Lễ hội Tsukimi- Ngắm Trăng trong thơ Haiku- Đào Thị Hồ Phương

Nhật Bản là một trong những quốc gia thuộc nền văn hóa Á Đông nên người Nhật cũng có tục lệ cúng trăng và ngắm trăng vào mùa thu.

alt

Nguồn gốc

Trong tiếng Nhật "Tsukimi" có nghĩa là "ngắm trăng", còn chữ "O" thường được thêm vào phía trước (Otsukimi) để thể hiện sự trang trọng. Lễ hội thường diễn ra vào ngày 15/8 âm lịch hàng năm.
Có giả thuyết cho rằng tục ngắm trăng bắt nguồn từ Tết Trung thu của Trung Quốc. Ngày lễ này được lưu truyền vào đảo quốc Nhật Bản thông qua những đoàn đi sứ nhà Đường trong thời kỳ Heian (794 - 1185). Ban đầu, Otsukimi chỉ dành cho hoàng gia và tầng lớp quý tộc, nhưng thời kỳ Edo (1603 - 1868) thì nó đã được phổ biến rộng rãi như một lễ hội dân gian. Những mùa lễ Otsukimi đầu tiên được người dân tổ chức vào giai đoạn sau khi đã thu hoạch hoa màu mùa hạ và chuẩn bị bước vào mùa gặt lúa nước, với mục đích cầu xin thần linh mang đến những vụ mùa tươi tốt cho con người. Với ý nghĩa đó, Otsukimi đã đi sâu vào đời sống tinh thần của con người Nhật Bản.


Nét đặc biệt trong Trung thu ở Nhật :
Ngoài 15/8 âm lịch, Otsukimi được tổ chức lần 2 vào khoảng 1 tháng sau - ngày 13/9 âm lịch, đêm 13 này còn được gọi là "trăng sau". Người Nhật quan niệm rằng một khi đã ngắm trăng đêm 15 thì nhất định phải ngắm trăng vào đêm 13. Bởi nếu chỉ ngắm trăng đêm 15 thì chắc chắn sẽ gặp xui xẻo hay tai họa, điều kiêng kị này trong tiếng Nhật được gọi là "Kata-tsukimi". Đây cũng là một nét khác biệt của phong tục ngắm trăng của Nhật Bản.

Ngày lễ ngắm trăng đặc biệt này còn mang một ý nghĩa khác là tạ ơn các vị thần đã ban cho người dân một vụ mùa thật bội thu, họ đã làm những mâm lễ cúng thật chu đáo bằng chính những thứ mà họ làm ra như bánh truyền thống Dango, cỏ bông bạc Susuki,...

Haiku và lễ hội ngắm trăng

Từ cổ xưa, người Nhật miêu tả tháng 8 âm lịch (khoảng giữa tháng 9 theo lịch Gregorian) là thời khắc tuyệt vời nhất để ngắm trăng, bởi vị trí của Trái đất, Mặt Trời và Mặt trăng khiến cho trăng vô cùng sáng. Vào những đêm trăng sáng, đã có một truyền thống được đặt ra, mọi người tụ tập tại nơi có thể nhìn rõ mặt trăng nhất, những cánh đồng cỏ ở Nhật, và dùng bánh gạo (được biết đến là Tsukimi dango), khoai môn, đậu ván, hạt dẻ và nhiều loại đồ ăn khác, thêm vào đó là rượu sake để dâng tặng cho mặt trăng cầu một vụ mùa bội thu.Tsukimi được biết đến như một lễ hội truyền thống của Nhật Bản nơi người ta ăn mừng mùa gặt.Đồng thời từ thời Heian, người Nhật (đặc biệt là giới quý tộc trong cung đình) đã có phong tục tổ chức ngâm thơ (Tanka) dưới ánh trăng rằm vào Tháng 8 âm lịch. Đến thời Edo, với sự phát triển của nền văn hóa, văn học đại chúng và sự ra đời của thơ Haiku thì phong tục “thưởng nguyệt, làm thơ” này tiếp tục được duy trì và có những màu sắc mới.

Sau đây xin giới thiệu một số bài thơ Haiku được sáng tác lấy cảm hứng chủ đạo là “trăng rằm mùa thu”.

1.あさむつや - 月見の旅の - 明け離れ

Asamutsu ya- tsukimi no tabi- akebareru

松尾芭蕉 (Matsuo Basho)

Tại Atsumuka

hành trình ngắm trăng

bình minh bỏ lại


2. 観月や - 高張立てて - 百花園

Kangetsu ya - takahari tatete - haykkaen

高橋淡路女 (Takahashi Awajijo)

Thưởng nguyệt

lồng đèn treo cao

bách hoa viên


3. 賑やかに - 障子開けたり - 十三夜

Nigiyaka ni - shoshiaketari - juusan yoru

星野立子(Hoshino Tatsuko)

Mở cánh cửa lùa

một cách ồn ào

đêm rằm mười ba


4. 年よりや - 月を見るにも - ナムアミダ

Toshi yori ya - tsuki wo miru nimo - namiamida

小林一茶 (Kobayashi Issa)

Có tuổi rồi

cho dù nhìn trăng

cũng niệm A Di Đà


5. はろばろと - 来て山高き - 月見かな

Horoboro to - kitetakaki tsukimi - kana

吉武月二郎 (Yoshitake Tsukijorou)

Phía nơi xa xa

Đang đến từ trên cao

trăng đó phải không ?


6. 名月は - どこでながめん - 草枕

Meigatsu wa - doko de nagamen - kusamakura

正岡子規 (Masaoka Shiki )

Trăng thu

nghiêng bóng nơi nào ?

chiếc gối cỏ

ĐTHP

Mạch nguồn thi ca truyền thống Nhật Bản trong thơ Haiku

NB được mệnh danh là “thi quốc” - đất nước thơ ca. Thơ Nhật Bản phong phú về thể loại. Bên cạnh những thể thơ du nhập từ Trung Quốc thời cổ đại, thơ Mới du nhập từ phương Tây thời cận đại, người Nhật có những hình thức thơ ca riêng của mình được gọi là waka (hoà ca) nghĩa là thơ ca của người Nhật. Nhưng thế giới biết đến nhiều hơn haiku - thể thơ được coi là linh hồn nước Nhật.

alt

Trong cuốn Đời sống và tính cách Nhật Bản trong thơ Senryu, R.H.Blyth đã viết: “Nước Nhật sinh ra cùng với Basho vào năm 1644. Ông chính là người sáng tạo ra linh hồn của Nhật Bản”1. Tuy nhiên, thơ haiku kế thừa nhiều yếu tố của thơ truyền thống Nhật Bản được tinh tuyển trong các hợp tuyển thơ nổi tiếng như Vạn diệp tập, Cổ kim tập, Tân cổ kim tập. Haiku kết tinh linh hồn Nhật Bản, kết tinh những mạch nguồn thi ca truyền thống Nhật Bản.

Tiền thân của haiku là thể thơ đoản ca (tanka)- một hình thức thơ waka2, thể thơ truyền thống của Nhật Bản. Đoản ca là thể thơ ngắn, mỗi bài có 31 âm tiết, chia làm 5 dòng: 5-7-5-7-7. Thể thơ này chiếm ưu thế trong Vạn diệp tập- một thi tuyển đồ sộ tập hợp 4596 bài thơ sáng tác từ thế kỷ IV đến VIII. Về sau chúng bị ngắt làm hai để tạo những câu thơ 5-7-5 và 7-7 âm tiết. Những câu này được kết hợp đan xen với nhau tạo thành chuỗi dài gồm 36, 100, có khi nhiều hơn nữa những mắt xích gọi là thể liên ca hài hước (haikai no renga). Chúng có thể do một nhóm thi sĩ hoặc một thi sĩ sáng tác với tư cách nhóm. Đề tài là thiên nhiên bốn mùa. Thể liên ca thịnh hành ở Nhật vào thế kỷ XIV, XV. Sau đó, các nhà thơ sáng tác những bài thơ 5-7-5 âm tiết độc lập, không đứng trong chuỗi. Đến giữa thời Edo (1600- 1868), thi pháp của loại thơ 17 âm tiết này đã được định hình vững chắc. Đến TK XVII thì đạt tới đỉnh cao và trở nên lừng lẫy trên thi đàn thế giới với thi hào M.Baso, sau đó là Y.Buson, K. Itsa, M.Siki.

Đề tài của haiku cổ điển là thiên nhiên được gọi là quý đề (kidai). Thiên nhiên trong thơ haiku gắn với nhịp luân chuyển của mùa. Nên trong thơ haiku bao giờ cũng có từ chỉ mùa, có thể là từ chỉ mùa trực tiếp (quý ngữ trực tiếp) như xuân, hạ, thu, đông, có thể là từ chỉ mùa gián tiếp (quý ngữ gián tiếp) là những hình ảnh tiêu biểu của mùa. Mùa xuân có những hình ảnh như hoa đào, hoa mai, chim oanh, chim yến, …; mùa hạ có mặt trời, tiếng ve, hoa diên vĩ; mùa thu có trăng, sương, tiếng dế; mùa đông có tuyết, cánh đồng hoang, …Tuy nhiên, đây không phải là đặc điểm riêng của haiku. Thiên nhiên là đề tài được quan tâm chủ yếu của thơ ca Nhật Bản. Từ Vạn diệp tập đến Cổ kim tập, Tân cổ kim tập, thơ viết về thiên nhiên đều có số lượng lớn. Vạn diệp tập có 20 cuốn thì có quyển 8 và 10 tập trung những bài thơ về thiên nhiên theo mùa. Cũng trong 20 quyển Cổ kim tập có 6 quyển dành cho những bài thơ theo mùa với 342 bài thơ về các mùa. Từ đây có thể thấy thiên nhiên vận hành qua bốn mùa là một đề tài chính của Vạn diệp tập, Cổ kim tập. Tuy nhiên trong Vạn diệp tập, thiên nhiên được miêu tả hoà quyện với tình yêu, là phương tiện biểu đạt tình yêu. Cánh đồng mùa đông khô nứt nẻ biểu hiện cho nỗi khát khao, nhớ nhung chờ đợi tình nhân:

Em chờ anh

Như cánh đồng trước nhà

Chờ mưa, đất khô nứt nẻ,

Cũng thế

Ôi, em chờ anh... (Thái Bá Tân dịch)

Khu vườn mùa thu đầy trăng, sương, tiếng dế được tỉ dụ với trái tim đầy nỗi buồn:

Đêm đầy trăng

Tim đầy nỗi buồn

Khu vườn

Đầy sương lấp lánh,

Tiếng dế tỉ tê trong gió lạnh... (Thái Bá Tân dịch)

Trong Cổ kim tập, những bài thơ về thiên nhiên chủ yếu nói về những cảm xúc bắt nguồn từ sự giao mùa.

Đây là bài thơ Mùa xuân của Kino Tsurayuki.

Xuân đến rồi

Gió nhẹ hơn

Nước đang tan băng

Nơi mùa hè chúng tôi giặt áo.

Trần Hải Yến dịch (bài 2, quyển 1)

Tinh thần của bài thơ rất tiêu biểu cho Cổ kim tập. Các nhà thơ Cổ kim tập không phát hiện ra một thiên nhiên mới. Họ vẫn sử dụng những hình ảnh thiên nhiên đơn sơ, bình dị, nhiều khi chỉ có ở Nhật Bản như anh đào, tử đằng, hoa xương bồ, hoa sơn chi, kim tước chi, mà không sử dụng những hình ảnh ước lệ hoặc vay mượn trong văn học Trung Quốc. Hơn nữa, họ không miêu tả thiên nhiên gắn liền với những suy tư về tình yêu như trong Vạn diệp tập. Từ đây, Shuichi Kato đó đi đến nhận định rằng: ‘’Cảm xúc mang tính Nhật Bản nổi tiếng đối với thời tiết dẫn đến đề tài mùa màng trong thơ haiku là bắt đầu từ đây (tức là từ Cổ kim tập) cũng như chủ đề thường được gọi là tình yêu Nhật Bản đối với thiên nhiên’’. ‘’Đây chính là hợp tuyển cung đình đầu tiên của thơ waka, tạo ra những khuôn mẫu cho “cảm xúc Nhật Bản về bốn mùa” và cho “tình yêu Nhật Bản đối với thiên nhiên3.

Lý tưởng thẩm mỹ của Cổ kim tập và cả thời đại Heian là niềm bi cảm nhân sinh mono no aware- nỗi buồn trước sự tàn phai của sự vật. Những nhà thơ của Cổ kim tập xúc động trước sắc màu rực rỡ của thiên nhiên như lá phong đỏ, hoa đào rụng, lá rơi, tuyết tan, sương rơi trên cỏ, bọt nước trên sóng- những sự rực rỡ gắn kề với sự tàn phai. Thi hứng thường nảy sinh: ‘’Khi họ ngắm nhìn những bông hoa lả tả trong buổi sáng mùa xuân, khi họ lắng nghe chiều thu tới trên những chiếc lá rơi, khi họ thở dài về tuyết và biển cả phản chiếu mỗi năm đi qua bằng chiếc gương soi của họ, khi họ thảng thốt nghĩ về sự ngắn ngủi của cuộc sống qua một giọt sương trên ngọn cỏ hay bọt nước trên sóng, khi ngày hôm qua tất cả đều huy hoàng và lộng lẫy, họ buột miệng thốt lên trong sự cô đơn hay khi đang yêu tha thiết mà bị hờ hững’’4. Như vậy, mọi sự vật đều được xem xét trong giới hạn tạm thời của nó. Trong dòng thời gian, mọi vật đều phù du. Thời gian của Cổ kim tập là ‘’một thời gian cát chảy’’, một thời gian luôn vận động. Cảm xúc gợi lên trong nhà thơ và độc giả là nỗi bâng khuâng về cái đẹp thoáng qua của cuộc sống, một cảm xúc buồn thấm thía về sự ngắn ngủi của cuộc đời. Xúc cảm này chúng ta cũng bắt gặp nhiều trong thơ haiku cổ điển. Ngắm trời đất trong một đêm mưa giông, Buson xúc động viết:

Hàng tre rũ

Những giọt nước loé sáng

Trong ánh chớp giăng (Thanh Châu dịch)

Những giọt nước đọng ở đầu lá tre loé sáng trong ánh chớp. Hình ảnh đẹp nhưng chẳng vĩnh hằng. Nó chợt hiện lên rồi lại mất đi như chưa từng có bao giờ. Nhưng đó cũng là bản chất của vạn vật trong vũ trụ. ‘’Vạn pháp vốn vô thường’’. Hoa nở. Chim hót. Mây bay. Nước chảy. Con người sống. Tất cả đều vận hành theo quy luật thành, trụ, hoại, không.

Trong bụi măng tre

Con chim hoạ mi cất tiếng hót

Bài hát của tuổi già. (Basho – Thanh Châu dịch)

Nếu các thi sĩ phương Tây ca tụng tiếng hót của con chim hoạ mi là bất tuyệt thì các nhà thơ haiku lại thấy trong giọng hót của nó dấu vết của thời gian. Trong không gian mùa xuân trẻ trung căng tràn sức sống: măng tre đâm chồi nảy lộc, hoạ mi cất tiếng hót líu lo, nhà thơ vẫn nhận ra rất rõ bước chân đang qua của mùa xuân. ‘’Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già’’ (Xuân Diệu). Nhìn hoa đang nở, các nhà thơ haiku ngậm ngùi nghĩ đến khoảnh khắc hoa tàn:

Dưới mái rơm chùa Pháp hoa

Những bông hoa mào gà

Đang bừng nở. (Shiki – Thanh Châu dịch )

Ngay trong chốn cửa Phật thanh tịnh, bước chân của thời gian vẫn vang lên thật khẽ nhưng thật vội. Cái đẹp ngắn ngủi khiến con người xiết bao bâng khuâng, xao xuyến.

Thơ haiku cũng tiếp thu lý tưởng thẩm mỹ u huyền (yugen) từ Tân cổ kim tập- tập thơ tiêu biểu của thời Kamakura. Nhờ sự cố gắng, nỗ lực của hai cha con nhà thơ Teika, lý luận thơ ca thời kỳ Kamakura đã có sự phát triển thoát khỏi ảnh hưởng trực tiếp của lý luận thơ ca Trung Quốc mà khẳng định giá trị thẩm mỹ mới. Lý tưởng thẩm mỹ nổi bật trong Tân cổ kim hoà ca tập cũng như của thời đại Kamakura là hữu tâm (ushin) và u huyền (yugen). Hữu tâm (ushin) là thuật ngữ chỉ một phong cách của thơ ca mà trong đó nhà thơ phải “để vẻ đẹp lắng đọng thấm thía tận đáy lòng mình rồi sau đó tìm cách đem được tấm lòng đó vào trong thơ”5. U huyền (yugen) là cảm xúc trước cái u ẩn, huyền diệu của thế giới. Đặc điểm này thể hiện sự ảnh hưởng sâu đậm của Thiền tông tới thơ ca Nhật Bản thời Kamakura nói chung và Tân cổ kim tập nói

riêng. Hướng tới ushin yugen, các thi sĩ trong Tân cổ kim hoà ca tập chủ yếu tìm kiếm ý nghĩa ẩn sau thế giới hiện hữu chứ không phải bản thân thế giới rực rỡ sắc màu như các nhà thơ trong Cổ kim tập. Bài thơ sau đây của Fujiwara no Teika được xem như tiêu biểu cho sự biểu hiện tinh thần ushin yugen trong Tân cổ kim tập:

Trong đất trời rộng mở

Tôi chẳng thấy hoa đào

Không thấy màu lá đỏ

Chiều mùa thu bao trùm

Lều tranh bên vịnh nhỏ

Fujiwara no Teika (Mai Liên dịch)

Trong một buổi chiều muộn mà khí sắc mùa thu bao trùm trên vịnh nhỏ, tâm hồn con người lắng đọng, phiêu diêu như đến một cõi hư không. Bài thơ dưới đây của thiền sư Myoe (1173- 1232) cũng tiêu biểu cho vẻ đẹp u huyền:

Đi về phía sau núi

Trăng ơi trăng

Ta cùng đến đó nhé

Và đêm đêm sẽ

Cùng làm bạn đồng hành

Myoe (Nhật Chiêu dịch)

Đoản thi của Myoe sáng tác trong hoàn cảnh lắng nghe tiếng chuông chùa báo hiệu canh khuya nhưng nó lại chan chứa niềm an lạc của người đã nhìn thấy vĩnh cửu. Văn hào Kawabata đã đưa ra lời bình về bài thơ trăng của Myoe như sau: “Nếu tôi hay chọn bài thơ này mỗi khi viết thủ bút cho người ta đó là vì... bài thơ ấy như bài thơ của từ bi, ấm áp, sâu sắc và tế nhị, một bài thơ chứa đựng niềm im lặng có chiều sâu của tinh thần Nhật Bản6. Lý tưởng thẩm mỹ u huyền xâm nhập vào sân khấu No, và cả các tác phẩm ra đời sau này. Đặc biệt, trong thơ haiku nói chung và haiku của thi hào Basho nói riêng, u huyền là một trong những lý tưởng thẩm mỹ cơ bản. Hãy đọc bài thơ sau đây của Basho:

Cành khô

Cánh quạ đậu

Chiều thu. (Nhật Chiêu dịch)

Màn sương xám bao trùm chiều thu; cánh quạ đậu hiu hắt trên cành khô khẳng khiu in trên nền trời mờ xám. Thế giới không sắc màu rực rỡ, không vận động dường như đang dần dần chìm vào bóng tối, tịch lặng. Bài thơ thấm đẫm nỗi niềm sầu bi của một tuổi già hiu quạnh, cô liêu.

Làn gió run rẩy

Trên những chùm bông cỏ bạc:

Một cõi lòng cô quạnh (Issa – Thanh Châu dịch)

Bài thơ của Issa cũng đưa ta đến với một không gian thu, nhưng là không gian bàng bạc của một cánh đồng đầy cỏ bạc. Những bông hoa cỏ mỏng manh lay động cho ta cảm nhận làn gió đang run rẩy trên cánh đồng chiều mênh mông. Ẩn sau hình ảnh đơn sơ hiu hắt là một cõi lòng “cô quạnh”, hoang liêu.

Thơ Tân cổ kim tập hứng thú cao với việc xây dựng hình ảnh tượng trưng, sử dụng những kỹ thuật khiến thơ hàm súc, giàu sức gợi hơn. Đây cũng là đặc điểm nghệ thuật nổi bật của thơ haiku. Thơ haiku rất ngắn, mỗi bài chỉ có 17 âm tiết, thi thoảng mới có bài 19 âm. Tiếng Nhật là ngôn ngữ đa âm, vì vậy số âm tiết trong một bài haiku chỉ tương đương với khoảng xấp xỉ 10 từ. Với số lượng từ như vậy, thơ haiku không thể diễn giải, luận lý dông dài. Các nhà thơ chỉ có thể phác hoạ, hay gọi tên một hay một vài hình ảnh hoặc âm thanh giống như là trong hư không, nhà thơ nhẹ thả vào những hình ảnh, âm thanh, rồi để chúng tự bồng bềnh trôi. Chính vì điều này nên trong thơ haiku, danh từ chiếm số lượng chủ yếu, trạng từ, động từ, tính từ bị hạn chế tối đa. Những hình ảnh, âm thanh đó trở nên khái quát, đa nghĩa, giàu tính tượng trưng hơn là cụ thể, đơn nghĩa, trực tiếp.

Cầm trên tay (nắm tóc)

Tan mất, giọt lệ nóng hổi

Sương mùa thu. (Basho – Đoàn Lê Giang dịch)

Cuộc đời Basho giống như một áng mây hoang dại trôi dạt bốn phương. Ông hành hương nay đây mai đó. Khi hay tin mẹ mất, nhà thơ ở rất xa, không kịp về nhà chịu tang. Lúc về đến cố gia, người anh trao cho ông kỷ vật của mẹ là một nắm tóc có pha những sợi bạc. Nâng trên tay nắm tóc, nhà thơ không nén nổi nỗi buồn, giọt nước mắt nóng hổi rơi. Quý ngữ “sương mùa thu” được thả bồng bềnh trong khoảng hư không của bài thơ mang ý nghĩa gì? Nó liên hệ gì với những hình ảnh còn lại trong bài như nắm tóc trên tay, giọt lệ nóng hổi? Có lẽ hình ảnh sương mùa thu tỉ dụ cho nắm tóc pha sương của người mẹ bởi mái tóc bạc thường được ví với tóc pha sương:

Mẹ già mái tóc pha sương

Con thơ măng sữa vả đương bù trì. (Chinh phụ ngâm- Đoàn Thị Điểm)

Cũng có thể giọt sương là hình ảnh so sánh với giọt lệ của nhà thơ bởi giọt nước mắt của người già cũng được ví với giọt sương:

Tuổi già hạt lệ như sương

Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan (Khóc Dương Khuê- Nguyễn Khuyến)

Nhưng cũng có thể, giọt sương là ẩn dụ của cuộc đời ngắn ngủi:

Đời chỉ là giọt sương mai trên cánh lá sen (Bài 27, Người làm vườn- Tagore)

Thân như điện ảnh có rồi không

Vạn vật xuân tươi, thu não nùng

Vạn vật thịnh suy đừng sợ hãi

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông (Ngôn hoài- Vạn Hạnh thiền sư)

Xem ra hình ảnh “giọt sương thu” trong thơ Basho thật đa nghĩa, thật giàu ý nghĩa tượng trưng. Nó khiến vãn ca khóc mẹ của nhà thơ trở thành bi ca cho số phận con người. Hình ảnh trăng, hoa đinh hương, du nữ trong bài thơ sau của Basho cũng được khai thác ở tầng ý nghĩa tượng trưng:

Quán bên đường

Các du nữ ngủ

Trăng và đinh hương. (Basho - Nhật Chiêu dịch )

Bài thơ được Basho sáng tác trên đường ông hành hương lên ải Ichiburi. Tình cờ ông trọ trong cùng một mái quán với hai cô du nữ. Sáng hôm sau chia tay, nhà thơ đã cảm hứng sáng tác bài thơ này. Bài thơ chỉ dùng một thủ pháp nghệ thuật duy nhất là liệt kê, kể tên các hình ảnh, sự vật rồi đặt chúng cạnh nhau: quán bên đường, các du nữ ngủ, trăng, hoa đinh hương, và cả nhân vật trữ tình ẩn mật. Nhưng chính việc đặt các sự vật cạnh nhau như những mắt xích đã tạo ra mối quan hệ bình đẳng giữa các sự vật trong chuỗi. Trong cảm quan của Basho, không có sự vật nào là hèn mọn, kể cả những cô du nữ, những người bị coi là đã lặn ngụp trong đáy sâu cuộc đời ô trọc. Khi ngủ, họ trở về với Phật tính an lạc, hoà làm một với trăng sao, hoa lá thanh tao. Vạn vật đều đóng vai trò yếu tính của vũ trụ. Mọi sự phân biệt cao thượng hay thấp hèn, thiện hay ác, phải hay trái đều chỉ tồn tại trong chủ quan của chúng ta.

Khởi lên từ thi ca truyền thống : kế thừa thể thơ, đề tài, chủ đề, lý tưởng thẩm mỹ, nghệ thuật biểu đạt, thơ haiku đã tiếp nối những mạch nguồn tốt đẹp của thơ ca Nhật Bản. Đồng thời, haiku cũng đã có bước phát triển mới với những sáng tạo thiên tài của thi hào Basho và những người sau ông như Buson, Issa, Shiki, …Chính sự kết hợp tài tình giữa những mạch nguồn truyền thống với những sáng tạo độc đáo đã đưa haiku lên đến đỉnh cao của thơ Nhật Bản, trở thành đại diện tiêu biểu cho nền thơ ca Nhật Bản trên thi đàn thế giới.

Nguyễn Thị Mai Liên

1. R.H.Blyth, Japanese life and Character in Senryu, Hokuseido Tokyo, 1960

2. Hoà ca (waka) có nghĩa là thơ ca của người Nhật bao gồm ba hình thức là đoản ca (tanka), trường ca (chôka) và tuyền đầu ca (sedoka). Mỗi bài đoản ca có 31 âm tiết chia làm 5 dòng 5-7-5-7-7. Trường ca không hạn định về số lượng. Tuyền đầu ca là những bài thơ có 6 dòng chia thành 5/7/7/5/7/7.

3. Shuichi Kato- Lịch sử Văn học Nhật Bản, Tập 1, Trần Hải Yến dịch, Tài liệu Viện Văn học, trang 98

4.Keene Donald- Anthology of Japanese literature : from the earlies era to the midnineteenth century, Charles E. Tuttle company, Tọkyo, 1984, tr 76

5. Nguyễn Nam Trân- Tổng quan văn học Nhật Bản, nxb Giáo dục Việt Nam, H, 2011, trang 142

6. Nhật Chiêu – Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868, nxb Giáo dục, H, 2003, tr 153

Những cách tân trong Haiku Nhật Bản hiện đại

Năm 1892 (năm Minh Trị 25) được coi là dấu mốc phân chia hai thời kỳ vận động của thơ haiku: tiền Meiji – bảo thủ, suy thoái và hậu Meiji – mạnh mẽ chuyển mình trên con đường cách tân. Các nhà thơ Kakuta Chikurei, Ozaki Kozo, Ito Shou và Masao Shiki đóng vai trò chủ yếu trong công cuộc tái sinh haiku tạo ra một hình thức “haiku mới” (shin-haiku). Trong đó Shiki là “người chính thức đưa haiku lên bệ phóng cách tân”1. Tinh thần đổi mới của các haijin chủ yếu là hướng tới một hình thức haiku tự do hơn (luật tự do riyu-ritsu).

alt

1. Đề tài:

Haiku hiện đại mở ra nhiều đề tài mới so với haiku cổ điển khiến hồn thơ mang hơi thở của cuộc sống hiện đại. Nếu haiku cổ điển hầu như chỉ giới hạn trong đề tài thiên nhiên thì haiku hiện đại có thể viết về tình yêu, tình dục, đề tài xã hội, …:

Ơ kìa chú quạ / mải mê ngắm nhìn / cô gái bên giếng tắm

Gyozui no / onna ni horeru / karasu kana (Shiki – Quỳnh Như dịch)

Haiku cũng có thể viết về những đề tài xã hội có vẻ ít chất thơ hơn như bom hạt nhân, động đất, sóng thần, hay đơn giản chỉ là mùa giảm giá hàng hóa:

Mùa giảm giá / vợ xa cách chồng / như Kyoshi đã từng

Seru wo kite / hufu hanarete / Kyoshi ni ari (Kyoshi – Quỳnh Như dịch)

2. Phá vỡ cấu trúc truyền thống:

Haiku mới không yêu cầu ngặt nghèo 5-7-5 truyền thống nữa do đó số lượng âm tiết trong một bài haiku hiện đại cũng không giới hạn nghiêm cẩn trong 17 âm. Nhà thơ có thể viết dài hơn hoặc ngắn hơn. Ví dụ bài thơ này của Kyoshi có 14 âm tiết:

Trong ánh mắt / gió mùa thu thổi / đều là thi ca

Aki kaza ya / ganchu no mono / mina haiku (5-5-4)

(Kyoshi – Quỳnh Như dịch)

Leo lên cây này / tôi sẽ thành thần nữ / giữa bạt ngàn lá đỏ chiều nay

Kono ki noberaba / kijo tonaru beshi / yuumomiji

(7-7-5) (M.Takajo – Lê Giang dịch)

3. Vô quý:

Trước kia, trong một bài haiku nhất thiết phải có quý ngữ tức là từ chỉ mùa thì giờ đây, nguyên tắc này không còn là bắt buộc. Nhà thơ có thể sử dụng quý ngữ, có thể không. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do cuộc sống của con người hiện đại không còn gắn bó chặt chẽ, không còn diễn ra nhịp nhàng theo mùa vụ tự nhiên nữa. Hơn nữa công nghệ sinh học phát triển, con người đã khiến các loại hoa quả xuất hiện quanh năm. Với con người hiện đại, nhiều loại thực vật đã không còn gắn với một mùa, không còn là biểu tượng cho một mùa nữa. Cho nên trong haiku, cách tân của Shiki không có quan niệm về kigo, thay vào đó là khái niệm “đề tài về mùa” (kidai-me).

4. Nghệ thuật tả thực:

Đây cũng là một con đường mới cho haiku hiện đại mà M.Shiki đã mở ra và sau này được Hekigodo đào sâu, trong khi haiku cổ điển của Basho thiên về tượng trưng, siêu thực. Khái niệm tả thực được Shiki mượn từ trong hội họa. Trong haiku hiện đai, tả thực mang nghĩa “tái sinh những gì như chính chúng đang có”, “lấy tả thực dựa vào quan sát hiện thực của tự nhiên hơn là sự chơi chữ hoặc sự tưởng tượng như haiku trước giờ vẫn làm”. Shiki đã đưa ra các quy định cho thuyết tả thực để hướng dẫn các haijin trẻ làm thơ như sau: “Bạn phải nhìn xuống ngay dưới chân mình và viết về những gì bạn thấy ở đó – cỏ, hoa đang nở. Chỉ cần viết về mỗi từ đó thôi, bạn đã có thể có đến 10 hoặc 20 bài thơ mà không cần di chuyển đi đâu cả. Hãy lấy tư liệu từ chính những gì đang ở xung quanh bạn – nếu bạn thấy bồ công anh, thì hãy viết về bồ công anh. Nếu đó là sương mù thì cứ viết về sương mù. Tư liệu cho văn chương là vô số những gì thuộc về bạn. Ngay cả đôi giày cũ cũng có thể trở thành tư liệu cho thơ văn còn hay hơn là viết về đôi giày của phương Tây…”2:

Mảnh trăng tròn / Trên trời đầy sao / Xanh thẳm

Suna hama ni / ashi ato / nagaki / haru hi kana (Shiki – Quỳnh Như dịch)

Tóm lại, thơ haiku Nhật Bản thời cận hiện đại có những cách tân mạnh mẽ về thi pháp. Đó là sự mở rộng tới những đề tài gần gũi hơn với đời sống như xã hội, tình yêu, tình dục, là sự phá vỡ cấu trúc truyền thống 5/7/5, không nhất thiết phải dùng quý ngữ, chú trọng nghệ thuật tả thực trong thơ. Tất cả những cố gắng đổi mới của các thi sĩ haiku cận hiện đại đã khiến haiku tiếp tục phát triển và lan toả theo hướng toàn cầu hoá. Tìm tòi sáng tạo không ngừng, không dừng lại ở những thành quả dù lẫy lừng tưởng chừng không thể vượt qua của tiền nhân, các nhà thơ haiku hiện đại đã đạt được những thành tựu mới rất đáng nể phục. Những thành công trong cách tân thơ haiku của họ là bài học lớn cho bất cứ sự sáng tạo nghệ thuật nào.

---

CHÚ THÍCH

1,2. Nguyễn Vũ Quỳnh Như – M.Shiki và haiku cận đại, Kỷ yếu HT Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và Nhật Bản, ĐHKHXH & NV, ĐHQG TP HCM, 2010.

Mai Liên

CLB Haiku Việt Hà Nội

Hương sắc Việt Nam trong Thơ Haiku Việt- Mai Liên

Thơ haiku là sản vật trân quý của xứ sở Phù Tang. Thơ haiku giống như loài hoa bồ công anh, đẹp một vẻ đẹp dung dị, đơn sơ, và khi vào độ chín, theo gió bay đi muôn phương. Những hạt giống haiku Nhật dù ở mảnh đất nào cũng nảy nở, sinh sôi thành vườn thơ đẹp bất chấp những hàng rào ngôn ngữ, văn hóa… Có một vườn thơ haiku như thế trên mảnh đất Việt Nam. Hạt giống haiku Nhật Bản được gieo trồng trên mảnh đất của xứ sở mà con người từ ngàn đời nay vẫn dành trọn tình yêu cho thi ca nên chẳng bao lâu đã đơm những nụ hoa, kết những trái ngọt đầu mùa. Hoa trái đầu mùa của haiku Việt kết tinh những hạt phù sa tâm hồn Việt, tỏa một hương sắc rất Việt Nam. Đọc haiku Việt, độc giả được sống giữa một không gian thiên nhiên, một không gian văn hóa, gặp gỡ những tâm hồn rất Việt Nam.

alt

  1. 1. Đề tài của haiku Việt là cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam

Thơ haiku Nhật Bản cổ điển thường viết về đề tài thiên nhiên qua bốn mùa được gọi là quý đề (kidai). Để biểu đạt mùa, thơ haiku thường dùng quý ngữ (kigo). Đó có thể là những từ trực tiếp chỉ mùa (gọi là quý ngữ trực tiếp) hoặc những hình ảnh, âm thanh đặc trưng biểu tượng cho mùa (gọi là quý ngữ gián tiếp). Quý ngữ chỉ mùa xuân trong haiku Nhật Bản thường là hoa anh đào, hoa mơ, hoa mận, liễu xanh, chim oanh, chim yến…, mùa hạ là con ve, chim quyên, hoa diên vĩ…, mùa thu là trăng, sương, tiếng dế, tiếng côn trùng…, mùa đông là cây tùng, tiếng ngỗng hoang, tuyết, cánh đồng hoang… Tiếp thu tinh thần ấy, thơ haiku Việt cũng viết về thiên nhiên bốn mùa nhưng là những cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam, là những hình ảnh, âm thanh rất đỗi thân thương đối với mỗi người dân Việt. Những âm thanh, hình ảnh dung dị của làng quê Việt chợt hiện lên trước mắt nhà thơ và bước vào trong thơ hết sức tự nhiên. Quê hương Việt Nam mộc mạc tiếng mõ trâu về trên đường thôn khua lốc cốc trong chiều sương. Trong làn sương chiều giăng mắc, trong tiếng mõ trâu, khung cảnh làng quê buổi chiều mênh mang nỗi buồn cô liêu:

Chiều sương

Mõ trâu về lốc cốc

Đường thôn (Bài 99 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Quê hương là tiếng chim cu gáy dặt dìu vời vợi trong chiều quê:

Dìu dặt cúc cù cu

Thả hồn quê

Vời vợi (Bài 62 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

là tiếng vạc kêu khan dưới ánh trăng tà cô liêu:

Trăng tà

Khan

Tiếng vạc (Bài 128 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

hay đơn giản là tiếng bầy muỗi lao xao bên đàn bò dưới gốc nhãn trong một chiều vàng ngả muộn:

Chiều vàng gốc nhãn

Bò lim dim

Nghe muỗi gẩy đàn (Bài 98 – Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Nhà thơ đã nghe, đã rung động và ghi lại với xiết bao tình yêu trìu mến những âm thanh đơn sơ, dung dị của quê nhà mà chúng ta, trong đời thường lao xao, vội vã có lúc đã không nghe thấy và vô tình hoặc cố tình lãng quên. Haiku Việt lắng bao tiếng quê hương thân thương đã nhắc ta điều ấy khiến ta không khỏi giật mình.

Thơ haiku Việt dẫn người đọc trở về với đồng lúa xanh, đàn cò trắng nơi làng quê thanh bình. Vẻ đẹp nên thơ ấy của làng quê được vun đắp bởi biết bao công sức của những người phụ nữ Việt Nam tần tảo, lam lũ. Bàn tay mẹ đã vẽ nên bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp:

Xuân về theo tay mẹ

đồng trải thảm xanh non

đàn cò trắng bay lượn (Haiku Việt 1/2013 - Phan Hữu Cường)

Làng quê Việt trù phú nằm kề bên những dòng sông, được sông bồi đắp phù sa, trao tặng vị ngọt làm nên mùa màng bội thu. Vì thế, con người trên mảnh đất ấy luôn gắn bó với những dòng sông. Hình ảnh dòng sông với bông lục bình tím là ấn tượng không phai trong tâm thức mỗi người Việt, gợi lên thân phận con người:

Lục bình trên sông

về đâu sắc tím

giữa đời mênh mông (Minh Trí – Ngọt vị phù sa)

Trong thơ haiku của Lưu Đức Trung, nỗi niềm thao thức quê hương được gợi lên từ sự thanh đạm, đơn sơ, dung dị của cảnh chiều quê thanh bình. Mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, con trâu chậm rãi bước đi trong yên ả. Con người an nhiên, tự tại giữa không gian thanh bình:

Chú bé ngồi vắt vẻo

con trâu chậm rãi

chiều quê (Tươi mãi với thời gian – Lưu Đức Trung)

Lấy cảm hứng từ bức tranh Đông Hồ vẽ cảnh mục đồng cưỡi trâu che đầu bằng chiếc lá sen, Nguyễn Văn Đồng tái hiện lại cảnh chiều quê thân thuộc:

Gió đồng mênh mông

lưng trâu tiếng sáo

lọng sen mục đồng (Nguyễn Văn Đồng – Dưới ngói âm dương)

Haiku Việt dắt ta về với ngôi nhà thân thuộc có mảnh sân ngày mùa và đàn sẻ nhẹ nhàng mổ thóc trong nắng. Màu vàng của thóc, màu vàng của nắng hòa quyện, khó phân biệt đâu là màu nắng, đâu là màu của thóc đang phơi:

Bước chân nhẹ nhàng

đàn sẻ mổ thóc

sân phơi nắng vàng (Hoa bốn mùa – Lưu Đức Trung)

  1. 2. Phong tục, tập quán Việt Nam

Bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên, trong thơ haiku Việt, những thuần phong, mĩ tục cũng được các nhà thơ giới thiệu qua những hình  ảnh rất gần gũi, thân thuộc. Đó là hình ảnh bếp lửa bập bùng với nồi bánh chưng đang sôi trong mỗi nhà ngày cuối năm:

Bếp lửa bập bùng

nồi bánh chưng

chờ vớt (Haiku Việt 1/2013 – Nguyễn Hoàng Lâm)

Đó là tục tảo mộ “thanh minh trong tiết tháng ba” tưởng nhớ người đã khuất – một mĩ tục thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” thủy chung của người Việt Nam:

Mồ cỏ xanh biếc

khói hương thương tiếc

thanh minh (Haiku Việt 1/2013 – Nghiêm Xuân Đức)

Tục thắp hương phút giao thừa cúng trời đất, ông bà tổ tiên vừa để bày tỏ sự cảm tạ trời đất, ước vọng một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt cho mọi nhà cũng vừa thể hiện lòng biết ơn ông bà tổ tiên, đạo lí uống nước nhớ nguồn ấy:

Giao thừa tới

Thắp nén hương

Hai năm chung một khói (Haiku Việt 1/2013 – Trần Nguyệt Lâm)

Với mong ước một năm mới tình cảm sắt son, đậm đà, xua đi mọi tà ma, xú uế, mang về nhiều may mắn, an lành, người Việt có tục mua muối đầu năm. Những người diêm dân bán muối tranh thủ sớm mùng Một bán hàng trong lúc nhà nhà còn mơ màng sau những phút vui xuân, đón giao thừa. Lắng nghe tiếng rao: “Ai muối?”, Đỗ Tuyết Loan ngậm ngùi cho những diêm dân vất vả quanh năm, bán muối mang lại may mắn cho mọi nhà mà cuộc sống của chính họ lại hết sức bấp bênh, nghèo khó:

Giao thừa vui, dậy muộn

Tiếng rao: “Ai muối?”

Chập chờn trong mơ (Haiku Việt 1/2013 – Đỗ Tuyết Loan)

  1. 3. Haiku Việt ca ngợi vẻ đẹp con người Việt Nam

Trong thơ haiku Việt, con người Việt Nam hiện lên hiền lành chân chất mà rất đỗi thủy chung, kiên cường, lạc quan. Haiku Việt nhắc nhớ nhiều về mẹ - hình tượng mang những phẩm chất tiêu biểu cho con người Việt Nam. Hình ảnh mẹ trong thơ haiku không phải là những tượng đài kì vĩ mà nhỏ bé, dịu dàng, chịu thương chịu khó, âm thầm hi sinh, hết lòng vì con. Mẹ để lại những kỉ niệm không bao giờ phai nhạt trong kí ức mỗi con người, trước hết là tiếng ru con ngủ ầu ơ. Bên cánh võng, tiếng ru của mẹ cho con cảm nhận đầu tiên về quê hương, về yêu thương. Lớn lên, xa dần cánh võng, xa dần mái nhà xưa, đi khắp bốn phương trời, được nghe biết bao âm thanh mới lạ của cuộc đời nhưng nhà thơ vẫn nhớ tiếng ru của mẹ bên võng ngày xưa:

Cung đàn koto dìu dặt

Nâng ta về

Bên võng mẹ - ngày xưa (bài 132– Trăng bùa – Đinh Nhật Hạnh)

Đúng là “Ta đi trọn kiếp con người/ Vẫn không đi hết mấy lời mẹ ru” (Nguyễn Duy). Tình mẹ, tình quê hương nâng bước ta đi trọn cuộc đời.

Người mẹ Việt Nam chịu thương chịu khó, tần tảo sớm hôm nuôi nấng, chăm sóc các con khôn lớn. Hình ảnh người mẹ ngồi khâu áo cho con không bao giờ phai nhạt trong tâm trí các con:

Nhặt cây kim rỉ

Mắt lệ nhòa

Áo con rách vai (Lưu Đức Trung – Bốn mùa hoa)

Bài thơ gợi cho chúng ta cảm nhận được cái thăm thẳm của chiều thời gian. Thời gian vời vợi có thể làm phai tàn tất cả nhưng bất lực trước tình cảm nhà thơ dành cho mẹ. Từ thực tại với hình ảnh cây kim rỉ trước mắt, nhà thơ nhớ về những kỉ niệm thời ấu thơ khi còn mẹ, được mẹ chăm sóc từ miếng cơm manh áo. Hình ảnh người mẹ tần tảo trên cánh đồng được nhà thơ Nguyễn Duy Quý khắc họa trong câu thơ:

Chiều rộng

Đồng xa

Mẹ già chưa nghỉ (Nguyễn Duy Quý – Haiku Việt 1/2013)

Hình ảnh người mẹ không ngơi tay được đặt trong bối cảnh không gian và thời gian “xa”, “rộng” trở nên nhỏ bé, gợi trong ta biết bao niềm thương nỗi nhớ. Cũng khắc khoải về những vất vả, lo toan thường nhật của mẹ, Lê Văn Truyền lại dùng hình ảnh “đôi quang” trên vai mẹ như một biểu tượng cho sự lam lũ nhưng cũng thật đảm đang, mạnh mẽ, kiên cường trước gánh nặng cuộc đời của mẹ:

Đôi quang

Mẹ gánh gồng

Bao nợ nần cuộc sống (Lê Văn Truyền – Haiku Việt 1/2013)

Nhà thơ Lê Đình Công dùng hình ảnh cánh vạc lặn lội giữa đồng khuya để so sánh với mẹ:

Đồng khuya

Cánh vạc

Mẹ già (Lê Đình Công – Thơ haiku Việt tuyển tập)

Mẹ yêu thương, chi chút cho con từ gói bỏng ngô:

Hình bóng mẹ

Gói bỏng ngô đầu tiên

Để dành ngày mai (Đinh Trần Phương – Cánh trăng)

Hay gom góp chút nắng ấp ủ cho con trong những ngày lạnh giá:

Gom nắng chợ quê

Ôm con hết cóng

Lưng mẹ còng (Nguyễn Văn Đồng – Dưới ngói âm dương)

Thủy chung son sắt, một vẻ đẹp của người Việt Nam cũng được thể hiện trong haiku Việt. Đi nhiều nơi, thưởng thức nhiều hương vị ẩm thực mới lạ, nghe nhiều thứ tiếng khác nhau, nhà thơ vẫn nhớ về những hương vị mộc mạc của quê nhà qua qủa cà, miếng nhút, miếng cơm nắm muối vừng..., nhớ cha mẹ một nắng hai sương, nhớ âm sắc quê hương da diết:

Nhấm nha miếng nhút

Mặn giọt mồ hôi

Mẹ cha ngày ấy! (Haiku Việt 1/2013 - Lê Đăng Hoan)


Trôi dạt phương trời xa

Nhớ mặn mòi cà nhút

Nhớ âm sắc quê nhà. (Haiku Việt 1/2013 - Nguyễn Bao)

Vị cơm nắm muối vừng

Dắt tay ta

Vào kí ức (Lê Văn Truyền – Haiku Việt 1/2013)


Lạc phố

Mùi cơm ngõ nhỏ

Dắt ta về (Haiku Việt 1/2013 – Vương Trọng)

Dù đi đâu, nhà thơ cũng mong muốn được trở về quê, soi mình trong đáy giếng và tìm lại hình bóng tuổi thơ trong trẻo ở đó.

Về quê nhà

Soi mình đáy giếng

Những ngày ấu thơ (Lưu Đức Trung – Bốn mùa hoa)

Âm vang của một thời đạn lửa khốc liệt với nhiều hi sinh mất mát với những con người dũng cảm, sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc được phản ánh hàm súc trong haiku Việt:

Trăng lạnh

Nghĩa trang

Đồng đội xếp hàng (Lý Viễn Giao)

Nhà thơ – người chiến sĩ năm xưa trở về thăm những người đồng đội cũ đã hi sinh vì đất nước. Dưới ánh trăng, nhìn những nấm mộ liệt sĩ xếp hàng ngay ngắn, nhà thơ cảm thấy như đồng đội của mình vẫn đang xếp hàng sẵn sàng lên đường ra trận. Tinh thần chiến đấu “chỉ tiến không lui” của những người lính dường như vẫn còn hiện diện, tại đây, trong nghĩa trang này. Họ hi sinh nhưng linh hồn của họ dường như vẫn hiển linh, phù hộ cho đồng đội, cho đất nước, cho dân tộc mãi trường tồn:

Ánh nến lung linh

Hàng hàng thẳng tắp

ĐỒNG ĐỘI hiển linh (Nguyễn Văn Đồng – Dưới ngói âm dương)

Thơ haiku Việt ca hát về vẻ đẹp Việt Nam, về cái đẹp của thiên nhiên gấm vóc, của những thuần phong mĩ tục, của tâm hồn, tính cách con người Việt Nam ngay thẳng, bình dị mà cao quý vô ngần. Và như vậy, “haiku Việt ôm choàng cuộc sống trong mọi nẻo đời. Ở đây và bây giờ” (Nhật Chiêu – Nắng mới lên từ thơ haiku). Những âm giai Nhật Bản và tâm hồn lục bát Việt Nam hòa quyện tạo thành một bản “hòa âm” mới “đa thanh”, đem đến cho con người tình yêu và niềm tự hào về quê hương, đất nước mình.

ML

Tiếp nhận Thơ Haikư ở Việt Nam

Haiku là thể thơ Thiền độc đáo, giàu tính trí tuệ và tinh thần nhân văn. Thể thơ ngắn nhất thế giới này được coi là tinh hoa của thơ ca và văn học Nhật Bản - nền văn học tôn thờ thiên nhiên và cái Đẹp.

alt

Hiện nay, Haiku đã trở thành thể thơ Quốc tế (World Haiku), được yêu chuộng trên thế giới, được nhiều nước đón nhận và sáng tác haiku bằng chính ngôn ngữ của mình. Trong đó, có Việt Nam. Sau mấy thập kỷ chính thức du nhập vào Việt Nam, Haiku đã thực sự bén duyên trên mảnh đất Việt vốn giàu truyền thống thi ca.

Nếu như thơ Đường Trung Quốc là thể thơ du nhập sớm nhất tồn tại trong văn học Việt Nam cả ngàn năm nay, thì Haiku Nhật Bản là thể thơ ngoại nhập thứ hai tuy chỉ mới du nhập vào Việt Nam khoảng nửa thế kỷ. Tuy nhiên, ngày nay thơ Đường không được sáng tác nhiều. Trong khi đó, haiku lại đang được người Việt đón nhận nồng nhiệt. Sự hội nhập và phát triển của thơ haiku trên đất Việt là minh chứng cho thành công của quá trình giao lưu văn hóa Việt - Nhật, hai đất nước vốn có nhiều điểm tương đồng về văn hóa.

Vậy, haiku đã du nhập vào Việt Nam từ khi nào và bằng những con đường nào; thể thơ này đã được người Việt tiếp nhận và phát triển ra sao; hiện nay nó có vai trò gì trong đời sống thơ ca nói riêng, văn học nói chung ở Việt Nam?

Quá trình du nhập của thơ Haiku vào Việt Nam

Tại Việt Nam, từ trước năm 1945 đến năm 1975, một số nhà thơ, trí thức lớn ở nước ta như Vũ Hoàng Chương, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Tường Minh, Ngô Văn Tao, Bùi Giáng và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là những người đã tiếp cận thơ Haiku từ rất sớm. Sự phát triển của nền văn hóa, học thuật miền Nam lúc bấy giờ đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi và tiền đề thúc đẩy quá trình dịch thuật, giới thiệu tinh hoa văn học, văn hóa nước ngoài, trong đó có văn học Nhật Bản - một cường quốc đang lớn mạnh ở Phương Đông lúc bấy giờ. Việc du nhập haiku nằm trong xu hướng chung ấy. Sớm nhất, phải kể đến một số bài dịch thơ haiku trong bài viết Thi văn Nhật Bản với phong trào Âu hóa đăng trên báo Sài Gòn của Hàn Mạc Tử (1936). Đầu thập niên 1970, các bản dịch thơ haiku bằng tiếng Anh của H.G. Henderson được Tuệ Sỹ, Nguyễn Tường Minh dịch sang tiếng Việt. Hai tác phẩm xuất bản sớm nhất phải kể đến đó là: Hòa ca (nhiều tác giả). Bản dịch của Nguyễn Tường Minh. Sài Gòn Sông Thao, 1971. Và Luyến ca (nhiều tác giả) Bản dịch của Nguyễn Tường Minh. Sài Gòn Sông Thao (1972).

Từ sau năm 1975, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu là người đã có công làm cho thơ Haiku được biết đến nhiều hơn ở Việt Nam khi ông lần lượt xuất bản những công trình nghiên cứu công phu về thơ haiku. Công trình đầu tiên của ông là Basho và thơ haiku do Khoa Ngữ văn báo chí, NXB Tổng hợp Tp.HCM xuất bản năm 1994. Sau đó là hàng loạt những công trình khác về haiku và thơ ca Nhật Bản: Nhật Bản trong chiếc gương soi (NXB Giáo Dục, 1995); Thơ ca Nhật Bản (NXB Giáo Dục, 1998); Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868. (NXB Giáo Dục, 2003); Ba ngàn thế giới thơm, (NXB Văn Nghệ 2007).

Bên cạnh đó, cũng có một số công trình của một số dịch giả khác như: Basho - Con đường hẹp thiên lí. Bản dịch của Hàn Thủy Giang. NXB Hà Nội, 1998; Basho, Lối lên miền Oku, NXB Thế Giới, 1999. Vĩnh Sính dịch; H.G. Henderson: Hài cú nhập môn. Lê Thiện Dũng dịch. 2000. NXB Trẻ; Haiku - Hoa thời gian, Lưu Đức Trung - Lê Từ Hiển (biên soạn), NXB Giáo Dục 2007.

Các công trình nghiên cứu trên đã đặt nền tảng lí thuyết về haiku ở Việt Nam. Từ đó, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện, bao quát hơn về một thể thơ vốn còn khá xa lạ với người Việt. Những công trình của Nhật Chiêu đã đóng góp quan trọng vào việc giảng dạy và phổ biến thơ Haiku ở nước ta. Nhật Chiêu không chỉ là nhà nghiên cứu mà còn là dịch giả nổi tiếng với những bản dịch haiku để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc qua nhiều thế hệ. Ở Việt Nam, ông được coi là "ông hoàng của thơ Haiku", người khơi nguồn mạch haiku trên đất Việt.

Cột mốc khá quan trọng, đánh dấu việc haiku được công nhận một cách chính thức ở Việt Nam là sự kiện năm 2002, khi thơ Haiku được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam đưa vào giảng dạy chính thức ở chương trình lớp 10, Trung học Phổ Thông, qua sự giới thiệu của PGS. Lưu Đức Trung và PGS.TS. Đoàn Lê Giang.

Tiếp sau đó, vào năm 2007, PGS. Lưu Đức Trung đã thành lập Câu lạc bộ Haiku Việt Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là CLB Haiku đầu tiên ở Việt Nam vào thời điểm đó. Câu lạc bộ đã mở ra một sân chơi bổ ích cho những người yêu thơ haiku trên mọi miền đất nước. Đến nay, sau 7 năm hoạt động đã có những thành quả nổi bật: 10 số chuyên san đã được xuất bản; hàng chục tập thơ của các thành viên trong CLB, với hàng trăm thành viên, cộng tác viên trên khắp mọi miền đất nước. Câu lạc bộ Haiku Việt Tp.HCM với Chủ nhiệm là PGS. Lưu Đức Trung; cố vấn chuyên môn là nhà nghiên cứu Nhật Chiêu, đã thực sự tạo ra một hiệu ứng thơ haiku trên toàn quốc.

Đến nay, ở Hà Nội cũng đã có CLB Haiku Việt Hà Nội, và đây là câu lạc bộ Haiku Việt thứ hai ở Việt Nam, cũng đang hoạt động tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển haiku ở Việt Nam.

Năm 2010, Lãnh sự quán Nhật Bản tại thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên phát động cuộc thi sáng tác thơ Haiku ở Việt Nam, mở ra một phong trào sáng tác Haiku trên cả nước. Đây là cuộc thi lớn, được tổ chức định kỳ hai năm một lần ở nước ta. Đến nay, cuộc thi đã 3 lần được tổ chức và ngày càng thu hút sự tham gia của đông đảo người yêu thơ.

Có thể nói haiku không còn là thể thơ xa lạ đối với người Việt nữa. Rất nhiều người yêu thích, đọc haiku, sáng tác haiku và nghiên cứu chuyên sâu về thể thơ này. Đã có những bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí Văn học chuyên ngành, những luận văn tốt nghiệp Đại học, luận văn Thạc sĩ và cả Luận án tiến sĩ nghiên cứu về Haiku. Haiku trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của một bộ phận trí thức và những người yêu thơ văn ở Việt Nam.

Đặc điểm tiếp nhận Haiku ở Việt Nam

Việc tiếp nhận thơ haiku ở Việt Nam không chỉ thông qua con đường giới thiệu, dịch thuật, nghiên cứu mà thể hiện rõ nhất ở phương diện sáng tác thơ haiku bằng tiếng Việt.

Thông qua việc đối chiếu haiku Việt và haiku Nhật, có thể tìm thấy đặc điểm tiếp nhận haiku của người Việt Nam. Khi so sánh, đối chiếu haiku Việt và haiku Nhật, chúng tôi nhận thấy có một số điểm đáng lưu ý sau:

1. Đề tài

Haiku Nhật

- Đề tài về thiên nhiên chủ đạo

- Có đề tài về thế sự nhưng không nhiều

- Đặc biệt, không có đề tài tình yêu.

Haiku Việt

- Đề tài chính vẫn là thiên nhiên nhưng mở rộng rất nhiều mảng đề tài thế sự: tình mẫu tử, phụ tử, tình thầy trò, chồng vợ, tình yêu, bạn bè, tình yêu Tổ quốc ...

- Đặc biệt, đề tài tình yêu.

1.1. Đề tài về thiên nhiên trong thơ haiku Việt vẫn chiếm vai trò chủ đạo. Và nhìn chung, thiên nhiên vẫn là mảng quan tâm lớn nhất của các haijin Việt. Tuy nhiên, vì có sự khác biệt về thiên nhiên, địa lí và thổ nhưỡng, khí hậu giữa hai nước nên haiku Việt có những hình ảnh thiên nhiên (quý ngữ chỉ mùa) khác với haiku Nhật. Bên cạnh việc mượn những hình ảnh thiên nhiên ở Nhật như: hoa anh đào, tuyết, lá phong thì haiku Việt tràn ngập các hình ảnh đặc trưng cho thiên nhiên xứ sở Việt Nam với những hình ảnh quen thuộc như: rau muống, hoa phượng, lũy tre, hương bưởi, hoa quỳnh, hoa sứ...

"Lũy tre/ kẽo kẹt/ tiếng võng trưa hè" (Thái Trọng)

"Hương bưởi đâu đây/ thơm lây ngọn gió/ tương tư tóc dài" (Vũ Tam Huề)

"Tạ lòng tri âm/ thâu đêm ai đợi/ quỳnh buôn trắng ngần" (Nguyễn Bao)

"Trên cành phượng nhỏ/ ngàn đôi môi đỏ/ hát giữa thiên thanh" (Phượng Nhi)

Có thể thấy ở phương diện đề tài thiên nhiên, các nhà thơ haiku Việt mở rộng đề tài mà không giới hạn biên độ. Bất kể hình ảnh nào của thiên nhiên, xứ sở Việt cũng có thể được đưa vào thơ. Các nhà thơ Việt dường như cũng không quan tâm lắm đến chuyện "mùa nào thức ấy" một cách chặt chẽ như trong haiku Nhật mà luôn biến hóa uyển chuyển, đa dạng trong thơ.

1.2. Về đề tài thế sự, có thể thấy haiku Việt rất mạnh ở điểm này. Bất kỳ vấn đề gì trong cuộc sống con người cũng đều được các nhà thơ sáng tác thành haiku.

Đó có thể là hình ảnh những chàng trai bao trong cuộc sống đô thị hiện đại như trong thơ Đông Tùng: "Những chàng trai bao/ đêm về trên phố/ bất chợt mưa rào".

Đó cũng có thể là chuyện kẹt xe - hình ảnh quen thuộc với tình trạng giao thông ở Việt Nam: "Nắng hè/ kẹt xe/ thèm tiếng ve". (Võ Văn Nam)

Hay những tình cảm giữa người với người mà ít thấy trong haiku Nhật: như tình thầy trò: "Rời nhà thầy/ nắng rẽ mây/ khai sáng" (Quỳnh Trang), tình cha con: "Mồ hôi/ kết thành muối mặn/ trắng lưng cha" (Thu Nở) và tình bạn bè: "Tiễn bạn bên rừng/ bỗng dưng khóe mắt/ đầy ánh trăng xuân" (Đông Tùng) ...

1.3. Nhưng có lẽ điều đặc biệt nhất trong haiku Việt đó là sự xuất hiện và "lên ngôi" của đề tài tình yêu. Điều này có thể làm cho những ai quen đọc thơ haiku Nhật cổ điển sẽ thấy "buồn cười", nhưng chúng ta hãy nhớ rằng Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên biến haiku thành thơ tình. Ở Mỹ đã có hẳn dòng Erotic haiku (haiku tình yêu, haiku nhục cảm) và được đón nhận rộng rãi:

"Đang giữ anh/ bên trong em nồng ấm/ tiếng chim sẻ vang lừng"

(Virgil)

"Sâu thẳm/ tôi vào bên trong/ và răng nàng hé sáng"

(Ruth Yarrow)

(Nhật Chiêu dịch)

Vì vậy, haiku về tình yêu ở Việt Nam không phải là hiện tượng hy hữu, ngoại lệ. Trái lại, nó thể hiện được đặc tính tâm lí của người Việt: thích tỏ tình bằng thơ. Ở Nhật, tanka là thể thơ chỉ dành riêng cho việc thể hiện tình cảm luyến ái. Ở Việt Nam, thể thơ lục bát của dân tộc cũng có thể được coi là rất phù hợp cho tiếng nói tình yêu nam nữ. Nhưng dường như nó vẫn chưa đủ với tâm tình của người Việt, vì vậy mà khi haiku du nhập, rất nhanh chóng người Việt đã thổi luồng gió mới là đề tài tình yêu vào trong thơ. Và thật bất ngờ khi dường như haiku Việt đã thành công ở điều này. Nhiều bài haiku thể hiện tình yêu một cách ý nhị, tinh tế... nhưng không làm mất đi tinh thần haiku:

"Nép vào trăng cao/ một bờ môi nhỏ/ cùng ta đêm nào" (Thiên Bảo)

"Em tặng riêng tôi/ nụ hoa son đỏ/ mọc trên đỉnh đồi" (Minh Trí)

"Cúc áo bung ra/ trắng ngần/ hạ đến" (Đức Việt)

"Trăng mờ/ leo đồi/ vướng gai trinh nữ" (Lưu Đức Trung)

"Cúp điện/ em ngủ ngon lành/ gió từ tay anh" (Thanh Tùng)

"Em lên mười sáu/ hương sắc đong đầy/ nguyệt tràn hiên mây" (Đông Tùng)

2. Hình thức thơ

Nhìn chung, thơ haiku Việt vẫn giữ được tinh thần cơ bản về mặt hình thức của haiku Nhật, đó là tính cực ngắn, cô đọng, hạn chế tối đa số lượng từ ngữ.

Haiku Nhật, như đã biết, một bài thơ có 17 âm tiết, được ngắt nhịp 5/7/5 và trong suốt mấy thế kỷ hình thành và phát triển, dường như chưa bao giờ nó ra ngoài quy phạm ấy.

Tuy nhiên, đến Việt Nam, do đặc điểm loại hình ngôn ngữ khác nhau nên bài haiku Việt thường không thể theo cấu trúc ngắt nhịp 5/7/5 như haiku Nhật. Một bài haiku Việt có số lượng tiếng/ âm tiết tối đa là 17 (đây cũng chỉ là quy ước tạm thời). Và cách ngắt dường như không có giới hạn. Thiết nghĩ điều này khá thú vị bởi số lượng âm tiết trong một bài, hay cách ngắt nhịp trong từng bài thường tùy thuộc vào mạch cảm xúc của người viết. Vì vậy haiku Việt thường không cố định cách ngắt nhịp hay số chữ/ âm tiết.

Nhịp 1/1/ 3: "Đàn/ đứt/ một tiếng buồn" (Lưu Đức Trung)

2/2/2: "Bà lão/ liêu xiêu/ nắng chiều" (Minh Vi)

2/1/4: "Sài Gòn/ mưa/ oằn mình phố ngập" (Trần Xuân Tiến)

4/3/4: "Trên lá môn non/ giọt sương đọng/ vầng trăng tí hon" (Trần Đức Việt)

4/4/4: "Lau trắng ven đồi/ lặng nhìn lữ khách/ trong màn mưa rơi" (Nhã Trúc)

Cách ngắt nhịp 3/3/3 hay 4/3/3 hay 4/4/4 là cách ngắt nhịp phổ biến và được ưa chuộng nhất trong haiku Việt. Tại sao lại có hiện tượng này? Có lẽ đây là điều thú vị liên quan tới nhiều vấn đề. Tuy nhiên, trong giới hạn bài viết này, chúng tôi chưa thể khảo sát, phân tích hết. Cũng như việc thống kê số lượng cách ngắt nhịp trong một bài haiku Việt, chúng tôi xin hẹn ở một bài viết khác.

Nhìn chung, về mặt hình thức (chủ yếu là số lượng âm tiết và cách ngắt nhịp) trong haiku Việt có sự khác biệt so với haiku Nhật. Haiku Việt đã thoát ra khỏi cái khuôn khổ giới hạn, quy định vốn có của haiku Nhật, thể hiện sự tự do, phóng khoáng trong hình thức sáng tạo. Tuy nhiên, điều quan trọng làm nên tinh thần của haiku là "tính cực ngắn" trong câu chữ, các nhà thơ haiku Việt vẫn luôn cố gắng giữ được trong sự uyển chuyển, tinh tế và sống động nhất có thể của ngôn ngữ Việt. Đây cũng là một thử thách đối với các haijin.

Về vấn đề "vần" trong thơ haiku Việt, đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng haiku không nên có vần (vì thơ Nhật ít/không có gieo vần trong một câu haiku mà chỉ có từ ngắt). Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc gieo vần trong thơ haiku Việt sẽ làm cho bài thơ hay hơn, dễ nhớ hơn.

Trên thực tế, cái hay của một bài haiku là ở tứ thơ và ý nghĩa Thiền vị của nó tạo ra qua hình ảnh, ngôn từ. Việc gieo vần hay không nhìn chung không ảnh hưởng nhiều đến nội dung, tứ thơ. Có những bài haiku Việt không gieo vần nhưng vẫn rất hay vì nó mang đậm tính Thiền, đi vào chiều sâu của sự suy nghiệm và nắm bắt khoảnh khắc:

"Uống quả dừa/ hút đại dương/ vào vũ trụ" (Lưu Đức Trung)

"Trong nắng mai/ giọt sương tự hỏi/ tan rồi hay chưa?" (Thanh Tùng)

"Vỏ sò trên vách núi/ con sóng nào/ nổi trôi" (Mai Liên)

Tuy vậy, xu hướng làm thơ haiku gieo vần ngày càng thu hút nhiều haijin hơn. Không phải vì gieo vần trong thơ haiku dễ dàng hơn việc không gieo vần, mà có lẽ vì những bài haiku gieo vần đọc lên nghe âm vang, dễ đi vào lòng người đọc hơn. Cùng một tứ thơ nhưng với bài haiku gieo vần, người đọc sẽ thích nghe bài có gieo vần hơn. Có lẽ đọc thơ có vần điệu cũng đã trở thành một thói quen của người Việt. Bản thân tiếng Việt vốn đa thanh nên việc gieo vần có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên, không phải bài haiku nào gieo vần cũng hay. Việc gieo vần phải tự nhiên, phù hợp với tứ thơ, tư tưởng, tình cảm trong thơ. Khi nội dung và hình thức hòa quyện với nhau, ngôn ngữ gọi đúng tên tình cảm, cảm xúc mới có thể có những bài haiku gieo vần hay, tự nhiên. Một số nhà thơ haiku gieo vần hay hiện nay có thể kể đến như Đông Tùng, Thái Trọng, Thùy Nhung...

Theo nhịp chuông lay/ tương phùng một thoáng/để rồi mây bay. (Đông Tùng)

"Chiếc quạt ngang trời/ cánh diều nhỏ/ cho mùa hạ vơi" (Thái Trọng)

"Soi bóng dưới ao/ đất trời lộn ngược/ thân ta chốn nào" (Thùy Nhung)

"Trăm năm ơi/ kiến bò miệng chén/ người leo vách đời". (Thùy Nhung)

Với những bài thơ được gieo vần như vậy, chúng ta thấy "vần điệu" đã làm cho tứ thơ đẹp hơn, hay hơn và tạo ra ấn tượng mạnh với người đọc. Đôi lúc người đọc sẽ nhớ ngay từ lần đầu tiên được nghe. Tuy nhiên, việc gieo vần cũng cần chú ý không nên quá lạm dụng hoặc gieo vần gượng ép. Vì nếu không sẽ tạo ra tác dụng ngược lại, dễ đưa haiku vào chỗ nhàm chán, trùng lặp về mặt tiết tấu, hạn chế khả năng sáng tạo hình ảnh thơ.

3. Tinh thần Thiền tông

Tinh thần Thiền tông chính là yếu tố quan trọng nhất làm nên giá trị, vẻ đẹp của thơ haiku. Yếu tố Thiền trong thơ haiku thường được thể hiện qua những khoảnh khắc "đốn ngộ"của thi nhân về đời sống: sự bình đẳng, vô sai biệt; sự hòa hợp giữa tiểu ngã và đại ngã, mối tương giao giữa con người và vũ trụ, khoảnh khắc và thiên thu... Không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các nhà thơ haiku vĩ đại của Nhật Bản đều là những Thiền giả uyên thâm. Basho là nhà thơ và cũng là thiền sư."Đỉnh mây/ tan bao nhiêu cụm/ cho trăng lên đầy" (Basho)

Bài haiku trên của Basho không chỉ là hình ảnh thiên nhiên đẹp, kì vĩ của vũ trụ mà đó còn là một công án Thiền với ý vị uyên thâm. Yếu tố Thiền, tinh thần Thiền là điểm khó nhất trong thơ haiku. Đây thật sự là thử thách với bất kì haijin nào.

Một số nhà thơ haiku Việt Nam đã có được những bài thơ thật sự hay, mang đậm thiền vị. Nhưng quả thật, số này không nhiều.

"Mảnh ngói rơi/ giật mình/ ánh trăng soi" (Lưu Đức Trung)

Bài thơ là khoảnh khắc con người đối diện với cái đẹp. Mảnh ngói vô tình rơi xuống, đồng thời là cơ hội để tâm hồn con người có thể phá củi xổ lồng, thể nhập vào vũ trụ vô biên bên ngoài. Khoảnh khắc ấy, nếu không mở rộng lòng ta, "thức nhọn giác quan" thì không dễ gì có được.

"Trên lá môn non/ giọt sương đọng/ vầng trăng tí hon" (Trần Đức Việt)

Bài thơ đoạt giải nhất trong Cuộc thi thơ haiku Lần thứ 3 của tác giả Trần Đức Việt cũng là một bài thơ đẹp, đậm đà Thiền vị. Giọt sương nhỏ đọng trên lá môn non, ít ai để ý nhưng nó cũng có thể bao chứa cả vầng trăng - vẻ đẹp lớn lao của vũ trụ trong hình ảnh của nó. Thiền vị trong thơ haiku là điều không thể có được trong một sớm một chiều. Haijin cần trau dồi những kinh nghiệm Thiền học, kinh nghiệm đời sống, sự nhạy bén, tinh tế trong cảm xúc, và đặc biệt là luôn giữ được một tâm hồn nguyên sơ, trong sáng với cái nhìn "vô sai biệt", cái nhìn trẻ thơ trước cuộc sống.

Chính vì vậy mà haiku - hài cú đạo còn là "con đường tâm linh" cho mỗi chúng ta. Những bài thơ nhỏ bé như hạt cát, như bông hoa dại, như hạt bụi giữa ánh sáng mặt trời... ấy có thể đánh thức sức mạnh tinh thần, đời sống tâm linh cao cả trong mỗi người, đó cũng là điều chúng ta thường đánh mất trong một cuộc sống hiện đại trong sự tràn ngập những máy móc, thiết bị công nghệnhư ngày nay.

KẾT LUẬN

Tiếp nhận thơ Haiku ở Việt Nam đã trải qua một quá trình khá dài nhưng haiku chỉ thực sự được biết đến và ảnh hưởng đến độc giả vào những thập niên 70 - 80 của thế kỉ XX. Sang đầu thế kỉ XXI, với tâm huyết của những nhà khoa học, người yêu thơ haiku, haiku Nhật đã thực sự bén rễ và phát triển mạnh thành một trào lưu như ngày nay. Mấy thập kỷ của haiku so với 1000 năm du nhập vào Việt Nam của thơ Đường, con số ấy quả là chênh lệch. Tuy nhiên, với những gì mà haiku đã và đang mang lại cho đời sống thơ ca, đời sống tinh thần của người Việt, chúng ta có quyền hy vọng về một tương lai bền vững cho haiku nói riêng, cũng như cho mối quan hệ hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Nhật nói chung.

LƯU ĐỨC TRUNG - NGUYỄN BÍCH NHÃ TRÚC

(Nguồn: Tạp chí Thơ- HNV)

Cao Ngọc Thắng với nỗi ưu tư của người đàn bà- Nguyễn Thị Phương Anh

alt

Không phải ngẫu nhiên mà haiku được gọi là "thơ của khoảnh khắc". Đó là lúc tác giả bất chợt "chớp" được một trạng thái của cảnh vật hay của con người... Nó có khả năng tác động mạnh vào tình cảm, đem lại cho người đọc sự nhận thức mang tính đột phá. Tôi tin rằng Cao Ngọc Thắng đã có được cái khoảnh khắc thần thái ấy để viết nên bài thơ:

" Từ chợ về nhà

những người đàn bà

nét mặt ưu tư."

Với 12 âm tiết chia đều cho 3 dòng thơ, Cao Ngọc Thắng đưa người đọc đến một hoạt động rất đỗi đời thường của "những người đàn bà" trong gia đình. Đó là đi chợ. Hẳn ai ai cũng đã rất quen hình ảnh người bà, người mẹ, người vợ, người chị... hàng ngày đến chợ mua bán. Họ mua những thực phẩm, đồ dùng thiết yếu cho cuộc sống sinh hoạt của bản thân và gia đình, hoặc buôn bán những vật phẩm phục vụ cho mọi người, kiếm đồng tiền lời lãi mưu sinh. Nhờ có sự đảm đang tháo vát, khéo léo chi tiêu của họ mà ngôi nhà của chúng ta quanh năm đỏ lửa, với những bữa cơm ấm áp tình gia đình.

Thông thường, người ta ít để ý hay quan tâm đặc biệt tới những gì đã trở nên quen thuộc. Việc đi chợ vì thế đã không thành điều đáng để suy nghĩ của nhiều người, cả khi có bên mình những người phụ nữ biết âm thầm chịu đựng, lặng lẽ lo toan, hi sinh vì chồng vì con. Họ vẫn vô tư ăn, mặc, chơi, đưa cho bà, cho mẹ, cho vợ... số tiền đóng góp cố định hàng tháng và coi đó là hoàn thành nghĩa vụ với gia đình...

Nhưng cuộc sống đâu chỉ "trời yên bể lặng". Chợ là nơi hứng chịu đầu tiên của những biến động giá cả, nhất là trong thời buổi kinh tế thị trường. Vui khi mua được đồ ngon giá rẻ. Buồn lúc chịu giá đắt đỏ, phải bớt xén việc chi tiêu. Sợ nhất là tiền có trong tay không lo nổi nhu cầu tối thiểu trong nhà... Tôi đã từng là đứa trẻ hàng ngày ngóng mẹ đi chợ về. Vui biết bao khi được mẹ mua quà, dẫu chỉ là cái bánh đa hay quả ổi, quả chuối... Và buồn thiu khi trong làn của mẹ chỉ là cân muối, chai nước mắm và mớ cá tép để kho ăn dần. Nỗi ưu tư lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt mẹ. Những bữa cơm đạm bạc thiếu vắng tiếng cười...

Hẳn Cao Ngọc Thắng đã từng có trải nghiệm như vậy lúc còn nhỏ. Lớn lên, lập nghiệp, trở thành người chồng, người cha, hàng tháng đưa tiền lương cho vợ lo toan cuộc sống gia đình. Chắc chắn đã hàng ngàn lần ông thấy cảnh đi chợ về chợ của người phụ nữ. Đã quen. Rất quen. Quen đến vô tâm, không còn để ý... Nhưng đời đã ban cho ông một khoảnh khắc. Khoảnh khắc đồng cảm đến trĩu lòng khi ông đã là một haijin- nhà thơ haiku, để ông đọc thấu điều ẩn sâu trong "nét mặt ưu tư" của người đàn bà khi đi chợ về. Đó là nỗi buồn, sự lo lắng, là trách nhiệm gia đình đè nặng trên vai, là những sóng gió của xã hội đang bám đuổi, phủ u ám lên ngôi nhà bình yên của họ. Có người trong số đó đâu được chồng con chung lưng chia sẻ hay đủ xót xa thương cảm. Và nhiều người đâu chỉ có "nét mặt ưu tư", phiền muộn. Còn những đêm triền miên mất ngủ, còn là công việc làm thêm để tăng thu nhập, ngay cả khẩu phần ăn cũng nhường để thêm miếng cho con...

"Haiku cốt ở cái tinh thần, không phải hình thức" (Toshio Kimura). Bài haiku được gọi là hay khi nó lay động trái tim bằng những xúc cảm giàu tính nhân văn, tăng cường nhận thức và thôi thúc con người cần phải làm gì đó để cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Tôi nghĩ Cao Ngọc Thắng đã có bài thơ như vậy.

NTPA

Kireji trong haiku của Nhật

Haiku (baì cú) của Nhật do Basho tách (Hoc cu- câu mở dầu) từ thơ liên hoàn (rên ka) của Bài hài (haikai) Nhật Bản ra độc lập nên về cơ bản (côt lõi) nó phải theo nhịp điệu định hình 5-7-5 âm tiết và có từ chỉ mùa (Quí ngữ).

alt

Kireji là từ ngắt, nó có ý nghĩa nhấn mạnh, kêu gọi và nâng xúc cảm trước đây có thể có 18 Kireji được “bí truyền” từ “haikai no rênka” nhưng Haiku hiện nay chi dùng : ya「や」, kana「かな」, kê ri「けり」mà thôi. Ta hãy xem 3 câu Haiku nổi tiếng sau:

柿くへば鐘が鳴るなり法隆寺(正岡子規)

Cắn quả hồng/chuông đổ!/chùa Pháp Long (Masaoka Shiki)

名月をとってくれろと泣く子かな(小林一茶)

Đứa trẻ khóc vòi!/ Hãy lấy cho tôi/Vừng trăng sáng (Kobayashi Issa)

古池蛙飛びこむ水の音(松尾芭蕉)

Ao xưa!/ếch nhảy vào/ tiếng nước (Matsuo Basho)

Ta thấy Kỉreji có vẻ rất hợp lý!

Theo nhà giáo nổi tiềng Nhật Bản Oyaman thì để cho đơn giản Haiku Nhật chỉ cần đáp ứng hai yêu cầu là âm điệu 5/7/5 và Quí ngữ. Gọi là định hình 5-7-5 nhưng tùy theo mạch thơ và tình cảm tác giả muốn gửi gắm cò thể thừa 1-2 âm gọi là thừa chữ「字余り」hoặc thiếu chữ「字足らず」,

Người Nhật vẫn nghi ngờ khả năng sáng tác Haiku bằng tiếng Anh cũng như tiếng khác vậy!

Câu Haiku nổi tiếng sau của Matsuo Basho 静けさや岩に滲み入る蝉の声(松尾芭蕉)được nhà nghiên cứu VH Nhật Bản Reginald Horace Blyth người Mỹ dịch ra tiếng Anh :

What stillness!

The voices of the cicadas

Penetrate the rocks.

(Tôi tạm dịch tiếng Việt là: lặng yên!/ thấm vào đá/ tiếng ve kêu (Matsuo Basho))

Dấu chấm than (!) ở đây được coi như thay thế cho Kireji. Người Nhật coi dấu chấm than (!), dấu hai chấm (:) v.v.trong tiếng Anh như Kireji vậy.

Về Haiku ta còn phải nghiên cứu nhiều vì nó đại diện cho tâm hồn người Nhật và nó là dạng thơ đặc thù của Nhật, tiêu biểu cho văn hóa Nhật.

Lê Thị Bình dịch và biên soạn

Kền kền chờ đợi- Lê Văn Truyền

tetsubachi ni / asu no kome ari / yūsuzumi

Ryokan
alt

in the iron bowl
rice for tomorrow
the cool evening!

trong bát sắt khất thực

có nhúm gạo cho ngày mai

chiều buông mát lành

Lê Văn Truyền dịch

Còn nhớ cách đây khoảng 30 năm tôi được dự một lớp ngắn hạn nâng cao trình độ tiếng Anh tại Trung tâm Anh ngữ khu vực ASEAN (RELC – Singapore). Trong bài tập cuối khóa cô giáo yêu cầu tôi viết bình luận về một bức ảnh các gian hàng đầy ắp thực phẩm trong một siêu thị ở Luân Đôn.

Với vốn tiếng Anh khiêm tốn, tôi viết đại ý: khoa học công nghệ thế kỷ XX đã đem lại cho nền nông nghiệp thế giới những tiến bộ vượt bậc, năng suất các ngành nông nghiệp đã tăng chưa từng thấy, công nghệ biến đổi gen hứa hẹn sản lượng và chất lượng vật nuôi, cây trồng không ngừng tăng trưởng đủ để nuôi sống nhân loại hơn 6 tỷ người. Thế nhưng, có một nghịch lý của xã hội hiện đại là trong khi ¾ nhân loại đang thừa mứa và lãng phí lương thực, thực phẩm thì theo Tổ Chức Nông Lương Quốc Tế (FAO) vẫn còn khoảng ¼ loài người luôn đói ăn, khát nước sạch và hàng triệu người vẫn chết đói mỗi năm. Để chứng minh cho thực tế đó, tôi đính kèm vào bài luận bức ảnh được đặt tên “Kền kền chờ đợi” của phóng viên ảnh Kevin Carter (Nam Phi) đang gây ra làn sóng xúc động mãnh liệt trên thế giới lúc bấy giờ: Một con kền kền Châu Phi – với bộ dạng của Thần Chết – đứng lặng im, kiên nhẫn đợi chờ giây phút một bé gái da đen gầy trơ xương đang hấp hối trút hơi thở cuối cùng để xông lên rỉa xác. Một bữa “đại tiệc thịt người” của con kền kền sa mạc.

Kevin Carter, phóng viên ảnh Nam Phi, là người đã chụp bức ảnh này tại Sudan. Bức ảnh được đặt tên "Kền kền chờ đợi" đăng lần đầu tiên trên tờ The New York Times vào ngày 26 -3 – 1993 làm cả thế giới xúc động. Vào ngày 2 - 4 - 1994, Carter đã giành giải thưởng cao quý nhất trong giới báo chí - giải Pulitzer - cho bức ảnh này. Tuy nhiên, gần 4 tháng sau, ngày 27 - 7 - 1994 cảnh sát đã tìm thấy Kevin Carter tự sát bằng khí gas trong chiếc xe hơi của mình, khi anh mới 33 tuổi. Giải thưởng danh giá Pulitzer phần nào chứng tỏ giá trị tác phẩm của anh nhưng vẫn không đủ để xoa dịu nỗi ám ảnh thống khổ trong con người Carter khiến anh phải tự chấm dứt cuộc đời ở độ tuổi vẫn còn sung sức. Trong bức thư tuyệt mệnh anh viết: "Tôi hoàn toàn suy sụp, không điện thoại, không tiền thuê nhà, không tiền nuôi con, không tiền trả nợ... Tôi bị ám ảnh bởi những ký ức sờ sờ về sự chết chóc, những xác chết, cơn giận dữ và nỗi đau ... về những đứa trẻ chết đói ... về những người đàn ông điên khùng, thường là những kẻ hành hình...".

Vậy nên, trong thế kỷ XXI này, khi mọi người đang điên cuồng cuốn theo giòng thác của cái “xã hội tiêu thụ”, có lẽ chúng ta phải bình tâm nghĩ đến còn bao nhiêu người đang thiếu đói và những con người khốn khổ đang bị quên lãng ở những mảnh đất xa xôi nào đó trên đất nước mình và trên hành tinh này, để đến mỗi bữa cơm, hãy:

Ăn hết hạt cơm cuối cùng trong bát

xin đừng đổ đi

hạt ngọc của đất trời

Lê văn Truyền

Huế, mưa và nắng- Lê Văn Truyền

Mới cuối Xuân 2019, các haijin của Câu Lạc Bộ Haikư Việt Hà Nội đã có cuộc hành hương về đất Thuận Hóa – Phú Xuân - Cố đô Huế. Những cuộc hội ngộ và giao lưu với các bạn thơ xứ Huế lần đầu tiên gặp mặt nhưng thật đậm đà tình cảm, tưởng chừng không muốn dứt dù nhiệt độ ngoài trời có lúc lên đến hơn 40 độ. Tình yêu thơ nói chung và những khám phá mới mẻ về thể thơ haikư đặc sắc của nền văn hóa Nhật Bản đã làm tâm hồn các bạn thơ khắp mọi miền đất nước và các bạn thơ xứ Huế xích lại gần nhau và mọi người đều bịn rịn lúc chia tay.

alt

Chỉ trong vòng ba tháng kể từ ngày ấy đã có hàng chục bạn thơ xứ Huế bén duyên với haikư và trên trang web: haikuviet.com.vn đã xuất hiện những phiến khúc haikư đầu tiên của các bạn thơ: Kim Đông, Hương Giang và mới đây là của bạn thơ Nguyễn Vũ Tiến, nhà giáo của Đại học Tư thục Phú Xuân.

Là một người con xứ Huế tha phương từ lúc hơn 10 tuổi đến nay đã ở tuổi “cổ lai hy”, ấn tượng tuổi ấu thơ không bao giời phai mờ trong tôi là “cái nắng” và “cái mưa” xứ Huế. Trong chùm haikư đầu tay của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiến phiến khúc haikư sau đây đã cuốn hút tôi.

Nắng

cô thành muối

giọt mồ hôi

Chỉ bằng 7 từ, nhà thơ đã thể hiện “cái nắng Huế” mà hình như chỉ những người con xứ Huế mới cảm nhận được. Cái nắng chang chang làm xuất hiện các ảo ảnh trên đường nhựa. Cái nắng như rang mặt đất và hình như đất cũng tỏa “mùi nắng” như khi ta rang những hạt gạo, hạt ngô trên bếp lửa hồng… Vâng, nắng Huế đã cô những giọt mồ hôi thành muối trắng đọng trên vai áo của các em, các chị, các mệ xứ quê nghèo vất vả cuộc mưu sinh. Nắng đã cô những giọt mồ hôi trên lưng áo của các chú, các bác chạy “xe kéo” thời xưa, đạp “xích lô”, chạy “xe ôm” ngày nay … Những ngày gian khổ sau năm 1975, nhiều lần tôi đã trải nghiệm “xe ôm” và được cảm nhận mùi vị mặn nồng toát ra từ những giọt mồ hôi đọng thành các hạt muối li ti trên lưng áo trước mặt tôi của các chú, các bác “xe ôm” xứ Huế

Và, hết nắng thì đến mưa.

Mưa lưa thưa

chưa là

mưa Huế

Cũng chỉ trong 7 từ, phiến khúc haikư về mưa Huế đã tổng kết – chính xác và ngắn gọn như một công thức toán học: “mưa lưa thưa chưa là mưa Huế”. Mưa Huế phải là mưa “dầm dề”, mưa “thối đất”, mưa “sập trời”. Sau mỗi cơn “mưa Huế” kéo dài hơn tuần lễ gần như các tầu lá chuối trong vườn bà tôi đều rách xác xơ. Nhưng những cơn mưa này đã gắn liền với tâm hồn những đứa con xứ Huế chúng tôi đến nỗi, cũng như nhiều người Huế sống khắp mọi miền đất nước và cả ở hải ngoại, trong thâm tâm tôi luôn ao ước mỗi năm được về lại quê nhà vào mùa mưa, đêm đêm được “nghe mưa” như một khúc nhạc ru để quên hết mọi “sự đời” mà đi vào giấc ngủ thần tiên.

Cách đây hơn mười năm, khi chưa bén duyên cùng haikư, trong nỗi nhớ quê hương, người viết bài này cũng đã từng làm ba khổ thơ về “Nắng mưa xứ Huế”.

NẮNG MƯA XỨ HUẾ

Huế, nắng hè rực lửa

Đất đá muốn bốc hơi

Ve ran kinh thành cổ

Trời xanh cao chơi vơi


Huế, mưa lạnh dầm dề

Nhạc buồn gieo trên mái

Vòm trời sát ngọn tre

Vườn xưa xơ xác lá


Đất trời như cuộc sống

Nóng lạnh cứ xoay vần

Cố giữ lòng ấm áp

Ta đón chờ mùa Xuân

Nay đọc lại thấy bài thơ dài đến 60 chữ nhưng không cô đọng, gợi mở được nhiều hơn hai phiến khúc haikư ngắn gọn chỉ có 7 từ.

Cái thần tình, vi diệu, đặc sắc và mê hoặc lòng người của haikư trong thế giới “sống gấp”, “sống ảo” hiện nay – khi chúng ta ít nhìn vào mắt nhau hơn là nhìn vào màn hình smart phone - chính là ở chỗ đó.

Thượng Đình – Hà Nội

LVT

Vì sao tôi mở mắt- Nguyễn Thánh Ngã

alt

VÌ SAO TÔI MỞ MẮT

(Why’d I open my eyes? Because / I wanted to!)

Vì sao tôi mở mắt ?

Bởi vì

tôi muốn, thế thôi!

(Jack Kerouac - Đinh Nhật Hạnh dịch)

Haikuviet.com đã giới thiệu : "Nhà thơ Jack Kerouac (1922-1969) là con út một gia đình Pháp - Mỹ, sinh tại Lowell, Massachusetts. Ông là nhà cách tân cuồng nhiệt thơ Haikư ở Mỹ. Theo ông :"Thơ Haikư phải rất giản đạm, tịnh không nên có bất cứ kỹ xảo thi ca nào, tạo nên một bức tranh nho nhỏ duyên dáng , sảng khoái như khi nghe bản nhạc khúc Đồng quê của Vivaldi."

Trên đây là phát biểu của Jack Kerouac, một nhà thơ cách tân như chúng ta đã biết, tuy chưa hẳn đã hoàn toàn, nhưng chí ít nó cũng đem lại một nhìn nhận về thơ Haiku Nhật Bản. Trong hoàn cảnh hiện nay, nhìn nhận này có giá trị đem lại sự khẳng định rằng:"không nên có bất cứ kỹ xảo thi ca nào", hòng góp phần làm mất bản sắc thơ Haiku. Tôi rất tâm đắc với ý này, cũng như thơ của Jack, tiêu biểu là bài thơ trên đây.

Jack cho mở đầu một câu thơ thật sắc sảo, nó đang đặt ra một nghi vấn:

Vì sao tôi mở mắt?

Đôi mắt là tuyệt tác của đấng sinh thành, trước khi là cửa sổ tâm hồn. Đôi mắt để nhìn thấy là đôi mắt thịt, đôi mắt để nhìn rõ cuộc đời là đôi mắt tinh anh. Cái nhìn phi thường được gọi là tầm, tức tầm nhìn xa trông rộng của bậc cao nhân, có tâm và có tầm. Vì thế, động thái "mở mắt", là mở mắt trí tuệ, nơi điều khiển mọi hoạt động của thân người. Vậy thì đôi mắt đã trả lời "vì sao" rồi, thì còn "bởi vì" gì nữa, nhưng nếu không có "bởi vì" thì chẳng biết bởi vì đâu!

Rất đơn giản là "tôi muốn, thế thôi"! Tới đây chúng ta càng nhận ra đơn giản không phải là đơn sơ. Khi cái muốn, tức cái dục đã chi phối cái nhìn. Nhưng hai từ "thế thôi" mà nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã dịch, đã phủ định cái muốn nhìn là dục tính, trở về với bản nguyên, tức cái nhìn "đơn sơ" của mắt. Đây chính là chỗ tuyệt hay của người sáng tác và người dịch đồng cảm mà nên.

Ôi bài thơ tối giản mà vô cùng sáng nghĩa, đã đem lại cho người thưởng ngoạn cái nhìn linh diệu của nó. Nhờ đó, mà người đọc được mở rộng tầm nhìn ở lĩnh vực khó nhìn của tri kiến văn chương.

Và, chúng ta vừa đọc bài thơ trên, một bài thơ đơn sơ, đơn sơ đến nỗi không còn gì đơn sơ hơn nữa!

Tôi thích thú chạm vào niềm đơn sơ hiển nhiên đó, mà nhận ra rằng, chính thật thơ haiku là sự đơn sơ sơ nguyên nhất, mọi cố gắng, mọi can thiệp vào nó chỉ dẫn đến "bức tử" nó mà thôi. Vì thế, nhân danh một người làm thơ nhỏ bé, tôi kêu gọi những ai yêu thơ Haiku, những ai sáng tác thơ Haiku hãy ngừng lại mọi sự "bức tử" không đáng có của mình, để trả lại cho thơ Haiku sự trong sáng trọn vẹn như chính nó vốn có. Người Việt mình tình cảm, ưa vần điệu, thì đã có lục bát, mê khuôn vàng thước ngọc, thì đã có Đường luật, thích phóng khoáng thì đã có Tự do, và nhiều thể loại thơ khác vv...

Hãy cảm ơn thơ Haiku là thể thơ ngắn nhất giới, đã đem lại cho thế giới hôm nay một loại thần thái ung dung, không lẫn với các thể thơ cao minh khác...

Tôi mong vậy, cũng chẳng hiểu vì sao...

Sài Gòn tháng 7. 2019

N.T.N

Có một khoảng không lặng lẽ- Nguyễn Thánh Ngã

alt

nằm nghe

đêm thẳng đứng

mưa rơi

(Đinh Trần Phương)

Tôi chắc rằng, ai cũng đã từng nghe mưa rơi trong đêm. Tiếng mưa lọt vào "cái nghe" mỗi người một khác. Từ đó, tâm hồn mỗi người liền hiện ra một cảnh giới.

Bài haiku của Đinh Trần Phương là một cảnh giới. Có điều đây là một cảnh giới vô không. Vâng, một cái không trống rỗng trên nền nhạc mưa của trời. Tôi đã từng có cái thú trùm chăn nghe mưa như thế. Tâm hồn thanh thoát, cô đơn và lãng mạn, không hạnh phúc gì bằng...

..."nằm nghe", sau những mệt nhoài, bỏ ra ngoài những rối ren trần thế. Sự ly thoát đó, cho ta một chiều không gian. Từng hạt mưa "thẳng đứng" rơi đều.

Mưa rơi cũng chính là đêm rơi. Đêm "thẳng đứng" theo không gian hình học, nhưng được chứng minh bằng thơ. Tôi cho đây là câu thơ mới lạ, mang dấu ấn nội tại. Đêm không mênh mông, không tan loãng mà đêm thẳng đứng theo chiều rơi dọc của mưa, đã khiến cho câu thơ trở nên sâu thẳm; tạo một vách đứng hun hút trong không gian vô tận, và trong lòng người đọc.

Thơ haiku luôn để dành cho người đọc một khoảng trống. Hơn nữa là một khoảng không...

Cái không mênh mang trong bài thơ nhỏ này thật ghê gớm. Nó khiến cho hành giả cảm thấy vô cùng nhỏ bé trong chiều kích gợi mở. Nếu không nói rằng, cả vũ trụ được thu nhỏ trong một hạt mưa.

Và âm thanh của tiếng mưa mới là điều kỳ diệu. Đó là thứ âm thanh vang lên theo cấp số nhân, mà chỉ có sự linh cảm mới nghe được.

Cái nghe bằng vô thanh.

Quả thật, bài thơ bảy chữ vỏn vẹn, tinh tuyền, vượt ra ngoài mọi tưởng tượng, làm nên một vẻ đẹp kỳ vĩ của tiếng mưa, không có một bản hợp xướng nào ký âm được. Chỉ có haiku làm được công việc đó, như một nhà soạn nhạc thiên tài.

Có lẽ, sẽ có người giật mình mà hỏi lại chăng?

Đúng thế, thơ haiku hàm chứa trong nó những điều tác giả không hề nói ra, mà chỉ để cho người đọc cảm nhận mà thôi. Mà cảm nhận là tham gia vào tiến trình sáng tác, một phong cách tôn trọng người đọc cao vời...

Tuy nhiên, giá trị bài thơ đem lại không phải là những gì to tát, tác giả chỉ muốn bài thơ là một không gian, một tâm hồn an trú, thẩm thấu cuộc sống trong chính hương vị của nó: lặng lẽ cách thâm trầm...

N.T.N

Bi kịch cuộc đời- Nguyễn Thánh Ngã

alt

Nhà thơ Steven Ross

( I spent all my money / What can I do ? / Beg!)

Tiêu sạch túi rồi

Làm gì được nữa?

Đi ăn mày thôi!

(Đinh Nhật Hạnh dịch và giới thiệu)

Ngày 1.8.2017 tại haikuviet.com, nhà thơ Đinh Nhật Hạnh đã viết: "Trong những nhà thơ Haiku đương đại trên thế giới, có lẽ chưa có ai số phận lại nghiệt ngã triền miên như Steven Ross! Thân phận ông gắn liền với căn bệnh ung thư quái ác và những khúc Haiku đau đáu nỗi bất hạnh, khắc họa trong suốt quãng đời dài tình trạng túng quẫn, dằn vật , đau đớn liên miên bệnh tật ấy, có lẽ đã xoa dịu bớt phần nào sự cô đơn cùng cực chẳng thể nào san sẻ cùng ai - ngay cả với gia đình có mẹ già, vợ và con trai nhỏ mà nhà thơ yêu qúy đơn phương. Và hình như ông đã dựa đươc vào nàng Thơ để tìm chút nghị lực sống nốt quãng đời còn lại, ngắn ngủi đầy khổ ải của mình!"

Trên đây là dòng thông tin ngắn ngủi, cho ta biết thân phận Steven Ross. Chợt nhớ Hàn Mặc Tử, một thi sĩ tài hoa bạc mệnh cũng lâm vào cảnh đớn đau do căn bệnh phong cùi hành hạ. Và thơ đã đưa tay nâng đỡ ông trong những lúc đau khổ triền miên. Tuy khác nhau về bệnh tật và hoàn cảnh, nhưng Hàn Mặc Tử và Steven Ross có cùng một nỗi đau, và tiếng thơ để kêu rêu. Bài haiku trên đây có lẽ là bài thơ tiêu biểu nhất, nói lên khổ nạn của ông. Xưa cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu thơ truyền tụng rằng:" Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử/ Hết cơm, hết gạo, hết ông tôi", thật đúng với Steven Ross trong cơn bỉ cực này. Bao nhiêu tiền cho đủ để tiêu diệt bệnh ung thư? Căn bệnh được coi là bất trị trong thời hiện đại? Câu than khóc nhói đau rằng: "Làm gì được nữa?", nghĩa là chỉ có cái chết! Chết ở đây chưa hẳn là chết vì ung thư, mà chết vì cạn kiệt tình cảm, sự sẻ chia. Không thể cứu vãn, nếu không có sự cảm thông kịp thời...

Nhà thơ đành ngửa mặt kêu trời:" Đi ăn mày thôi!". Nhưng đi ăn mày trong tình trạng "homeless" với bệnh nan y cũng không xong. Người Việt gọi tình trạng "vô gia cư" này là: "sống dở chết dở". Không có lối thoát!

Đúng là bi kịch cuộc đời!

Tuy nhiên, trời không đẩy ai vào đường cùng mà không có cứu cánh. Ở đây, thơ là vị cứu tinh của kẻ cùng đường. Steven Ross sống được là nhờ Nàng thơ, như dịch giả Đinh Nhật Hạnh đã giới thiệu. Thơ ca có năng lực vi diệu của nó là giải thoát những nỗi đau thể xác cũng như tinh thần. Bao khổ nhục dồn nén vào tạng haiku nhỏ bé, khiến tiếng kêu bùng vỡ tới trời xanh. Nhà thơ giãy giụa, ngụp lặn trong bể khổ tột cùng, nên thơ là tiếng thét xé lòng...

Ngoài tính thiền và phong cách hồn nhiên, thơ haiku còn hướng đến phong cách giải thoát khỏi những khổ đau, bi lụy, để cuộc đời luôn là điều kỳ diệu.

Và điều kỳ diệu lại nằm trong chính nỗi thống khổ tuyệt trần kia...

N.T.N

Sự phổ cập Thơ Haiku trẻ em ở Nhật: Kinh nghiệm cho Việt Nam- Đào Thị Hồ Phương

Trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, Haiku giữ một vị trí rất quan trọng. Nó là một viên ngọc quý và là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học Nhật Bản. Vì vậy, ở lĩnh vực văn học nói chung và thơ Haiku nói riêng, người Nhật đều tìm cách phổ cập hóa một cách mạnh mẽ.

alt

Ở Nhật, các cuộc thi sáng tác thơ Haiku được tổ chức rộng khắp và rất thường xuyên ở cả về không gian (có rất nhiều cuộc thi Haiku dành cho những người nước ngoài, không phải là người có quốc tịch Nhật đều có thể tham gia) lẫn đối tượng (không giới hạn độ tuổi). Có thể nói việc phổ cập thơ Haiku tại Nhật Bản cho trẻ em chính là một trong những cách giáo dục tâm hồn trẻ thơ hiệu quả nhất.Thế hệ trẻ cũng chính là tương lai của đất nước do đó việc kế thừa và bảo tồn những tài sản văn hóa tinh thần như thế này cũng rất cần được quan tâm. Để thực hiện trách nhiệm quan trọng là tiếp nối và kế thừa vẻ đẹp của nền văn hóa truyền thống này, tại Nhật, đã và có những cuộc thi thơ Haiku, thơ Haiku dành cho trẻ từ các cấp chính quyền (tỉnh, làng xã) đến các trường học, công ty tư nhân …tổ chức.

Dưới đây, xin giới thiệu một số bài thơ Haiku do các em học sinh tiểu học sáng tác và đã đoạt giải.

くつひもにくやしさのこるうんどう会 ( Kutsuhimo ni / Kuyashisha nokoru / Undoukai)

Trên dây giày

Vẫn còn đọng nỗi thất vọng

Trong cuộc thi thể thao

(埼玉県 小鮒 未来 8歳 : Học sinh tiểu học, 8 tuổi, tỉnh Saitama)
ねる前にかぞえなおすよお年玉 ( Nerumaeni / Kazoenaosu/ Otoshidama )

Trước khi ngủ

Đếm đi đếm lại

Tiền lì xì

(千葉県 増山 波瑠  9歳 : Học sinh tiểu học, 9 tuổi, tỉnh Chiba)

ケシゴムが私を見てる夏休み ( Keshigomu ga / Watashi wo miteru / Natsuyasumi )

Cục gôm

Đang nhìn tôi

Kỳ nghỉ hè

(東京都 安部 未悠 9歳 : Học sinh tiểu học, 9 tuổi, Tokyo)

音楽よ雪のねいろになってみろ (Ongaku yo / Yuki no neiro / ni natte miro)

Âm nhạc ơi !

Hãy thử biến thành

Màu của tuyết nào!

(滋賀県  西村 陽央  9歳: Học sinh tiểu học 9 tuổi, tỉnh Shiga)

しもばしらふんで音でる笑みもでる (Shimobashira / Funde onderu / Warami mo deru )

Bước trên những giọt sương mai

Những âm thanh

Và nụ cười đều bật ra.

(兵庫県 谷口 真那斗 10歳 : Học sinh tiểu học 10 tuổi, tỉnh Hyogo)

Đây là những bài thơ đoạt giải “Những bài Haiku mới” lần thứ 26 (năm 2015) do công ty Itoen- công ty sản xuất các loại trà và là một trong những công ty có hoạt động truyền bá thơ Haiku tại Nhật từ khá lâu. [1]

桜さき田んぼの水が光ってる ( Sakurasaki / Tanbo no mizu ga / Higatteru)

Cành Sakura

Đang phản chiếu

Trên mặt nước của ruộng lúa

(米谷 有未 秋田県大潟小学校3年: Học sinh trường tiểu học Ogata, tỉnh Akita, 8 tuổi)

さくらさきしょうがくせいになかまいり ( Sakurasaki / Shogakusei ni /Nakamairi)

Cành Sakura

Trở thành bạn bè

Với học sinh tiểu học

( 福田 心和 秋田県塙川小学校1年: Học sinh trường tiểu học Hanawagawa, tỉnh Akita, 6 tuổi)

さくらさんがんばれかぜがふいてても ( Sakurasan ganbare/ Kaze ga / Fuitetemo)

Sakura ơi!

Cố lên nhé !

Cho dù gió đang thổi

( 鎌田明日美 秋田県御所野小学校5年 : Học sinh trường tiểu học Ono, tỉnh Akita, 10 tuổi)

花ふぶき光をあびてちょうのよう (Hanafubuki /Hikariwo abite /Chou no you)

Hoa rơi rụng như tuyết

Tắm mình trong ánh sáng

Giống hệt cánh bướm

(小池 閑敬 秋田県港北小学校 5年: Học sinh trường tiểu học Kohoku, tỉnh Akita, 10 tuổi)

Đây là những bài thơ đoạt giải năm 2013 do tỉnh Ogata tổ chức [2].

Cà phê Tsubaki

Rất nổi tiếng

Ở vùng quanh Mejiro

(Fukui Reika, 7 tuổi, Kyoto)

Chỉ có dịp Tết

Là đại gia đình

Sum họp, đoàn tụ

(Nakashima An, 8 tuổi, tỉnh Kagoshima)

Cho dù là học sinh lớp mấy

Nhưng vẫn nhiều lần nghe đấy thôi

Bà ơi !

(Taguchi Kazuki, 8 tuổi, tỉnh Hyogo)

Người tuyết

Rất thích

Chiếc nút bằng đá

(Makita Nanami, 7 tuổi, tỉnh Nagano)

Ở lễ hội cá chép

Tôi tự hỏi

Có từ vựng “ojichan” không nhỉ?

( Ito Atsuki, 6 tuổi, Kyoto)

( Các bài thơ ở trên được dịch theo thứ tự từ trái sang phải)

Đây là những bài thơ đoạt giải lần thứ 8 (năm 2015) do Trường Đại học Bukkyo tổ chức. [3]

Gần đây, với sự phát triển của mối quan hệ giao lưu văn hóa Nhật- Việt, Nhật Bản cũng đã bắt đầu tổ chức những cuộc thi sáng tác Haiku dành cho trẻ em ngay ở Việt Nam như “Cuộc thi làm thơ Haiku cho trẻ em thế giới 2013-2014”, cuộc thi làm thơ Haiku cho trẻ em Việt Nam năm 2014 với chủ đề “Tình bạn”…[4] Thông qua những cuộc thi như thế này, không chỉ giúp làm gắn kết chặt thêm cầu nối giao lưu văn hóa giữa  Việt Nam – Nhật Bản mà còn là cơ hội giúp các em rèn luyện, phát triển khả năng tư duy về ngôn ngữ và cảm thụ văn học vì sáng tác thơ Haiku cần khả năng quan sát, chắt lọc để thể hiện một cách tinh tế nhất cảnh sắc thiên nhiên, cảm xúc, tâm tư của mình cũng như để gửi gắm những điều muốn nói dưới hình thức “ý tại ngôn ngoại” như đặc trưng vốn có của thơ Haiku.

Ở Việt Nam, thơ Haiku đã được tiếp nhận, tiếp biến và được yêu thích từ rất lâu nhưng việc đưa Haiku vào trong cuộc sống, nhất là đưa Haiku đến gần với thế giới trẻ thơ vẫn còn “bỏ ngỏ”. Gần đây, đã có những cuộc thi Haiku dành cho trẻ em.Từ những kinh nghiệm trong việc phổ cập thơ Haiku tại Nhật cho trẻ em, hy vọng trong thời gian sắp tới, thơ Haiku Việt với những đặc trưng riêng sẽ có thể tìm được con đường kết nối như thế để hòa nhập vào không gian muôn màu, muôn sắc của thế giới Haiku.

ĐTHP

[1] https://www.itoen.co.jp/new-haiku/26/shou-yuu.php

[2] https://www.ogata.or.jp/sightseeing/2013nanohana_haiku.html

[3] http://www.bukkyo-u.ac.jp/haiku/haiku_2014/index.html

[4] http://trungvuong.edu.vn/news/Guong-sang-Trung-Vuong/Le-nhan-giai-Cuoc-thi-lam-tho-Haiku-cho-tre-em-the-gioi-2013-2014-cua-cac-ban-hoc-sinh-lop-chuyen-Nhat-354/

http://hanoitv.vn/Van-hoa/Tinh%20ban-qua-tho-Haiku-Nhat-Ban/45512.htv

Một trăm bài Haiku hay nhất mọi thời đại

(http://www.thehypertexts.com/Best%20Haiku.htm)

Michael R. Burch* tuyển

Lê Văn Truyền dịch

Trần Anh Thơ hiệu đính
alt

Haiku là gì? Trong ngôn ngữ Nhật Bản, “hai” có nghĩa là “khác thường”/ “tuyệt vời” (unsual) và “ku” có nghĩa là “khổ thơ” (verse/strophe). Sir George Sansom gọi haiku là “những giọt tinh túy của thơ” (little drops of poetic essence). Harold Henderson gọi haiku là những khoảnh khắc “trầm tư/thiền định” (meditations). Tôi nghĩ về haiku như là những lát cắt được cấu trúc bằng ngôn từ, là “hình ảnh bằng ngôn ngữ”. Một định nghĩa có ích khác: haiku là những “hình ảnh siêu nghiệm” (transcendent images). Ví như khúc haiku sau đây:
Grasses wilt:
the braking locomotive
grinds to a halt.

Yamaguchi Seishi, Michael R. Burch phỏng dịch

Đám cỏ tàn úa

đầu tầu giảm tốc vào ga

nghiền nát

Trong phiến khúc haiku trên đây, những ngọn cỏ tàn úa mùa thu và bị đầu tầu vào ga nghiền nát tượng trưng cho sự già cỗi, chết chóc. Dưới bàn tay của thi sỹ tài hoa, hai hình ảnh đơn giản đã thay lời muốn nói.
Trong khi theo truyền thống Nhật Bản, haiku được viết thành 3 dòng với 5-7-5 âm tiết thì trong sáng tác haiku bằng tiếng Anh, đó không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, vì vậy dịch haiku khi cần thiết tôi thường dùng số âm tiết nhiều hơn miễn là chuyển tải được hình ảnh, cảm xúc và ý nghĩa của khúc haiku theo như tôi cảm nhận được.

Ảnh hưởng của haiku đối với thơ ca anh ngữ hiện đại là rất hiển nhiên và đậm nét. Quả thực, nhiều quy tắc của Chủ nghĩa hình tượng (Imagism) bắt nguồn từ haiku, như việc sử dụng sự tưởng tượng cụ thể và việc “xử lý trực tiếp sự vật (chủ thể/khách thể)”. Ezra Pound, cha đẻ và là người tiên phong của trường phái hình tượng đã dịch nhiều thơ phương Đông và cũng đã sáng tác nhiều bài thơ tương tự. Bài thơ “Trong ga tầu điện ngầm” là một trong những bài thơ có dáng dấp haiku của ông.

The apparition of these faces in the crowd;

Petals on a wet, black bough

Những khuôn mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa trên một cành cây khô, ướt đẫm.

Những thi phẩm nổi tiếng mang dáng dấp haiku gồm có “The Red Wheelbarrow” (Bánh xe cút kít mầu đỏ) của William Carlos Williams và “Thirteen Ways of Looking at a Blackbird” (Mười ba cách nhìn một con chim hét) của Wallace Stevens. Các nhà thơ Anh khác đã sáng tác, dịch và chịu ảnh hưởng của haiku gồm có Richard Wright, Allen Ginsberg, Gary Snyder, Jack Kerouac, Amy Lowell, Kenneth Rexroth, Margaret Atwood, Robert Hass và Paul Muldoon. Cũng có thể ghi nhận ảnh hưởng của Phương Đông đối với các sáng tác của những nhà thơ trường phái hiện đại đầu tiên như Walt Whitman, Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau.

Dưới đây là bản dịch của tôi* (Michael R. Burch - chú thích của người dịch) một số khúc waka cổ nhất của Nhật Bản, theo thời gian đã phát triển thành các biến thể như tanka, renga haiku. Những bản dịch của tôi được trích dẫn từ tác phẩm Kojiki (Thi phẩm của các bậc thầy), tác phẩm được nhà thơ Ô no Yasumaro biên soạn vào khoảng năm 711 - 712 sau Công Nguyên. Thi phẩm Kojiki thuật lại sự khởi đầu có tính thần thoại và lịch sử của vương triều. Giống như tác phẩm Aeneid của nhà thơ Virgil, Kojiki đã cố hợp thức hóa những quy tắc bằng cách thuật lại nguồn gốc các quy tắc ấy.

Đây là một trong những dòng thơ cổ nhất được ghi trong quyển sách cổ nhất của Nhật Bản:
While you decline to cry,
high on the mountainside
a single stalk of plumegrass* wilts.

Khi bạn muốn òa khóc

trên triền núi cao

một bông lau héo rũ

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Và đây, là một trích dẫn khác với sắc thái hài hước cũng từ Kojiki:

Hush, cawing crows; what rackets you make!
Heaven's indignant messengers,
you remind me of wordsmiths!

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Tĩnh mịch, tiếng quạ kêu vang

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc ta nhớ về những nhà văn
Và một bài khác

Onyx, this gem-black night.
downcast, I await your return
like the morning sun, unrivaled in splendor.

Ô no Yasumaro (khoảng 711), Michael R. Burch phỏng dịch

Mã não, viên ngọc huyền

ta chờ em trở lại

như mặt trời rực rỡ vô song

Snow –obcured heights,
mist-shrouded slopes:
this spring evening.

Ilio Sõgi (1421-1502), Michael R. Burch phỏng dịch

Đỉnh núi tuyết phủ

dốc núi mờ sương

chiều Xuân chạng vạng

Soundlessly they go,
the herons passing by:
arrows of snow filling the sky.

Yamâzki Sõkan (1464-1552),Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn diệc lặng lẽ bay

những mũi tên tuyết trắng

ngập tràn bầu trời xanh

O, fluttering moon,
if only we could hang a handle on you,
what a fan you would be!

Arakida Moritake (1472-1549) Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng lung linh

ước gắn một cái cán

cho trăng thành chiếc quạt

An orphaned blossom
returning to its bough, somehow?
No, a solitary butterfly.

Arakida Moritake (1472-1549) Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa đơn côi sao lại bay lên cây?

ồ không, một chú bướm

tha thẩn trong nỗi buồn

Life: a solitary butterfly
swaying unsteadily on a slender stalk of grass,
nothing more. But so exquisite!

Nishiyama Soin (1605-1682), Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc đời: cánh bướm cô đơn

lửng lơ trên ngọn cỏ

không gì hơn, nhưng thật thanh tao
Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

This darkening autumn:
my neighbor,
how does he continue?

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa thu ảm đạm này

người hàng xóm của tôi

liệu có qua khỏi?

Autumn darkness

descends
on this road I travel alone

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa thu ảm đạm

buông xuống con đường

mình tôi độc hành

Lightning
shatters the darkness -
the night heron's shriek.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ánh sáng xua tan bóng tối

đêm đen

tiếng thét của những anh hùng

An ancient pond,
the frog leaps:
the silver plop and gurgle of water.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Ao xưa

con ếch nhảy vào

nước xao ánh bạc

A crow settles
on a withered branch:
autumn nightfall.

Matsuo Basho (1644-1694), Michael R. Burch phỏng dịch

Quạ đậu

trên cành cây khô

hoàng hôn mùa Thu

My eyes,
having observed everything,
returned to the white chrysanthemums.

Kosugi Isshõ (1652-1688), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi mắt tôi

sau trải nghiệm cuộc đời

hướng về đóa cúc trắng

A white swan
parts the cherry-petalled pond
with her motionless breast.

Roka (1671-1703), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái ức bất động

con thiên nga trắng

rẽ mặt ao ngập cánh anh đào


Năm 1692, Roka trở thành một môn đệ thụ giáo haiku với Basho; và đó là những năm cuối đời của Basho.

Useless dreams, alas!
Over desolate fields
winds whisper as they pass.

Uejima Onitsura (1661-1738), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, những giấc mơ hão huyền

như xạc xào cơn gió

lướt qua cánh đồng hoang

Observe:
see how the wild violets bloom
within the forbidden fences!

Shida Yaba (1663-1740), Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy ngắm nhìn

hoa tím dại bừng nở

bên bờ dậu hoang

Leaves, like the shadows of crows
cast by a lonely moon.

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Những chiếc lá như những con quạ đen

gieo trên mặt trăng cô đơn

A kite floats
at the same place in the sky
where yesterday it floated ...

Yosa Buson (1716-1783), Michael R. Burch phỏng dịch

Con diều trôi

trên bầu trời

đúng chỗ hôm qua nó lượn

Standing beneath cherry blossoms
who can be strangers?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ngồi dưới anh đào nở

có ai thấy xa lạ?

Overdressed for my thatched hut:
a peony blossoms.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Lợp lại mái tranh

túp lều của tôi

mẫu đơn bừng nở

Oh, magnificent peony,
please don't disdain
these poor surroundings!

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Ơi đóa mẫu đơn lộng lẫy

xin đừng kiêu kỳ

giữa bao người nghèo đói

Insolent peony!
Demanding I measure your span
with my fan?

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Bông mẫu đơn hỗn hào

đòi ta đọ ngươi

với cái quạt của ta?

"This big!"
The child's arms
measured the peony.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Đôi tay trẻ thơ

đo cánh mẫu đơn

“Ồ! Nó to thật!”

Peonies blossom;
the world is full of fibbers.

Kobayashi Issa (1763-1827), Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa mẫu đơn bừng nở

quanh ta đầy người dối trá

Hình như Issa có một phức cảm yêu – ghét đối với những bông hoa mẫu đơn, bà viết đến 84 khúc haiku về loài hoa này, khi thì ca ngợi và khi thì phê phán sự kiêu kỳ của chúng.

Sing, my sacred tortoiseshell lyre;
come, let my words
accompany your voice

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Cây thụ cầm đồi mồi thần thánh

hãy cất tiếng đàn

cho ta hòa theo

Sappho là nhà thơ trữ tình đầu tiên đến nay chúng ta vẫn nhắc đến tên tuổi và nữ thi sỹ có thể vẫn là nhà thơ trữ tình lớn nhất. Nữ haijin nổi tiếng về sự dí dỏm, giống như haiku đơn giản, súc tích đôi khi đến mức làm ta sửng sốt. Vì tôi đã phụ trách một trang thơ về những vần thơ trữ tình hay nhất mọi thời đại, dòng thơ haiku sau đây đã xuất hiện với tôi một cách hoàn toàn bất ngờ, và hoàn toàn không có ý định từ trước, tôi đã chấm dứt trang thơ này và bắt đầu dịch nhiều bài haiku.

Dark-bosomed clouds
pregnant with heavy thunder ...
the water breaks

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Những đám mây đen

mang sấm sét trong lòng

trời bỗng tuôn mưa

The butterfly
perfuming its wings
fans the orchid

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm

quạt cánh hoa lan

ướp thơm đôi cánh

Thật thú vị khi nhận thấy sự tương đồng giữa ba bài thơ của những nhà thơ rất khác biệt. Sappho là một nhà thơ của Hy Lạp cổ đại sinh trưởng ở đảo Lesbos; tính cách tình dục đồng giới của bà đã mang lại sự biểu đạt và nghĩa rộng của những từ “Lesbian” hay “Sapphic” mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ hiện đại ngày nay.

Matsuo Basho là một bậc thầy haiku cổ của Nhật Bản, đã ảnh hưởng (và vẫn tiếp tục ảnh hưởng) đến nhiều nhà thơ Phương Tây. Tôi là một nhà thơ Mỹ không mấy tên tuổi nhưng rất yêu thích các trường phái thơ ca khác nhau. Các bài thơ cùng có chung một loạt các đặc điểm: sự khúc chiết, súc tích, trong sáng và việc sử dụng hình ảnh để biểu đạt cảm xúc. Trong mỗi bài thơ, người thi sỹ sử dụng hình ảnh để biểu đạt nhiều thông tin về cảm xúc của mình còn nhiều hơn những dòng văn xuôi.

Sappho viện dẫn đến cây đàn lyre, một loại đàn giống cây thụ cầm (đàn harp), nhạc cụ đã đem lại thuật ngữ hiện đại “thơ trữ tình” (lyric poetry). Khi Sappho nói đến “cây đàn lyre thần thánh” (the lyre sacred), nhà thơ cũng đã viện dẫn đến Muse, những nữ thần Thơ Ca (những vị thần của Hy Lạp cổ đại đã giải thích cội nguồn của thi ca, là nguồn cảm hứng tuyệt diệu).

Thơ haiku của Basho là những tuyệt tác có thể làm cho ta nhầm lẫn vì vẻ ngoài đơn giản của chúng, nhưng chúng có thể lột tả một cách sinh động bản chất cộng sinh (symbiotic nature) của đời sống. Những con bướm hút mật hoa, và qua đó giúp hoa thụ phấn. Thơ của Basho là một minh chứng cho nghệ thuật phản ánh thiên nhiên; thật khó để nói lên cái gì là đáng yêu hơn: con bướm, nhành lan hay những dòng thơ được chạm trổ một cách trang nhã. Khúc haiku của tôi so sánh những đám mây tích sấm sét trước cơn mưa với một thai phụ vỡ ối. Tôi cho rằng đó là một hình ảnh có hiệu ứng, mặc dù tôi nghĩ bạn đọc có thể cho rằng rằng tôi không xứng đáng là một bậc thầy haiku. Hy vọng rằng, tôi có thể dành cho bạn đọc sự tôn kính xứng đáng. Và bây giờ, sau đây là những khúc haiku tôi yêu thích.

Pausing between clouds
the moon rests
in the eyes of its beholders

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa những đụn mây trắng

Chị Hằng nghỉ ngơi

trong mắt người chiêm ngưỡng

Khúc haiku trên đây cũng đã chứng tỏ được sự đơn giản và sức mạnh của bài thơ dưới tay một ngòi bút tài năng. Khi một bậc thầy như Basho viện dẫn hình ảnh của mặt trăng, Basho có thể cuốn hút chúng ta đến với tất cả những gì chúng ta biết và tất cả cảm xúc của chúng ta về Chị Hằng.

Oh, fallen camellias,
if I were you,
I'd leap into the torrent!

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi đóa hoa trà

nếu là ngươi

ta đã gieo mình vào giòng suối

Bài thơ trên đây là một khúc haiku khác mà tôi đặc biệt yêu thích, vì nhà thơ đã làm người đọc thấu cảm và thông cảm với những nhành hoa khô héo. Khi tôi dịch bài thơ này, tôi nhín thấy ở bên ngoài những cánh hoa rơi tơi tả trong mưa và hình như nhà thơ gợi cho ta rằng một cái chết nhanh chóng tốt hơn một cái chết từ từ, chậm rãi. Bài thơ hình như cũng là một gợi ý tự vẫn hoặc cái chết không đau đớn (euthanasia) cũng là một giải pháp so với cái chết kéo dài, mặc dù vẫn có những cách diễn giải khác nhau về khúc haiku này. Một bài thơ hay là một bài thơ có thể gợi cho người đọc nhiều cách thưởng ngoạn khác nhau.

Eros harrows my heart:
a wind on desolate mountains
uprooting oaks.

Sappho, fragment 42, Michael R. Burch phỏng dịch

Người anh hùng dày vò tim ta

ngọn gió trên núi đồi hoang vu

bật gốc cây sồi già

Tôi nghĩ trong bài thơ này của Sappho hiện hữu “sự tương đồng nguồn cội” (family resemble) giữa dòng thơ trữ tình ngắn gọn, súc tích và đầy sức gợi của Sappho với dòng thơ của các bậc thầy phương Đông.

when you opened
my letter
were you surprised
my heart
fell out?

Michael Windsor McClintock (USA)

Khi mở lá thư anh

em có ngạc nhiên

thấy trái tim anh trong đó?

next door
the lovemaking
subsides
stars fall
from other worlds

Michael Windsor McClintock (USA)

Nhà bên cuộc yêu lắng xuống

những vì sao rơi

từ thế giới khác

an old photo
of my parents
young and happy -
of all the things I own
that is the saddest

Michael Windsor McClintock (USA)

Một bức ảnh cũ

bố mẹ vui vẻ trẻ trung -

buồn thay những gì tôi đang có

Ba bài thơ trên đây là của Michael Windsor McClintock, một nhà thơ Hoa Kỳ đương thời. Vào những năm 1960’ nhà thơ là Phụ Tá Biên Tập tạp chí Haiku Hightlights. Trong những năm 70’ ông là Phụ Tá Biên Tập tạp chí Modern Haiku và là biên tập tạp chí American Haiku Poets Series và tạp chí Seer Ox: American Senryu Maggazine. Tôi nghĩ các bài haiku của ông đã cho thấy một hình ảnh trong sáng, giản dị có thể gợi cho ta bao nhiêu là cảm xúc: một phong thư được mở ra, một ngôi sao băng trên bầu trời, một bức ảnh của người yêu dấu đã rung động trái tim ta như thế nào.

Tôi nghĩ những bậc thầy thời xưa cũng sẽ tán thưởng những bài thơ như thế này.

One apple, alone
in the abandoned orchard
reddens for winter

Patrick Blanche, Michael R. Burch phỏng dịch

Quả táo cô đơn

trong vườn hoang

ửng đỏ đón mùa Đông

Bài thơ trên đây là của một nhà thơ Pháp cho thấy thơ ca của các bậc thầy Phương Đông đã ảnh hưởng như thế nào đến nền thi ca trên thế giới.

Our life here on earth:
to what shall we compare it?
It is not like a rowboat
departing at daybreak,
leaving no trace of us in its wake?

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Cuộc sống ta trên trái đất này

có gì sánh được?

không giống chiếc du thuyến

khởi hành lúc rạng đông

không để lại dấu vết gì trên đuôi sóng

Bài thơ trên đây là một bài tanka, một thể thơ phương Đông khác. Bài thơ nói về bệnh tật của con người: có bao nhiêu người đã chết mỗi ngày mà không “wake” (thức dậy)? Đối với mỗi Shakespeare trong ta, có hàng triệu con người bình thường (non-entity), ít nhất là theo nghĩa trong ký ức của mọi người. Nhà thơ hay nhất là nhà thơ biết nói lên sự thật. Không như những “ông lang băm” và những “ông thầy bói”, nhà thơ đem đến cho độc giả sự thật trần trụi mà nhà thơ cảm thấy được.

Graven images of long-departed gods,
dry spiritless leaves:
companions of the temple porch

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hình ảnh của thần linh

khắc trên những chiếc lá khô vô hồn

bạn đồng hành của cổng đền

Tôi rất thích khúc haiku trên đây của Basho bởi vì nó đề cập đến tính xác thực và quyền lực của tôn giáo. Các “lang băm”, thầy tu và các nhà truyền giáo của bất kỳ tôn giáo nào cũng muốn nói về Thượng Đế và thánh thần nhưng Thượng Đế của họ bất công và vô hiệu một cách khác thường. Thượng đế của những “lang băm”, tu sĩ và nhà truyền giáo không bao giờ có thể tránh được bệnh tật và cái chết: với các nhà thơ nói lên sự thật, điều đó là hiển nhiên.

Sau đây là một bài thơ làm cho tôi nghĩ rằng Basho không bao giờ là tín đồ của những tôn giáo được lập ra như vậy:

The temple bells grow silent
but the blossoms provide their incense
a perfect evening!

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Chuông chùa dần lặng

hoa nở ngát hương

màn đêm tuyệt vời

Và một bài khác:
See: whose surviving sons
visit the ancestral graves
white-bearded, with trembling canes?

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy nhìn: những đứa con sống sót

râu tóc bạc run rẩy chống gậy

viếng mộ cha ông

Một lần nữa, Basho đã nói lên một cách trung thực một sự thật rất thuyết phục dù có làm cho ta nản lòng. Những nhà thơ Hy Lạp cổ đại cũng không ngần ngại nói về cái chết một cách trực diện. Sau đây là một đoạn văn bia Hy Lạp cổ đại khắc trên đá làm gợi nhớ đến Basho:
Does my soul abide in heaven, or hell?
Only the sea gull
in his high, lonely circuits, may tell.
Michael R. Burch, theo Glaucus

Linh hồn tôi ngụ trên Thiên Đàng hay dưới Địa Ngục?

chỉ những con mòng biển cô đơn

trên trời cao mới biết

Và đây là một đoạn văn bia cổ Hy Lạp khác có thể sánh được với một khúc haiku hay nhất về sự đơn giản, chân thật, rõ ràng và thẳng thắn của nó:

Mariner, do not ask whose tomb this may be,
but go with good fortune: I wish you a kinder sea.

Michael R. Burch, theo Plato

Này, thủy thủ, đừng hỏi đây là nấm mồ của ai

hãy ra khơi may mắn

hãy là đứa con của biển khơi

Hai khúc haiku dưới đây là của một nữ haijin, Hisajo Sugita:

I remove my beautiful kimono:
its varied braids
surround and entwine my body

Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiếc kimono đẹp buông rơi

quanh thân tôi

chỉ còn những dải áo

This day of chrysanthemums
I shake and comb my wet hair,
as their petals shed rain
Hisajo Sugita, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày Hoa cúc

tôi vẩy làn tóc ướt

cánh hoa tỏa mưa


Sau đây là một số khúc haiku của Matsuo Basho:

Let us arrange
these lovely flowers in the bowl
since there's no rice

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hãy cắm những bông hoa đẹp

trong cái bát

khi không còn một hạt cơm

The first soft snow:
leaves of the awed jonquil
bow low

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết đầu mùa:

lá cây hoa trường thọ

cúi chào

Come, investigate loneliness!
a solitary leaf
clings to the Kiri tree

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Hãy đến đây, nỗi cô đơn!

một chiếc lá mồ côi

níu lấy cành Kiri

The first chill rain:
poor monkey, you too could use
a woven cape of straw

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mưa đầu mùa lạnh lẽo:

con khỉ đáng thương

hãy đội cái mũ rơm


This snowy morning:
cries of the crow I despise
(ah, but so beautiful!)

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Buổi sáng tuyết lạnh này

chẳng màng tiếng quạ kêu

(ôi, buổi sáng tuyệt đẹp)

Like a heavy fragrance
snow-flakes settle:
lilies on rocks

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Như mùi hương ngát

hoa tuyết đậu trên đá:

những bông huệ tây

The cheerful-chirping cricket
contends gray autumn's gay,
contemptuous of frost

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Tiếng dế rả rích

đua với thu vàng

không màng sương giá

Whistle on, twilight whippoorwill,
solemn evangelist
of loneliness

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hoàng hôn, tiếng hót chim bắt muỗi

phúc âm trang nghiêm

nỗi niềm hiu quạnh

The year's first day ...
thoughts come, and with them, loneliness;
dusk approaches

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngày tân niên

cô đơn cùng những suy tư;

hoàng hôn buông xuống

An empty road
lonelier than abandonment:
this autumn evening

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Con đường hoang vắng

cô đơn hơn bị bỏ rơi

trong chiều thu này

Ballet in the air!
two butterflies, twice white,
meet, mate, unite.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Vũ điệu trong không trung

đôi bướm trắng

gặp nhau, kết đôi, hòa hợp

High-altitude rose petals
falling
falling
falling:
the melody of a waterfall.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Từ trên cao

những cánh hoa hồng

rơi

rơi

rơi

giai điệu của dòng thác

The cicada's cry
contains no hint to foretell
how soon it must die.

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Ve sầu ca vang

không hề biết trước

khi nào đời tàn

Fever-felled mid-path
my dreams resurrect, to trek
through a hollow land

Matsuo Basho, Michael R. Burch phỏng dịch

Giữa cơn sốt kinh hoàng

những giấc mơ trỗi dậy

dìu tôi qua những miền đất hoang

The sea darkening,
the voices of the wild ducks:
my mysterious companions!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mặt biển tối dần

tiếng kêu những con vịt hoang

những người bạn đường bí ẩn

Will we meet again?
Here at your flowering grave:
two white butterflies

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Khi nào ta gặp lại

trên nấm mồ nở hoa

hai con bướm trắng

These wilting summer flowers?
The only remains
of "invincible" warriors

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Những bông hoa mùa hè tàn héo

chỉ còn lại dấu tích

những người chiến binh vô địch

Spring has come:
the nameless hill
lies shrouded in mist

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Mùa xuân đã đến

ngọn đồi vô danh

ẩn mình trong sương


Among the graffiti
one illuminated name:
yours.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Giữa những bức tranh tường

chỉ một cái tên rực rỡ

đó là tên em


A spring wind
stirs willow leaves
as a butterfly hovers unsteadily.

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Gió Xuân

lá liễu lay

như cánh bướm lửng lơ

Swallow flitting in the dusk,
please spare my small friends
buzzing among the flowers!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Chim nhạn lượn trong bóng đêm

hãy để những người bạn nhỏ của tôi

bay liệng giữa những đóa hoa


Morning glories blossom,
reinforcing the old fence gate

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Bình minh huy hoàng bừng nở

cổng rào cũ chắc hơn

Scrawny tomcat!
Are you starving for fish and mice
or pining away for love?

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Con mèo đực khẳng khiu

vì đói ăn

hay vì nỗi thất tình day dứt

The moon: glorious its illumination!
therefore, we give thanks
dark clouds cast their shadows on our necks

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Hằng Nga lộng lẫy

cám ơn những đám mây đen

tỏa bóng trên cổ ta


Curious flower,
watching us approach:
meet Death, our famished donkey

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Bông hoa kỳ dị

canh chừng chúng ta:

con lừa khốn khổ gặp Thần Chết


Ah me,
I waste my meager breakfast
morning glory gazing!

Matsuo Basho, phỏng dịch Michael R. Burch

Ồ, tôi bỏ

bữa điểm tâm đạm bạc

ngắm bình minh rực rỡ

Và dưới đây là một số bài của các nhà thơ khác:

Right at my feet!
When did you arrive here,
snail?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú sên

đến đây khi nào

ngay dưới chân ta

Oh, brilliant moon
is it true that even you
must rush away, as if tardy?

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, vầng trăng sáng

cũng vội vàng trôi

như sắp muộn rồi

Ghostly the gray cow comes
mooing
mooing

mooing
out of the morning mist.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Con bò xám gầy trơ xương

một sáng mờ sương

rống lên ai oán

Peonies blossom;
the world is full of blooming liars.

Kobayashi Issa, Michael R. Burch phỏng dịch

Hoa diên vỹ nở

thế giới đầy người dối trá

After killing a spider,
I was overcome by loneliness
in the bittercold night.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Tôi giết một con nhện

lòng ngập tràn cô đơn

trong đêm đen giá buốt

Summer river:
ignoring the bridge,
my horse charges through the water.

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Lờ đi cây cầu

trên sông mùa hạ

ngựa thồ qua sông

After the fireworks,
the spectators departed:
how vast and dark the sky!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Sau màn pháo hoa

mọi người đi rồi

trời đêm mênh mang

Such a small child
sent to become a priest:
frigid Siberia!

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Như chú tiểu đồng

thụ giáo đi tu

Siberi lạnh lẽo

We cannot see the moon
and yet the waves still rise

Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Chẳng thấy được chị Hằng

sóng biển vẫn trào dâng

The first morning of autumn:
the mirror I investigate
reflects my father’s face
Masaoka Shiki (1867-1902), Michael R. Burch phỏng dịch

Một sáng mùa Thu

trong gương tôi soi

cha tôi hiện bóng


Wild geese pass
leaving the emptiness of heaven
revealed

Takaha Shugyo, Michael R. Burch phỏng dịch

Đàn ngỗng trời bay qua

để lại khoảng trống

trên bầu trời bao la

Silently observing
the bottomless mountain lake:
water lilies

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Lẳng lặng ngắm nhìn

mặt hồ không đáy trên núi:

những bông hoa súng

Cranes
flapping ceaselessly
test the sky's upper limits

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những con sếu

vỗ cánh không ngừng

thách thức trời cao

Falling snowflakes'
glitter
tinsels the sea

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Những hoa tuyết rơi

lấp lánh

trang hoàng biển xanh

Blizzards here on earth,
blizzards of stars
in the sky

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên mặt đất bão tuyết

trời cao

bão sao băng


Completely encircled
in emerald:
the glittering swamp!

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Ngọc lục bảo bao quanh

đầm lầy lấp lánh

The new calendar!:
as if tomorrow
is assured ...

Inahata Teiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Quyển lịch mới

như nói cùng ta

ngày mai có chắc …


Ah butterfly,
what dreams do you ply
with your beautiful wings?

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Ôi, con bướm

miệt mài dệt giấc mơ nào

với đôi cánh đẹp

Because morning glories
hold my well-bucket hostage
I go begging for water

Kaga no Chiyo (1703-1775), Michael R. Burch phỏng dịch

Cái gầu của tôi

vướng phải dây hoa bìm bìm

tôi đi xin nước


Spring
stirs the clouds
in the sky's teabowl

Kikusha-ni, Michael R. Burch phỏng dịch

Mùa xuân

lay động những áng mây

bầu trời trong chén trà

Tonight I saw
how the peony crumples
in the fire's embers

Katoh Shuhson, Michael R. Burch phỏng dịch

Đêm nay tôi thấy

cánh diên vỹ nát nhàu

trong tro tàn lò sưởi

It fills me with anger,
this moon; it fills me
and makes me whole

Takeshita Shizunojo, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng làm tôi giận dữ

cũng vầng trăng này

cho tôi là chính mình

War
stood at the end of the hall
in the long shadows

Watanabe Hakusen, Michael R. Burch phỏng dịch

Chiến tranh

trong bóng tối
đứng ở cuối đại sảnh

Because he is slow to wrath,
I tackle him, then wring his neck
in the long grass

Shimazu Ryoh, Michael R. Burch phỏng dịch

Anh ấy không cáu gắt

nên tôi vít cổ anh

lăn xoài trên cỏ xanh


Pale mountain sky:
cherry petals play
as they tumble earthward

Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

Bầu trời nhạt nhòa trên non

những cánh hoa gió lay

rối tung trên mặt đất
Kusama Tokihiko, Michael R. Burch phỏng dịch

The frozen moon,
the frozen lake:
two oval mirrors reflecting each other.

Hashimoto Takako, Michael R. Burch phỏng dịch

Vầng trăng đóng băng

mặt hồ đóng băng

hai tấm gương hình trái xoan phản chiếu

The bitter winter wind
ends here
with the frozen sea

Ikenishi Gonsui, Michael R. Burch phỏng dịch

Gió đông lạnh buốt

ngừng thổi nơi này

biển xanh băng giá

Oh, bitter winter wind,
why bellow so
when there's no leaves to fell?

Natsume Sôseki, Michael R. Burch phỏng dịch

Hỡi gió đông lạnh

còn gào thét làm chi

khi cây đà trụi lá

Winter waves
roil
their own shadows

Tominaga Fûsei, Michael R. Burch phỏng dịch

Những đợt gió Đông

khuấy đục

bóng mình

No sky,
no land:
just snow eternally falling ...

Kajiwara Hashin, Michael R. Burch phỏng dịch

Tuyết rơi, tuyết rơi

không trời

không đất

Along with spring leaves
my child's teeth
take root, blossom
Nakamura Kusatao, Michael R. Burch phỏng dịch

Răng sữa con tôi

cũng bắt đầu nhú

mầm xuân nẩy chồi

Stillness:
a single chestnut leaf glides
on brilliant water

Ryuin, Michael R. Burch phỏng dịch

Trong tĩnh lặng:

chiếc lá dẻ rơi

lướt trên mặt nước

As thunder recedes
alone tree stands illuminated in sunlight:
applauded by cicadas

Masaoka Shiki, Michael R. Burch phỏng dịch

Sấm sét qua rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

đàn ve hòa ca

The snake slipped away
but his eyes, having held mine,
still stare in the grass

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Con rắn trườn trong đám cỏ

đôi mắt không rời

khiến tôi bất động

Girls gather sprouts of rice:
reflections of the water flicker
on the backs of their hats

Kyoshi Takahama, Michael R. Burch phỏng dịch

Những cô gái gieo mạ

ánh nước lung linh

đằng sau chiếc nón

Murmurs follow the hay cart
this blossoming summer day

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Xe ngựa thồ cỏ khô

lọc cọc

ngày hè hoa nở

The wet nurse
paused to consider a bucket of sea urchins
then walked away

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Dừng chân ngắm đám nhím biển

rồi cất bước đi

ướt đẫm cô nhũ mẫu


May I be with my mother
wearing her summer kimono
by the morning window

Ippekiro Nakatsuka, Michael R. Burch phỏng dịch

Ước gì được cùng mẹ

Khoác chiếc kimono

một sáng hè bên cửa sổ

The hands of a woman exist
to remove the insides of the spring cuttlefish

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Vẫn đôi tay ấy

người đàn bà bóc nội tạng

con mực mùa Xuân

The moon
hovering above the snow-capped mountains
rained down hailstones

Sekitei Hara, Michael R. Burch phỏng dịch

Trên đỉnh núi tuyết

chị Hằng rong chơi

tuôn rơi mưa đá

Oh, dreamlike winter butterfly:
a puff of white snow
cresting mountains

Kakio Tomizawa, Michael R. Burch phỏng dịch

Chú bướm mùa đông đẹp như mơ

bông tuyết trắng

đồi núi nhấp nhô

Spring snow
cascades over fences
in white waves

Suju Takano, Michael R. Burch phỏng dịch

Bông tuyết mùa Xuân

đọng trên hàng rào

những làn sóng trắng

LỜI BẠT

Haiku “những giọt tinh túy của thơ” hay còn được gọi là “những hình ảnh siêu nghiệm” của các haijin Nhật Bản qua bản dịch tiếng Anh của nhà thơ Hoa Kỳ Michael R. Burch đã được dịch giả không chuyên Việt Nam, haijin Lê văn Truyền dịch ra tiếng Việt, thổi hồn cho những gì là tinh túy và siêu nghiệm trong thế giới cõi người và cõi đời này. Những trải nghiệm buồn vui, đau đớn từ cái cụ thể nhất của nơi sâu thẳm tình người và tình đời cho đến chốn vô thức mà vẫn long lanh như những giọt sương mai đọng trên những nỗi niềm trắc ẩn nơi con người. Thật đúng như lời học giả Jeihyi Hsich đã nói: “Cuộc sống là một phần những gì chúng ta đã làm nên, và một phần được làm nên bởi những người ta chọn làm bạn”.

Thành công của người dịch không chuyên này là đã làm nổi bật một thực tế là ảnh hưởng của nền thơ haiku Nhật Bản đối với thơ ca Anh ngữ hiện đại là rất hiển nhiên và đậm nét. Có thể nói rằng chủ nghĩa Ấn tượng phương Tây phần nào đã bắt nguồn từ dòng thơ haiku đặc sắc của người Nhật, như việc sử dụng sự tưởng tượng cụ thể và việc xử lý trực tiếp khách thể trong những phiến khúc haiku sau đây:

Những gương mặt xuất hiện trong đám đông

những cánh hoa

trên cành cây khô ướt đẫm

và:

Khi bạn muốn òa khóc

trên núi cao

một bông lau héo rũ

Những nét chấm phá đầy tính ẩn dụ đã làm cho khung cảnh hoang sơ bỗng như sống dậy, biết đi, biết nói, biết cất lên tiếng hát và cũng biết gào thét những nỗi truân chuyên của số phận đời người.

Ta hãy lắng nghe phiến khúc sau đây:

Tĩnh mịch tiếng quạ kêu

những sứ giả phẫn nộ của Thượng đế

nhắc ta nhớ về những nhà văn

Người đọc khó tưởng tượng rằng khúc haiku ấy lại chứa đựng cái hài hước, hóm hỉnh, tương phản giữa thế giới thực tại với không gian tĩnh mịch có tiếng quạ kêu để nhắc nhở người đời nhớ về một thế hệ xa xưa của một thời quá vãng. Vâng, ẩn ý ở đây là hãy “uống nước, nhớ nguồn” như một đạo lý, một lẽ sống ở đời mà ông cha ta thường dạy.

Qua một trăm phiến khúc haiku của các haijin Nhật Bản được Burch tuyển chọn, người dịch đã giao lưu trực tiếp với các tác giả mà ông yêu thích, đây đó có lúc mê say như đang lạc lối vào cõi Thiên Thai, bởi lẽ những vần thơ chuyển ngữ đã minh chứng cho những cảm xúc thăng hoa mà ông là “người chép lại”. Thơ là người. Ông đã làm sống lại cái cảm hoài của các haijin xa xưa:

Những đợt gió Đông

khuấy đục

bóng mình

và:

Sấm sét qua rồi

cây trơ trọi dưới ánh mặt trời

đàn ve hòa ca

rồi thâm trầm hơn, tinh túy hơn và siêu nghiệm hơn khi tự hỏi:

Khi nào ta gặp lại

trên nấm mồ nở hoa

hai con bướm trắng

Vâng, người dịch, sau những trải nghiệm, tri niệm và tri âm cùng với nhiều tác giả, những phiến khúc tuyệt vời của các haijin Nhật Bản đã vào ngồi cùng với ông trong Vườn Thơ Việt Nam.

Vâng, trong sự lãng mạn của suy cảm, những vần thơ dịch đã làm sáng lên tinh thần yêu thơ haiku của một dịch giả không chuyên Việt Nam.

Trần Anh Thơ

Phó Chủ nhiệm Khoa tiếng Anh

Trường Đại Học Kinh Doanh và Công Nghệ

Hà Nội

MICHAEL R. BURCH

Michael R. Burch (sinh ngày 19-2.1958) là giám đốc một công ty công nghệ thông tin ở Mỹ. Ông đồng thời là nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận và nhà biên tập, sống ở Nashville, bang Tennessee.

Ông cũng là một nhà hoạt động vì hòa bình, là tác giả của sáng kiến hòa bình Burch-Elberry được mạng Diễn Đàn Quốc Gia về Liên Kết Tiến Bộ của Ấn Độ công bố. Ông cũng là nhà hoạt động tích cực cho trường phái New Formalist (Tân Hình Thức) và Neo-Romanticism (Tân Lãng Mạn). Ông đã công bố những bài thơ hay nhất trên trang mạng thơ The HyperTexts xuất hiện trong suốt hai thập kỷ qua và theo đánh giá của Google đã có hơn hai triệu lượt truy cập kể từ năm 2010. Thơ và truyện ngắn của Burch đã được đăng trên các tạp chí: TIME, USA Today, Writer Digest, Writer’s Journal, Writer’s Gazette, The Lyric, Poet Love … và trên hàng trăm tạp chí thơ ca khác. Ông phụ trách một cột báo hàng tuần trên tờ Nashville’s City Paper trong ba năm cho đến khi chuyên mục này ngừng vào năm 2013. Ông cũng dịch thơ từ tạp chí Old English và các ngôn ngữ khác ra tiếng Anh hiện đại. Burch đã dịch thơ của nhiều nhà thơ trong đó có Basho, Bertolt Brecht, Robert Burns, William Dunbar, Allama Iqbal, Ono no Komachi, Miklós Radnóti, Rainer Maria Rilke, Reneé Vivien và Sappho.

Michael R. Burch đã đạt 5 giải thưởng “Pushcart Prize” từ các nhà xuất bản The Aurorean, Romantics Quarterly, The Raintown Review, Trinacria và Victorian Violet Press. Tác phẩm “Ordinary Love” của ông được giải thưởng thơ “Algernon Charles Swinburne Poetry Award”. Đồng thời ông cũng đạt 6 giải thưởng các cuộc thi thơ và 35 giải thưởng các cuộc thi văn học khác.

Ông kết hôn với ca sỹ Elizabeth Harris Burch và có người con trai Jeremy Michael Burch là ca sỹ, nhạc sỹ và diễn viên.

(Theo WIKIPEDIA tiếng Việt)

Sự giống và khác giữa Haiku và Senryu- Lê Thị Bình

Cách đây hơn 10 năm tôi có 1 bài viết so sánh giữa haiku và senryu đã được người đọc khắp nơi đón nhận. Năm 2010 bài này được giới thiệu trên mạng Internet có rút gọn lai. Nay tôi xin viết lại nội dung đó để bạn yêu Haiku Việt có sự cảm nhận về 2 thể loại này, không hầm lẫn trong quá trình sáng tác của mình.

alt

Tập hơp các định nghĩa tôi rút ra sự giống và khác nhau giữa Haiku và Sen ryu như sau:

Giống nhau:

-Haiku và Sen ryu như hai anh em đều là thơ choi nghê thuật, đều được sinh ra từ Renga no haikai (Thể thơ liên hoàn được bình dân hóa ở NB)

-Cả 2 cùng là thể thơ ngắn 17 chữ, của Nhật .

Khác nhau:

- Haiku vốn là câu mở đầu (hocku5-7-5) tách ra nên có từ chỉ mùa (kigo) và từ văn học nên có từ ngắt (Kỉre ji)

- Senryu của thơ tách ra thành thể độc lập tù câu kèm (tsukeku 5-7-5)

- Senryu không có qui ước chặt chẽ về từ ngắt và Kigo (từ gợi chỉ các mùa).

- Sen ryu của người lao động nên thường dùng khẩu ngữ tự nhiên, không ám điệu.

Những ngườii làm công chức (Office worker ) thích sáng tác Senryu vì nó nhẹ nhàng hợp vói tâm tình của họ hon.

Người không hiểu kỹ Haiku dễ nhầm lẫn giữa Senryu và Haiku. Đặc điểm của Senryu là phần nhiều dùng khẩu ngữ, phần lớn nội dung thói hư tật xấu, nêu nhân tình thế thái và mang tính trào lộng và tính cảnh báo cao。

Năm 1757 một người tên là Karai Senryu (1718-1790) tập hợp tuyển chọn tập hợp các câu thơ mở đầu (maeku zuke) xuất sắc thành một tập vạn câu được dư luận đánh gía cao. và nhiều tầng lớp kể cả võ sĩ thích thú hưởng ứng.

Về nội dung và giá trị Senryu gần với thể thơ trào phúng, trào lộng, châm biếm ở ta.

Từ năm 1987 đến nay hàng năm ở Nhật vẫn có tổ chức thi tuyển chọn 100 câu thơ Senryu hay trong những người làm công ăn lương (Sarariman Senryu konkuru) do hãng bảo hiểm nhân thọ Daiichi seimei của tập đoàn Sumitomo tài trợ với nhiều đề tài phong phú có tính xã hội cao, thậm chí nó được coi như một cách nắm bắt dư luận xã hội, phản ánh tâm tư nguyện vọng của quần chúng. được đông đảo người yêu Senryu hưởng ứng.

Nám nay cnộc thi náy dã tuyển 100 câu lần thú 32 ngày 22/1/2019 phát độngj trên toàn nước Nhật từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2018 được 43.691 bái.

Hình như hãng BHNT này cũng đã vào ta Dai-ichi Life Insurance Company of Vietnam.

Người Nhật nhiều khi “Senryu hóa” một bài Haiku cũng như “Haiku hóa” một bài Senryu cho vui và hầu như làm cho ý nghĩa bài thơ ngược hẳn lại.

Ví dụ bài Haiku nổi tiềng của mà chúng ta đã nghe nhiều:

Furui ike ya

Ka wa zu tobi komu

Mizu no oto

Ao cổ

Ếch nhảy vào

Tiếng nước

Được Senryu hóa như sau:

Hitotsu zutsu

Kawazu wo shimau

Mizu no oto

Từng con ếch một

Mất tăm

Tiếng nước

Bạn đọc cũng thấy 2 thể thơ này rất rối rắm khó phân biệt.

Gần dây ở Nhật cũng có xu hướng đưa 2 loại thơ này gần nhau hơn, nhưng nhiều người vẫn thấy mỗi loại có một vẻ đẹp riêng cần trân trọng.

LTB

Hữu và Vô, Sinh và Diệt- Lê Văn Truyền

alt

散る桜残る桜も散る桜
chiru sakura / nokoru sakura mo / chiru sakura

Ryokan

falling cherry blossoms
those remaining
also will fall

Gabor Terebess dịch

hoa anh đào rụng

những bông còn lại

rồi cũng sẽ tàn

Lê Văn Truyền dịch

Mùa Xuân đến, anh đào nở rộ trên đất nước Phù Tang đầy quyến rũ. Không chỉ người Nhật mà du khách khắp thế giới cũng không thể cưỡng lại sức quyến rũ của hoa anh đào. Mùa xuân đến, những đóa hoa anh đào bé nhỏ nở bung khoe sắc đầy kiêu hãnh. Hoa đẹp đến nỗi, cùng nhau thưởng ngoạn hoa, tâm hồn mọi người cũng như đẹp hơn, dịu dàng hơn, thanh tao như những đóa anh đào. Vì vậy, Ryokan cũng đã từng viết:

世の中はさくらの花になりけり
yo no naka wa / sakura no hana / ni nari keri
all around us
le monde n’est plus quethe world is more than
fleurs de cerisiercherry blossoms

Gabor Terebess dịch


chung quanh chúng ta

mọi người đông hơn

khi anh đào nở

Lê Văn Truyền dịch

Nhưng cuộc sống là vô thường. Sự vật, hiện tượng trong vũ trụ không tĩnh tại, bất biến mà luôn thay đổi không ngừng theo chu trình bất tận “sinh – trụ – dị – diệt”: sinh ra, tồn tại, biến dạng và mất đi. Đức Phật dạy: “Tất cả những gì trong thế gian đều biến đổi, hư hoại, đều là vô thường”. Sinh và diệt là hai quá trình xảy ra đồng thời trong một sự vật, hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn. Đức Phật cũng dạy rằng không phải là sự vật, hiện tượng sinh ra mới gọi là sinh, mất (hay chết đi) mới gọi là diệt, mà trong sự sống có cái chết. Và chết không phải là kết thúc mà là điều kiện cho một sự sinh thành mới.

Và cũng vậy, những đóa anh đào. Chỉ trong chưa đầy một tuần những đóa hoa sẽ rơi rụng thản nhiên, không chút hối tiếc. Vẻ đẹp ngắn ngủi của những đóa anh đào bỗng làm trái tim của Ryokan thổn thức vì hôm nay đang say sưa chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những đóa anh đào chúm chím hay mãn khai nhưng đại sư biết rằng ngày mai “những bông còn lại rồi cũng sẽ tàn”. Vì rằng, tất cả chúng ta trên cõi đời này sẽ đến lúc “Rồi một ngày cuộc sống hóa hư vô” như nhan đề cuốn sách của nữ Tiến sỹ Hideko Suzuki. Hideko Suzuki đã viết: “Một sớm mai kia khi mọi thứ trong đời bỗng hóa thành hư vô, chỉ mong vẫn có thể nở nụ cười mãn nguyện bởi mình đã sống những ngày trọn vẹn” (Nhà Xuất Bản Thế Giới, iBooks, 2018).

Và trong “Truyện kể Ise” (Ise Monogatari), vốn được coi là một trong những sử thi của Nhật Bản cực thịnh trong khoảng thế kỷ X – XI, người viết truyện đã lý giải và sau đó đã thốt lên một câu hỏi: “Chính vì chóng tàn phai nên hoa Anh đào mới càng thêm tuyệt vời. Giữa trần thế u uất này, rốt cuộc thứ gì mới có thể tồn tại vĩnh hằng đây?

LVT

Xu hướng mới trong sáng tác thơ Haiku Thế giới

alt

Đinh Nhật Hạnh

Thành lập năm 2009, đến 2012 ở Đại hội Liên hoan Thơ Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ I diễn ra tại Hà Nội, CLB Haiku Hà Nội đã lọt vào mắt xanh của Chủ tịch Hiệp hội Haiku Thế Giới Ban’ya Natsuishi và trở thành thành viên thứ 40 của tổ chức quốc tế này. Kể từ đó, 20 hội viên Haiku Hà Nội đã có thơ đăng đều đặn trên Tạp chí World Haiku Review hàng năm. Các tuyển tập này được chọn công phu từ 48 quốc gia, gồm 30 ngôn ngữ của hơn 285 hội viên trên 5 châu lục, được chuyển ngữ sang tiếng Anh, tiếng Pháp kèm tiếng bản địa.

Cho đến nay, chúng tôi đã sưu tập được hơn 3000 khúc haiku từ nguồn phong phú ấy và dịch sang tiếng Việt. Sau đây là những cảm nhận tóm lược xu hướng sáng tác mới của thể thơ này.

1. Thiên nhiên

Ngay từ cuối thế kỷ XX, đã có thay đổi về định lệ rất cơ bản: quý ngữ (kigo) không còn là quy tắc ràng buộc trực tiếp mà thể hiện “ẩn”, gián tiếp, bởi lẽ thời tiết bốn mùa trên các châu lục thường khác nhau. Không chỉ “trăng” mới là mùa thu, “hoa” đâu chỉ là anh đào. Lại nữa, bớt quý ngữ trực tiếp lợi thêm một dòng quý giá, dành chỗ thể hiện được tâm tư ký thác dồn nén vào một không gian cực hẹp. Đa phần, thiên nhiên quyện hữu cơ vào hồn cốt bài thơ, không còn khách quan mà gắn bó với nhân sinh thường nhật. Cấu trúc 5/7/5 không còn là khuôn phép, kể cả tại những quốc gia có ngôn ngữ đa âm như Mỹ, Anh, Pháp, Úc… Ngay ở chính quốc Nhật Bản cũng có nhiều thay đổi ngày càng phổ biến: Haiku tự do một dòng, Haiku không quý ngữ… Tứ thơ giờ đây không chỉ khu trú vào hiện tiền, khoảnh khắc như ghi âm một tiếng chim ca, chụp một pô ảnh thoáng hiện mà thẳm sâu từ ký ức bất chợt về quá khứ ngày xưa hay vụt hiện viễn tượng của ngàn năm sau, như Shiki (1867-1902) đã viết:

Đêm không ngủ

miên man ta nghĩ

về ngàn năm sau

Nhà thơ Haiku đương đại thả sức tự do viết về bất cứ lĩnh vực nào mà mình cảm nhận, không áp đặt, phê phán, tuy bảng lảng mà không hời hợt, có sức gợi mênh mông, thường đặt vấn đề mà không trả lời, như đòi hỏi người đọc tự chiêm nghiệm. Haiku đương đại ít bộc lộ thiên nhiên nguyên thủy bên ngoài thế tục mà thường là hòa quyện với thực tại sôi động, biến ảo – không phân biệt giữa khách và chủ thể.

Có lẽ cũng phải thôi, Haiku là thể thơ cô đọng, ngắn nhất, cũng như các thể loại văn chương khác phản ánh thực trạng mỗi thời đại. Ngay giọt sương, đẹp trong là thế, tuy vẫn lung linh quê nhà nhưng nay liệu còn trong, cũng như cơn mưa giờ cũng khác. Mẹ Thiên nhiên xưa kia hiền là vậy nay đang bị tàn phá kiệt quệ do chính lòng tham vô độ của con người – thủng tầng ozone, hiệu ứng nhà kính làm tan băng địa cực, hàng chục ngàn đầu đạn hạt nhân đe dọa nổ tan quả đất từng ngày, từng giờ… – nên cũng giữ dằn phản ứng và, tất nhiên Haiku không thể dửng dưng chỉ tụng ca thiên nhiên mà không bảo vệ dẫu chỉ bằng… Thơ.

A sunflower / lowing its head / like a remorse

Có bông hoa hướng dương

cúi đầu

như sám hối

Chiaki Nagamine, (1954-) Nhật Bản

Following fellows / the horse’s fetter-marks / tearful eyes

Thất thểu theo bầy

con ngựa bị ngàm

ràn rụa nước mắt

Yo Ecdenetogtokh, (1961-) Mông Cổ

The sounds of water / wandering / searching for water

Tiếng nước

lang thang

tìm nước

Hirokazu Aihara, (1970-) Nhật Bản

Without words / the moon and the fisherman / plow the sea together

Không lời

trăng và dân chài lưới

cùng cày xới biển khơi

Malvina Mileta, (1955-) Đan Mạch

With a thin rope / a kite connects a girl / and the sky

Nhờ sợi dây mảnh

con diều nối liền cô gái

với bầu trời xanh

Dimitrij Skrk, (1951-) Slovenia

Hazy moon / a nightingale in the canyon / competes with its echo

Trăng mờ

họa mi trong hẻm núi

hót thi với tiếng vọng chính mình

Tomislav Maretic, (1931-) Croatia

2. Tự sự

Trái với Haiku cổ điển tránh không viết về bản ngã, chủ thể Haiku đương đại đã có đột phá ngoạn mục khi viết về mình, về những bức xúc, băn khoăn thế tục trước những biến động ghê gớm của lịch sử. Có tác giả dùng Haiku diễn tả cuộc đời riêng không lối thoát của mình (Steven Ross, Mỹ). Có niềm vui lứa đôi, có xẻ chia nỗi lòng với bạn đời đã khuất, mơ về “hội mùa riêng cho hai vợ chồng thưởng thức vị quả hồng vườn nhà chín đỏ ngọt lịm”. Những vấn đề trước kia xa vời với Haiku như số phận một đất nước, một chính thể nay được thể hiện sắc nét. Thân phận cô đơn, khổ ải nghiệt ngã do đói nghèo, bệnh tật, hay do tuổi tác – cố nén lại để rồi tự nhủ lòng dành phần nước mắt với bạn tri âm, cho vơi đi những dòng lệ đời đau khổ…

Haiku đương đại có tính nhân bản ngày càng rõ nét và sâu đậm của muôn mặt đời thường tác động vào số phận con người vốn mỏng manh, lay lắt, càng vô định trong một thế giới hiện sinh chẳng biết có ngày mai.

I, a craving skeleton / reach to my son / with withered arms

Tôi, một bộ xương đói khát

chìa đôi tay gày guộc

về phía con trai mình

Steven Ross, (1950-) Mỹ

Cremate my body / flush my ashes / down the toilet

Hãy hỏa táng thân tôi

rồi xả tro

vào toilet

Steven Ross, (1950-) Mỹ

How bluish / the heavy rainfall / of my retirement day

Sao buồn thế nhỉ!

mưa rơi tầm tã

đúng ngày mình về hưu

Masami Sanuka, (1950-) Nhật Bản

April 20th / the birthday of Hitler / and me

Ngày 20 tháng Tư

sinh nhật Hitler

và cũng của tôi nữa

Shin’ichi Suzuki, (1957-) Nhật Bản

May rain hesitate / to fall onto him / a fool?

Có thể mưa ngại ngần

rơi xuống hắn

kẻ dại khờ ngớ ngẩn giữa trần ai

Yoshimoto Abe, (1963-) Nhật Bản

Persimmons bear fruit / a little harvest festival / for my wife and me

Hồng vườn nhà ra quả

một hội mùa nhỏ

cho vợ chồng tôi

Tatsunori Koizumi, (1931-) Nhật Bản

Nuit d’hiver / le silence – plus chaud / que tes bras

Đêm đông

sự yên lặng ấm hơn

vòng tay anh

Zlatka Timoneva, (1949-) Bồ Đào Nha

I can’t get over / the fangs of love / my hair white as frost

Tôi không thể vượt qua

những day dứt của tình yêu

đầu bạc như sương rồi

Keusetsu Jakahashi, (1939-) Nhật Bản

3. Thế sự

Đây là phần quan trọng, có tần suất tuyển chọn cao về nội dung thực tế: mắt thấy tai nghe những thực trạng của thế giới đương đại, sát với băn khoăn bức xúc của thế gian trước thiên tai; địch họa do chính con người tự gây ra. Từ thảm họa Hiroshima đến Fukushima, từ cuộc cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” đến nạn khủng bố tràn lan điên cuồng tàn bạo, xem mạng người như ngóe, không chốn nào yên. Có những tiếng chim kêu nghe đỏ như màu máu, ngay cả vầng trăng cũng đỏ bầm trong giấc mơ của giới cần lao. Có những ngôi làng sau chiến tranh chẳng còn là làng nữa mà chỉ là nỗi buồn và tiếc nuối khôn nguôi. Quả đất ngỡ trở lại yên bình sau Thế chiến II thì lại tiếp tục phải quằn quại trước những mưu ma chước quỷ thâm hiểm hòng vẽ lại bản đồ thế giới, áp đặt tôn giáo diễn biến từng giờ. Thời trước, cách nay hơn một thế kỷ, chưa có chiến tranh đại quy mô, đây đó thanh bình, thiên nhiên hòa đồng với nhân sinh, nhịp sống yên ổn êm thuận khác xa với hiện tiền sặc mùi xung đột của bạo lực, bá quyền, nơi con người bình thường không biết dẫu chỉ là ngày mai rất gần chứ chưa nói đến ngày mai xa xôi! Tứ thơ lóe lên như tia chớp, được khắc họa bởi dăm từ sắc gọn, chạm đến tâm tư dồn nén khiến người đọc phải suy ngẫm làm sao đấy để chung tay bảo vệ một thế giới văn minh, bảo vệ Trái đất – ngôi nhà chung của tất cả chúng ta đang lâm nguy.

I want a song of anger / fresh green leaves / shining

Tôi muốn nghe một khúc ca cuồng nộ

những chiếc lá xanh tươi

lấp lánh

Yo Tanaka, (1933-) Nhật Bản

Bloody moon / black and white dreams / of the working class

Vầng trăng đỏ như máu

đen trắng những giấc mơ

của giai cấp cần lao

Damir Damir, (1977-) Montenegro

This satanic age / even the mirroring shows / a false image

Thời buổi quỷ quái này

ngay cả chiếc gương

soi không thật mặt

Ramakhrisna Perugu, (1960-) Ấn Độ

“Arab Spring” – they say / but there is still deadly cold / in the heart of the people

“Mùa xuân Ả-rập” – họ hô vang

nhưng chỉ thấy giá băng chết chóc

trong tim dân thường

Dimitar Anakiev, (1960-) Slovenia

En Démocratie / tout autour du Président / beaucoup de cadavres

Chế độ dân chủ

xung quanh Tổng thống

vô khối xác người

Georges Friedenkraft, (1941-) Pháp

One street owes itself / to another street / one tree owes another

Một con phố mang nợ

một con phố khác

một cây nợ một cây

James Shea, (1976-) Mỹ

4. Tình yêu

Nếu như Haiku truyền thống không đề cập đến tình yêu mà còn cho đó là tối kỵ thì cũng đương nhiên bởi lẽ thể thơ này có cội nguồn từ các vị Thiền sư thoát tục, hơn nữa, thuở ấy thơ tình đã chiếm vị trí độc tôn trong thể Tanka chan chứa trữ tình rồi.

Thơ tình trong Haiku đương đại lại phát triển khá mạnh, là trào lưu mới, cởi mở hơn ngay trong các haijin Nhật Bản, đặc biệt, Haiku phương Tây có mảng thơ thiên về tính dục (erotic hay sexy haiku) khá thịnh hành. Tần suất tuyển chọn thơ tình khá cao, chỉ xếp sau mảng thiên nhiên và thế sự, Haiku tình yêu ở đây có phong vị nhuần nhị, thủ thỉ, trong sáng và hồn nhiên – có khi tả về đôi bướm mùa yêu; một chàng mèo thiến vểnh râu ngủ khì suốt mùa động đực; hoặc một nụ hôn vội trên bến xe ban ngày trước một vầng trăng sớm; tình yêu e ấp những lần đầu hò hẹn chỉ dám lén nhìn nhau; có lúc lại kiêu sa về vẻ quyến rũ của mình đã thừa sức ngăn làn gió xuân hầm hập của chàng, mời cập bến tình kề cận tầm tay…

Ta như trẻ lại trở về một thời yêu, thấp thoáng những nét xuân tình chấm phá, vì Thơ cũng như Tình không có tuổi…

The leaves sway calmly / listening to the brave wind / it says “I kissed you”

Êm đềm tán lá đung đưa

nghe gió mạnh dạn nói

“anh đã hôn em rồi”

Zaid Alquraishy, (1980-) Iraq

Swift kiss / at the bus stop / day moon

Nụ hôn vội

trên bến xe

trăng ban ngày

Ludmila Balabanova, (1994-) Bungary

Plage de nudistes / ne peux pas trouver ma copine / je la croyais bronzée

Bãi tắm truồng

không sao tìm được

bạn gái tôi màu da rám nắng

Valentin Nicolitov, (1945-) Rumani

The neutered Tom / sleeps soundly / during the love season

Chú mèo thiến

ngủ khì khì

suốt mùa động đực

Shuichi Watanabe, (1954-) Nhật Bản

After the love making / her mole / in a different place

Sau trận mây mưa

nốt ruồi nàng

chuyển chỗ

Petar Tchouhov, (1961-) Bungary

Soft lips colliding / beneath their closed eyelids / the time is melting away

Đôi cặp môi mềm chập lại

dưới hàng mi nhắm chặt

<