọ thủy sinh, bỗng cất cánh bay lên một cách mạnh mẽ, và đẹp đẽ lạ thường.

Sỡ dĩ bài thơ có điểm nhấn để bay lên, là nhờ chiếc đòn bẫy rất tinh vi được cài đặt sẵn để thơ "cựa mình". Vâng, cái "cựa mình" của con "niềng niễng" làm thành một khoảnh khắc ấn tượng nhất, tạo ra ý thơ hay nhất bởi một từ "cựa" đắc địa.

Thơ haiku không có đề, nhưng người ta vẫn gọi bài thơ "Con ếch", "Con quạ" của Basho, thì đây bài thơ "Con niềng niễng" của Như Hà cũng vậy; dẫu không dám so sánh khập khiểng, nhưng tôi vẫn cho rằng đây là một trong những bài haiku hay trong tiếng Việt.

Bài thơ gợi cho độc giả những cảm xúc rộng lớn về không gian nghệ thuật, và sự sáng tạo. Ở đây thi hứng là yếu tố quyết định, làm thăng hoa câu chữ ngỡ như chân chất và bình dân.

Bởi mọi thứ có thể ngủ yên, nhưng cú "cựa mình" của một vật luôn tạo ra sức sống mới...

Và "thoát cõi hồng trần" là cách thi vị hóa đầy chất thơ!

N.T.N

Khúc Haiku lạ của Sekitei Hara- Lê Văn Truyền

alt

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

R. Burch phỏng dịch

Đôi tay người đàn bà

đang bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

Lê Văn Truyền dịch

Khi đọc phiến khúc haiku trên đây được R. Buch tuyển chọn trong chuyên khảo “Một trăm bài haiku hay nhất mọi thời đại”, thoạt đầu tôi không hiểu tại sao nó lại được đánh giá cao như vậy. Cho đến khi, trong một buổi chiều chủ nhật rảnh rỗi mới đây, tình cờ được xem một chương trình của kênh Discovery Asia về chủ đề ẩm thực Nhật Bản. Chương trình có nhắc đến món mắm mực “Shiokara”.

Shiokara, một món ăn có mùi rất "lạ" của ẩm thực Nhật Bản, thường được làm từ mực cắt miếng nhỏ và ngâm với chính nội tạng của chúng (là nguồn enzym để lên men) cùng 10% muối và 30% bột gạo. Các nguyên liệu khác làm món này là sốt ớt shichimi, wasabi, rượu gia vị mirin hoặc vỏ quả yuzu bào... để tăng hương vị. Để làm mắm mực shiokara ngon các nguyên liệu trên phải được lên men trong vòng 6 tháng cho đến 3 năm, gần như cách lên men cá để làm nước mắm ở Việt Nam. Vì vậy, ta hiểu tại sao người phụ nữ Nhật Bản trong phiến khúc haiku của Sekitei Hara lại phải chăm chú, cẩn thận bóc nội tạng (dạ dày của con mực, nơi chứa nhiều enzym tiêu hóa protein) để bảo tồn nguồn enzym giúp cho quá trình “ngấu” của thân con mực mùa Xuân, vốn có hàm lượng protein rất cao, để làm nên món mắm mực.

Món mắm đặc trưng này của người Nhật đã có từ hàng ngàn năm trước. Vào thế kỷ XI, khi người Viking (Bắc Cực) ăn món cá mập lên men thì người Nhật lại quen thuộc với mắm mực shiokara như một cách dự trữ thức ăn cho mùa đông. Khi thực phẩm chưa đa dạng, món ăn này có thể cung cấp cho người Nhật protein, các loại vitamin và khoáng chất nhưng lại chứa rất ít calo và chất béo có hại cho sức khỏe.

Với lịch sử đánh bắt hải sản lâu dài của Nhật Bản, món mắm mực shiokara có lẽ là một trong những loại mắm hải sản đầu tiên được tạo ra mà vẫn còn phổ biến và trở thành “đặc sản” ẩm thực Nhật Bản cho đến ngày nay. Tờ Telegraph của Anh khi nhắc đến món shiokara đã phải thốt lên: “Đây là món ăn kỳ lạ nhất thế giới mà ta phải ăn một lần trước khi chết”. Có lẽ vì đây là món ăn “quốc hồn, quốc túy” của Nhật Bản nên nó nhất thiết phải đi vào thơ ca, mà một trong những minh chứng là đã được Sekitei Hara đưa vào phiến khúc haiku nổi tiếng nói trên.

Liệu có haijin Việt Nam nào sáng tác được khúc haiku về món “mắm tôm” của dân tộc chúng ta với hy vọng được tuyển chọn vào 100 hay chí ít 1.000 khúc haiku hay nhất mọi thời đại?


CHÚ THÍCH:

Sekitei HARA (1889 -1951): Sinh trưởng ở Yoshino, có nhiều tác phẩm công bố trên Tạp Chí Haiku “Hototogisu” do Kyoshi Takahama chủ biên. Trong thời đại Taisho, các tác giả Kijo Murakami (1865 ~ 1938), Suiha Watanabe (1882 ~ 1946), Fura Maeda (1884 ~ 1954), Dakotsu Ida (1885 ~ 1962), Sekitei Hara (1889 -1951) ... đã tập hợp thành nhóm “Các nhà thơ Hototogisu Taisho” chủ trương cách tân haiku. (Theo Mushimegane, Histoire du Haiku)

Thời đại “Bốn chấm không”- Lê Văn Truyền

alt

Thời đại “bốn chấm không”

cưới một nàng robot tình yêu

có đứa con “nửa người - nửa máy”


Cuộc sống nhạt nhòa

chiếc điện thoại thông minh

bỗng biến thành lung linh


Không cần bấm cò súng

facebook có thể giết người

bằng cú bấm “like”


Mạng xã hội ồn ào

rao bán tâm hồn, thể xác người

như giữa chợ trời


Thế gian ngàn vạn năm

chỉ có hai cõi Âm, Dương

nay thêm “Cõi sống ảo”


Chiếc smartphone hỗn hào

réo lên ồn ào

khi ta đang yêu


*Thời đại “Cách mạng công nghiệp 4.0”


MẠNG XÃ HỘI

Mạng xã hội ồn ào

rao bán tâm hồn, thể xác người

như giữa chợ trời


Gần đây, mạng xã hội chấn động với thông tin do Sunday Telegraph (Anh) tung ra: Facebook đã sử dụng hệ thống phần mềm phức tạp để thu thập thông tin từ hoạt động của 50 triệu người sử dụng (trong đó theo giới truyền thông có khoảng 400.000 người sử dụng facebook ở Việt Nam) bất chấp các thiết lập về quyền riêng tư do chính Facebook đặt ra. Các thông tin này có thể là các thông tin về bạn bè, gia đình, trường học, nhấn “like” trên tường, từ khóa tìm kiếm, tin nhắn và chuyện trò trực tuyến … ngay cả khi các thông tin này được xóa bởi người sử dụng. Sau đó, Facebook bán những thông tin này cho các hãng quảng cáo. Có người nói “trên facebook mọi hành tung của bạn đều được ghi chép và lưu trữ. Vấn đề là chúng sẽ được rao bán khi nào … có giá”. Người khác nói “Chúng ta đang bị Facebook, Apple, Google bán … như bán rau”. Thông tin do Sunday Telegraph đưa ra đã làm cho Mark Zuckerberg, một trong những tỷ phú đô la trẻ tuổi nhất thế giới, nhà sáng lập kiêm CEO của Facebook đối diện pháp luật với cuộc điều tra của Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Mỹ và phải điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Và mấy dòng tin ngắn ngủi của Sunday Telegraph đã làm cho tài khoản cá nhân của Ông chủ Facebook chỉ trong nháy mắt bốc hơi 9 tỷ đô la trong tổng số thiệt hại 60 tỷ đô la giá trị vốn hóa thị trường của Facebook.

Thế mới hay, Facebook không phải là một sân chơi miễn phí. Khi chơi với “Ông Tây” Mark Zuckerberg chúng ta phải luôn luôn nhớ nằm lòng một câu nói của người phương Tây: “Không có bữa ăn trưa nào là hoàn toàn miễn phí”. Dù bạn có được mời một bữa ăn trưa miễn phí thì hãy nên nhớ rằng đến một ngày nào đó, bằng một cách nào đấy, bạn phải trả món nợ hoặc ít nhất bạn phải “đáp lễ” bằng một bữa theo nguyên tắc mà các cụ nhà ta vẫn nói: “có đi, có lại mới … toại lòng nhau” hoặc “ông đưa chân giò, bà thò chai rượu”. Trớ trêu là rất nhiều khi ta được mời một bữa “cơm bụi” miễn phí nhưng phải đáp lễ bằng một tiệc trưa hoành tráng trong một khách sạn 6 sao. Và cũng không khỏi có trường hợp ông đưa chân giò thịt sạch nhưng đổi lại bà lại thò một chai rượu dỏm.

Với chúng ta, tâm hồn mỗi người như một cô gái có những nét đẹp riêng. Dù vậy, cũng không nên trần truồng phô hết tấm thân ngà ngọc của mình ra trước mắt thiên hạ. Một vẻ đẹp e ấp, kín đáo nhiều khi còn quyến rũ mãnh liệt hơn sự trần trụi cả về thể xác và tâm hồn.

LVT

Vần điệu trong thơ Haiku- Lý Viễn Giao

Từ cái nôi của mình, đất nước Mặt Trời Mọc, thơ Haiku không hề có vần. Điều này dễ hiểu, ngôn ngữ Nhật Bản cũng như các ngôn ngữ đa âm khác, vì không có hoặc ít dấu cho thanh ngữ nên việc gieo vần là khó và không cần thiết.

alt

Người Việt Nam thì ngược lại, vần điệu vốn trở thành nhu cầu ngay cả trong đời sống thường nhật chứ chưa nói đến thơ. Khi quảng cáo , người ta nói về tác dụng của một loại thuốc là “Khỏe bụng con, tròn giấc mẹ”! Ở một cửa hàng dịch vụ giặt quần áo thì ghi “Giặt sấy lấy ngay”. Nói về hành vi của cơ sở sang chiết ga, đài truyền hình bảo ở đây “Cắt tai mài vỏ” bình ga để làm hàng giả. Còn đưa tin một bãi giữ xe chụp giật, nhà đài kêu họ đã “Đánh tráo tháo trộm” gương xe của khách gửi. …Quả thật khi gieo vần cho câu nói, nội dung của nó dễ ngấm và gây ấn tượng hơn nhiều.

Từ xa xưa, ngay trong ca dao tục ngữ, dân ca hò vè đều coi vần là một yếu tố quan trọng, hãy điếm xuyết đôi dòng minh chứng :

“Chớp đông nhay nháy

Gà gáy thì mưa”

“Ve vẻ vè ve

Cái vè lá lốt

Anh A cũng tốt

Chị B cũng xinh

Hai bên dập dình

Bà C làm mối !”

“Bao giờ đom đóm bay ra

Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng”

“Thấy người sang bắt quàng làm họ”

“Không ai giầu ba họ

Chẳng ai khó ba đời”

Trong thơ, yêu cầu này càng khắc nghiệt. Xin đề cử vài ví dụ :

“Ình ịch đêm qua trống các làng
Ai ai mà chẳng rước xuân sang
Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén
Bút mới xô tay thử một hàng
Ngoài lũy nhấp nhô cò cụ tổng
Cách ao lẹt đẹt pháo thầy Nhang
Một năm một tuổi, trời cho tớ,
Tuổi tớ trời cho, tớ lại càng …” (Khai bút-Nguyễn Khuyến”

Ngay cả thơ của “Phong trào thơ mới”, nhiều bài cũng vẫn chú ý đến vần, ngoài nhịp điệu của thi phẩm :

“Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn...”
(Trích “Tiếng sáo Thiên Thai”-Thế Lữ)

Những bài thơ dù gọi là Tự do cũng chỉ khoáng đạt ở số từ trên một dòng, số dòng trong một bài và cách gieo vần linh hoạt hơn thôi chứ vần điệu chưa hề bỏ qua :

“Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

Của ong bướm này đây tuần trăng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của bướm ong này đây khúc tình si…”

(Trích “Vội vàng” của Xuân Diệu)

Chỉ có gần đây, loại “Thơ văn xuôi” do một số người viết trẻ đề xướng mới bỏ qua cả vần và điệu. có lẽ cũng chính vì thế mà thể loại này chưa có sức lan tỏa rộng thì phải.

Với thơ Haiku, khi vào Việt Nam, có nhiều người cũng tìm cách gieo vần cho nó. Những cách gieo vần được nhiều người sử dụng thường là :

Vần chân: bằng-bằng-trắc .

“Xõa tóc huyền

Mặt hồ bình yên

Gợn sóng” (Lương Thị Đậm).

“Ngày em đi

Nâng ly

Uống sóng” (Lý Viễn Giao)

“Tuổi học trò

Tròn vo

Trái sấu” (Nguyễn Hoàng Lâm)

“Gió đưa hoa cải bay đi

Triền sông bờ cỏ xanh rì

Nhớ nắng” (Mai Liên).

“Chuông ngân nga

Thiết tha

Cứu rỗi” (Thanh Vân).

Vần chân: bằng-bằng-bằng .

“Bé con

Theo mẹ ra đồng

Ngủ gật mép sông” (Cao Ngọc Thắng).

Vần chân: trắc-bằng-bằng :

“Mạng nhện

Rung giọt sương

Đu nhớ thương” (Nghiêm Xuân Đức).

Vần chân: Trắc-trắc-bằng.

“Cỏ may găm áo

Khờ khạo

Ngày xưa” (Lý Viễn Giao)

Hoặc vần lưng, gieo trắc :

“Tiếng rao đêm

Lạnh lùng ngõ phố

Bán khổ cho ai” (Lam Hồng)

Vần lưng, gieo bằng :

“Biển lặng lờ

Trăng mờ ảo

Tình lạc cõi mơ” (Vũ Tam Huề).

Cũng có những phiến khúc Haiku không gieo vần nhưng tạo nhịp điệu làm phương tiện dẫn dắt hứng thú cho người đọc :

“Vườn cũ, nhà xưa

Tìm đâu cuống rốn

Mẹ hong đĩa đèn” (Đinh Nhật Hạnh).

“Ráng chiều

Ánh nước

Thu trong mắt em” (Lê Đăng Hoan)

Không có bất kỳ yêu cầu nào bắt buộc thơ Haiku phải có vần điệu. Nhưng rõ ràng một bài thơ mà haijin sử dụng thủ thuật này sẽ tiếp cận người đọc theo con đường mềm mại hơn, từ đó có thể nâng mức hấp dẫn cho bài thơ. Cũng chính vì vần điệu không phải là một trong những tiêu chí của thơ Haiku mà chỉ là một sáng tạo của người Việt khi làm thơ nên cũng không có quy tắc nào trong gieo vần hết. Những ví dụ đã nêu chỉ là nhặt nhạnh dọc đường để minh chứng cho một hiện tượng . Hiện tượng Vần điệu trong thơ Haiku.

LVG

Mạng xã hội- Lê Văn Truyền

alt

Trên mạng xã hội

thể xác, tâm hồn ta đang bị rao bán

như ở ngoài chợ trời

Lê Văn Truyền

Gần đây, mạng xã hội chấn động với thông tin do Sunday Telegraph (Anh) tung ra: “Facebook đã sử dụng hệ thống phần mềm phức tạp để thu thập thông tin từ hoạt động của người sử dụng, bất chấp các thiết lập về quyền riêng tư do chính Facebook đặt ra. Các thông tin này có thể là các thông tin về bạn bè, gia đình, trường học, nhấn “like” trên tường, từ khóa tìm kiếm, tin nhắn và chuyện trò trực tuyến … ngay cả khi các thông tin này được xóa bởi người sử dụng. Sau đó, Facebook bán những thông tin này cho các hãng quảng cáo”. Có người nói “trên facebook mọi hành tung của bạn đều được ghi chép và lưu trữ. Vấn đề là chúng sẽ được rao bán khi nào … có giá”. Người khác nói “Chúng ta đang bị Facebook, Apple, Google bán … như bán rau”.

Thông tin do Sunday Telegraph đưa ra đã làm cho Mark Zuckerberg, một trong những tỷ phú đô la trẻ nhất thế giới, nhà sáng lập kiêm CEO của Facebook đối diện pháp luật với cuộc điều tra của Ủy Ban Thương Mại Liên Bang Mỹ. Và mấy giòng tin ngắn ngủi của Sunday Telegraph đã làm cho tài khoản cá nhân của Ông chủ Facebook chỉ trong nháy mắt bốc hơi 9 tỷ đô la trong tổng số thiệt hại 60 tỷ đô la giá trị vốn hóa thị trường của Facebook.

Thế mới hay, Facebook không phải là một sân chơi miễn phí. Chơi với “ông tây” Mark Zuckerberg chúng ta phải luôn luôn nhớ nằm lòng một câu nói của người phương Tây: “Không có bữa ăn trưa nào là hoàn toàn miễn phí”. Dù bạn được mời một bữa ăn trưa miễn phí thì hãy nhớ rằng đến một ngày nào đó, bằng một cách nào đấy, bạn phải trả món nợ hoặc ít nhất bạn phải “đáp lễ” bằng một bữa theo nguyên tắc mà cụ nhà ta vẫn nói “có đi, có lại mới … toại lòng nhau”. Trớ trêu là đôi khi ta được mời một bữa “cơm bụi” miễn phí nhưng phải đáp lễ bằng một bữa trưa hoành tráng trong một khách sạn 6 sao.

Với chúng ta, tâm hồn mỗi người như một cô gái có những nét đẹp riêng. Dù vậy, cũng không nên trần truồng phô hết tấm thân ngà ngọc của mình trước mắt thiên hạ. Một vẻ đẹp e ấp, kín đáo nhiều khi còn quyến rũ mãnh liệt hơn sự trần trụi cả về mặt thể xác và tâm hồn.

LVT

Ma trận câu chữ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

thằng khùng

cảm thấy yêu đời

bởi hắn đang điên

(Kiều Lam)

Thơ haiku ngoài phong cách phong nhã, còn là loại thơ phong trần, gần gụi với đời sống. Nhà thơ Kiều Lam, với cái nhìn trực diện, đã cho chúng ta thấy ngay một "thằng khùng" trong xã hội hiện đại, phồn vinh và phức tạp.

Tôi mỉm cười thích thú khi gặp bài thơ này, nó không đạo mạo mà bụi bặm, một phong cách rất hiếm thấy trên thi đàn. Đây có thể nói là bài thơ rất đời, thậm chí rất người nữa là khác.

Vì sao vậy?

"thằng khùng", không những không chống đối cuộc đời vốn đã làm cho nó khùng, mà ngược lại, biết yêu quá cuộc đời này, thì nó phải vượt qua những trở lực ghê gớm của xác thân để cân bằng não trạng. Nó hiểu đời vốn dĩ là bể khổ, cũng là nơi đạt được hạnh phúc trần gian nếu biết sống một đời tu dưỡng đạo hạnh, thì "khùng" mới yêu đời chân thật đến vậy.

Thông thường, chúng ta sẽ dễ dải hiểu rằng, "khùng" mà yêu đời là loại "thần kinh", loại "chập mạch". Bởi toàn bộ bài thơ đang ở trạng thái "hắn đang điên". Nếu vậy, thì bài thơ sẽ không có gì đáng nói. Chỗ tâm yếu của haiku nằm ở đây. Người non tay không dám viết, bởi có khi chính mình cũng sẽ hiểu một cách xuôi chiều, sẽ bị lạc vào ma trận của câu chữ.

Thật ra, người viết không hề đánh đố người đọc, ông viết rất thật. Thật đến nỗi, không tin mình đã làm ra ma trận ấy.

Điên như Hàn Mặc Tử, như Bùi Giáng thi sĩ, là điên làm nên tên tuổi lớn. Theo Freud, "khùng điên" là một dạng bị dồn nén. Cho nên, những cái khùng điên của nghệ thuật khi bùng vỡ thì rất đáng yêu. Người khùng hay làm những việc khác thường mà người bình thường không làm được. Vậy thì cái lằn ranh giữa cái bình thường và cái phi thường, chỉ là một sợi chỉ. Họ đạt được trạng thái đó, thì trở nên yêu đời cách mạnh mẽ phi thường. Cho nên, có nhà văn nào đó nói rằng: "làm gì cũng phải điên điên một chút". Những người làm nghệ thuật nói chung, và những nhà thơ nói riêng, không phải "điên" sao, khi dâng hiến chất xám cho đời mà không hề đòi lại điều gì. Chúng ta không "điên" sao, khi yêu quá thể thơ haiku thâm thúy này, mà không hề có chút lợi lộc vật chất nào. Làm kiếp con tằm thì phải nhả tơ. Con yến thì lấy nước miếng và máu làm nên tinh chất cho đời. Thật sự chúng ta rất "khùng điên", theo nghĩa mà Haijin Kiều Lam muốn nói.

Tôi đoan rằng, Haijin Kiều Lam sẽ mỉm cười gật đầu, vì đã có người đồng cảm, giải huyệt đạo thơ ông.

Quả thật, thơ haiku vô cùng kỳ vĩ!

Sài Gòn tháng 11.2017

N.T.N

100 bài Haiku hay nhất mọi thời đại

Michael R. Burch tuyển và bình

Lê Văn Truyền dịch

alt

ĐỊNH NGHĨA HAIKU

Haiku là gì? Trong ngôn ngữ Nhật Bản, từ “hai” có nghĩa là “khác thường/tuyệt vời” (unsual) “ku” có nghĩa là “khổ thơ” (verse/strophe). Sir George Sansom gọi haiku là “những giọt tinh túy thi ca (little drops of poetic essence). Harold Henderson gọi haiku là những khoảnh khắc “thiền định(meditations). Tôi nghĩ về haiku như là những lát cắt được cấu trúc bằng ngôn từ, là “hình ảnh bằng ngôn ngữ”. Một định nghĩa có ích khác: haiku là những “hình ảnh siêu nghiệm” (transcendent images). Ví như khúc haiku sau đây:

Grasses wilt:
the braking locomotive
grinds to a halt

Yamaguchi Seishi, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọn cỏ héo

đầu tầu giảm tốc vào ga

nghiền nát

Lê văn Truyền dịch

Trong phiến khúc haiku trên đây, những ngọn cỏ tàn úa mùa thu và đầu tầu vào ga nghiền nát tượng trưng cho sự già cỗi, chết chóc. Dưới bàn tay của thi sỹ tài hoa, hai hình ảnh đơn giản đã thay lời muốn nói.
Trong khi theo truyền thống Nhật Bản, haiku được viết thành 3 dòng với 5-7-5 âm tiết thì trong sáng tác haiku bằng tiếng Anh, đó không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, vì vậy, khi dịch haiku trong nhiều trường hợp tôi đã dùng số âm tiết nhiều hơn miễn là chuyển tải được hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa của khúc haiku theo như tôi cảm nhận được.

ẢNH HƯỞNG CỦA HAIKU ĐỐI VỚI THƠ CA ANH NGỮ HIỆN ĐẠI

Ảnh hưởng của haiku đối với thơ ca anh ngữ hiện đại rất hiển nhiên và rõ nét. Quả thực, có nhiều quy tắc của chủ nghĩa Ấn Tượng (Imagism) bắt nguồn từ haiku, ví dụ như việc sử dụng trí tưởng tượng và việc xử lý trực tiếp sự vật (chủ thể/khách thể). Ezra Pound, cha đẻ và là người tiên phong của trường phái Ấn Tượng đã dịch nhiều thơ phương Đông và cũng đã sáng tác nhiều bài thơ tương tự. Bài thơ ngắn “Trong ga tầu điện ngầm” sau đây là một trong những bài thơ của ông mang sắc thái haiku:

The apparition of these faces in the crowd;

petals on a wet, black bough.

Ezra Pound

Những khuôn mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa trên cành cây đen, đẫm nước.

Lê Văn Truyền dịch

Những thi phẩm nổi tiếng mang dáng dấp haiku gồm có “The Red Wheelbarrow(Bánh xe cút kít mầu đỏ) của William Carlos Williams và “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird(Mười ba cách ngắm nhìn một con chim hét) của Wallace Stevens. Các nhà thơ Anh khác đã sáng tác, dịch và chịu ảnh hưởng của haiku gồm có Richard Wright, Allen Ginsberg, Gary Snyder, Jack Kerouac, Amy Lowell, Kenneth Rexroth, Margaret Atwood, Robert Hass và Paul Muldoon. Cũng có thể nhận thấy ảnh hưởng rất sớm của Phương Đông đối với các sáng tác của những nhà thơ trường phái hiện đại như Walt Whitman, Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau.

Dưới đây là bản dịch của tôi một số khúc waka cổ nhất của Nhật Bản, mà theo thời gian đã phát triển thành các biến thể như tanka, renga haiku. Các khúc waka này được trích từ tác phẩm Kojiki (Thi phẩm của các bậc thầy) được nhà thơ Ô no Yasumaro biên soạn vào khoảng năm 711-712 sau Công Nguyên. Thi phẩm Kojiki thuật lại sự khởi đầu có tính thần thoại và lịch sử của vương triều.

Đây là một trong những bài thơ cổ nhất ghi chép trong quyển sách cổ nhất của Nhật Bản:

While you decline to cry,
high on the mountainside
a single stalk of plumegrass wilts.

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Khi bạn muốn khóc

trên núi cao

bông lau đơn côi héo rũ

Lê Văn Truyền dịch
Và đây, là một trích dẫn khác với sắc thái hài hước cũng từ Kojiki

Hush, cawing crows; what rackets you make!
Heaven's indignant messengers,
you remind me of wordsmiths*!

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh mịch, tiếng quạ kêu vang

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc nhở ta về những nhà văn

Lê Văn Truyền dịch

*Wordsmith: nhà văn tài năng
Và một bài khác:

Onyx, this gem-black night.
downcast, I await your return
like the morning sun, unrivaled in splendor

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Mã não, viên ngọc huyền

ta chờ em trở lại

mặt trời rực rỡ vô song

Lê Văn Truyền dịch

TÓM TẮT LỊCH SỬ VÀ BIÊN NIÊN SỬ HAIKU

Snow-obscured heights,
mist-shrouded slopes:
this spring evening.

Ilio Sõgi (1421-1502), Michael R. Burch phỏng dịch

Đỉnh núi tuyết phủ

dốc núi mờ sương

trong chiều Xuân này

Lê văn Truyền dịch

Soundlessly they go,
the herons passing by:
arrows of snow filling the sky.

Yamâzki Sõkan (1464-1552),Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn diệc lặng lẽ bay

những mũi tên tuyết trắng

ngập tràn bầu trời xanh
Lê văn Truyền dịch

O, fluttering moon,
if only we could hang a handle on you,
what a fan you would be!

Arakida Moritake (1472-1549), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi vầng trăng lung linh

chỉ cần ta gắn thêm cái cán

em sẽ là

chiếc quạt

Lê Văn Truyền dịch

An orphaned blossom
returning to its bough, somehow?
No, a solitary butterfly.

Arakida Moritake (1472-1549), Michael R. Burch phỏng dịch

Một bông hoa mồ côi

sao bay ngược lên cành?

ồ không, một chú bướm!
Lê Văn Truyền dịch

Life: a solitary butterfly
swaying unsteadily on a slender stalk of grass,
nothing more. But so exquisite!

Nishiyama Soin (1605-1682), Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc đời là cánh bướm cô đơn

lửng lơ trên ngọn cỏ mong manh

còn gì thanh tao hơn

Lê Văn Truyền dịch

This darkening autumn:
my neighbor,
how does he continue?

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa thu ảm đạm này

người hàng xóm của tôi

liệu có qua khỏi?
Lê Văn Truyền dịch

Autumn darkness

descends
on this road I travel alone

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Bóng tối chiều thu

buông xuống con đường

tôi đang độc hành

Lê Văn Truyền dịch

Lightning
shatters the darkness
the night heron's shriek.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ánh sáng xua tan bóng tối

trong đêm đen

tiếng thét người anh hùng
Lê Văn Truyền dịch

An ancient pond,
the frog leaps:
the silver plop and gurgle of water.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ao xưa

con ếch nhảy vào

nước xao sóng bạc

Lê Văn Truyền dịch

A crow settles
on a withered branch:
autumn nightfall.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Một con quạ đậu

trên cành cây khô

hoàng hôn mùa Thu
Lê Văn Truyền dịch

My eyes,
having observed everything,
returned to the white chrysanthemums.

Kosugi Isshõ (1652-1688), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi mắt tôi

nhìn ngắm khắp nơi

rồi hướng về đóa cúc trắng

Lê Văn Truyền dịch

A white swan
parts the cherry-petalled pond
with her motionless breast.

Roka (1671-1703), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái ức im lìm

con thiên nga trắng

rẽ mặt ao ngập cánh anh đào
Lê Văn Truyền dịch

Năm 1694, Roka trở thành một môn đệ thụ giáo haiku với Basho; và đó là những năm cuối đời của Basho.

Useless dreams, alas!
Over desolate fields
winds whisper as they pass.

Uejima Onitsua (1661-1738), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, những giấc mơ hão huyền

gió xào xạc lướt qua

trên cánh đồng hoang vắng
Lê Văn Truyền dịch

Observe:
see how the wild violets bloom
within the forbidden fences!

Shida Yaba (1663-1740), Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy ngắm nhìn:

hoa tím dại bừng nở

trong bờ rào hoang

Lê Văn Truyền dịch

Leaves, like the shadows of crows
cast by a lonely moon.

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Những chiếc lá

bóng những con quạ đen

gieo trên mặt trăng cô đơn
Lê Văn Truyền dịch

A kite floats
at the same place in the sky
where yesterday it floated ...

Yosa Buson (1716-1783), Michael R. Burch phỏng dịch

Con diều trôi

trên bầu trời

đúng chỗ hôm qua nó lượn

Lê Văn Truyền dịch

Standing beneath cherry blossoms
who can be strangers?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ngồi dưới anh đào nở

xa lạ với nhau sao được?

Lê Văn Truyền dịch

Overdressed for my thatched hut:
a peony blossoms.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Lợp lại mái tranh

túp lều của tôi

đóa mẫu đơn nở
Lê Văn Truyền dịch

Oh, magnificent peony,
please don't disdain
these poor surroundings!

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ơi đóa mẫu đơn lộng lẫy

hãy đừng kiêu kỳ

giữa những cảnh đời gieo neo

Lê Văn Truyền dịch

Insolent peony!
demanding I measure your span
with my fan?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Bông mẫu đơn hỗn hào

dám đòi ta đo cánh hoa ngươi

bằng cái quạt?
Lê Văn Truyền dịch

"This big!"
the child's arms
measured the peony.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay trẻ thơ

đo bông hoa mẫu đơn

“Ồ! Nó thật to!”

Lê Văn Truyền dịch

Peonies blossom;
the world is full of fibbers.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Mẫu đơn bừng nở

quanh ta đầy người dối trá
Lê Văn Truyền dịch

Hình như Issa có một phức cảm yêu – ghét đối với những bông hoa mẫu đơn, bà viết đến 84 khúc haiku về loài hoa này, khi thì ca ngợi và khi thì phê phán vẻ kiêu kỳ của chúng.

SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA THI CA TRỮ TÌNH VÀ TRÀO PHÚNG

Đây là một bài thơ cổ viết về một nửa thế gian xa xôi:

Sing, my sacred tortoiseshell lyre;
come, let my words
accompany your voice

Sappho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cây thụ cầm đồi mồi thần thánh

hãy cất tiếng đàn

cho ta hòa ca

Lê Văn Truyền dịch

Sappho là nhà thơ trữ tình đầu tiên mà ngày nay chúng ta vẫn nhắc đến tên tuổi của bà và nữ thi sỹ có thể vẫn là nhà thơ trữ tình lớn nhất cho đến hiện nay. Nữ haijin nổi tiếng về sự dí dỏm, giống như haiku là đơn giản, súc tích đôi khi đến mức làm ta sửng sốt. Vì tôi đã phụ trách một trang thơ trữ tình hay nhất mọi thời đại, tôi đã viết khúc haiku sau đây một cách hoàn toàn bất ngờ. Và hoàn toàn không dự định, tôi đã chấm dứt trang thơ trữ tình và bắt đầu dịch nhiều bài haiku.

Dark-bosomed clouds
pregnant with heavy thunder ...
the water breaks

Michael R. Burch

Những đám mây đen

thai nghén sấm sét…

mưa tuôn như vỡ ối
Lê Văn Truyền dịch

Và sau đây là bản dịch tiếng Anh của tôi về một trong những khúc haiku của bậc thầy Nhật Bản Basho mà tôi yêu thích.

The butterfly
perfuming its wings
fans the orchid

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm

quạt cánh hoa lan

ướp thơm đôi cánh
Lê Văn Truyền dịch

Thật thú vị khi nhận thấy sự tương đồng giữa ba bài thơ của những nhà thơ rất khác biệt. Sappho là một nhà thơ của Hy Lạp cổ đại sinh trưởng ở đảo Lesbos; tính cách tình dục đồng giới của bà đã mang lại sự biểu đạt và nghĩa rộng của những từ “Lesbian” hay “Sapphic” mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại.

Matsuo Basho là một bậc thầy haiku cổ của Nhật Bản, đã ảnh hưởng, và vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ Phương Tây. Tôi là một nhà thơ Mỹ không mấy tên tuổi nhưng rất yêu thích các trường phái thơ ca khác nhau. Các bài thơ cùng có chung các đặc điểm, đó là sự khúc chiết, súc tích, trong sáng và việc sử dụng hình ảnh để biểu đạt cảm xúc. Trong mỗi bài thơ, người thi sỹ sử dụng hình ảnh để truyền đạt những thông tin về cảm xúc của mình còn nhiều hơn những dòng văn xuôi.

Sappho dùng hình ảnh cây đàn “lyre”, một loại đàn giống cây thụ cầm (đàn harp), nhạc cụ đã đem lại thuật ngữ hiện đại “thơ trữ tình” (lyric poetry). Khi Sappho nói đến “cây đàn lyre thần thánh” (the lyre sacred), nhà thơ cũng đã nhắc đến Muse, những nữ thần Thơ Ca (những vị thần của Hy Lạp cổ đại đã giải thích cội nguồn của thi ca, là nguồn cảm hứng tuyệt diệu).

Thơ haiku của Basho là những tuyệt tác có thể làm cho ta nhầm lẫn vì tuy hình thức và cấu trúc đơn giản nhưng chúng có thể lột tả một cách sinh động “bản chất cộng sinh” (symbiotic nature) của cuộc sống. Những con bướm hút mật hoa, và qua đó, giúp hoa thụ phấn. Thơ của Basho là một minh chứng cho nghệ thuật phản ánh thiên nhiên; thật khó để nói lên cái gì là đáng yêu hơn: con bướm, nhành lan hay những dòng thơ được khắc họa một cách trang nhã. Khúc haiku của tôi so sánh những đám mây tích sấm sét, một cơn mưa với một phụ nữ mang thai đang vỡ ối. Tôi cho rằng đó là một hình ảnh có hiệu ứng, mặc dù tôi nghĩ bạn đọc có thể cho rằng tôi không xứng đáng là một bậc thầy haiku. Hy vọng rằng, tôi có thể dành cho bạn đọc sự tôn trọng xứng đáng. Và bây giờ, sau đây là những khúc haiku tôi yêu thích.

Pausing between clouds
the moon rests
in the eyes of its beholders

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những đám mây trắng

mặt trăng nghỉ ngơi

trong mắt người ngưỡng vọng

Lê Văn Truyền dịch

Khúc haiku trên đây cũng đã bày tỏ được sự đơn giản và sức mạnh của bài thơ dưới tay một ngòi bút tài năng. Khi một bậc thầy như Basho viện dẫn hình ảnh của mặt trăng, Basho có thể cuốn chúng ta đến với tất cả những gì chúng ta biết và tất cả cảm xúc của chúng ta về Chị Hằng.

Oh, fallen camellias,
if I were you,
I'd leap into the torrent!

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi đóa hoa trà rụng

nếu là ngươi

ta đã gieo mình vào giòng suối

Lê Văn Truyền dịch

Bài thơ trên đây là một khúc haiku khác mà tôi đặc biệt yêu thích, vì nhà thơ đã làm người đọc thấu cảm với những nhành hoa khô héo. Khi tôi dịch bài thơ này, tôi nhìn thấy ở ngoài trời những cánh hoa rơi tơi tả trong mưa và hình như nhà thơ gợi cho ta rằng một cái chết nhanh chóng tốt hơn một cái chết từ từ, chậm rãi. Bài thơ hình như cũng là một gợi ý về sự tự vẫn hoặc cái chết không đau đớn (euthanasia) cũng là một giải pháp so với cái chết khổ sở kéo dài, mặc dù vẫn có những cách diễn giải khác nhau về khúc haiku này. Một bài thơ hay là một bài thơ có thể gợi cho người đọc nhiều cách diễn giải khác nhau.

Eros harrows my heart:
a wind on desolate mountains
uprooting oaks.

Sappho, đoạn 42, Michael R. Burch phỏng dịch

Những người anh hùng dày vò tim ta

ngọn gió trên núi đồi hoang vu

bật gốc cây sồi già

Lê Văn Truyền dịch

Tôi nghĩ trong bài thơ này của Sappho hiện hữu “sự tương đồng nguồn cội” (family resemble) giữa dòng thơ trữ tình ngắn gọn, súc tích và đầy sức gợi của Sappho với dòng thơ của các bậc thầy phương Đông.

When you opened my letter
were you surprised
my heart fell out?

Michael Windsor McClintock

Khi mở lá thư

em có ngạc nhiên

thấy trái tim anh rơi ra?

Lê Văn Truyền dịch

Next door
the lovemaking subsides
stars fall from other worlds

Michael Windsor McClintock

Nhà bên

cuộc yêu lắng xuống

những vì sao rơi từ thế giới khác
Lê Văn Truyền dịch

An old photo of my parents
young and happy -
of all the things I own
that is the saddest

Michael Windsor McClintock

Một bức ảnh cũ

bố mẹ vui vẻ trẻ trung -

buồn thay những gì tôi đang có
Lê Văn Truyền dịch

Ba bài thơ trên đây là của Michael Windsor McClintock, một nhà thơ Hoa Kỳ đương thời. Vào những năm 1960’ nhà thơ là Phụ Tá Biên Tập tạp chí “Haiku Hightlights”. Trong những năm 70’ ông là Phụ Tá Biên Tập tạp chí “Modern Haiku”, là biên tập tạp chí “American Haiku Poets Series” và tạp chí “Seer Ox: American Senryu Magazine”. Tôi nghĩ các bài haiku của ông đã cho thấy những hình ảnh trong sáng, giản dị có thể gợi cho ta bao nhiêu là cảm xúc: một phong thư được mở ra, một ngôi sao băng trên bầu trời, một bức ảnh của người yêu dấu đã rung động trái tim ta như thế nào.

Tôi nghĩ những bậc thầy thời xưa cũng sẽ tán thưởng những bài thơ như thế này.

One apple, alone
in the abandoned orchard
reddens for winter

Patrick Blanche, Michael R. Burch phỏng dịch

Trong vườn hoang

quả táo cô đơn ngượng ngùng

đỏ mặt vì mùa Đông
Lê Văn Truyền dịch

Bài thơ trên đây của một nhà thơ Pháp cho ta thấy thơ ca của các bậc thầy Phương Đông đã ảnh hưởng như thế nào đến nền thi ca trên thế giới.

Our life here on earth:
to what shall we compare it?
It is not like a rowboat
departing at daybreak,
leaving no trace of us in its wake?

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc sống trên đời

có gì sánh được?

Không như chiếc du thuyền

khởi hành buổi rạng đông

không để lại dấu tích của ta trên vệt sóng

Lê Văn Truyền dịch.

Bài thơ trên đây là một bài tanka, một thể thơ phương Đông khác. Bài thơ nói về bệnh tật của con người: có bao nhiêu người đã chết mỗi ngày mà không “wake” (để lại vết tích)? Đối với mỗi Shakespeare trong ta, có hàng triệu con người bình thường tồn tại trong ký ức của mọi người. Nhà thơ hay nhất là nhà thơ biết nói lên sự thật. Không như những “ông lang băm” và những “ông thầy bói”, nhà thơ đem đến cho độc giả sự thật trần trụi mà nhà thơ cảm thấy được.

Graven images of long-departed gods,

dry spiritless leaves:
companions of the temple porch

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hình ảnh của thần linh

khắc trên những chiếc lá khô vô hồn

bạn đồng hành của cổng đền

Lê Văn Truyền dịch

Tôi rất thích khúc haiku trên đây của Basho bởi vì nó đề cập đến sự xác tín và quyền lực của tôn giáo. Các “lang băm”, thầy tu và các nhà truyền giáo của bất kỳ tôn giáo nào cũng luôn nói về Thượng Đế và Thánh Thần nhưng Thượng Đế của họ bất công và vô hiệu một cách khác thường. Thượng Đế của những “lang băm”, tu sĩ và nhà truyền giáo không bao giờ có thể tránh được bệnh tật và cái chết: với các nhà thơ nói lên sự thật, điều đó là hiển nhiên.

Sau đây là một bài thơ làm cho tôi nghĩ rằng Basho không bao giờ là tín đồ của những tôn giáo được lập ra như vậy:
The temple bells grow silent
but the blossoms provide their incense
a perfect evening!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chuông chùa dần lặng

hoa nở ngát hương

hoàng hôn tuyệt đẹp

Lê Văn Truyền dịch

Và một bài khác:

See: whose surviving sons
visit the ancestral graves
white-bearded, with trembling canes?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nhìn những đứa con sống sót

râu tóc bạc run rẩy chống gậy

viếng mộ cha ông
Lê Văn Truyền dịch

Một lần nữa, Basho đã nói lên một cách trung thực một sự thật rất thuyết phục dù có làm cho ta nản lòng. Những nhà thơ Hy Lạp cổ đại cũng không ngần ngại nói về cái chết một cách trực diện. Sau đây là một đoạn văn bia Hy Lạp cổ đại khắc trên đá gợi cho ta nhớ đến Basho:

Does my soul abide in heaven, or hell?
only the sea gull
in his high, lonely circuits, may tell
Michael R. Burch, theo Glaucus

Linh hồn ta sẽ ở Thiên Đàng hay Địa Ngục?

chỉ con mòng biển cô đơn

bay trên trời mới biết

Lê Văn Truyền dịch

Và đây là một đoạn văn bia cổ Hy Lạp khác có thể sánh được với một khúc haiku hay nhất về sự đơn giản, chân thật, rõ ràng và thẳng thắn của nó:

Mariner, do not ask whose tomb this may be,
but go with good fortune: I wish you a kinder sea.

Michael R. Burch, theo Plato

Hỡi thủy thủ, đừng hỏi đây là nấm mồ của ai

ra khơi may mắn và hãy là đứa con của biển khơi
Lê Văn Truyền dịch

Hai khúc haiku dưới đây là của một nữ haijin Nhật Bản, Hisajo Sugita:

I remove my beautiful kimono:
its varied braids
surround and entwine my body

Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Cởi chiếc kimono đẹp đẽ

những dải áo

quấn quanh thân tôi

Lê Văn Truyền dịch

This day of chrysanthemums
I shake and comb my wet hair,
as their petals shed rain
Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày Hoa cúc

tôi vẩy làn tóc ướt

những cánh hoa tỏa mưa

Lê Văn Truyền dịch

Và, sau đây là một số khúc haiku của Matsuo Basho:

Let us arrange
these lovely flowers in the bowl
since there's no rice

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy cắm những bông hoa đẹp

trong cái bát

đã lâu không còn một hạt cơm
Lê Văn Truyền dịch

The first soft snow:
leaves of the awed jonquil
bow low

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết đầu mùa:

lá cây hoa trường thọ

cúi chào
Lê Văn Truyền dịch

Come, investigate loneliness!
a solitary leaf
clings to the Kiri tree

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nghiền ngẫm nỗi cô đơn!

chiếc lá đơn côi

níu lấy cây Kiri
Lê Văn Truyền dịch

The first chill rain:
poor monkey, you too could use
a woven cape of straw

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Mưa đầu mùa lạnh lẽo:

con khỉ đáng thương

hãy đội chiếc mũ rơm

Lê Văn Truyền dịch

This snowy morning:
cries of the crow I despise
(ah, but so beautiful!)

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Buổi sáng tuyết lạnh này

tôi không màng đến tiếng quạ

(ôi, buổi sáng tuyệt đẹp!)

Lê Văn Truyền dịch

Like a heavy fragrance
snow-flakes settle:
lilies on rocks

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Như mùi hương ngát

hoa tuyết bậu trên đá

những bông huệ tây
Lê Văn Truyền dịch

The cheerful-chirping cricket
contends gray autumn's gay,
contemptuous of frost

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Tiếng dế rả rích

đua với thu vàng

không màng sương giá
Lê Văn Truyền dịch

Whistle on, twilight whippoorwill,
solemn evangelist
of loneliness

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoàng hôn, tiếng hót chim bắt muỗi

lời phúc âm trang nghiêm

nỗi niềm hiu quạnh

Lê Văn Truyền dịch

The year's first day ...
thoughts come, and with them, loneliness;
dusk approaches.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày tân niên

cô đơn cùng những suy tư;

hoàng hôn buông xuống
Lê Văn Truyền dịch

An empty road
lonelier than abandonment:
this autumn evening

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con đường trống vắng

cô đơn hơn bị bỏ rơi

trong chiều thu này
Lê Văn Truyền dịch

Ballet in the air!
two butterflies, twice white,
meet, mate, unite.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vũ điệu không trung

đôi bướm trắng gặp nhau

hòa hợp kết đôi
Lê Văn Truyền dịch

High-altitude rose petals
falling
falling
falling:
the melody of a waterfall.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Từ trên cao

những cánh hoa hồng

rơi

rơi

rơi

giai điệu của dòng thác
Lê Văn Truyền dịch

The cicada's cry
contains no hint to foretell
how soon it must die.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ve sầu ca vang

không hề biết trước

khi nào đời tàn
Lê Văn Truyền dịch

Fever-felled mid-path
my dreams resurrect, to trek
through a hollow land

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cơn sốt kinh hoàng

giấc mơ trỗi dậy

dìu tôi qua miền đất hoang
Lê Văn Truyền dịch

The sea darkening,
the voices of the wild ducks:
my mysterious companions!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Mặt biển tối dần

tiếng kêu vịt hoang

người bạn đường bí ẩn
Lê Văn Truyền dịch

Will we meet again?
here at your flowering grave:
two white butterflies

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Khi nào gặp lại

hai con bướm trắng

trên mồ nở hoa?

Lê Văn Truyền dịch

These wilting summer flowers?
The only remains
of "invincible" warriors ..

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Những bông hoa mùa hè héo tàn

chỉ còn lại

những người chiến binh vô địch.
Lê Văn Truyền dịch

Spring has come:
the nameless hill
lies shrouded in mist

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân đã đến

ngọn đồi vô danh

ẩn mình trong sương

Lê Văn Truyền dịch

Among the graffiti
one illuminated name:
Yours.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những bức tranh tường cổ

chỉ một cái tên rực rỡ

ấy là tên em

Lê Văn Truyền dịch

A spring wind
stirs willow leaves
as a butterfly hovers unsteadily.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọn gió Xuân

lá liễu lay

cánh bướm lửng lơ

Lê Văn Truyền dịch

Swallow flitting in the dusk,
please spare my small friends
buzzing among the flowers!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chim nhạn liệng trong đêm

hãy để những bạn nhỏ của tôi

lượn giữa những đóa hoa

Lê Văn Truyền dịch

Morning glories blossom,
reinforcing the old fence gate.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bình minh huy hoàng bừng nở

cổng rào cũ chắc hơn

Lê Văn Truyền dịch

Scrawny tomcat!
Are you starving for fish and mice
or pining away for love?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con mèo đực tong teo

vì đói ăn

hay vì nỗi thất tình ray rứt

Lê Văn Truyền dịch

The moon: glorious its illumination!
therefore, we give thanks.
dark clouds cast their shadows on our necks.
Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng sáng huy hoàng

cám ơn đám mây đen

thả bóng trên cổ ta

Lê Văn Truyền dịch

Curious flower,
watching us approach:
meet Death, our famished donkey.
Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Đóa hoa hiếu kỳ

lại gần ta rình rập:

gặp Thần chết, con lừa khốn khổ

Lê Văn Truyền dịch

Ah me,
I waste my meager breakfast
morning glory gazing!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ồ,

tôi bỏ bữa sáng đạm bạc

để ngắm bình minh rực rỡ

Lê Văn Truyền dịch

Và dưới đây là một số bài của các nhà thơ khác:

Right at my feet!
When did you arrive here,
snail?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú sên

đến đây khi nào

ngay dưới chân tôi

Lê Văn Truyền dịch

Oh, brilliant moon
is it true that even you
must rush away, as if tardy?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng sáng

cũng vội vàng trôi

như sắp muộn rồi

Lê Văn Truyền dịch

Ghostly the gray cow comes

mooing
mooing

mooing
out of the morning mist.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Con bò xám trơ xương

rống

rống

rống

vang trong sương sớm

Lê Văn Truyền dịch

Peonies blossom;
the world is full of blooming liars.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa diên vỹ nở

thế giới đầy người dối trá

Lê Văn Truyền dịch

After killing a spider,
I was overcome by loneliness
in the bittercold night.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Tôi giết một con nhện

lòng ngập tràn cô đơn

trong đêm đen giá buốt

Lê Văn Truyền dịch

Summer river:
ignoring the bridge,
my horse charges through the water.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Không màng đến cây cầu

trên dòng sông mùa hạ

ngựa thồ lội nước qua sông

Lê Văn Truyền dịch

After the fireworks,
the spectators departed:
how vast and dark the sky!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Sau màn pháo hoa

mọi người rời xa

bầu trời đen mênh mang
Lê Văn Truyền dịch

Such a small child
sent to become a priest:
frigid Siberia!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Như chú tiểu đồng

thụ giáo đi tu

Siberi lạnh lẽo
Lê Văn Truyền dịch

We cannot see the moon
and yet the waves still rise
Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Không thể thấy trăng

những con sóng vẫn trào dâng
Lê Văn Truyền dịch

The first morning of autumn:
the mirror I investigate
reflects my father’s face
Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Buổi sáng đầu Thu

trong gương tôi soi

cha tôi hiện bóng

Lê Văn Truyền dịch

Wild geese pass
leaving the emptiness of heaven
revealed

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn ngỗng trời bay qua

để lại trống vắng

trên bầu trời bao la

Lê Văn Truyền dịch

Silently observing
the bottomless mountain lake:
water lilies

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Lẳng lặng ngắm nhìn

mặt hồ không đáy trên núi:

những bông hoa súng

Lê Văn Truyền dịch

Cranes
flapping ceaselessly
test the sky's upper limits

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những con sếu

vỗ cánh không ngừng

thách thức trời cao
Lê Văn Truyền dịch

Falling snowflakes'
glitter
tinsels the sea

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những bông tuyết rơi

lấp lánh

trang hoàng biển xanh

Lê Văn Truyền dịch

Blizzards here on earth,
blizzards of stars
in the sky

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Dưới mặt đất bão tuyết

trên bầu trời

bão sao băng

Lê Văn Truyền dịch

Completely encircled
in emerald:
the glittering swamp!

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọc lục bảo bao quanh

đầm lầy lấp lánh

Lê Văn Truyền dịch

The new calendar!
as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Quyển lịch mới

như nói cùng ta

ngày mai có gì chắc chắn …
Lê Văn Truyền dịch

Ah butterfly,
what dreams do you ply
with your beautiful wings?

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, con bướm miệt mài

dệt giấc mơ nào

với đôi cánh đẹp

Lê Văn Truyền dịch

Because morning glories
hold my well-bucket (cái gầu múc nước giếng) hostage
I go begging for water

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Bận buổi cầu kinh sáng

không đụng đến cái gầu

tôi đi xin nước

Lê Văn Truyền dịch

Spring
stirs the clouds
in the sky's teabowl

Kikusha-ni, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân

lay động đám mây

bầu trời trong tách trà

Lê Văn Truyền dịch

Tonight I saw
how the peony crumples
in the fire's embers

Katoh Shuhson, Michael R. Burch phỏng dịch

Đêm nay tôi thấy

cánh mẫu đơn nhàu nhĩ

trong tro tàn lò sưởi

Lê Văn Truyền dịch

It fills me with anger,
this moon; it fills me
and makes me whole

Takeshita Shizunojo, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng làm tôi giận dữ

cũng vầng trăng này

đem lại bình an

Lê Văn Truyền dịch

War
stood at the end of the hall
in the long shadows

Watanabe Hakusen, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiến tranh

đứng ở cuối đại sảnh

trong bóng tối

Lê Văn Truyền dịch

Because he is slow to wrath,
I tackle him, then wring his neck
in the long grass

Shimazu Ryoh, Michael R. Burch phỏng dịch

Anh không hay cáu

tôi tóm và đè cổ anh

xuống thảm cỏ xanh

Lê Văn Truyền dịch

Pale mountain sky:
cherry petals play
as they tumble earthward

Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên núi trời nhợt nhạt

những cánh hoa đào bay

rối tung mặt đất

Lê Văn Truyền dịch

The frozen moon,
the frozen lake:
two oval mirrors reflecting each other.

Hashimoto Takako, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng đóng băng

mặt hồ đóng băng

hai tấm gương trái xoan phản chiếu

Lê Văn Truyền dịch

The bitter winter wind
ends here
with the frozen sea

Ikenishi Gonsui, Michael R. Burch phỏng dịch

Gió đông lạnh buốt

ngừng thổi nơi đây

biển xanh băng giá

Lê Văn Truyền dịch

Oh, bitter winter wind,
why bellow so
when there's no leaves to fell?

Natsume Sôseki, Michael R. Burch phỏng dịch

Hỡi gió buốt mùa đông

cây không còn lá

gào thét làm chi?

Lê Văn Truyền dịch

Winter waves
roil
their own shadows

Tominaga Fusei, Michael R. Burch phỏng dịch

Biển mùa đông

khuấy đục

đầu sóng

Lê Văn Truyền dịch

No sky,
no land:
just snow eternally falling ...

Kajiwara Hashin, Michael R. Burch phỏng dịch

Không bầu trời

không mặt đất

tuyết không ngừng rơi

Lê Văn Truyền dịch

Along with spring leaves
my child's teeth
take root, blossom
Nakamura Kusâto, Michael R. Burch phỏng dịch

Cùng với cây lá

răng sữa con tôi bén rễ

mầm xuân nẩy chồi

Lê Văn Truyền dịch

Stillness:
a single chestnut leaf glides
on brilliant water

Ryuin, Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh lặng:

một chiếc lá dẻ

lướt trên mặt nước

Lê Văn Truyền dịch

As thunder recedes
alone tree stands illuminated in sunlight:
applauded by cicadas

Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Sấm sét tan rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

ve sầu hòa ca

Lê Văn Truyền dịch

The snake slipped away
but his eyes, having held mine,
still stare in the grass

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Con rắn trườn trong cỏ

đôi mắt chằm chằm

làm tôi bất động

Lê Văn Truyền dịch

Girls gather sprouts of rice:
reflections of the water flicker
on the backs of their hats

Kyoshi Takkahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Những cô gái gieo mạ

ánh nước lung linh

đằng sau chiếc nón

Lê Văn Truyền dịch

Murmurs follow the hay cart
this blossoming summer day

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Lọc cọc xe ngựa thồ cỏ khô

trong ngày hè hoa nở
Lê Văn Truyền dịch

The wet nurse
paused to consider a bucket of sea urchins
then walked away

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Cô nhũ mẫu ướt đẫm

dừng chân ngắm đám nhím biển

rồi cất bước đi
Lê Văn Truyền dịch

May I be with my mother
wearing her summer kimono
by the morning window

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Ước được cùng mẹ

mặc áo kimono

bên cửa sổ buổi sáng mùa hè
Lê Văn Truyền dịch

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay người đàn bà

bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

Lê Văn Truyền dịch

The moon
hovering above the snow-capped mountains
rained down hailstones

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Chị Hằng

trôi trên đỉnh núi tuyết

mưa đá tuôn

Lê Văn Truyền dịch

Oh, dreamlike winter butterfly:
a puff of white snow
cresting mountains

Kakio Tomizawa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm mùa đông đẹp như mơ

nhúm bông tuyết trắng

đồi núi nhấp nhô

Lê Văn Truyền dịch

Spring snow
cascades over fences
in white waves

Suju Takano, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết mùa Xuân

đọng trên hàng rào

những con sóng trắng

Lê Văn Truyền dịch

Khương Thượng, Hà Thành

Mùa Xuân 2018

Lê Văn Truyền

TÓM TẮT TIỂU SỬ
MICHAEL R. BURCH

(theo WIKIPEDIA)

Michael R. Burch (sinh ngày 19-2.1958) là giám đốc một công ty công nghệ thông tin ở Hoa Kỳ. Ông đồng thời là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình và nhà biên tập, sống ở Nashville, bang Tennessee.

Ông còn là một nhà hoạt động vì hòa bình, là tác giả của sáng kiến hòa bình Burch-Elberry được mạng Diễn Đàn Quốc Gia về Liên Kết Tiến Bộ của Ấn Độ công bố. Ông cũng là nhà hoạt động tích cực cho trường phái New Formalist (Tân Hình Thức) và Neo-Romanticism (Tân Lãng Mạn). Ông đã công bố những bài thơ hay nhất trên trang mạng thơ The HyperTexts xuất hiện trong suốt hai thập kỷ qua và theo đánh giá của Google đã có hơn hai triệu lượt truy cập kể từ năm 2010. Thơ và truyện ngắn của Burch đã được đăng trên các tạp chí: TIME, USA Today, Writer Digest, Writer’s Journal, Writer’s Gazette, The Lyric, Poet Love … và trên hàng trăm tạp chí thơ ca khác. Ông phụ trách một cột báo hàng tuần trên tờ Nashville’s City Paper trong ba năm cho đến khi chuyên mục này ngừng xuất hiện vào năm 2013. Ông cũng dịch thơ từ tạp chí Old English và các ngôn ngữ khác ra tiếng Anh hiện đại. Burch đã dịch thơ của nhiều nhà thơ trong đó có Basho, Bertolt Brecht, Robert Burns, William Dunbar, Allama Iqbal, Ono no Komachi, Miklós Radnóti, Rainer Maria Rilke, Reneé Vivien và Sappho …

Michael R. Burch đã đạt 5 giải thưởng “Pushcart Prize” từ các nhà xuất bản The Aurorean, Romantics Quarterly, The Raintown Review, Trinacria và Victorian Violet Press. Tác phẩm “Ordinary Love” của ông được giải thưởng thơ “Algernon Charles Swinburne Poetry Award”, đồng thời ông cũng đạt 6 giải thưởng các cuộc thi thơ và 35 giải thưởng các cuộc thi văn học.

Ông kết hôn với ca sỹ Elizabeth Harris Burch và có người con trai Jeremy Michael Burch là ca sỹ, nhạc sỹ và diễn viên.

Tiếng sóng tâm thức- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Tiếng gì trong đêm

hình như tiếng sóng

hay là tiếng mẹ, mẹ ơi!

(Romano Zeraschi - Italia - Đinh Nhật Hạnh dịch)

Nhà thơ Romano Zeraschi là một Haijin người Ý, quê hương của bánh pizza nổi tiếng. Nước Ý có nhiều núi cao và bờ biển trải dài. Cho nên tiếng sóng xuất hiện trong thơ Romano không có gì lạ.

Vậy mà quá thảng thốt. Romano chợt kêu lên. Có tiếng gì vọng lại từ vô thức. Thật ra, trong điệu thức tâm hồn của thơ, luôn có một thứ âm vang vô thanh xao động. Nhà thơ đã kịp nhận tiếng gì là một nỗi niềm hơn là một thường trực.

Tiếng gì trong đêm ấy, xuyên qua tâm thức?

Lạ mà quen.

Mơ hồ và ám ảnh.

Tự hỏi. Ấy là tiếng sóng ngàn năm chăng?

Không. Như ngọn hải triều âm gào thét, tiếng gì ấy, dội vào hốc lòng sâu thẳm. Rồi bật ra ngào nghẹn. Cứ mãi không thôi. Đó chỉ có thể là tiếng yêu thương nhất mà nhà thơ thừa tự.

Hay là tiếng mẹ? Nhà thơ tự cho phép mình được gọi như thế. Bởi thiêng liêng bao giờ cũng đánh thức trái tim hơn là cảm giác.

Đúng vậy, chỉ có tiếng gọi thiêng liêng của "thần giao cách cảm", mới lay động đến thế. Con sinh ra từ cung lòng của mẹ. Dây rốn tinh khôi đã buột vào từ thuở bào thai. Mẹ sầu khổ luôn ảnh hưởng tới con. Con đau mẹ cũng đau không kém. Mẹ con, con mẹ, đã kết làm một. Không thể tách rời.

Nói về mẹ thì có nhiều áng thơ hay. Nhưng thơ Haiku của Romano Zeraschi ray rứt khôn nguôi. Người chuyển ngữ hình như cũng linh cảm được điều tinh tế ấy mà kéo dài tiếng gọi "Mẹ ơi!". Khắc khoải. Trầm buồn: "may be your voice, Mother"!

Thú thật, đây là bài Haiku làm tôi thao thức mãi. Lòng tôi cùng với Romano làm nên một cung bậc. Nhớ mẹ mình biết bao!

Nếu chuyển ngữ:"hay là tiếng mẹ", rồi bỏ lửng. Không có gì sai. Nhà thơ Đinh Nhật Hạnh quá hiểu điều đó, nhưng ông vẫn dịch sát: "hay là tiếng mẹ, mẹ ơi"! Người ta bảo thơ Haiku kiệm lời. Tuy nhiên không phải tất cả. Có lúc không kiệm được mà phải gọi lên.

Gọi lên cho những thứ khác được giấu kín.

Người sáng tác và người dịch đã thành công.

Vì họ cùng một tầng sóng siêu âm...

Đà Lạt tháng 3/2017

N.T.N

Haiku tình yêu phương Tây

Lê Văn Truyền

Khi thưởng thức haiku truyền thống của Nhật Bản, trong các “quý ngữ” người đọc hiếm thấy có chỗ cho chủ đề tình yêu hoặc nhục cảm. Mặc dù, như trong bài viết trước đây, khi giới thiệu “chi lưu” haiku tình yêu, điểm qua một số khúc haiku của các đại thụ haiku Nhật Bản, ta có thể thấy một số bài “luyến ca” đề cập đến tình yêu và vẻ đẹp nhục cảm của người phụ nữ một cách nhẹ nhàng, đầy tính ẩn dụ.

alt

Khi haiku lan tỏa sang các nước phương Tây rồi dần dần có một vị thế quan trọng và đặc thù trong nền thi ca Tây phương, người ta thấy các haijin đã đưa vào haiku những chủ đề quen thuộc của văn hóa Tây phương, trong đó không thể thiếu chủ đề về tình yêu và nhục cảm. Khi tiếp cận với haiku, nhiều nhà thơ Anh, Mỹ… đã phát hiện ra rằng, tuy rất ngắn gọn, chỉ bao hàm trong 17 âm tiết, nhưng thể thơ ngắn haiku của Nhật Bản vẫn có khả năng thể hiện một cách cô đọng, hoặc trực tiếp hoặc ẩn dụ, các sắc thái tình yêu mạnh mẽ nhất, nồng nàn nhất với tất cả các cung bậc khác nhau của tình yêu và nhục cảm giữa người nam và người nữ. Các haijin phương Tây đã tìm thấy trong bản sắc và khả năng của haiku – có thể gợi đến “cái vô tận” của thời gian thông qua “một khoảnh khắc”, thấy cả “vũ trụ” trong một “giọt nước”, phát hiện cái “đại ngã” trong “bản ngã” của mỗi con người, nhận thức được quy luật “thiên nhân hợp nhất” – một thế mạnh để ghi lại những khoảnh khắc thăng hoa, nắm bắt những tia chớp huyền diệu khi người nam và người nữ đắm mình trong tình yêu và nhục cảm.

Để cảm thụ “erotic haiku”, một haijin nổi tiếng của phương Tây đã viết, đại ý: Để có thể đánh giá được đầy đủ vẻ đẹp của “erotic haiku” người đọc cần tiếp cận dòng thơ này với sự hiểu biết cơ bản và chính xác thế nào là “erotic”. Mặt khác, sự cảm thụ “erotic haiku” phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm cá nhân và trải nghiệm của người đọc. “Erotic haiku” tuyệt đối không phải là lời người nam hay người nữ mời gọi bạn lên giường mà là để giúp bạn thăng hoa trí tưởng tượng của mình về tình yêu và nhục cảm.

Đúng thế, có những “khoảnh khắc tình yêu” ở phương Tây có thể mô tả bằng câu chữ trần trụi nhưng ở phương Đông chỉ có thể biểu thị bằng những ẩn dụ, những hình ảnh để người đọc “tự diễn dịch” theo “gu” thẩm mỹ, sự cảm thụ và trải nghiệm của mình mà thôi.

Ishibani Hideno dùng hình ảnh những nụ hoa mận bừng nở chạm vào nhau trong buổi hoàng hôn mùa đông như là một ẩn dụ về sự đụng chạm và giao hòa thể xác giữa nam và nữ:

The winter blooming plum

buds touching one another

in the twilight

Hoa mận bừng nở

cọ vào nhau

buổi hoàng hôn mùa đông


Nhưng với Ruth Yarrow, nữ haijin tuổi thất thập cổ lai hy, bậc thầy haiku của Đại học Cornell (Hoa Kỳ), phút giây giao hòa nhất thiết phải thể hiện như trong khúc haiku sau đây:

Warm rain before dawn

my milk flows

into her unseen

Mưa ấm trước bình minh

dòng sữa tôi

trút vào nàng sâu thẳm

Tả vẻ đẹp của người đàn bà khỏa thân, bậc thầy haijin Nhật Bản đồng thời là ni cô Chiyo-ni sử dụng biểu trưng đóa cúc bạch tinh khôi:

Moonflowers –

when a woman’s skin

is revealed

Đóa cúc bạch

khi làn da người đàn bà

phát lộ

Và cũng Chiyo-ni viết tiếp trong một khúc haiku khác:

Moonflower in bloom

when a woman skin

gleams through the dusk

Đóa cúc trắng bừng nở

khi làn da đàn bà

ánh lên trong hoàng hôn

Các haijin phương Tây mạnh bạo hơn khi sử dụng hình tượng và màu sắc, không chỉ là một màu trắng trinh bạch, mà gần như tất cả các sắc màu mạnh mẽ, ấm áp, rực rỡ của các loài hoa để biểu trưng cho nữ tính của người phụ nữ. Trên khắp thế giới, khi đến với người yêu, các chàng trai thường trân trọng mang theo một bó hoa. Nhưng hầu như các cô gái ít khi mua hoa tặng người yêu vì trong mình cô đã có cả một vườn hoa. Alexis Rotella đã rất tinh tế và có chút hài hước, theo tinh thần haiku Nhật Bản, khi phát hiện ra điều đó:

Late August

I bring him the garden

in my skirt

Tháng tám mới rồi

tôi đem tặng anh

cả một vườn hoa trong váy

Đúng rồi, nếu đã sở hữu cả một “vườn hoa địa đàng” thì không có lý do gì nàng lại phải đem tặng chàng chỉ một nhành hoa hay thậm chí một bó hoa?

Với haijin này chắc chắn đó không phải là bông hoa cúc bạch mà phải là một đóa hồng đen:

Dark rose

the sun lights it

as you undress

Mặt trời rọi sáng

đóa hoa hồng đen

khi em trút xiêm y

Nhưng trong trí tưởng tượng của haijin khác, đó lại là những cánh hoa tulip đang nở bung khoe sắc trong một gian phòng ẩm ướt:

Steamy room

the tulip petals

spread wide

Gian phòng ẩm ướt

cánh tulip

mãn khai

Bộ ngực phụ nữ, nguồn sữa nuôi dưỡng cả nhân loại là một chủ đề không thể thiếu trong “erotic haiku”. Với Brynne Mc Adoo, bầu sữa mẹ đã được nhân cách hóa một cách thật sinh động và cũng không kém phần hài hước. Vầng trăng non nhũ hoa của người yêu len lén ngắm chị Hằng trên bầu trời trong đêm nguyệt thực, chắc để tự so mình với chị Hằng xem ai hấp dẫn hơn chăng:

Lunar eclipse

a nipple peeks

over her dress

Nguyệt thực

nhũ hoa hé nhìn

qua làn áo mỏng

Michael Dylan Welch cảm nhận vị ngọt ngào quyến rũ của đôi nhũ hoa:

The taste of honey

on your nipple

the symphony’s crescendo

Vị mật ong

trên đôi nhũ hoa em

cao trào bản giao hưởng

Và cũng Michael Dylan Welch cảm nhận một khía cạnh khác, khía cạnh nhục thể của đôi nhũ hoa:

Moonlit surf…

your nipple hardens

against my tongue

Sóng trào ánh trăng soi

nhũ hoa em săn cứng

chạm vào đầu lưỡi anh

George Swede cảm nhận vẻ đẹp của bộ ngực phụ nữ dưới đôi mắt của một nhà điêu khắc hay một họa sỹ:

Night begins to gather

between her breast

Bóng đêm đọng lại

giữa đôi vú nàng

Và một haijin khác:

By the lamp

the curve of her breast

in silhouette

Ánh đèn rọi bóng

đôi vú

em cong

Ram Krisna Singh, bậc thầy haiku Ấn Độ, cảm nhận bộ ngực người phụ nữ như một “thực thể sống” với tất cả sự sinh động tạo nên vẻ khêu gợi của họ. Người phụ nữ trong khúc haiku sau đây chắc chắn phải có một vẻ đẹp trẻ trung, mạnh khỏe, phồn thực vì vậy bộ ngực của nàng mới kiêu hãnh vươn lên và dám thách thức cả vầng trăng:

With her breasts bobbing

up and down she challenges

the moon as she walks

Đôi vú nàng bập bềnh

thách thức cả vầng trăng

mỗi khi nàng cất bước

Và, bộ ngực cũng sống động theo chu kỳ của người phụ nữ:

Through erect nipples

feeling the warmth of your body

days of abstinence

Đôi núm vú săn cứng

tấm thân em nóng bỏng

những ngày kiêng khem

Những cung bậc khác nhau của tình yêu và nhục cảm được các haijin phương Tây thể hiện từ nhẹ nhàng đến táo bạo trong muôn vẻ khúc dạo đầu. Tình yêu vốn kiệm lời, chỉ cần tiếng thầm thì của người yêu bên tai, hai tâm hồn đã hiểu nhau và… tình yêu tới. Michele Langlo nói lên mong muốn đơn sơ của người yêu:

My whispers escaped

in the silence you heard me

and then I knew love...

Trong yên lặng

anh nghe tiếng em thầm thì

ấy là lúc tình yêu đến

Và một nụ cười dịu dàng của người yêu nhiều khi còn có sức mời gọi nhiều hơn những lời nói hoặc cử chỉ gợi tình. Ram Krisna Singh thấy chỉ nụ cười của người yêu đã đủ khởi động mạnh mẽ nhục cảm:

Her smile triggers

fire in the loins

sunbathing nude

Nụ cười nàng

sưởi ấm thắt lưng tôi

tấm thân trần tắm nắng

Với June O'Reilly chỉ cái ôm dịu dàng âu yếm của chàng đã đủ mang lại cho tâm hồn mình bao điều kỳ diệu:

Touch me with your love

feed my mind with your wonder

tomorrow starts today

Hãy âu yếm dịu dàng

ban tặng em những điều kỳ diệu

ngày mai bắt đầu từ hôm nay

Trong lúc Jennifer lại muốn tan chảy trong vòng tay mạnh mẽ của người yêu:

Dreamy stars at night

your kisses melted my heart

your arms held me tight

Những ngôi sao đêm kỳ ảo

nụ hôn làm tan chảy tim em

trong tay anh ghì chặt

Hàng bao ngàn năm trôi qua nhưng các nhà thơ trên trái đất chưa bao giờ thôi ca ngợi về “hương vị” của tình yêu. Đã có những thi phẩm tuyệt diệu về mùi hương người đàn bà, trong đó có hai câu thơ đẹp, tương truyền của đấng quân vương – thi sĩ Tự Đức lãng mạn của Vương triều Nguyễn:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng

Xếp tàn y lại để dành hơi

Khoa học hiện đại, đặc biệt là ngành hóa học và sinh học, đã thành công trong việc chứng minh mùi hương hấp dẫn của tình yêu chính là các phân tử hóa học “pheromone”, chất dẫn dụ sinh học (và cũng là chất gây nghiện) của con người (và cả một số loài động vật), để gợi tình, để quyến rũ, để “đánh dấu” bạn tình và để duy trì mối quan hệ tình cảm lâu dài. Nhưng tình yêu không chỉ có “hương” mà còn có cả “vị” nữa. Nhiều khi, chỉ chút vị mặn mòi của mồ hôi trên làn da người yêu cũng đủ để đánh thức trong ta niềm khao khát khôn nguôi. Ram Krisna Singh là một kẻ “khát tình” trong khúc haiku sau đây:

Craving for a lick

of the salt on her skin

to become one with her

Khao khát nếm vị muối

trên làn da nàng

muốn giao hòa thành một

Raymond Roseliep, một thầy tu Hoa Kỳ và vừa là bậc thầy “erotic haiku” rất tài hoa đã dám viết:

Her breath

and the rose

caught in my mouth

Hơi thở nàng

và đóa hồng

mắc kẹt trong miệng tôi

Và haijin Steve Mount là một người tình tham lam:

Tasting salty wet

still thirsting, my tongue pursues

her hot sweat again

Nếm vị mặn vẫn khát

lưỡi tôi lại đi tìm

giọt mồ hôi nóng bỏng

Omond thật tự do trong rừng sâu khi chỉ có hai người yêu nhau:

In forest we taste

each other in evergreens

hot dews on the moss

Trong rừng sâu

nếm giọt sương ấm của nhau

trên thảm rêu

Lisa Marie Darlington, nữ haijin từ Vương Quốc Anh, rất thích thú khi được người yêu nghịch ngợm “rong chơi” trải nghiệm vị mặn mòi trên làn da của mình:

Your tongue walks

heavily, up against

the surface of my naked skin

Lưỡi anh rong chơi

trên làn da em

trần trụi

Và hai tâm hồn thấu cảm trong im lặng:

Speaking in tongue

my body understands

every words

Lưỡi anh chuyện trò

thân em thấu cảm

từng lời của anh

Nhiều khi, lời yêu đương cần phải lặng để nhường tiếng cho đôi bàn tay quý báu của chúng ta đã được Trời Đất và Mẹ Cha ban tặng. Jack Jordan cảm thấy những ngón tay người yêu đang lướt trên làn da mịn màng như đang mời gọi những sợi dây đàn trong cơ thể cất lên tiếng nhạc thổn thức, tưng bừng:

Your fingers make

music from the instrument

that is me

Những ngón tay anh

gọi cơ thể em - cây đàn

cất lên tiếng nhạc

Nhưng cuối cùng, rồi cũng phải đến lúc toàn bộ hình hài của chúng ta lên tiếng. Ngắm những cành kim ngân quấn quýt, Raymon Roseliep liên tưởng đến sự giao hòa cơ thể:

Our body

honeysuckle

knots

Thân thể chúng ta

cành kim ngân

giao hòa quấn quýt

Và, khi “ngôn ngữ cơ thể” lên tiếng thì mọi ngôn từ khác đều phải im tiếng:

Rocking on the porch

the couple have nothing left

to talk about

Lắc lư ngoài ban công

đôi tình nhân

lặng yên không nói

Lisa Marie Darlington:

Her slender body

curved to the couch

back arched out in pleasure

Thân hình nàng mảnh dẻ

tấm lưng cong ưỡn lên

trong cơn khoái cảm

Và khi đó đôi tình nhân chỉ còn thấy đang đắm chìm trong niềm đam mê hừng hực:

Hot fire

kindling, the passion

that burns like Hell

Lửa tình nóng bỏng

đam mê bốc cháy

lò lửa Địa Ngục

Khi người ta yêu nhau thì nắng mưa, giông bão không còn là vấn đề, mà nhiều khi thiên nhiên còn xúc tác cho cuộc tình thêm ý vị. O. Roben nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vang lên dịu dàng như một bản dạ khúc tiếp sức cho đôi tình nhân vào cuộc tình không có hồi kết:

Awakned vigor

rain on tin roof’s serenade

our storm has no end

Khúc nhạc mưa rơi trên mái

đánh thức sức mạnh đôi ta

trong cơn bão tình bất tận

June O'Reilly lại thấy hạt mưa như cùng ngọn gió xuân đem lại tình yêu:

Rain down into me

enter as the wind my love

spring into my heart

Mưa rơi trên mình

ngọn gió mùa Xuân

đem tình yêu tới

Ruth Yarrow chớp được khoảnh khắc của cuộc tình và nguồn cảm xúc cao trào tột đỉnh của bản giao hưởng tình yêu:

Hoa hồng dại

quằn mình run rẩy

dưới cánh ong bay*

Và đôi môi hé mở của người yêu chợt lóe lên ánh sáng của niềm khoái lạc tựa tia chớp trên bầu trời đêm trong cơn bão tình:

Sâu thẳm

tôi vào trong

và răng nàng hé sang*

Alexis Rotella cảm nhận sự tiếp xúc ấm áp của người yêu:

Lying in the wet grass

him still beating

inside me

Nằm dài trên cỏ ướt

anh vẫn đập

trong em

Thị giác bất lực trong bóng đêm nhưng cần gì, Steve Mount vẫn thấu cảm được dòng điện khoái lạc và nghe được tiếng thổn thức của niềm hạnh phúc:

Hard flesh meets soft flesh

electric arcs of pleasure

in the dark, a cry

Linga gặp Yoni

dòng điện khoái lạc

một tiếng rên trong đêm

Anita Virgil rộn ràng trong tâm hồn khi cảm nhận sự giao hòa nhục thể:

Em đang giữ anh

bên trong em nồng ấm

tiếng chim sẻ vang lừng*

Vâng, hàng ngàn năm trước khi nữ haijin hiện đại Anita Virgil cảm nhận được tiếng chim sẻ vang lừng, rộn ràng trong tim mình thì Kama Sutra (Dục Kinh Ấn Độ) cổ đại đã mô tả “con chim sẻ” nô đùa như thế nào và sẽ còn nô đùa trong vĩnh cửu mai sau để loài người tồn tại:

Khi Linga nằm trong Yoni

đó là trò chơi của chim sẻ

Niềm hạnh phúc giao hoan vang lên như tiếng ríu rít của những con chim sẻ đang rộn ràng trong tâm hồn chúng ta, là “chỉ dấu sinh tồn” cho ta biết rằng mình vẫn đang còn được tồn tại trên Trái Đất và trong Cõi Đời nhiều bất hạnh, đau thương này.

Để kết thúc, người viết bài này xin mượn lời Alexis Rotella khi bình khúc haiku của Anita Virgil về bài ca chim sẻ, khúc haiku đã đạt giải nhất trong cuộc thi “Erotic Haiku” toàn thế giới năm 1983 do Tạp Chí Haiku “Cicada” (Con ve sầu) tổ chức:

Yoni và Linga, Âm và Dương, Tiểu ngã và Đại ngã – cả vũ trụ này há chẳng phải đã sinh ra từ ‘cái trò chơi chim sẻ’ ấy hay sao?”.

L. V. T

CHÚ THÍCH

Các bản haiku tiếng Việt trong bài này được tác giả bài viết dịch qua bản tiếng Anh. Kính mong quý thi hữu thông thạo Anh ngữ và Nhật ngữ kiểm tra và cho ý kiến chỉ giáo. Các bài haiku (*) chưa tìm thấy nguyên bản tiếng Anh, xin mạn phép sử dụng bản dịch của các tác giả khác.

Giới thiệu một số haijin được trích dẫn trong bài viết:

Ishibani Hideno (1909-1947): Một nữ haijin hiện đại nổi tiếng của Nhật Bản.  Đã thọ giáo các nữ bậc thầy haiku như Kyoshi và Akiko Yosano. Bà kết hôn với nhà phê bình haiku nổi tiếng Kenkichi Yamamoto (1907-1988). Hideno mất ở Tokyo năm 1947 vì bệnh lao và vết thương chiến tranh. Tác phẩm duy nhất của bà là tuyển tập “Sakura Koku” (Cherry Blossom Deep) đạt giải thưởng “Kawabata Bosha”. Haiku của bà đã được Makoto Uedo dịch ra tiếng Anh trong tác phẩm “Haiku by Japanese Women”

Ruth Yarrow: Haijin Hoa Kỳ, sống ở Rainier Valley. Bà là Thạc Sỹ về Sinh Thái Học ở Đại Học Cornell. Ruth Yarrow sáng tác haiku từ những năm 1070’ khi bà giảng dạy ở Đại Học Stockton (New Jersey). Bà là tín đồ của giáo phái Quaker, là nhà hoạt động vì hòa bình và thành viên phong trào “Thầy Thuốc vì Trách Nhiệm Xã Hội” (Physicians for Social Responsibility). Ruth Yarrow quan niệm:” Sáng tác haiku là để tự trau dồi nhận thức”. Sáng tác nhiều khúc “love haiku/erotic haiku” nổi tiếng nhưng bà cho rằng: “Thật nguy hiểm khi viết quá nhiều “sweet haiku”, nếu không nghĩ đến thực tế là một cá nhân không thể bao quát được toàn bộ kinh nghiệm của con người” (There’s a danger writing a lot of sweet haiku, to not think one can’t encompass the whole human experience).

Chiyo-ni (1703-1775): Một trong những nữ haijin lớn nhất của Nhật Bản. Sinh trưởng trong một gia đình làm giấy, bà thọ giáo cùng hai môn đệ của Basho và trở thành một ni cô đồng thời là một bậc thầy nổi tiếng về renga, hội họa. Bà xuất bản hai tuyển tập: “Chiyo-ni Kushu” (Chiyo-ni’s Haiku Collection: Tuyển Tập Haiku của Chiyo-ni) và “Matsu no Koe” (Voice of the Pine: Tiếng Vọng của Rừng Thông).

Ram Krisna Singh (1950-): Sinh năm 1950 tại Ấn Độ, ông là nhà phê bình văn học, nhà thơ đương đại Ấn Độ và là một trong những haijin Anh ngữ xuất sắc. Ông có học vị Thạc Sỹ Văn Học Anh năm 1970 và từ 1993 là Giáo Sư Văn Học Anh.  Các tuyển tập haiku của ông gồm có: “Từng Giọt Đá Cuội” (Every Stone Drop Pebble, 1999), “Những Giấc Mơ Vụn Vặt” (Peddling Dreams, song ngữ Anh/Italia, 2003), “Dòng Sông Trở Lại” (The River Return, 2006), “Cảm Thức & Tĩnh Lặng: Tuyển Tập” (Sense & Silence: Collected Poems, 2010)”, “Tanka và Haiku tuyển chọn” (New and Selected Poems: Tanka and Haiku, 2012), và “Tôi không phải là Đức Chúa Trời và các bài Tanka và Haiku tuyển chọn” (I Am No Jesus and Other Selected Poems: Tanka and Haiku, song ngữ Anh/Crimean Tatar, 2014). Haiku của ông đã được dịch ra 23 thứ tiếng trong đó có: Pháp, Tây ban Nha, Roumanie, Trung Hoa, Serbia, Croatia, Tiệp Khắc, Nhật Bản, Đức, Bulgarie, Italia và Esperanto (Quốc tế ngữ)…

Alexis Rotella: Nhà thơ Hoa Kỳ gốc Nga, hiện đang sống ở thành phố Slavic (Pennsylvania). Bà tốt nghiệp Đại Học “Five Branches Institute” ở Santaz Cruz và có bằng Thạc Sỹ về Châm Cứu và Dinh Dưỡng của Học Viện “Five Element Acupuncture” ở Maiami, Florida. Là một nhà sáng tác haiku và haiga nổi tiếng nhưng phần lớn thời gian bà dành cho châm cứu và chữa bệnh.  Sáng tác haiku từ những năm 20 tuổi, thơ của bà được in trong nhiều tạp chí trên thế giới và đạt được nhiều giải thưởng haiku quốc tế. Năm 2007, bà đạt Giải thưởng lớn (Grand Prize) trong cuộc thi haiku hàng năm “Kusamakura Annual Contest” (Kumamoto, Nhật Bản) khi cùng chồng du lịch tới Nhật Bản. Bà được công nhận như là một trong những haijin hàng đầu của Hoa Kỳ hiện nay. Kasuo Sato, giáo sư ở Đại học Waseda Tokyo viết “Alexis Rotella là một trong những haijin hiện đại hàng đầu ở Hoa Kỳ. Bà là người bẩm sinh có thể nắm bắt được những khoảnh khắc của thiên nhiên và của con người để sáng tác những khúc haiku. Nếu bà được sinh ra ở Nhật Bản, bà có thể đã là một trong những bậc thầy haiku hàng đầu của Nhật Bản”.

Anita Virgin: Nguyên Chủ Tịch Hiệp Hội Haiku Hoa Kỳ (The Haiku Society of America). Haiku của bà đã được công bố trong nhiều tạp chí và tuyển tập haiku từ 1969. Gần đây, bà bắt đầu sáng tác và công bố các bài tanka. Từ 2004, các tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên mạng Internet.

Raymon Roseliep (1917-1983): Sinh năm 1917 tại Farley (Iowa). Năm 1939, Raymon Roseliep tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương sau đó nhận bằng Thạc Sỹ Văn Chương tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ (1948). Năm 1954, ông nhận bằng Tiến Sỹ Văn Học Anh ở Đại Học Nostre Dame. Raymon Roseliep được thụ phong linh mục năm 1943 tại Nhà Thờ Raphael’s Cathedral, Dubuque, Bang Iowa. Ông đã được Giải Thưởng Harold G. Henderson của Hiệp Hội Haiku Hoa Kỳ (Haiku Society of America: HAS) vào các năm 1977 và 1982. Là linh mục công giáo sáng tác haiku, Raymon Roseliep để lại một gia tài haiku đồ sộ. Dù là một tu sỹ, ông không hề thấy có gì mâu thuẫn khi sáng tác “love haiku”: “Haiku tình yêu giúp tôi cảm thấy tràn trề sức sống, trẻ trung, tỉnh táo; và luôn luôn thấy rằng đó là những gì sâu sắc và thiêng liêng nhất trong tất cả chúng ta” (It keep me alive and young and remembering; and always with feelings that are deepest and most sacred in all of us).

Các phạm trù mỹ học then chốt trong văn học Cổ-Trung đại Nhật Bản

alt

Nhật Bản nổi tiếng là một đất nước duy mỹ, duy tình. Yêu cái đẹp, tôn thờ cái đẹp đã trở thành một truyền thống của Nhật Bản. Cái đẹp đã trở thành đối tượng được biểu đạt trân trọng, được cứu rỗi khi suy vi của văn học đồng thời cũng là đối tượng nghiên cứu của triết học và các ngành khoa học ở Nhật. Trong mỗi thời kỳ lịch sử, do đặc điểm xã hội, một phạm trù mỹ học nổi lên chi phối toàn bộ đời sống xã hội cũng như văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, những phạm trù mới nổi lên ở thời kỳ sau không “nuốt chửng” những phạm trù của thời kỳ trước, mà chỉ bổ sung làm phong phú thêm cho mỹ học Nhật Bản. Có thể nêu ra những phạm trù mỹ học then chốt sau đây trong văn học nghệ thuật Nhật Bản như u hoài (あわれ aware), tịch (寂び sabi), đà (侘び wabi), u huyền (幽玄 yugen), trống (間 ma), phù thế (浮世 ukiyo)... Quyển sách song ngữ Linh hồn Nhật Bản (英語で話す日本の心 Keys to the Japanese Heart and Soul1) do nhà xuất bản Kodansha International ấn hành năm 1996 đã dành chương I để bàn về “Mỹ học” (美学) Nhật Bản, từ trang 14 đến trang 45. Qua 31 trang sách, mười tám khái niệm mỹ học đã được giải thích ngắn gọn, rõ ràng theo kiểu từ điển. Tuy nhiên việc phân tích nguyên nhân xuất hiện, biểu hiện của những khái niệm đó trong các ngành nghệ thuật đặc biệt là trong văn học chưa đựơc đề cập đến. Trong bài viết này, chúng tôi muốn chỉ ra rõ hơn sự xuất hiện của những khái niệm đó trong một số tác phẩm tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử văn học, lý giải nguyên nhân nổi lên và sự chi phối của khái niệm mỹ học đến đời sống và nghệ thuật từ điều kiện xã hội. Chúng tôi coi đây là những phạm trù then chốt vì những phạm trù khác ít nhiều đều có liên hệ tới những phạm trù này.

U hoài (あわれ aware) là phạm trù mỹ học nổi bật của thời Heian (江戶) (794-1185). Aware là nói tắt của mono no aware, nỗi buồn sự vật. Đây là từ dùng để diễn tả cảm xúc u hoài, bâng khuâng, xao xuyến, luyến tiếc những vẻ đẹp đã tắt ở đỉnh cao của nó, có thể là vẻ đẹp của thiên nhiên hay con người. Y. Kawabata, nhà văn đầu tiên của Nhật Bản được Nobel văn chương đã lý giải vì sao văn học Heian lại quá u buồn như vậy. Đó là do nó ra đời khi “nền văn hoá chín muồi và sắp sửa đi vào lụi tàn. Người ta cảm thấy sự buồn bã của một cái gì sắp mất, giai đoạn cuối của một thời đại vinh quang, ngọn triều cao của văn hóa vương triều Nhật2. Heian là thời kỳ thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Nhật Bản. Đây có thể nói là thời kỳ của quý tộc, toàn bộ văn hoá Nhật Bản chịu ảnh hưởng của mỹ cảm quý tộc: cầu kỳ, trau chuốt, tinh tế, xa hoa. Tuy nhiên, mầm mống của những mâu thuẫn đã nảy sinh trong lòng xã hội đang lên. Hai dòng võ gia Genji và Heike đã giao tranh với nhau, kết cục là dòng Heike đã bị tiêu diệt trong trận chiến trên biển Danoura năm 1185, đánh dấu sự thất thế của giới quý tộc, mở ra thời đại phong kiến của các tướng quân.

Aware thể hiện tập trung trong tiểu thuyết Truỵên Genji (Genji monogatari), thế kỷ thứ X, của nữ văn sĩ Murasaki Shikibu. Trong cuốn tiểu thuyết được coi là kiệt xuất, đỉnh cao của văn học Nhật Bản này, từ aware xuất hiện khoảng 1000 lần3 cho thấy cảm hứng bao trùm tác phẩm chính là nỗi niềm bi cảm về sự vô thường, về sự trôi chảy không ngừng của thời gian. Tác giả biểu lộ nỗi buồn cho số phận những con người, số phận những mối tình, những triều đại… Tất cả rồi sẽ bị cuốn đi trong dòng thời gian vô tận. Đây là cảm xúc có tính chất truyền thống trong văn học Nhật Bản bởi người Nhật, vốn yêu vẻ đẹp mong manh của hoa anh đào, rất nhạy cảm với thời gian, với sự phù du, hư ảo của cuộc đời. Nhưng có thể nói Truyện Genji thấm đẫm cảm xúc aware, cảm xúc về vẻ đẹp thanh tao, nỗi buồn sâu lắng hòa quyện trong niềm bi cảm vô thường hơn cả. Chủ đề aware thể hiện trên nhiều phương diện nghệ thuật của tác phẩm.

Kết cấu sự kiện của Truyện Genji có lẽ sẽ bị các nhà phê bình phương Tây chê là thiếu chặt chẽ do nó không nương theo cuộc đời của một nhân vật. Nhân vật chính - Genji - chỉ xuất hiện trong bốn mươi chương đầu. Còn phần sau là câu chuyện về một chàng trai khác, thuộc thế hệ sau. Cách bố cục như vậy gợi cho các nhà phê bình văn học nước ngoài liên tưởng tới một bức tranh cuộn Nhật Bản. Đọc truyện cũng là lần giở bức tranh đó. Cuộc đời Genji lần lượt trải ra rồi bị cuộn lại nhường chỗ cho mảnh đời khác. Genji là tâm điểm của phần này nhưng không là tâm điểm phần khác. Nhưng có lẽ chính đặc điểm đó cho phép tiểu thuyết của Murasaki tái hiện được sự phong phú, không ngừng vận động của thế giới vô thường này. Cuộc đời con người vốn không trường cửu, không ai mãi mãi tồn tại. Con người xuất hiện rồi biến mất nhường chỗ cho những thế hệ mới. Đó là một quy luật mà Murasaki đã thấu cảm và thể hiện đầy mới lạ trong kỳ quan của mình.

Kết cấu tranh cuộn thể hiện cảm nghiệm tinh tế và sâu xa của Murasaki về thời gian. Thời gian trong Truyện Genji là “thời gian cát chảy”. Để tạo ấn tượng gợi người đọc cảm nhận được dòng thời gian, nhà văn đã sử dụng một số phương thức riêng. Trước hết, tác giả chú ý tái hiện sự đổi thay của hoàn cảnh tự nhiên và xã hội. Cảnh sắc thiên nhiên hiện lên qua bốn mùa xuân- hạ- thu- đông. Gắn với sự đổi thay của cảnh vật là sự biến đổi của cảm xúc, số phận con người. Thời phong kiến, nền tảng xã hội là triều đình. Dòng chảy của thời gian hiện lên rõ nét qua sự luân chuyển ngôi báu giữa các hoàng đế, ở Truyện Genji là sự thay đổi bốn triều vua và ba thời nhiếp chính. Một triều đại dù vàng son đến mấy cuối cùng cũng chấm hết.

Dòng chảy thời gian còn được gợi lên từ sự biến thiên, những thăng trầm trong cuộc đời nhân vật. Đọc Genji monogatari, độc giả có cảm giác như đang dần mở ra những trang tiểu sử của nhân vật, từ lúc Genji chào đời, trưởng thành, kết hôn, vương vào những cuộc tình, bị dèm pha, bị lưu đày rồi hưởng vinh hoa phú quý, tuổi già không tránh khỏi ập đến và cái chết ở tuổi 52. Vầng hào quang dù sáng chói đến mấy, cuối cùng cũng vụt tắt. Cuộc đời của các nhân vật khác hầu như cũng được tái hiện đầy đủ từ khi nhỏ đến lúc trưởng thành với những số phận khác nhau. Trong quá trình đó, nhân cách của họ cũng được hình thành và định hình. Kaoru, con của công chúa Onnasan và chàng trai Kashiwagi được sinh ra rồi trưởng thành sau khi Genji mất. Cuộc đời của chàng là sợi chỉ dẫn dắt cho mạch trần thuật ở 13 chương cuối. Nàng Murasaki xinh đẹp xuất hiện trong tác phẩm khi mới mười tuổi, được Genji nhận làm nghĩa nữ. Trở thành thiếu nữ, nàng yêu Genji, sống cùng chàng, lâm bệnh rồi mất. Cùng với Genji, Murasaki là linh hồn tạo nên sự thống nhất cho tiếu thuyết. Qua dòng đời của nhân vật, người đọc cảm nhận sắc nhạy dòng chảy của thời gian. Trong dòng thời gian, con người sinh ra, trưởng thành, lão hóa rồi chết cũng như những cánh hoa anh đào, “nở rồi tàn rơi lẳng lặng” (Manyoshu).

Nhận xét về đặc điểm này, S. Kato viết: “Vậy cái gì là riêng chỉ Genji monogatari có và thể hiện trong suốt 54 chương sách? Theo tôi đó là sự nhận thức về tính hiện thực của dòng chảy thời gian, cảm giác về tính hiện thực của thời gian như một cái gì đó khiến cho mọi hoạt động và cảm xúc của con người là tương đối. Genji monogatari là sự trình bày thân phận cảm xúc của con người khi ý thức rằng họ chỉ sinh ra trên trái đất này chỉ một lần: “Đời chẳng dài chi, hãy tận hưởng nó dù chỉ còn lại một hay hai ngày” (“Tenarai”). Điều này nghĩa là sự hữu hạn của đời người và sự vĩnh hằng đều gói gọn trong “chỉ một hay hai ngày” 4.

Tịch (寂び sabi), đà (侘び wabi), u huyền (幽玄 yugen), trống (間 ma) là những khái niệm mỹ học xuất hiện và chi phối văn hóa thời Kamakura (1192-1603). Kamakura là giai đoạn đầu của thời kỳ Trung đại ở Nhật Bản – giai đoạn nước Nhật chìm trong khói lửa của các cuộc nội chiến. Sau khi chiến thắng dòng Heike, Yoritomo trở thành tướng quân (shogun) thành lập chế độ Mạc phủ (幕府 bakufu) ở Kamakura năm 1192 (Mạc phủ là lều vải, nơi làm việc của tướng quân trên chiến trường). Thiên hoàng vẫn tại vị ở Kyoto nhưng không có thực quyền. Một đất nước hai chế độ chính trị, hai chính quyền kéo dài gần 7 thế kỷ. Ba cha con Yoritomo với danh hiệu tướng quân lần lượt cai trị đất nước. Năm 1333, Ashikaga cầm đầu một nhóm võ sĩ bất mãn đảo chính dẫn đến sự sụp đổ của tướng phủ ở Kamakura. Ashikaga trở thành tướng quân, lập nền mạc phủ thứ hai ở Kyoto và cai trị trong hai thế kỷ. Ashikaga cũng lập thiên hoàng mới là Komyo khiến thiên hoàng Godaigo lập triều đình mới ở núi Yoshino năm 1336. Từ đây Nhật Bản có hai thiên hoàng gọi là thời kỳ Nam- Bắc triều. Tình trạng này kéo dài đến 1392, chỉ còn triều đình ở Kyoto. Sau Nam- Bắc triều, Nhật Bản rơi vào tình trạng vô chính phủ. Nội chiến diễn ra giữa các lãnh chúa địa phương ở khắp nơi.

Khói lửa của những cuộc nối chiến liên miên kéo dài bốn thế kỷ đầu thời kỳ trung đại (1185-1603) xua đi cái thanh bình, êm ả của thời Heian. Đây cũng là thời kỳ Thiền tông du nhập vào Nhật và thẩm thấu vào mọi mặt đời sống. Văn học trung đại giai đoạn đầu vì thế tương phản sâu sắc với văn học Heian. Đó là “văn chương của tu sĩ và chiến sĩ”. Nếu văn học Heian tràn đầy vẻ đẹp dịu dàng nữ tính thì văn học trung đại thấm đẫm tinh thần võ sĩ đạo với chất anh hùng cao thượng. Điều này cũng dễ hiểu bởi từ thế kỉ XIII, trên văn đàn trung đại hầu như không có đỉnh cao nào thuộc về phái đẹp. Các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh chiếm vị trí chủ yếu trong đời sống văn học. Người ta gọi đó là quân ký (gunki) hoặc chiến ký (senki). Chẳng hạn Truyện Heike (Heike monogatari), Thái bình ký (Taiheiki)… Nếu ở thời Heian, văn học chú tâm miêu tả tâm lý đời thường phong phú của con người thì thời trung đại lại hướng tới thế giới tâm linh huyền bí sâu thẳm. Vì thế cái đẹp, theo quan niệm của văn học thời kỳ này là cái u huyền (yugen). Yugen là cảm xúc trước cái u ẩn và huyền diệu của thế giới. Nó không giống cảm thức aware của văn học thời kỳ trước. Aware là sự rung động sâu lắng trước vẻ đẹp dịu dàng của chính bản thân sự vật, nỗi buồn trước số phận chớp bóng vô thường của chúng. Còn yugen để tâm nhiều đến linh hồn sự vật, tức là cái ẩn giấu bên trong hình tướng sự vật. Sự xa hoa, trau chuốt gọt rũa trong văn văn học Heian được thay thế bằng sự dung dị, đơn giản của văn học thời nội chiến. Lý tưởng thẩm mỹ của văn học giai đoạn đầu trung đại này ngoài yugen còn có thể quy vào chữ wabi, sabi. Wabi có thể hiểu là sự đơn sơ, thanh tịnh, đạm bạc, chất phác mà nhờ đó ta có thể chạm vào cái cốt tuỷ của thực tại. Nguyên lý thẩm mỹ này xuất phát từ Thiền tông. Sabi là cái tịch liêu, hiu hắt, trống vắng.

Thơ haiku, thể thơ chiếm vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản thời Trung đại thể hiện rõ nét nhất những lý tưởng thẩm mỹ này. Kenneth Yasuda đã khẳng định điều đó: “Đối với haiku, một hình thức thơ chính ở Nhật Bản, tôi thấy rằng nó có thể thâm nhập vào các nước khác, đem đến sự hiểu biết về bản chất, mỹ học và phần nào sức mạnh của nó, sức mạnh tương tự trong một số phương diện của nghệ thuật hội họa”5.

Trước hết là vẻ đẹp giản dị (侘び wabi):

山路きてなにやらゆかしすみれ草

yamajikite naniyara yukashi sumiregusa (Basho, 1685)

Dọc theo đường núi / ngọt ngào và duyên dáng sao / đóa hoa tím nở

(Mai Liên dịch)

Cảnh vật trong bài thơ rất đơn sơ, thanh đạm: dọc theo con đường nhỏ ven núi, một bông hoa cỏ tím khiêm nhường nở. Hình ảnh chỉ có vậy thôi nhưng đã là tâm điểm thu hút sự chú ý của thi sĩ bởi theo quan niệm của người Nhật “chính sự giản phác trong hình ảnh sẽ làm nên vẻ đẹp tự nhiên cho bài thơ”. Quan niệm này được chuyển hóa vào trong các loại hình nghệ thuật truyền thống như hoa đạo, trào đạo, non bộ, bonsai, đình viên, haiku,... Để trang trí trà thất, người ta chọn những bông hoa dại khiêm nhường lẻ loi cắm vào một bình nhỏ bởi người Nhật lý luận rằng “hoa phải được xem như đang mọc ngoài đồng”. Bông hoa cỏ dại màu tím nở trong bài thơ trên của Basho mang vẻ đẹp tự nhiên như vậy.

Khoảng trống (間 ma) – một đặc trưng nghệ thuật của thơ haiku tạo nên cho haiku một kiểu kết cấu độc đáo: kết cấu hư không. Vẻ đẹp đơn sơ, bí ẩn của một bài haiku toát lên từ chính khoảng trống này. Kết cấu hư không thể hiện ở chỗ:

(1) mỗi bài haiku chỉ gói gọn trong 17, thi thoảng có bài 19 âm tiết phân bố thành ba dòng 5-7-5 (5-9-5). Ngôn từ cực tiểu đã tạo ra khoảng trống tối đa bên ngoài bài thơ:

古池や蛙飛込む水の音 (Basho, 1686)

furuikeya kawazutobikomu mizunooto

Ao cũ / con ếch nhảy vào / tiếng nước

(Lê Thị Bình dịch)

Bài thơ về con ếch chỉ có 17 âm tiết, tương đương với khoảng 10 từ nên nhà thơ chỉ có thể phác họa hay gọi tên một cách khách quan một hay một vài hình ảnh hoặc âm thanh (ao cũ, con ếch nhảy, tiếng nước) chứ không thể miêu tả hay biểu cảm; giống như là trong hư không, nhà thơ nhẹ thả những hình ảnh, âm thanh rồi để chúng tự bồng bềnh trôi. Chính vì điều này nên trong bài thơ, danh từ chiếm số lượng chủ yếu; trạng từ, động từ, tính từ bị hạn chế tối đa đúng như tinh thần mà một haijin đời sau kêu gọi: “Cần hết sức cắt bỏ các trạng từ và động từ” (M. Shiki 1867-1902).

(2) Do hầu như chỉ nêu tên sự vật nên ngay chính giữa các hình ảnh, từ ngữ trong bài cũng có khoảng trống. Người đọc phải dùng kinh nghiệm, kiến thức, tưởng tượng để kết nối chúng lại.

ひとついえに遊女もねたり萩と月 (Basho, 1689)

Hitotsuieni yuujomo netari hagito tsuki

Du nữ / ngủ cùng quán trọ / hoa hagi và trăng

(Lê Thị Bình dịch)

Bài thơ về các du nữ cũng chỉ có 17 âm tiết, tương đương với khoảng 10 từ nên nhà thơ đã chỉ gọi tên một cách khách quan một vài hình ảnh (mái quán いえ- ie, du nữ 遊女- yuujo, trăng - tsuki, hoa hagi ) chứ không thể diễn giải hay biểu cảm. Vì vậy, người đọc phải dùng kinh nghiệm, tưởng tượng để kết nối chúng lại. Bằng kinh nghiệm, chúng ta biết du nữ là những người bị coi là đã “lặn ngụp dưới đáy sâu cuộc đời”, trăng và hoa hagi tượng trưng cho sự thanh tao, cao quý. Vậy mà chúng lại được đặt cạnh nhau, tồn tại bên nhau một cách bình đẳng. Bằng thủ pháp liệt kê, Basho đã trân trọng nâng các cô du nữ vốn bị người đời khinh rẻ lên địa vị tôn quý cùng với trăng, sao, hoa, cỏ. Khi ngủ, họ trở về với Phật tính an lạc, hòa làm một với trăng sao, hoa lá thanh tao. Vạn vật đều đóng vai trò yếu tính của vũ trụ. Mọi sự phân biệt cao thượng hay thấp hèn, thiện hay ác, phải hay trái đều chỉ tồn tại trong chủ quan của chúng ta. Bài thơ khẳng định tính chất vô sai biệt của vạn vật trong vũ trụ và có cùng chủ đề với bài thơ ngắn sau của R. Tagore:

Trong sân chầu vũ trụ,

Chiếc lá cỏ bình thường

Cũng ngồi chung một thảm

Với ánh mặt trời và sao sáng trong đêm.

(R. Tagore)

(3) Do chủ yếu nêu tên sự vật, cắt bỏ trạng từ, động từ nên những hình ảnh, âm thanh trở nên khái quát, đa nghĩa, giàu tính tượng trưng hơn là cụ thể, đơn nghĩa, trực tiếp. Phần còn lại là khoảng trống dành cho sự chủ động tưởng tượng, đồng sáng tạo của độc giả. Khoảng hư không mới chính là nơi gợi lên biết bao điều thú vị.

手に とらば消んなみだぞあつき秋の霜 (Basho , 1684)

Tenitoraba kien namidazo atsuki akino shimo

Tóc mẹ còn đây / tan trong lệ nóng /sương mùa thu bay

(Nhật Chiêu dịch)

Cuộc đời Basho giống như một áng mây hoang dại trôi dạt bốn phương. Ông hành hương nay đây mai đó. Khi hay tin mẹ mất, nhà thơ ở rất xa, không kịp về nhà chịu tang. Lúc về đến cố gia, người anh trao cho ông kỷ vật của mẹ là một nắm tóc có pha những sợi bạc. Nâng trên tay nắm tóc, nhà thơ không nén nổi nỗi buồn, giọt nước mắt nóng hổi rơi. Quý ngữ “sương” (霜 shimo) được thả bồng bềnh trong khoảng hư không của bài thơ mang ý nghĩa gì? Nó liên hệ gì với những hình ảnh còn lại trong bài như nắm tóc trên tay, giọt lệ nóng hổi? Có lẽ hình ảnh sương mùa thu tỷ dụ cho nắm tóc pha sương của người mẹ bởi mái tóc bạc thường được ví với tóc pha sương:

Mẹ già mái tóc pha sương

Con thơ măng sữa vả đương bù trì

(Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm)

Cũng có thể giọt sương là hình ảnh so sánh với giọt lệ của nhà thơ bởi giọt nước mắt của người già cũng được ví với giọt sương:

Tuổi già hạt lệ như sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan

(Khóc Dương Khuê- Nguyễn Khuyến)

Nhưng cũng có thể, giọt sương là ẩn dụ của cuộc đời ngắn ngủi:

Đời chỉ là giọt sương mai trên cánh lá sen

(Bài 27, Người làm vườn- Tagore)

Thân như điện ảnh có rồi không

Vạn vật xuân tươi, thu não nùng

Vạn vật thịnh suy đừng sợ hãi

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông

(Ngôn hoài- Vạn Hạnh thiền sư)

Hình ảnh “giọt sương thu” trong thơ Basho thật đa nghĩa, thật giàu ý nghĩa tượng trưng. Nó khiến vãn ca khóc mẹ của nhà thơ trở thành bi ca cho số phận con người.

R. Tagore đã nhận xét tinh tế về đặc điểm này của thơ haiku: “Nhà thơ chỉ giới thiệu đề tài rồi bước tránh sang bên… Lý do khiến nhà thơ rút lui nhanh chóng thế vì người đọc Nhật có quyền năng tinh thần về tưởng tượng rất lớn6. Rõ ràng các nhà thơ haiku đã tinh giản cả cảm xúc, sự tinh giản mà Tagore gọi là “sự tinh giản của tâm hồn”. Sự giản lược này mang đến cho haiku một vẻ đơn sơ lạ lùng khiến nhiều người không nghĩ haiku là thơ.

Còn khung cảnh trong bài thơ Basho viết năm 1865 sau đây mang vẻ đẹp vắng lặng, tịch liêu (寂び sabi):

春なれや名もなき山の薄霞 (Basho, 1865)

harunareya namonaki yamano usugasumi

Mùa xuân ở đây / một ngọn núi không tên / làn sương nhẹ

(Mai Liên dịch)

Bài thơ phác hoạ cảnh một ngọn núi vắng người lại qua, mùa xuân hiển hiện qua một làn sương nhẹ như chiếc khăn voan lơ lửng. Vẻ đẹp tỏa ra từ chính sự hoang sơ, hiu quạnh ấy.

Bài thơ nổi tiếng của Basho về con quạ thể hiện rõ nét vẻ đẹp u huyền (幽玄 yugen) trong thơ haiku:

かれえだに烏のともりけり秋の暮 (Basho, 1680)

Kareedani karasuno tomarikeri akinokure

Cành khô / quạ đậu / chiều thu

(Lê Thị Bình dịch)

Màn sương xám bao trùm chiều thu; cánh quạ đậu hiu hắt trên cành khô khẳng khiu in lên nền trời mờ xám. Thế giới không sắc màu rực rỡ, không âm thanh dường như đang dần dần chìm vào bóng tối, tịch lặng. Bài thơ thấm đẫm nỗi niềm sầu bi của một tuổi già hiu quạnh, cô liêu. Phảng phất đâu đây tâm sự của Nguyễn Khuyến:

Đời loạn đi về như hạc độc

Tuổi già hình bóng tựa mây côi

(Cảm hứng – Nguyễn Khuyến)

Bài thơ sau của Issa cũng thấm đượm vẻ đẹp sabi:

Làn gió run rẩy / trên những chùm bông cỏ bạc / một cõi lòng cô quạnh

(Issa – Thanh Châu dịch)

Bài thơ của Issa cũng đưa ta đến với một không gian thu, nhưng là không gian bàng bạc của một cánh đồng đầy cỏ lau. Những bông hoa cỏ mỏng manh lay động cho ta cảm nhận làn gió đang run rẩy trên cánh đồng chiều mênh mông. Ẩn sau hình ảnh đơn sơ, hiu hắt là một cõi lòng “cô quạnh”, hoang liêu.

Nhận xét về đặc điểm này của haiku, các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng: thơ haiku “là trữ tình nén sâu, tối giản, thoáng nhẹ, đạm trên nguyên tắc gợi, bút pháp của tượng trưng, siêu thực7. “Mỗi bài haiku là sự ghi nhanh trong vài từ khoảnh khắc bừng ngộ (satori), khoảnh khắc vụt sáng của Minh Triết cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc siêu việt thấu thị mọi vật8. Sự giản lược này mang đến cho haiku một vẻ đơn sơ lạ lùng khiến nhiều người không nghĩ haiku là thơ, khiến haiku giống như “một cô gái giản dị, không nữ trang lấp lánh” nhưng lại tỏa sáng vẻ đẹp của nội tâm.

Từ đây dẫn đến một cách cảm nghiệm haiku cũng như tác phẩm của nhiều ngành nghệ thuật khác đặc biệt là tranh thủy mặc là bằng trực giác – phương thức đốn ngộ của Thiền. Kenneth Yasuda cho rằng: “Trực giác là tức thì, giống như sự nhận thức màu sắc là tức thì. Bản chất của nó là không-phán xét-tinh thần, không có tính chất lý trí, vô ngôn, không phê phán, mặc dù sau khoảnh khắc trực giác, người xem có thể tự lấp đầy bằng sự coi thường hoặc bằng sự ngợi ca… Tôi tán đồng với Croce, Deway, và các tư tưởng gia khác về những vấn đề mỹ học rằng bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào cũng có thể được thưởng thức qua hành động tiếp nhận tức thì mà không cần sự nỗ lực nhận thức hay suy đoán. Điều này cũng đúng với thơ ca... đặc biệt là thơ haiku”9.

Chân, thiện, mỹ – đó là cứu cánh vĩnh cửu của văn học chân chính. Các nhà thơ, nhà văn đã khám phá rồi biểu đạt những vẻ đẹp vốn có của thiên nhiên và đời sống con người trong tác phẩm văn học. Đến lượt nó, tác phẩm văn học lại trở lại với đời sống, bồi dưỡng, thanh lọc tâm hồn con người. Các thi nhân, văn nhân, các nhà mỹ học Nhật Bản bằng mỹ cảm tinh tế của cá nhân được khơi nguồn từ dòng chảy mỹ học độc đáo của dân tộc đã sáng tác những áng “thiên cổ kỳ bút” tôn vinh những cái đẹp cao cả trong thiên nhiên và trong đời sống con người. Không những thế, với khả năng tư duy khái quát cao, họ đã quy tụ những vẻ đẹp tồn tại cụ thể trong thực tại thành những phạm trù thẩm mỹ mang tính khái quát, hình thành một hệ thống phạm trù thẩm mỹ, từ đó trở lại góp phần định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho độc giả, nhất là những độc giả trẻ tuổi. Đó là lý do vì sao những vẻ đẹp mà văn học Nhật Bản tôn vinh lại cũng là những phương thức sống được người Nhật thực hành trong đời sống hàng ngày, hình thành một phong cách sống Nhật Bản rất được bạn bè thế giới ngưỡng mộ và đánh giá cao.

Tiến sĩ Mai Liên

Chú thích

1.Suzuki Setsuko: 英語で話す日本の心 / Keys to the Japanese Heart and Soul, Kodansha International Ltd, 1996, Hoàng Long dịch.

2,3. Nhật Chiêu- Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868, Gíao dục, tr 6

4. S.Kato - Lịch sử văn học Nhật Bản, tập 1, chương 3, Tài liệu tham khảo Viện Văn học, Trần Hải Yến dịch, trang 137

5. Kenneth Yasuda, The Japanese Haiku Its Essential Nature, History, and Possibilities in English, Charles E.Tuttle Company; Tokyo, Japan, p 3

6. Chuyển dẫn Nhật Chiêu, Tìm hiểu thơ haiku Nhật Bản, Tạp chí Sông Hương, 7/5/2012

7. Nguyễn Thị Thanh Xuân, Thơ haiku và lục bát, đôi điều ghi nhận, Kỷ yếu hội thảo Văn học Nhật Bản và Việt Nam trong bối cảnh Đông Á, 2011, ĐHKH XH & NV, ĐHQG TPHCM.

8. Harold Stewart, A Net of Fireflies Japanese Haiku and Haiku Paintings, Charles E.Tuttle Company; Tokyo, Japan, p 122.

9. Kenneth Yasuda, The Japanese Haiku Its Essential Nature, History, and Possibilities in English, Charles E.Tuttle Company; Tokyo, Japan, p 4

Haiku và nhịp điệu của tự nhiên

Haiku, thể thơ ngắn truyền thống của Nhật Bản với cấu trúc ba dòng 5-7-5 âm, có từ cắt (kireji) trước hết để đảm bảo số âm của bài, rồi chia ngắt các hình ảnh mà nhìn vào quan hệ, tương tác giữa chúng, và sau cùng, kết hợp với quý ngữ (kigo), tức từ chỉ mùa, tạo trường liên tưởng cho bài thơ. Từ đầu thế kỷ 20, thế giới đã biết tới thể thơ này, và đặc biệt ở thời đại liên thông hiện nay, haiku được yêu thích và phát triển trên hầu khắp các nước, được viết bằng mọi thứ tiếng. Nhìn chung, do sự khác biệt giữa các ngôn ngữ nên haiku thế giới không còn giữ cấu trúc 5-7-5 nhưng vẫn đảm bảo yếu tố ba dòng; từ cắt thuần Nhật không còn nhưng các hình ảnh vẫn thường được xếp tách rõ rệt; từ chỉ mùa cũng không nhất thiết phải có, chủ yếu bởi haiku hiện đại xâm nhập vào mọi đề tài, khía cạnh, không chỉ gói gọn trong mảng thiên nhiên như trước kia. Ở bài này, xin bàn một góc nhìn về nhịp điệu thơ haiku.

alt

Nhịp điệu thuộc về cấu trúc nhưng không vì thế có thể tách rời khỏi nội hàm của thơ được. Haiku, theo nghĩa rộng nhất của từ ngữ, là thơ duy khoảnh khắc. Một khoảnh khắc của thực tại được nhìn ra, được sáng tạo, và được thuần khiết hóa. Thực tại ví như hơi thở, cái căn bản của sự sống, luôn ở đây với mỗi chúng ta, nhưng sự có mặt của hơi thở lại thường bị quên mất. Biết trở lại cảm nhận niềm vui trong từng nhịp thở, cảm nhận giá trị của phút giây này, cảm nhận cái đẹp phong nhiêu ngầm ẩn của thực tại – đó là haiku. Issa đã nhìn thấy cái đẹp trong khoảnh khắc đời thường như thế, Issa hát với ta (bản dịch của Nhật Chiêu):

Mưa mùa xuân reo

một cô gái bé nhỏ

dạy mèo con múa theo

Tạo hóa sáng tạo ra bông hoa, giọt sương, làn gió, cơn mưa, điệu múa, và tạo hóa cũng sáng tạo haiku. Mặt khác, một bài haiku nhỏ bé thường chỉ là tương tác chấm phá của hai (đôi khi ba) hình ảnh, có thể coi là đơn vị nhỏ nhất cấu thành thơ ca – một nguyên tử thơ. Nói vậy để thấy mỗi bài haiku là một nhịp đập, một hơi thở thuần khiết của tự nhiên. Nhắc đến nhịp đập cũng như hơi thở, ta sẽ có cảm thức về sự trôi chảy đều đặn và liên tục. Quả vậy, làm một bài haiku giống như nắm bắt sự vật trong thoáng chốc rồi lại thả nó vào dòng trôi như nhiên của thực tại. Hãy thử cùng phóng to cái nguyên tử thơ ấy lên để thấy cấu trúc của nó. Nhịp 5-7-5 thuần Nhật, bắt nguồn từ thời của những bài thơ trong Cổ Kim Tập hay Vạn Diệp Tập, cũng tương tự như nhịp 6-8 đi từ ca dao vào thơ lục bát của Việt Nam. Nhịp ấy đều đặn về số âm của ba dòng nhưng pha chút biến điệu [ở dòng thứ hai]. Bản thân thơ haiku trong tiếng Nhật thường được viết thành một dòng và đọc lên thành tiếng trong một hơi thở, nhưng chính những từ ngắt có chức năng tạo tính gián đoạn trong sự liên tục đó.

Nhịp 5-7-5 như đã nói ở trên, do khác biệt ngôn ngữ, không nên và không còn được áp dụng cho haiku thế giới [một lý do quan trọng nữa là cần hạn chế các dư từ trong ngôn ngữ đơn âm như tiếng Việt, nhằm đảm bảo nội hàm cho bài thơ]. Thế nhưng, điểm đặc biệt nhất về cấu trúc của thơ haiku lại nằm ở tính chất ba dòng, hay ba nhịp.

Đem so sánh với thơ Đường của Trung Quốc hoặc thơ lục bát của Việt Nam, hai thể thơ sau có số câu chẵn và thường có tính đăng đối, cân xứng, tạo những đối cực có phần tĩnh, thì thơ haiku với ba dòng lẻ lại bộc lộ một sự vỡ đối xứng chớm phát, một biến dịch tiềm tàng. Bản thân vũ trụ của chúng ta chứng kiến sự vỡ đối xứng tự phát ở khắp mọi nơi, trên mọi bình diện, mà điển hình nhất là sự vỡ đối xứng giữa các lực tương tác [ban đầu được xem như có cùng bản chất] chi phối tới hết thảy sự vật, hiện tượng trong tự nhiên. Ta có ví dụ nổi tiếng về chú lừa của Buridan. Chú lừa đã rất đói rồi và đang đứng giữa hai bó cỏ y hệt nhau, hoàn toàn đối xứng. Không có lý do gì để tới ăn bó này mà không phải bó kia, nhưng cơn đói đã khiến chú chọn tự phát một trong hai bó cỏ. Ví dụ minh họa phần nào sự sống, tự nhiên là một vỡ đối xứng tự phát. Adam và Eva trước khi cắn trái táo cấm chưa thể được coi là con người. Nhưng không chỉ có vậy, cái đẹp, ở khía cạnh là bạn song hành của tự nhiên, cũng mang tính chất ấy. Nếu không thế, cái đẹp sẽ trở nên bất động, cứng nhắc. Còn ngược lại, với một vỡ đối xứng nhẹ, nó sẽ có sức sống và mềm mại hơn. Điểm đặc biệt vừa nêu trên không riêng thuộc về haiku mà thơ ca Nhật Bản nói chung là vậy. Như thể thơ tanka với cấu trúc năm dòng lẻ [5-7-5-7-7] cũng gần với sự vỡ đối xứng, biến chuyển của tự nhiên. Lời giải thích có lẽ nằm ở cảm thức tinh tế của người Nhật trước thiên nhiên bốn mùa đi qua, kết tinh ở khái niệm thẩm mỹ aware, hay đầy đủ hơn mono no aware [nỗi buồn sự vật].

Suy ngẫm thêm một chút, ta còn nhận ra tính phổ quát của cấu trúc ba nhịp. Trên nhịp nền phập phồng, đều đặn và liên tục của vũ trụ, cái tương thông với nhịp hơi thở của mỗi cá thể, vẫn còn một nhịp điệu nữa của tâm thức, của kiếp người biến chuyển với ba giai đoạn: thời thơ ấu, lúc trưởng thành, và khi về già. Chính sự tương thông giữa vũ trụ đại ngã và con người tiểu ngã khiến mọi sự vật, hiện tượng đều có cấu trúc ba nhịp và khả năng quy hồi. Người Nhật gọi cấu trúc biến điệu này là jo-ha-kyū. Jo (序 – Tự), ha (破 – Phá) và kyū (急 – Cấp) lần lượt là nhịp đầu, nhịp giữa và nhịp cuối của mỗi chuyển động trong chuỗi jo-ha-kyū. Mọi hiện tượng cấu thành một đơn vị thống nhất khi chúng khởi đầu theo cách thanh thoát (jo), triển khai phức tạp và nhanh dần (ha), rồi kết thúc đột ngột (kyū). Ví như hành động săn mồi của đại bàng, jo tương ứng với lúc lượn vòng quan sát trầm tĩnh từ trên không, ha là khi sải những đường bay theo dấu con mồi, và kyū là thời khắc lao xuống tung móng vuốt. Hay như thiên tài Zeami của sân khấu kịch Nō đã viết trong luận Thập Túc Đắc Hoa: “Vạn vật trong vũ trụ, cho dù tốt xấu, lớn nhỏ, có đời sống hay vô tri, tất cả đều chia sẻ nhịp điệu của jo-ha-kyū. Từ tiếng chim líu lo đến tiếng côn trùng rả rích, mọi loài ca hát theo một trật tự chọn lựa, và trật tự ấy luôn bao gồm jo, ha, và kyū… Cỏ cây ướt với mưa, với sương trong nhịp điệu jo-ha-kyū này, cũng như hoa thơm trái chín vào mùa thích hợp. Tiếng gió, tiếng nước cũng theo cùng điệu ấy”. Trở lại với bài thơ của Issa:

Mưa mùa xuân reo

một cô gái bé nhỏ

dạy mèo con múa theo

Dòng đầu ứng với nhịp jo, mở ra không gian, bối cảnh nền của bài thơ là cơn mưa mùa xuân. Dòng hai chuyển sang nhịp ha, phát triển từ nhịp đầu: trong cơn mưa reo vui, hiện lên hình ảnh một cô bé. Cô bé đang làm gì? Cô đang hân hoan vui đùa với một chú mèo nhỏ đáng yêu. Nhịp cuối kyū, nhịp kết thúc có sức công phá mạnh, đục sâu vào khoảnh khắc bình dị ấy cho thực tại hiển lộ. Cơn mưa rồi sẽ tạnh, cô bé sẽ lớn lên, và con mèo cũng sẽ không còn ở đấy nữa. Nhưng ngay giây phút này đây, cả ba – cơn mưa, cô bé, và mèo con – đang hòa cùng điệu múa. Điệu múa của vũ trụ tương tùy ở đó mọi sự vật hòa quyện cùng nhau. Điệu múa của cái đẹp vừa phai tàn lại vừa vĩnh cửu. Ta thấy nhịp cuối trở lại nâng nhịp đầu lên tạo thành một tổng thể hòa điệu, biến dịch mà hồi quy. Như vậy, bản chất cấu trúc của thơ haiku, tương hợp với nội hàm duy khoảnh khắc, mang trong mình nhịp điệu của tự nhiên.

Đến đây, ta hãy thử bàn xem nhịp điệu haiku thể hiện trong ngôn ngữ tiếng Việt sẽ có những đặc điểm gì. Một khúc haiku dịch từ nguyên tác tiếng Nhật đa âm sang tiếng Việt đơn âm, nếu đảm bảo nội hàm của bài thơ, đọc lên sẽ ngắn gọn hơn. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc haiku trong tiếng Việt không còn giữ nhịp 5-7-5 nữa. Tiếng Việt cũng không có hệ thống các quý ngữ chỉ mùa và từ cắt để định hướng và tạo trường liên tưởng cho người đọc. Tuy nhiên, tiếng Việt lại rất giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc tính, đều là những phẩm tính ưu việt có thể khai thác cho haiku. Hầu hết với các ngôn ngữ khác trên thế giới, kể cả tiếng Nhật, những phẩm tính này không mạnh như ở tiếng Việt. Thậm chí, một bài haiku Nhật khi dịch nguyên nghĩa sang một ngôn ngữ khác đọc lên thấy có phần khô khan, thiên về suy tưởng lý tính. Với cấu tạo ngôn ngữ gồm các thanh bằng trắc, tiếng Việt chỉ nói không thôi nghe đã như hát rồi, kết hợp với việc gieo vần đa dạng sẽ có thể tạo thành phong cách đặc trưng riêng cho haiku Việt. Việt Nam và Nhật Bản cùng là hai nước Á Đông nên có đồng thời cả những mẫu số chung lẫn những điểm khác biệt về văn hóa. Cùng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Đại Thừa và Thiền tông nhưng văn hóa Nhật Bản thì duy mỹ [và duy lý] trong khi văn hóa Việt thì duy tình. Yếu tố duy tình được thể hiện rất rõ trong nội hàm của thơ lục bát nói chung, nhưng như nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu đã chỉ ra, ngay chính cấu trúc 6-8 với cách gieo vần lưng nom giống như một người con trai vòng tay ôm lấy eo một người con gái. Xét trên quan điểm Phật giáo, thơ lục bát và thơ haiku giống như đối ngẫu của nhau. Lục bát chuyên chở cái tình, cái duyên nghiệp và có tính sóng – lan truyền, xâu chuỗi các câu thơ bằng vần điệu. Còn haiku lại có độ tụ và xuyên phá mạnh, thể hiện cái trực ngộ của người làm thơ. Như vậy, nếu vận dụng khéo léo ngôn ngữ và văn hóa Việt, hòa hợp với nền tảng vốn có của haiku Nhật Bản, chúng ta có quyền mong đợi ở haiku Việt cân bằng được cả hai yếu tố lý và tình, tạo thành một trực nghiệm thơ ca hoàn chỉnh. Qua ngôn ngữ Việt, bài haiku của Issa dường như lại thêm phần ngân nga.

Mưa mùa xuân reo

một cô gái bé nhỏ

dạy mèo con múa theo

Đinh Trần Phương

Khúc Haiku về chú chó hoang

alt

Vasile Smărăndescu (România)

Cîine părăsit
căutînd un stăpîn
să aibă după cine plînge

An abandoned dog
is looking for a master
just to bark for him

Con chó hoang

chạy tìm một ông chủ mới

chỉ để được sủa theo

Lê văn Truyền

(dịch từ nguyên bản tiếng România)

Cách đây hơn hai mươi năm, vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX, tình cờ tôi đọc được trên mạng bài phát biểu của Luật sư George Graham Vest (Hoa Kỳ) tại phiên tòa xử vụ kiện hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên William Safire báo New York Times bình chọn là một trong 100 bài diễn văn hay nhất trên thế giới trong thiên niên kỷ thứ hai sau khi Chúa Jesus ra đời. Sau khi nói về sự phản trắc của con người, từ bạn bè, con cái … cho đến những kẻ cộng sự hay thuộc quyền … vị luật sư nhấn mạnh:

“Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta. Nó luôn ở bên cạnh ta trong những khi phú quý cũng như lúc bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết dập vùi, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn chút thức ăn cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng dù ta có là một gã ăn mày chăng nữa. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như vầng thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trunng thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù... Rồi khi tấn trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng, quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì vẫn còn bên nấm mồ của ta - chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô”.

Đó là những lời thấm đẫm nhân văn của một vị luật sư khi nói về đức tính của loài chó. Nhưng tôi nghĩ chắc ngài luật sư đang nói về những con chó có chủ và chắc chắn trong cuộc đời của chúng, chúng đã được người chủ thương yêu. Và dù là loài vật, chúng vẫn cảm nhận được niềm hạnh phúc với lòng trung thành và lòng biết ơn vô hạn. Điều đó cũng giải thích cho tôi hiểu tại sao những người vô gia cư ở Paris mà tôi thấy trên đường phố trong một chuyến công tác vào năm 2007, trong những đêm Đông lạnh buốt ngập tràn tuyết trắng ai cũng nằm trong những chiếc thùng giấy với con chó thân yêu của mình dưới chân những tòa nhà cao ngất.

Paris, những đêm buốt giá

Còn bao nhiêu kẻ không nhà?

Thùng giấy thay chăn nệm ấm

Bên mình, chú chó ngẩn ngơ…

Paris, ánh sáng và bóng tối

Lê Văn Truyền, 2007

Ở nước ta, trong dân gian, khi nói về nỗi khốn cùng của một phận người hoặc khi tự than vãn về cuộc đời mình, người ta vẫn thường ví von: “khổ như chó”. Có lúc, để đáp trả cái liếm chân thể hiện lòng trung thành và tình yêu, những con chó phải chịu nhiều cú đá vô cớ khi chủ nhà đang bực bội. Nó là nơi để chủ nhà, từ trẻ em cho đến người lớn, trút những trận đòn cho hả cơn giận dữ mà nguyên nhân nhiều khi không phải do nó gây ra. Rồi đến một ngày nào đó, người ta làm thịt chúng, quay chúng vàng rộm trong lửa rơm và xào nấu chúng thành những món ăn khoái khẩu, mua vui cho mọi người trên bàn nhậu để sau đó tấm tắc bảo nhau rằng “sống trên đời không được ăn một miếng dồi chó, khi chết không nhắm được mắt!” … Thế nhưng dù sao, khi còn sống chúng vẫn may mắn là còn có chủ, có con người làm bầu bạn.

Tôi nghĩ, những con chó khổ nhất trên thế gian này chắc chắn phải là những con chó vô chủ - những con chó hoang. Chúng chẳng có một nền đất lạnh trong một góc nhà để lim dim khi mệt rũ. Chúng chẳng có chút thức ăn thừa đã ôi thiu bỏ đi dành cho chúng khi dạ dày chúng rỗng tuếch. Chúng chỉ có một mình, cô đơn, không bạn bè, bị con người săn đuổi để giết thịt (như ở nước ta và một vài nước khác). Để sống sót, chúng phải cắn xé nhau, đôi khi đến đổ máu để tranh giành thức ăn và chỗ ngủ với đồng loại, những con chó hoang khác cũng vô chủ như chúng … Và trong cuộc sống “khổ hơn chó” của những con chó hoang, chúng thiếu tình người dành cho chúng. Con chó hoang thấy cần có một ông chủ biết bao. Dù không hy vọng được ấm áp trong tình thương yêu loài vật, nó chỉ cần có một ông chủ, để thi thoảng được nghe lời quát mắng, để cảm nhận được rằng nó vẫn còn được một ai đó quan tâm, để thấy sự tồn tại trên cõi đời này của nó có ý nghĩa, để bù đắp cho sự cô đơn vô tận trong cuộc sống hoang dã của mình. Đến đây, tôi bỗng lại nhớ đến những con chó hoang ở Thủ đô Bucarest trong chuyến công tác của tôi đến România vào năm 2001, hơn 10 năm sau khi chế độ của Tổng thống Nicolae Ceausescu sụp đổ. Lúc đó nền kinh tế của România đã tụt đến tận đáy. Người dân thủ đô không còn khả năng nuôi những con thú cưng. Hàng ngàn con chó cưng của một thành phố gần 10 triệu dân bị đẩy ra khỏi nhà, lang thang kiếm ăn trên khắp các đường phố, và cả dưới mạng lưới tầu điện ngầm đẹp đẽ, hiện đại vốn từng là niềm tự hào của đất nước. Một buổi tối, khi tôi đi bộ từ một ga tầu điện ngầm trên đại lộ Magheru trở về Đại Sứ Quán Việt Nam trong một con phố nhỏ yên tĩnh, một con chó bông nhỏ xíu, xơ xác, bẩn thỉu quấn lấy chân tôi để làm quen và lẫm chẫm, tội nghiệp chạy theo về đến tận cổng Tòa Đại Sứ. Tôi đành phải nhẫn tâm gạt nó ra, đóng hai cánh cửa sắt của Tòa Đại Sứ để nó đứng bên ngoài trong đêm tối lạnh lẽo, thất vọng dõi theo tôi với ánh mắt cầu khẩn… Thế cho nên, một con chó dù có bị đuổi ra khỏi nhà trở thành con chó hoang vẫn vô vọng rong ruỗi, lang thang hết ngày này sang ngày khác để “chạy tìm một ông chủ” với niềm hy vọng cháy bỏng trong một ngày đẹp trời nào đó có một ai đó đem mình về nuôi. Để mình được có một ông chủ mới, để dù không được thương yêu đi nữa, nhưng có một người để có thể chạy theo sau mà sủa, dù đôi khi có thể bị một cú đá, nhưng đó cũng đã là niềm an ủi lớn lao vì mình đã thoát khỏi thân phận một con chó hoang vô chủ còn “khổ hơn chó” của mình.

Khúc haiku với nhận xét hết sức tinh tế và độc đáo của haijin Vasile Smărăndescu (România) về con chó hoang giúp tôi nhận ra một khía cạnh khác đầy “nhân tính” của loài chó mà Luật sư George Graham Vest đã tổng kết trong bài phát biểu của mình. Và tự nhiên tôi tin rằng, không thể khác được, chắc chắn nhà thơ đã viết khúc haiku này trong bối cảnh của thời kỳ chuyển đổi đầy đau đớn của đất nước và xã hội România vào thập kỷ 90’ của thế kỷ trước, nơi tôi từng có một khoảng đời thanh xuân trải qua ở đó trong thập kỷ 60’.

LVT

Khúc Haiku về chiếc quạt mo

Khúc haiku đạt Giải Ba

Cuộc thi Haiku Việt 2017

Cung Văn Hóa Hữu Nghị Việt Tiệp, Hải Phòng

alt

Chiếc quạt mo

âu yếm tấm thân tôi mệt mỏi

làn gió thời ấu thơ

Lê Văn Truyền

A fan made from areca leaf base

cooling my exhausted body

with the childhood breeze

by Trần Hữu Hiền

Cách nay mấy chục năm, đặc biệt trong thời chiến tranh, nhiều vùng quê miền Trung nắng như đổ lửa và người ta chỉ được hưởng làn gió mát lành từ những cánh đồng lúa, từ mảnh vườn xôn xao cây lá và từ tấm quạt mo cau. Những cây cau trong vườn cho ta những trái cau, lễ vật thiêng liêng của những ngày giỗ, ngày Tết, và trái cau cùng với lá trầu – lễ vật thiêng liêng của tình yêu và hôn nhân. Hoa cau rụng trắng bên thềm trong những đêm trăng sáng lan tỏa một làn hương nhẹ nhàng, thanh tao. Trong những ngày đói kém, đôi khi buồng hoa cau non được luộc lên thay rau xanh, ăn vào thấy ngọt ngọt, lâng lâng như có men say.

Thân cây cau già chết khô được xẻ làm đôi, khoét ruột để làm ống máng hứng nước mưa từ mái tranh vào những lu, chum đựng nước đầu chái nhà, cho ta những gáo nước mát lành giải cơn khát giữa trưa hè oi bức. Và tầu lá cau già, thỉnh thoảng đột ngột rụng, tạo một tiếng vang trong đêm thanh vắng như nhắc nhở ta sự hiện diện của quy luật tự nhiên “lá già phải rụng nhường chỗ cho lá non đâm chồi”. Sáng hôm sau, bà tôi lượm tầu lá cau, chặt lấy chiếc mo, cắt thành một tấm quạt, đem phơi ngoài sân nắng sau khi chặn bằng mấy hòn gạch cho tấm mo khỏi cong. Từ tay bà, chiếc quạt mo đã cho tôi làn gió mát thoang thoảng hương cau trong những buổi trưa hè đổ lửa, những đêm tháng năm, tháng sáu oi bức, ngột ngạt và những lúc làn da tôi nóng hừng hực, vầng trán hâm hấp mồ hôi vì những cơn sốt mà bà tôi thường gọi là sốt “vỡ da” của con trẻ.

Thời kỳ kinh tế bao cấp, cả cơ quan ngồi chờ đến lượt mình được bán “cung cấp” một chiếc quạt “tai chuột” bé tí. Đêm đêm trong các căn nhà tập thể vừa đủ kê một chiếc giường đôi, nóng hừng hực như một lò lửa bao bà mẹ trẻ thức ngủ chập chờn suốt đêm quạt chiếc quạt mo hoặc quạt nan cho những đứa con bé bỏng. Tay mỏi rã rời, lơ mơ trong cơn buồn ngủ ập vào đôi mi mắt, buông tay để rơi chiếc quạt. Như một phản ứng tự nhiên, người mẹ giật thột vơ lấy chiếc quạt và tiếp tục bao bọc cho con làn gió mát thấm đẫm tình mẫu tử nồng nàn. Trong làn gió mát của những chiếc quạt mo, quạt nan … những người mẹ gửi đến cho những đứa con thân yêu cả một tình yêu thương và sự hy sinh vô bờ bến. Bây giờ, chúng ta ngủ trong những căn phòng máy lạnh. Các công ty công nghệ hàng đầu đang nỗ lực quảng cáo để bán gió trời mát mẻ cho chúng ta qua những chiếc máy điều hòa nhiệt độ tân tiến. Để tạo làn không khí mát cho người có tiền, hàng trăm triệu “cục nóng” máy lạnh đang trút sức nóng cho những kẻ không tiền. Khí làm lạnh của hàng trăm triệu chiếc máy lạnh đang phân bổ tai họa môi trường cho toàn Nhân Loại, bất kể người giàu hay người nghèo, thông qua việc chọc thủng tầng “ôzôn”, và Trái Đất, ngôi nhà chung của chúng ta, đang nóng dần lên. Xem ra luồng gió máy lạnh hiện đại thật là “phi nhân tính”.

Một buổi trưa hè năm nay, cùng người bạn trẻ thăm một làng nhỏ miền Trung, tôi bỗng thấy một chiếc quạt mo lặng lẽ nằm trên chiếc chõng tre ngoài hiên nhà. Cầm chiếc quạt mo phe phẩy, một làn gió tuổi thơ bỗng ôm ấp tấm thân già cỗi của tôi và tim tôi bỗng tràn ngập một cảm xúc trẻ trung, thân quen khó nói nên lời.

Lê Văn Truyền

CÂU LẠC BỘ HAIKU VIỆT HÀ NỘI

Tính quốc tế của thơ Haiku- Lê Thị Bình

Hiện nay, khoảng hơn 40 nước trên thế giới có nhiều người đang say mê sáng tác và nghiên cứu thơ Haiku. Tôi muốn tìm hiểu những suy nghĩ, đánh giá về thực tế đó từ phía Nhật và các nước khác nên viết bài này để mọi người tham khảo. Về chủ đề này, có mấy bài viết của các tác giả Ngô Triêu Tân (Đài Loan) và Tachiana L. Sokolova (Nga). Bài phân tích của tác giả nổi tiếng Terada Torahiko (1878-1935) về người Nhật trong mối quan hệ với thiên nhiên, một số bài viết của các tác giả Việt Nam nghiên cứu về Haiku cũng khiến tôi quan tâm.

alt

Người ta tổng kết đến nay, từ châu Âu (cả Tây và Đông Âu), Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Đông Nam Á… đều có đội ngũ sáng tác Haiku, lý do ban đầu rất giống nhau: vì thể thơ này ngắn, dễ làm, ai cũng có thể làm được (đương nhiên muốn hay và để người đọc nhớ đến thì cũng khó đấy!). Ở châu Âu và châu Mỹ trước đây có một quan niệm phiến diện rằng thơ và văn là của tầng lớp tri thức, người bình dân ít học mà làm thơ, viết văn thì đó là sự trụy lạc. Nhà văn thiếu nhi nổi tiếng Andersen khi ra mắt tiểu thuyết bằng ngôn ngữ Đan Mạch cũng bị chê rằng “đây mà gọi là tiểu thuyết ư?”, nhưng khi các tác phẩm của ông bán rất chạy thì tư tưởng phiến diện trên đã bị phá bỏ. Cuộc sống là như vậy, thật “xanh tươi”.

Người Nhật cho rằng Haiku lan truyền trên thế giới là do công lao to lớn của nhà văn hóa Nhật người Ý Reginald Horace Blyth (1898-1964). Từ năm 1949, ông đã viết 4 cuốn về Haiku và 2 cuốn về lịch sử Haiku bằng tiếng Anh để giới thiệu về thể thơ này.

Haiku hiện đại của Nhật có lẽ gần với Haiku của các nước khác trên thế giới. Nhật có thơ Haiku tự do từ cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20, cùng với đó là sự ra đời của Hiệp hội thơ Haiku hiện đại. Người Nhật muốn thoát khỏi sự gò bó của Haiku cổ điển, tiêu biếu là nhóm Haiku theo xu hướng tự do với tạp chí Soun 層雲 (“Tằng Vân” hay “Mây tầng”). Đây là loại Haiku “phá cách”, không theo luật lệ “định hình 5-7-5 và có quý đề, quý ngữ”. Ta có thể tìm hiểu Haiku tự do của Nhật do Kawahigashi Hekigoto (1873-1937) và những người theo trường phái của ông, như Ozaki Hosai, Taneda Santoka… đề xướng, hưởng ứng phong trào “Haiku khuynh hướng mới” (新傾向俳句).

Trong bài về “Lịch sử Haiku ở Đài Loan”, ông Ngô Triêu Tân nói rằng qua một thời gian dài từ 1895 đến 1945, Đài Loan chịu sự thống trị của người Nhật, đã tiếp thu nền giáo dục của Nhật; người dân Đài Loan bị buộc phải học tiếng Nhật nên rất thạo, họ sáng tác Haiku bằng tiếng Nhật và chữ Hán. Nhiều người Nhật ở Đài Loan cũng kết thành các Hội Haiku và ra nhiều tạp chí Haiku. Ông bàn nhiều về “quý đề” và “quý ngữ” trong sáng tác thơ Haiku ở Đài Loan. Ông cho rằng sáng tác Haiku bằng ngôn ngữ khác ngôn ngữ Nhật thì có âm điệu khác, thời tiết khác nên khó áp dụng các “quý ngữ” như của Nhật, có cố tình dùng quý ngữ thì đọc lên cũng không cảm nhận được, mất ý nghĩa vốn có.

Có những nhà thơ Đài Loan cũng rất tâm huyết và ra sức cổ vũ cho Haiku tiếng Trung (Hán Bài), nhưng theo Ngô Triêu Tân, dù sao đó là loại thơ ngắn nhưng dứt khoát không phải Haiku (Bài Cú, 俳句) kiểu Nhật. Một thực trạng khiến ông băn khoăn là Hội Haiku ở Đài Loan đa phần là người cao tuổi, ông hy vọng Hội sẽ thu hút thêm nhiều nhà thơ trẻ để kế tục sự nghiệp phát triển thơ Haiku. Con đường phát triển thể thơ ngắn này, theo ông, còn rộng mở mà không cứ phải là dạng Bài Cú truyền thồng có quý ngữ, định hình 5-7-5. Ông cho rằng Bài Cú truyền thống của Nhật (có quý ngữ, định hình, hoa điểu phúng ngâm, tả sinh…) chỉ là một phần của Haiku chứ không phải là tất cả, và rằng Shiki mất quá sớm chứ nếu sống lâu hơn thì chắc thế giới Haiku bây giờ còn thay đổi nhiều nữa. Ông kêu gọi người Nhật hãy mở lòng đón nhận văn hóa Haiku, khởi nguồn từ Nhật Bản và đươm hoa kết trái trên nhiều đất nước. Ông nói “cớ sao một bộ phận người Nhật lại không muốn chấp nhận nó!”.

Ông cũng cho biết mặc dù Haiku đã được nhiều nước trên thế giới tiếp nhận và sáng tác, nhưng phần lớn những người hâm mộ Haiku ở Nhật Bản vẫn nghĩ rằng Haiku chỉ thích hợp với người Nhật và phải làm bằng tiếng Nhật. Nó là thể loại thơ định hình với cấu trúc 5-7-5, có quý ngữ và ngâm vịnh phong cảnh thiên nhiên (花鳥諷詠), thậm chí còn có chủ trương phải cưỡng chế như vậy. Một số ít, nhất là giới trẻ, thì cho rằng có thể sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng chỉ cần thật ngắn và là thơ 3 dòng, không có quy ước nhất định.

Đất nước Brazil, rộng lớn nhất Nam Mỹ, là nơi người Nhật di dân sang sống từ hơn 100 năm nay, và là nơi đông kiều Nhật nhất trên thế giới. Đã có đến ba, bốn thế hệ người Nhật sinh ra và lớn lên ở Brazil, thế hệ con cháu thứ tư thì hầu hết là con lai. Người Nhật xa quê hương và họ yêu văn hóa nước mình nên rất thích ngâm nga, sáng tác thơ Haiku, Tanka… Nói đến Haiku của người Nhật ở Brazil thì phải nhắc đến người mở đầu là ông Uetsuka Shuhei (1876-1935) với bút danh Uetsuka Hisagokotsu (上塚瓢骨). Ông dẫn đầu đoàn người di cư sang Brazil trong chuyến tàu đầu tiên Kasato maru và sáng tác câu Haiku sau, mở đầu cho phong trào thơ Haiku trên đất Nam Mỹ:

涸滝を見上げて着きぬ移民船

karedaki wo / miage tetsukinu / iminfune

Nhìn lên thác khô / tàu di dân / cập bến

Tiếp đó, phải kể đến nhà thơ, nhà báo Guilherme de Almeida đã lập nên trường phái thơ Haikai Almeida. Nghe nói ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ Haiku bằng tiếng Bồ Đào Nha từ năm 1936 sau khi gặp ngài Tổng lãnh sự Nhật yêu thơ Haiku Ichige Kozo. Mỗi câu Haikai của ông có đầu đề riêng và vẫn tuân theo cấu trúc 5-7-5, ví dụ bài Haikai của ông như sau:

Rửa / vẩy nước, lắc cát / trong sàng còn lại một hạt vàng

Bài này tiêu biểu cho ý niệm sáng tác Haiku của Almeida và cũng là của Brazil. Đúng là đãi cát tìm vàng!

Người sáng lập nên thi đàn Haiku Brazil là Sato Nenhara (1898-1979). Ông theo học Kyoshi và cả đời trung thành với quan niệm sáng tác “tả sinh” của Shiki. Ông xuất bản nhiều tập thơ trong đó phải kể đến “Haiku Brazil thi tập” (1948), “Tập thơ Haiku của di dân 70 năm” (1978), “Tuyển tạp ngâm Bóng râm - Haiku của di dân Brazil” (1979). “Bóng cây” hay “Bóng râm” (木陰 kokage) là tên tạp chí Haiku nổi tiếng ở Brazil. Người ta nói Haiku ở Brazil đi từ hoa Anh Đào đến hoa Ippe (quốc hoa Brazil).

Brazil dùng tiếng Bồ Đào Nha có cấu trúc ngôn ngữ khác tiếng Nhật, thời tiết cũng khác, chủ đạo là khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới, đặc biệt các mùa ngược hẳn với Nhật Bản vì vậy việc dùng “quý ngữ” như quy định của Nhật là nỗi băn khoăn với họ. Tuy vậy, con người là một phần của vũ trụ, như haijin Kyoshi đã viết vào cuối đời trong cuốn “Con đường đến Haiku” (1955), đại ý: Haiku là sự “thể hiện của vũ trụ”, là thứ “văn nghệ của thiên đường, chốn cực lạc”. Haiku gắn với thiên nhiên, mỗi con người là một phần của vũ trụ là như vậy.

Tài liệu nghiên cứu “Haiku ở Tây Âu trong sự phát triển của Haiku hiện đại” của bà Tachiana L. Sokolova – ủy viên Ủy ban văn học Moscova – viết rằng: “Một điểm đặc trưng của Haiku ngày nay là nó đã vượt thoát khuôn khổ thơ ca Nhật Bản. Từ đầu thế kỷ 20, Haiku đã dần có được không gian sống mới. Ban đầu mới chỉ là một số ít các nhà thơ Tây Âu sáng tác Haiku nhưng, như nhà thơ Nhật Sato Kazuo – người đầu tiên viết về Haiku hải ngoại – nhận định, ngày nay, con đường từ Haiku đến Haiku dần rộng mở. Phong trào sáng tác Haiku lan từ Mỹ sang Tây Âu và các nước trong khu vực châu Á. Xuất hiện ngày càng nhiều các Hiệp hội thơ Haiku ở Mỹ, Canada, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc… Người ta tổ chức các cuộc thi sáng tác Haiku khắp mọi nơi, giảng dạy về Haiku, thậm chí có cả các trường dạy sáng tác”. Điều này khiến cho ngay cả các Hiệp hội thơ Haiku trong nước Nhật cũng phải hình thành các bộ phận giao lưu quốc tế. Ở mỗi nước, quá trình tiếp biến thơ Haiku khá tương đồng: ban đầu là giới thiệu về Haiku; rồi đến những bài luận văn liên quan đến Haiku và dịch những câu Haiku cổ điển của Nhật; sau nữa là say mê và trải nghiệm sáng tác… Bà giới thiệu sáng tác Haiku của một số nhà thơ Nga nổi tiếng thời kỳ đầu mới tiếp xúc và tìm hiểu Haiku như Konstantin Dmitriyevich Balmont (1867-1942), Andrei Bieri (1880-1934). Thơ họ mới đầu phần nhiều chịu ảnh hưởng của thơ ca Nhật, đặc biệt là Tanka và Haiku. Bà coi đây là những bước đi đầu tiên của người Nga sáng tác Tanka và Haiku bằng tiếng Nga. Bà lý giải tại sao người châu Âu thích Haiku như vậy, bởi vì nó ngắn và chứa đựng nội dung sâu sắc. Ban đầu họ không phân biệt sự khác nhau giữa Tanka và Haiku nhưng khi hiểu nhiều hơn thì thấy chúng rõ ràng khác nhau và họ cho Haiku chiếm lĩnh vị trí số một. Tanka có tính văn học và mỹ cảm hơn nhưng Haiku thì gần gũi, dễ cảm hơn và mang đậm yếu tố dân chủ.

Bà Tachiana L. Sokolova so sánh Haiku của các tác giả Nga, Anh, Ý, Đức, Canada, Mỹ, Pháp, Croatia, Rumani, Hungary… với Haiku của một số nhà thơ Nhật nổi tiếng ở cùng chủ đề. Ví dụ, bà so sánh một câu thơ về đêm xuân nhớ bạn tình, tuy đã cố làm ngắn gọn nhưng vẫn dài dòng của Fyudor Tyutchev với câu cùng ý của Uejima Onitsura (1661-1783):

春の夜の枕嗅ぐやら目が腫レた

Haru no yoru/ no makura kaguyara / mega hareta

Đêm xuân / ngửi hương của gối / mắt xưng mọng

Hay bà so sánh thơ của Apollon Nikolayevich Maykov (1821-1897) với cùng chủ đề mùa xuân của Masaoka Shiki (1867-1902):

雪の絵を春も掛けたる埃哉

Yuki no e wo / haru mo kaketaru / hokori kana

Tranh tuyết / bụi còn bám / sang cả mùa xuân

và cho rằng nếu Maykov là một haijin thì ông sẽ chỉ cần viết hai dòng đầu là đủ, không cần giải thích hay miêu tả dài dòng.

Bà so sánh thêm thơ của Boris Pasternak (1890-1960) về tình cảm nhớ hình ảnh người vợ đã mất với câu của Yosa Buson (1716-1783) như sau:

身にしむや亡妻の櫛を閨に踏む

Minishimu ya / nakitsuma no kushi wo / neya ni fumu

Thấm lạnh / chốn phòng the / thấy lược của người vợ đã mất

Một câu ngắn nhưng ý rất sâu!

Bà nhận định quá trình các nước tìm hiểu, dịch và làm Haiku bằng ngôn ngữ nước mình là giống nhau. Và bà kết luận rằng sáng tác Haiku bằng ngôn ngữ khác tiếng Nhật thì hình thức định hình có thể không giống luật Haiku của Nhật Bản nhưng nội dung thì phải có tính Haiku. Người sáng tác có thể làm thơ ngắn hoặc gần giống Haiku, mang tinh thần cô đọng, hàm súc như Haiku.

Bà cũng cho biết thêm, ở Nga, trong thập niên 60-70 có nữ sỹ Marukova dịch và giới thiệu tập thơ Haiku của Basho, sách đã bán hết veo trước khi đưa ra phát hành tại các tiệm sách vì rất nhiều người hứng thú, đặc biệt là các nhà thơ trẻ đương thời sáng tác theo khuynh hướng tự do.

Tôi lại xem bài “Hai lối mộng trong thơ Haiku Nhật Bản hiện đại” của Hoàng Long viết năm 2011, khi mà người Việt vẫn quen gọi tạp chí Haiku Hototogisu nổi tiếng của Nhật là “Chim Cuốc” (tác giả Hoàng Long cũng vậy). Tạp chí Hototogisu xin cứ dịch là "Chim Tử Quy" cho gọn và đúng ý của Shiki, người sinh ra nó. Bài này nói về sự ra đời của Haiku hiện đại Nhật Bản mà tiêu biểu là khuynh hướng của hai nhà thơ Haiku nổi tiếng, đều là những học trò xuất sắc của Masaoka Shiki: Hekigoto và Kyoshi. Hai ông đã cách tân Haiku Nhật Bản theo hướng tự do mà cho đến nay người Nhật vẫn còn tiếp tục bàn cãi. Tuy vậy, Haiku đã ra thế giới, biểu hiện bằng nhiều ngôn ngữ khác ngoài tiếng Nhật. Ngôn ngữ khác, môi trường khác, nền văn hóa khác nhưng người ta vẫn mê Haiku ngắn gọn và hàm xúc sâu xa. Điều đó tạo nên “tính quốc tế” của Haiku.

Tác giả Terada Torahiko (1878-1935) đã phân tích tỉ mỉ về điều kiện tự nhiên của Nhật Bản dẫn đến “thiên nhiên quan” của người Nhật qua bài viết “Quan niệm về thiên nhiên của người Nhật”, đồng thời, “tinh thần Haiku” cũng được ông bàn khá kỹ trong bài tùy bút đặc sắc này của mình. Ông nhận định người Nhật khác người phương Tây ở chỗ sống gần gũi, không tách rời và đối lập với thiên nhiên, không có thái độ khoa học lý tính áp đặt lên thiên nhiên mà hòa với thiên nhiên làm một. Nói cách khác, người phương Tây coi thiên nhiên là công cụ, là hàng hóa thì người Nhật coi thiên nhiên thân thiết như anh em ruột thịt, coi mình là một phần của thiên nhiên; người phương Tây muốn “chinh phục” thiên nhiên thì người Nhật muốn “đồng hóa” hòa mình vào tự nhiên, nương theo tự nhiên. Ngày nay, trước sự quy mô hóa toàn cầu của vấn đề môi trường thì ở bất cứ đâu cũng cần tăng cường phát huy công cuộc hòa hợp với thiên nhiên. Thơ Haiku là thứ văn hóa mà thông qua “quý ngữ” có thể giúp con người thân thiện với thiên nhiên, rất thích hợp với việc giáo dục trẻ em biết yêu quý thiên nhiên… Hiện nay ở Mỹ, Úc và nhiều nước khác, các trường tiểu học đã dạy cách làm thơ Haiku…

Ở Hà Nội của chúng ta hiện nay, tôi biết có tới hơn 10 trường dạy tiếng Nhật và dạy làm thơ Haiku bằng tiếng Việt. Hàng năm, hãng Hàng không Nhật Bản (Japan Airlines) tổ chức thi vẽ tranh có đề một câu Haiku tự sáng tác theo chủ đề cho thiếu nhi khắp thế giới. Từ ba năm nay, học sinh cấp 2 ở các trường thuộc Hà Nội đã tham gia dự thi. Trước đây tôi đã có một bài giới thiệu về việc sáng tác thơ Haiku ở các nước và về cuộc thi này trong mấy số nội san của CLB Haiku Hà Nội, các bạn có thể tham khảo thêm. Ở thành phố Hồ Chí Minh thì mới tổ chức hội thảo về sáng tác thơ Haiku trong nhà trường ở Việt Nam.

Thực ra, người Việt đã biết đến thơ Haiku từ đầu thế kỷ 20 nhưng phát triển thành phong trào như hiện nay thì phải chờ đến những năm đầu thế kỷ 21.

PGS. Lưu Đúc Trung và nhà giáo Nguyễn Bích Nhã Trúc có một bài viết về sự tiếp nhận thơ Haiku của người Việt Nam, hình thành Haiku Việt. Điều kiện tự nhiên của Việt Nam và một số nước khác với Nhật Bản, nhiều nơi trong năm không có bốn mùa, có nơi chỉ có mùa khô và mùa mưa, cấu trúc ngôn ngữ cũng khác nên về cả hình thức lẫn nội dung đều có thể có khác biệt với suy nghĩ, tình cảm của người Nhật. Nhưng tựu chung, tất cả đều thích thú với vẻ cô đọng, hàm xúc, ý nghĩa sâu sắc của thể thơ này.

Người Nhật hay trích dẫn câu Haiku của tác giả người Mỹ Jack Galmitz sáng tác sau ngày 11/9/2001 để chứng minh rằng Haiku tiếng Anh vẫn mang âm sắc rất Haiku:

Two light beams shining

where there were once Twin Towers -

my son, my daughter

Hai tia sáng chiếu rọi / nơi Tháp Đôi / con trai, con gái tôi ơi

Khi diễn giảng về “tinh thần Haiku”, Terada Torahiko nói đó chính là “tự nhiên quan” hay “thế giới quan” của người Nhật. Ông dẫn chứng một câu Haiku của Basho:

春雨や蜂の巣つたふ屋ねの漏り

Harusame ya / hachi no suttau / yane no mori

Mưa xuân / mái dột / nước chảy theo tổ ong

Ông dùng câu này để cho người đọc thấy cái “thực” và cái “hư” trong Haiku Nhật Bản. Cũng như kiệt tác sau đây của Basho đã gây nhiều tranh cãi ở Nhật:

荒海や佐渡に横たふ天の川

Araumi ya / sado ni yokotau / ama no gawa

Biển động / bắc ngang đảo Sado / dải ngân hà

Nếu với cách nhìn “khoa học” của người phương Tây thì đây là câu thơ ngắn không có gì đặc biệt nếu không nói là dở nhưng với người Nhật thì đây là câu Haiku rất đẹp. Cụm từ araumi (荒海) – “biển động” hay đảo Sado (佐渡) làm rung động bao tình cảm của người Nhật, bởi vì biển, đảo gắn liền với cuộc sống của họ, hạnh phúc và khổ đau, nó không đơn thuần là “khoa học hàng hải” như đối với người châu Âu…

Lấy ví dụ câu thơ “con ếch” nổi tiếng của Basho, ông cho rằng “cấu trúc 5-7-5” làm cho câu Haiku khác với một câu nói thông thường, nó cho ta cảm giác mạnh mẽ về ngôn ngữ. Tôi nghĩ rằng cũng như vậy, câu Lục Bát của ta nếu không mang âm hưởng vần điệu và không có cấu trúc 6-8 thì không còn là Lục Bát.

Tôi lại tìm hiểu xem người Nhật cảm nhận về Haiku của nước khác làm bằng ngôn ngữ khác mà ta vẫn gọi là “Haiku” ấy ra sao? Người Nhật vốn kín đáo và khiêm nhường nên chủ yếu họ nói nhiều về suy nghĩ của người nước ngoài về văn hóa nước họ, về thơ Haiku. Thực ra họ vẫn có cảm giác Haiku do người nước ngoài sáng tác nghe “ngồ ngộ”, là thứ thơ ngắn, 3 dòng mà thôi, khó chấp nhận. Và như Ngô Triêu Tân phải kêu gọi người Nhật nên thông cảm và có cái nhìn thoáng hơn với Haiku thế giới: “cớ sao một bộ phận người Nhật lại không muốn chấp nhận nó!”, cần phải suy nghĩ về điều này! Theo tôi, cần thông cảm cho người Nhật bởi họ vốn ưa chỉn chu và “cảm” thơ theo cách của họ. Có lẽ người Việt ta cũng sẽ có cảm giác như vậy khi người nước ngoài sáng tác thơ Lục Bát mà thôi. Nhưng tiếc rằng ta chưa tập hợp được những câu Lục Bát do người nước ngoài sáng tác và cũng chưa có phong trào làm thơ dạng Lục Bát ở nước ngoài như Haiku của Nhật.

Thực tế, nếu nói người Nhật đã tuyên truyền cho Văn hóa Nhật thì có lẽ không chính xác lắm. Tôi nghĩ rằng các nhà nghiên cứu và nhà thơ các nước tự tìm hiểu Văn hóa Nhật Bản và thơ Haiku trước khi người Nhật quan tâm đến việc tuyên truyền nó!

Tôi tình cờ đọc được bài “Haiku - Lục Bát một vài ghi nhận” của Nguyễn Thị Thanh Xuân trong tập tuyển chọn “Văn hóa Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á” (NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2013). Tác giả cũng cảm nhận rằng hai thể thơ này có nhiều khác biệt, không thể “hòa đồng” được dù đều rất ngắn (một câu Lục Bát độc lập chỉ có 14 chữ mà thôi). Có lẽ thơ Thiền thời Lý - Trần (thế kỷ 10-14) có gì đó gần gũi hơn với thơ Haiku và như tác giả Phan Thị Hồng nhận định, thơ Thiền thời đại Lý - Trần và thơ Haiku đã “lặng lẽ làm nên sự nối kết lịch sử” về suy tưởng. Và sau mấy thế kỷ, thơ Haiku của các thiền sư Nhật Bản đã rút gọn, trở nên cô đọng hơn. Tuy nhiên, thơ Haiku cũng không hẳn chỉ là thơ “Thiền” của mấy vị thiền sư!

Có lẽ vì “không thể hòa đồng” như tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận xét nên khi đọc “Lối lên miền Oku” do giáo sư Vĩnh Sính dịch ra tiếng Việt theo kiểu thơ Lục Bát, tôi cũng thấy khó hấp thụ, không cảm thấy hay.

Mỗi nền văn hóa có sức mạnh riêng, nhưng sức mạnh ấy có thể được bồi đắp theo thời gian. Nên chăng, chúng ta cứ phát triển thơ Lục Bát, đồng thời tiếp nhận dòng thơ Haiku Việt như một tiếp biến mới. Có điều, người Việt vẫn cảm thấy thơ thì cần có vần điệu, có tình cảm nên thơ Haiku có cảm giác hơi cứng và khô khan, âu cũng là trở ngại mà các haijin Việt phải vượt qua. Các haijin Việt trong cả nước đã sáng tác hàng vạn câu Haiku Việt mà họ tâm đắc, tôi chỉ xin trích ra đây một số mà tôi cho là rất hay:

Đảo nổi, đảo chìm / phập phồng nhịp tim / tổ quốc

(Nguyễn Hoàng Lâm)

Vũng bùn / lấp lánh / những tia mặt trời

(Lê Văn Truyền)

Cánh bèo / tìm bóng mây xa / chậu nước trong nhà

(Lưu Đức Trung)

Nằm nghe / đêm thẳng đứng / mưa rơi

(Đinh Trần Phương)

Cầu vượt / vun vút /gió xuân

(Lê Thị Bình)

Bờ môi thiếu nữ / uốn lệch / vng trăng

(Nguyễn Thị Kim)

Đôi mắt mẹ tôi / một màu sương khói / thanh xuân đâu rồi

(Nhã Trúc)

Mưa, mưa/ cưa đôi/ nỗi nhớ

(Đỗ Tuyết Loan)

Gió kéo chăn mây / đắp vầng trăng lạnh / hao gầy

(Mai Liên)

Một bóng hoa đào / thắp bừng ngõ nhỏ / ấm chiều ba mươi

(Đinh Nhật Hạnh)

Trăng lạnh / nghĩa trang / đồng đội xếp hàng

(Lý Viễn Giao)

Về thôi / bờ sông níu gió / chân trời níu mây

(Lương Thị Đậm)

Tiếng võng đưa / ngày xưa / tay mẹ

(Nguyễn Duy Quý)

Cào cào / gác chân trước gió / hẹn xuân

(Như Trang)

Rong chơi / em và mặt trời / đuổi bắt

(Phúc Oanh)

Cúp điện / em ngủ ngon lành / gió từ tay anh

(Thanh Tùng)

Mấy năm nay, ta có chừng hơn 20 thành viên cả nước đã gia nhập Hiệp hội Haiku thế giới (WHA) và thơ Haiku của ta cũng được Hiệp hội này trích đăng trong Tạp chí Haiku thế giới và cả Ginyu nữa. Nữ tiến sỹ Quỳnh Như đang có chương trình nghiên cứu về Haiku ở Kyoto, và chị thông báo cho biết đã được mời tham dự  nhiều chương trình giới thiệu về Haiku Việt cho người Nhật. Ta vẫn nằm ở dạng “tuyên truyền, quảng bá”, nhưng mong rằng “hữu xạ tự nhiên hương”.

Người Nhật vốn làm gì cũng đến nơi đến chốn và cái gì cũng phải học! Ở Nhật có Hội nghiên cứu giáo dục Haiku (NHKK) và Hội này đã ra mắt cuốn sách “Hướng dẫn sáng tác Haiku” cho giáo viên các trường tìm đọc. Từ thời xa xưa, người Nhật đã dạy nhau làm thơ, đặc biệt về Haiku thì từ thời Basho, cách đây khoảng hơn 400 năm, riêng thi hào này đã có hàng trăm, ngàn môn sinh. Tôi không quá ngạc nhiên khi hiện nay ở Nhật có rất nhiều Hiệp hội thơ Haiku, nhiều tạp chí Haiku, nhiều cuộc thi sáng tác Haiku và đặc biệt trường học nào cũng dạy Haiku cho các em học sinh… Đại học Haiku thành lập đầu năm ngoái (1/1/2015) và trong Điều lệ của Đại học này cũng có nêu rõ nhiệm vụ thúc đẩy giao lưu quốc tế.

Thơ Haiku xinh xinh, ngắn gọn hàm ý sâu xa tiêu biểu cho văn hóa Nhật. Người Nhật vốn thích “thu nhỏ”, mỹ học Nhật Bản là mỹ học của sự thu nhỏ… Và nay thì Haiku lan ra khắp thế giới có lẽ cũng vì sự xinh xinh độc đáo của nó vậy. Ở Nhật, tôi biết có ít nhất hai Hiệp hội Haiku quốc tế: Hiệp hội giao lưu Haiku quốc tế và Hiệp hội Haiku thế giới. Hơn nữa, vì xu thế phát triển nên hầu như các Hiệp hội Haiku Nhật Bản đều có bộ phận giao lưu quốc tế. Haiku đã vào Việt Nam, tiếp biến vào thơ Việt. CLB Haiku Tp. Hồ Chí Minh với nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà giáo… vừa kỷ niệm 9 năm thành lập. CLB Haiku Hà Nội thì chính thức ra đời sau đó 2 năm. CLB Haiku Hà Nội đã tổ chức thành công Tọa đàm quốc tế về thơ Haiku ở Việt Nam lần thứ nhất, năm 2014, và tháng 11/2016 này sẽ diễn ra Tọa đàm Haiku Việt lần hai. Thể thơ Haiku Việt có thực sự hòa vào dòng chảy văn thơ Việt Nam hay không còn chờ thời gian và sự quan tâm của công chúng yêu thơ. Với số lượng và chất lượng sáng tác của đội ngũ Haiku Việt, tôi tin rằng xu hướng sẽ phát triển.

LTB

Tài liệu tham khảo:

  1. Tinh thần Haiku của Terada Torahiko (1878-1935) về Cách nhìn môi trường tự nhiên của người Nhật.
  2. Khảo sát về Haiku Tây Âu của Tachiana L. Sokolova - ủy viên Hội nhà văn Moskova, một nữ phiên dịch Nhật- Nga.
  3. Haiku Nhật Bản trên Từ điển bách khoa Thế giới.
  4. “Lịch sử Haiku Đài Loan từ 1985 đến 2013” của bác sỹ, haijin Đài Loan Ngô Triêu Tân.
  5. Sự sáng tạo của văn học” - Art Potynica - của Giáo sư Kawasoko Shogo (1930- ) do NXB Tohosha XB năm 2006, phần về hướng phát triển của thơ Haiku.
  6. Tạp chí bình luận Haiku do Fujita Akekarasu chủ biên.
  7. Tài liệu giới thiệu về “Đại học Haiku” ở Nhật Bản.
  8. Tài liệu giới thiệu về Hội Haiku hiện đại Nhật Bản.
  9. Haiku Lê Đạt nhìn từ m học Haiku Nhật Bản” của TS. Lê Thị Thanh Tâm.
  10. “Hai lối mộng trong thơ Haiku Nhật Bản” của Hoàng Long, 12/5/2012).
  11. “Haiku- Lục Bát một vài ghi nhận” của Nguyễn Thị Thanh Xuân (tr. 269, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á” - NXB văn hóa - văn nghệ, 2013).
  12. “Một số phương diện thi pháp Haiku, Lục Bát, Ngũ ngôn tứ tuyệt và Ghazal từ góc nhìn so sánh” của TS. Nguyễn Thị Mai Liên (tr. 166, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa” - NXB Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, 2015).
  13. “Haiku nhìn từ mỹ học Thiền” của Lê Thị Thanh Tâm (tr. 82, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh toàn cầu hóa” - NXB Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh, 2015).
  14. “Thi tứ trong thơ thiền Việt Na và thơ Haiku Nhật Bản” của Phan Thị Hồng (tr. 278, “Văn học Việt Nam và Nhật Bản trong bối cảnh Đông Á” - NXB văn hóa - văn nghệ, 2013).
  15. Một số blog trên Internet về Haiku của Nhật Bản.

Đọc Haiku Việt trong tạp chí “Haiku Thế Giới”- Sayumi Kamakura

Tọa đàm Haiku Việt lần thứ nhất tổ chức năm 2014 đã rất thành công với nhiệt tình nóng bỏng dâng trào. Nhiệt tình đó không suy giảm khi các bạn Việt Nam tiếp tục tổ chức cuộc Tọa đàm Haiku Việt lần hai vào năm 2016.

alt

Ở tọa đàm lần thứ nhất, tôi thật vui mừng được sang dự với các bạn. Vì vậy, tôi muốn viết ra cảm nghĩ của mình về Haiku Việt đăng trong mấy số gần đây của tạp chí “Haiku Thế Giới”.

Trước hết, tôi chú ý đến những câu haiku đẹp, phong phú và hướng tới thiên nhiên. Ví dụ:

Cánh đồng mưa

hải âu bay

tìm biển xưa

(Mai Liên, tạp chí số 11)

Mùa xuân

bay về đồng hoang

cùng sếu đầu đỏ

(Vũ Tam Huề, tạp chí số 12)

Mây rong chơi

dìu mặt trời

về núi vắng

(Lý Viễn Giao, tạp chí số 12)

Mưa trắng trời

Sài Gòn ngõ nhỏ

phố bỗng thành sông

(Nhã Trúc, tạp chí số 12)

Ở câu haiku đầu, chim hải âu là hình ảnh rõ rệt của biển nhưng bạn Mai Liên lại không nói về biển mà nói về chim hải âu nơi cánh đồng mưa, mở rộng trí tưởng tượng đến vùng biển xa xưa. Bạn Vũ Tam Huề thì thấy lũ sếu đang nhắm bay đến một cánh đồng và mùa xuân cũng bay đến cùng với những cái đầu đỏ chói lọi của chúng, câu Haiku rực sáng. Câu của bạn Lý Viễn Giao thì về đám mây nhàn tản rong chơi. Cùng trôi theo thời gian thư thái, đám mây ấy dẫn mặt trời vào núi, câu thơ nhấn mạnh đến sự vận động từ từ của đám mây. Bạn Nhã Trúc nhìn mưa ở đường phố Sài Gòn. Cơn mưa trắng trời, dài dằng dẵng đó đã vô tình biến ngõ nhỏ thành con sông. Rồi mưa kéo dài mãi, sông ấy lớn dần lên nuốt cả con phố, có lẽ vậy. Cơn mưa thật đẹp nhưng mưa kéo dài thì thật đáng ngại!

Những câu thơ sau hướng cái nhìn của mình đến thiên nhiên xa xa:

Mưa

giọt buồn, giọt vui

đường đời ngắn ngủi

(Đỗ Tuyết Loan, tạp chí số 12)

Ơ kìa, cầu vồng!

nỗi buồn vụt tắt

mỉm cười hư không

(Kim Thanh, tạp chí số 12)

Tóc sương

giường đơn

một gối

(Phạm Ngọc Liễn, tạp chí số 11)

Cái đọng lại trong tâm hồn bạn Tuyết Loan là hạt mưa, có lẽ nó đang đập vào cửa sổ. Như từng giọt mưa rơi xuống, giọt buồn, giọt vui, có lẽ đời người, kiếp nhân sinh cũng vậy, chỉ trong giây lát thật ngắn ngủi biết bao! Bạn Kim Thanh nhìn cầu vồng, tô lại lòng mình và bật ra một nụ “cười hư không”. Nổi lên trong câu của bạn Phạm Ngọc Liễn là mái “tóc sương” – ta thấy cuộc sống của một người cao tuổi. Câu thơ này biểu hiện nỗi buồn và niềm đắng nhưng đồng thời cả sự mạnh mẽ, nhìn thẳng vào hoàn cảnh thực tại.

Đọc thêm và suy nghẫm nhiều lần, bất ngờ thấy được những câu sau:

Bờ môi thiếu nữ

uốn lệch

vầng trăng

(Nguyễn Thị Kim, tạp chí số 11)

Ban mai

giấc mơ của hàng cây

trong ngần cất tiếng

(Đinh Trần Phương, tạp chí số 11)

Hạt sương tinh khiết

lăn thành

ban mai

(Thọ Chu, tạp chí số 12)

Đêm đông

giọt cà phê cuối cùng rơi

câu thơ mọc cánh

(Nguyễn Tiến Lộc, tạp chí số 12)

Câu của tác giả Nguyễn Thị Kim, có lẽ là đôi môi người thiếu nữ nói những điều mạnh mẽ làm lệch mất cả vầng trăng. Hoặc giả tôi đọc thấy môi người thiếu nữ làm cho ta liên tưởng tới vầng trăng non, có lẽ là trăng lá lúa. Và một phát hiện mới thật đẹp về bờ môi của người con gái dưới trăng! Câu haiku của Đinh Trần Phương làm bật lên tiếng rì rào của hàng cây trong nắng ban mai. Cùng với nắng sớm, hàng cây cũng bật tiếng về giấc mơ đêm qua của nó. Hay ở chỗ đó. Câu của tác giả Đỗ Chu cũng nói về bình minh, về sớm mai nhưng bình minh ở đây là do hạt sương tinh khiết lăn mà thành đấy! Cái cách chộp sự “tinh khiết”của giọt sương trong nắng mai làm ta mãi thấy cái đẹp và sự tươi mát của buổi sáng. Câu của tác giả Nguyễn Tiến Lộc có chủ đề về cà phê. “Câu thơ mọc cánh” – sự tưởng tượng về thơ Haiku như mang đôi cánh, cho ta ấn tượng sâu sắc về sự vỗ cánh bay lên. Khi đọc đi đọc lại nhiều lần, đặt mình trong phong cảnh rộng, xa và phong phú sẽ nảy sinh những câu haiku tuyệt vời. Tôi hy vọng rồi đây sẽ còn đọc được nhiều câu haiku hay từ Việt Nam. Rất thú vị!

Lê Thị Bình dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Cơn mưa ấm áp tình người- Nguyễn Thánh Ngã

( Un ciel de pluie / descend la pente / le village court devant)

"Cả một trời mưa/ ào ào xuống dốc/ xóm làng chạy trước lao xao"

(Zlatka Timenova - Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ từ tiếng Pháp)

alt

Theo Haikuviet.com: "Zlatka Timenova, thành viên Hiệp hội Haiku Thế giới WHA, sống và làm việc tại Lisbonne, Bồ Đào Nha. Bà nghiên cứu về triết học Pháp và làm luận văn tiến sỹ với chủ đề «Sự im lặng trong văn học và các hình thái của nó thể hiện qua tiểu thuyết của Marguerite Duras». Hiện tại, bà là Phó Giáo sư giảng dạy Ngôn ngữ và Văn học Pháp tại Đại học Lisbonne, đồng thời làm khảo cứu về Ngôn ngữ và Văn hóa Bungary. Ngoài các bài viết trong lĩnh vực phê bình văn học, dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ, Zlatka Timenova còn làm thơ ngắn và thơ haiku. Ba cuốn thơ haiku đã xuất bản của bà gồm có: Chama, a palavra (2013); Comme un oiseau contre le vent (Như một cánh chim trong gió, 2013) và Kato zvezden prah (Bụi sao, 2013)"

Nắng gió, mưa bão vv...là những hiện tượng thời tiết thường xuất hiện trong thơ Haiku. Mưa mỗi xứ mỗi khác, nhưng có một cơn mưa rất gần với làng quê Việt Nam. Đó là cơn mưa ấm áp của nhà thơ Zlatka Timenova xứ Bồ Đào Nha. Thơ của bà được nhà thơ Đinh Nhật Hạnh chuyển ngữ từ tiếng Pháp. Ông cho biết một thông tin khá thú vị, nhà thơ nữ này rất thân tình với CLB Haiku Việt Hà Nội. Bà đã có những trao đổi, chia sẻ với chúng ta trong thơ cũng như trong cuộc sống. Có lẽ vì vậy, mà trời thấu lòng người đã đổ cơn mưa trong thơ Zlatka Timenova làm thành một nỗi nhớ!

Nếu Zlatka Timenova từng ở Việt Nam, bà sẽ thấy cùng cơn mưa ấy xảy ra ở hai lãnh thổ khác nhau, nhưng có cùng một không khí của làng quê hiền hòa. Vâng, bầu trời và những giọt mưa không có biên giới, không có cả hộ chiếu. Thế mà vẫn mưa. Mưa cùng một giọng điệu, trong hồn người và trong thực tế. Cuộc sống vốn cho ta những hiểu biết về nước. Nước là nguồn sống ở một vị thế nào đó, và sẽ khác khi ở vị thế khác. Và "cả một trời mưa ào ào xuống dốc", khiến câu thơ kéo dãn nhịp chữ, chảy dài xuống như một dòng thác cuồn cuộn, có thể cuốn phăng cả xóm làng trong sức mạnh của nó. Câu thơ mang tín hiệu bất ngờ, bởi bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả những cơn mưa cần thiết cho đời sống!

Bài thơ không mong chờ gì hơn là có một xóm làng yêu thương, gắn bó để cùng nhau "chạy mưa". Đó là thông điệp cần thiết cho mỗi nơi ở, mỗi vùng miền trên trái đất. Có tiếng "lao xao" í ới nhau là có thể vượt qua mọi trở lực.

Bài thơ nhắc nhở quy luật vô thường luôn ẩn nấp trong cuộc sống.

Ta nhận ra tính nhân văn trong cơn mưa ở Bồ Đào Nha và ở Việt Nam, có gì khác đâu. Và thơ cũng vậy. Không khác là mấy...

N.T.N

Haiku Việt trong quá trình phát triển- Ban’ya Natsuishi

Việt Nam, nơi trước đây từng là vũng lầy chiến tranh. Việt Nam nơi tôi đến thăm lần đầu nhân dịp sang dự Lễ hội thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ nhất, mùa xuân năm 2012, thì không còn quang cảnh chiến tranh nữa mà đang trong thời kỳ biến động như một cái thai đang phát triển.

alt

Ngày 5/2 năm đó tôi tình cờ gặp gỡ các thành viên CLB Haiku Hà Nội, khi đó họ đang hoạt động quảng bá thơ Haiku của mình tại một căn lều được căng lên gần cửa vào hội trường Văn Miếu, nơi chính diễn ra lễ hội thơ. Có thể coi đó là kỷ niệm đáng nhớ về cuộc tương phùng lần đầu tiên của Haiku hai nước Nhật - Việt. Dẫu không biết tiếng Việt nhưng tôi lắng nghe họ đọc thơ Haiku Việt thì có cảm nhận tiếng Việt đặc biệt nhiều mẫu âm nên dù ngắn vẫn thấy sự lên xuống cao thấp rất phong phú của ngôn ngữ.

Tôi ví dụ một câu của Trụ Vũ, người mà tôi chưa hề gặp mặt, nghe nói ông sống ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi được biết đến câu thơ này nhờ chị Nguyễn Vũ Quỳnh Như – một nghiên cứu sinh về Haiku du học tại Kyoto đọc bằng tiếng Việt trong cuộc hội thảo Haiku thế giới lần thứ năm, tổ chức ở Tokyo tháng 4 năm 2016:

Giọt cà phê

không nói gì

không nói gì

Tôi hình dung ra âm hưởng của từng giọt cà phê bằng cách lặp lại bằng tiềng Việt “không nói gì / không nói gì”.

Lịch sử Haiku Việt bắt đầu từ thời còn là thuộc địa của Pháp, bị ngắt quãng một thời gian, rồi từ 1980 người ta bắt đầu cố gắng đưa Haiku của Basho vào sách giáo khoa. Đến năm 2007 thì thành lập CLB Haiku thành phố Hồ Chí Minh và 2009 thì thành lập CLB Haiku Hà Nội.

Từ 2013, hàng năm Hiệp hội Haiku Thế Giới bắt đầu tiếp nhận khoảng 20 thành viên của CLB Haiku Hà Nội. Tháng 9 năm 2014, Tọa đàm Haiku Việt lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, và tháng 9 năm 2015, có hai đại biểu của Hà Nội và một đại biểu của thành phố Hồ Chí Minh đã đến dự Đại hội lần thứ tám của Hiệp hội Haiku Thế Giới tổ chức tại Tokyo. Tôi thấy cảm kích mãnh liệt về câu haiku của haijin Lý Viễn Giao về đề tài chiến tranh:

Trăng lạnh

nghĩa trang

đồng dội xếp hàng

(đã đăng trong tập chí Haiku Thế giới số 9, tháng 3/2013)

Đây là một câu haiku hay trong hiện thực ảo ảnh, gần như có âm vần chân ở dòng thứ 2 và 3.

Ở Việt Nam có thơ truyền thống thể Lục Bát, trên cơ sở đó, người ta lặp đi lặp lại 14 âm này có thể thành bài thơ dài. Trên mảnh đất của thể thơ ấy, người Việt sáng tác Haiku Việt. Ví dụ câu haiku không mùa của ông Đinh Nhật Hạnh – Chủ nhiệm CLB Haiku Hà Nội – khi nói về thành phố Hà Nội lớn lên theo mô-típ các công trình kiến trúc cao tầng thường thấy ở các thủ đô trên trái đất:

Thủ đô vươn tầm cao

mắt hoa

nhìn tám hướng

(đã đăng trong Tạp chí Haiku thế giới số 11, tháng 2 năm 2015)

Cũng như vậy câu haiku của chị Lê Thị Bình – một haijin nữ của CLB Haiku Hà Nội – với 3 dòng ngắn, rất hiệu quả, chị thấy mưa bụi thì thầm báo hiệu mùa xuân.

Mưa

thì thầm

mùa xuân

(đã đăng trong Tạp chí Haiku thế giới số 11, tháng 2 năm 2015)

Thơ Haiku không theo một âm điệu nhất định, có lẽ nó tìm một âm điệu phù hợp với nội dung. Tôi hiểu rằng “Hà Nội” (Kawachi) là tên cũ của vùng phía miền nam Osaka. Nhưng “Hà Nội” cũng là tên gọi xuất phát từ chữ Hán. Nhưng không, đó là câu nói về loài hoa có tên là Osaka, có lẽ tên cây không nhất thiết giống nhau ở mọi nơi. Như câu của haijin Kim Thanh:

A, Osaka

em từ đâu tới

neo vào tim ta

(đã đăng trong tạp chí Haiku thế giới số 12, tháng 3 năm 2016)

Tôi nghĩ rằng Haiku Việt đang trưởng thành từng ngày trong sự lớn lên đáng khích lệ.

Lê Thị Bình dịch từ nguyên bản tiếng Nhật

Các bài viết khác...

Video Tổng Hợp

Mời Quảng Cáo

Lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay183
mod_vvisit_counterHôm qua470
mod_vvisit_counterTất cả154369
Hiện có 72 khách Trực tuyến